THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN – Tập 75/195 (39B – bộ 128 đĩa)
Các vị đồng học. Ba câu 28, 29 và 30 của Cảm Ứng Thiên chính là bạt trừ tam độc phiền não trong tâm của chúng ta: “không tham, không sân, không si”. Nhà Nho, nhà Đạo, nhà Phật, ba nhà đã nói hoàn toàn giống nhau, đúng như người xưa đã nói “cái thấy của anh hùng, đa phần đều giống nhau”. Phật gọi cái này là tam độc, hiện tại chúng ta gọi là virus, đây là bệnh độc rất nghiêm trọng, không những có thể sát hại sinh mạng của chúng ta, làm cho thân thể chúng ta nhiều bệnh, không khỏe mạnh, đoản mạng, nhưng việc này vẫn chỉ là việc nhỏ, việc tổn hại pháp thân huệ mạng mới là việc lớn. Tại vì sao chúng ta đọa lạc vào trong luân hồi vô lượng kiếp đến nay mà không thể ra khỏi? Luận về nguyên do căn bản của nó chính là chưa tẩy trừ sạch sẽ tam độc phiền não. Mỗi một đồng tu chúng ta, bất luận bạn sinh trưởng ở nơi nào, hiện tại hoàn cảnh đời sống của bạn ra sao, chỉ cần bạn có duyên nghe được Phật pháp, nghe được danh hiệu Phật Bồ-tát là duyên phận của bạn cũng không mỏng. Trên kinh Phật nói với chúng ta, vô lượng kiếp đến nay đã trồng thiện căn sâu dày, bạn mới có cơ duyên nghe được danh hiệu Phật, thấy được tượng Phật, thấy được kinh Phật. Đây là chứng tỏ chúng ta học Phật không phải chỉ trong một đời này, nếu chỉ học trong một đời này thì làm sao có thể có được thiện căn sâu dày như vậy? Do đây có thể biết, vô lượng kiếp trước chúng ta đã từng gặp được Phật pháp, đã từng tu học qua Phật pháp, nhưng tại sao không thể thành tựu? Vì tam độc phiền não chưa đoạn được sạch sẽ. Mấy câu nói này trong Cảm Ứng Thiên thực tế mà nói là dạy cho chúng ta chỗ bắt tay vào để đoạn tam độc phiền não, chúng ta phải ưu ý.
“Thôi đa thủ thiểu”, chỗ này trong nhà Nho gọi là tiết kiệm. Đức hạnh của Khổng Lão Phu Tử, các vị biết được, trong Luận Ngữ, các đệ tử tán thán Ngài là“ôn-lương-cung-kiệm-nhượng”. Khổng Tử ở Trung Quốc được tôn xưng là “Vạn Thế Sư Biểu”. “Sư” chính là mô phạm cho chúng ta, là điển hình của chúng ta. Mô phạm này ở đâu vậy? Chính trong năm chữ này. Cả đời Ngài làm người ôn hậu, thiện lương, cung kính, tiết kiệm, nhẫn nhường, Ngài là đại biểu cho tánh đức tốt đẹp của chúng ta. Vì vậy ở trong đời sống nhất định phải tiết kiệm, có thể giảm thì nên giảm, ta có thể tiết kiệm được một xu tiền thì có thể giúp người khác thêm được một xu, ngay trong mỗi niệm đều nghĩ đến giúp đỡ xã hội, giúp đỡ chúng sanh, đời sống chính mình có thể qua được thì tốt rồi.
“Thọ nhục bất oán”, sự nhẫn nhục này vô cùng quan trọng. “Thôi đa thủ thiểu” chính là bố thí, giúp bạn đoạn tham. Nhẫn nhục chính là đoạn sân hận. Cho nên, Phật răn dạy chúng sanh về chữ “nhẫn” này được liệt vào khoa mục tối trọng yếu. Chúng ta xem thấy trong Kinh Đại Thừa, Phật có thể nhẫn. Sau cùng là trích dẫn một đoạn từ Kinh Niết Bàn như sau: Khi Phật còn tại thế, đã từng có người tán thán Phật có “tướng đại phước đức”, đích thực Phật chân thật có tướng mạo trang nghiêm, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Sự việc này, Kinh Phật cũng đã nói rất rõ ràng vì sao Phật phải thị hiện tướng hảo. Kinh nói với chúng ta, Bồ-tát thành Phật, chính là Bồ-tát tu hành đến trí huệ phước đức viên mãn. Trí huệ phước đức viên mãn tuyệt nhiên không có nghĩa là tướng mạo của bạn cũng viên mãn, tướng mạo là thuộc về nhân quả, cho nên Bồ-tát sau khi chứng đắc vô thượng Bồ-đề thì còn phải dùng thời gian 100 kiếp để chuyên tu phước. Một trăm kiếp là thời gian rất dài, tu cái gì vậy? Tu tướng hảo. Tại vì sao phải tu tướng hảo? Vì để độ chúng sanh. Chúng sanh chấp tướng, chúng sanh chỉ nhìn bên ngoài, bên ngoài nếu không thể phục được lòng người thì chúng sanh không chịu tiếp nhận giáo huấn. Vì vậy, Phật phải dùng thời gian 100 kiếp để chuyên tu tướng hảo. Đó chính là trồng nhân thiện được quả thiện.
Thế nhưng chúng ta phải biết, thiện nhân thiện quả đó của các Ngài không phải là vì chính mình, mà là vì chúng sanh. Ba mươi hai tướng, mọi người biết có tướng lưỡi rộng dài. Tướng lưỡi rộng dài là nhân gì? Không vọng ngữ, bốn loại nghiệp của miệng làm được rất viên mãn, không vọng ngữ, không ác khẩu, không hai chiều, không thêu dệt, cho nên đầu lưỡi của Phật khi thè ra có thể che đậy cả mặt. Chúng ta không có năng lực này. Kinh Phật nói, đầu lưỡi của bạn đưa ra, có thể liếm được đầu mũi là do bạn ba đời không vọng ngữ, nên bạn mới có cái tướng hảo này. Đầu lưỡi của Phật đưa ra che được cả mặt, mọi người không có lời gì để nói, lời của Phật là thành thật, tuyệt đối không có vọng ngữ, nếu có vọng ngữ thì tuyệt đối không có được cái tướng này. Cho nên Phật tu tất cả đều là vì chúng sanh. Người này tán thán Phật có tướng đại phước đức, người khác liền hỏi, làm sao thấy được? Người ấy trả lời, do những sự việc sau: Thế Tôn “niên chí câu thạnh”, tuổi tác ba bốn mươi tuổi, thiếu niên cường tráng, thế nhưng thế nào? Phật biểu thị rất ôn hòa, một chút thái độ thô tháo cũng không có. Bạn đánh Ngài, Ngài không sân hận; bạn mắng Ngài, Ngài cũng không nổi giận, đây không phải là tướng đại phước đức thì là gì? Ba mươi hai tướng của Phật chúng ta không học được, đó không phải là việc nhất thời có thể học được, thế nhưng cách nói này, chúng ta có thể học tập.
Ôn văn nho nhã, hòa ái dễ gần, bị nhục không những không báo thù, ngay cả ý niệm báo thù cũng không có. Đây là đại đức, là tướng phước đức chân thật. Nếu chúng ta gặp những sự việc này thì phải tùy thuận giáo huấn của Phật, quyết không tùy thuận phiền não của chính mình, nếu tùy thuận phiền não của chính mình, phiền phức liền đến. Tùy thuận giáo huấn của Phật, vậy thì phải xem phước đức của chính chúng ta có hay không. Chính mình có phước đức thì tâm bình khí hòa. Nếu trong tâm của chính mình vẫn còn một niệm sân hận, một niệm không vui mừng thì liền biết được chính mình phước mỏng, không có phước. Không có phước báo, không những không thể giúp người khác, mà cũng không có cách nào độ chính mình. Bạn xem, Phật dạy chúng ta “phước huệ song tu”, phước đặt ở phía trước, huệ đặt ở phía sau. Cách xếp đặt thứ tự này có dụng ý rất sâu. Người xưa chúng ta thường nói “phước chí tâm linh”, cũng là để phước ở phía trước. Một người phước báo hiện tiền rồi, người đó liền đột nhiên thông minh, liền khai trí huệ. Đây là nói rõ phước cùng huệ là một, không phải hai. Trí huệ khai rồi nhất định biết tu phước, khi phước báo hiện tiền con người nhất định liền thông minh. Do đây có thể biết, chúng ta đã không có phước, cũng không có huệ, lại còn không chịu tu, vậy thì làm sao có thể thành tựu? Cách tu như thế nào? Phương pháp rất nhiều. Thánh nhân Tam Giáo dạy bảo chúng ta phương pháp, chân thật là nhà Phật đã nói “tám vạn bốn ngàn pháp môn”, vô lượng pháp môn, chỉ cần bạn nắm lấy một pháp môn thì bạn thành công, thế nhưng bạn phải thật tu, phải thật làm, không phải thật tu thì không được.
Phần sau cùng của đoạn văn này trích dẫn lời nói của Trịnh Huyên, ông cũng dạy cho chúng ta phương pháp vào cửa. Lời nói của ông rất thú vị, ông nói: “Mặc mặc mặc, vô hạn thần tiên tùng thử đắc” (Lặng, lặng, lặng, vô số thần tiên từ đây mà thành). “Mặc” là trầm mặc. Lời nói này mọi người không dễ hiểu, chúng tôi đổi cách nói khác là“ít mở miệng, ít nói chuyện”. Bạn xem, trong niệm Phật đường có bảng “tịnh khẩu- chỉ ngữ”, bạn có thể ngưng nói chuyện thì bạn sẽ làm thần tiên. Các vị nghĩ xem, lời nói này của ông có ý nghĩa hay không? Con người không thể làm thần tiên là do nói lời thừa quá nhiều, tâm không thể định thì bạn làm sao có thể thành được thần tiên chứ? Đây là một phương pháp rất tốt. Người xưa dạy chúng ta: “Ít nói, nghe nhiều“. Hiện tại tôi xin nói với các vị, không những ít nói mà cũng phải ít nghe, tốt nhất là không nên nghe, vì sao vậy? Những thứ bạn nghe được toàn là phiền não, tăng thêm vọng tưởng vô minh của bạn, tăng thêm phân biệt chấp trước của bạn, những thứ hiện tại không thể nghe, không thể xem.
Hãy xem Tứ Đại Thiên Vương dạy chúng ta. Tây Phương Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương dạy chúng ta xem nhiều. Bắc Phương Đa Văn dạy chúng ta nghe nhiều. Vậy các vị phải nên biết, xem nhiều và nghe nhiều không phải ở giai đoạn hiện tại của chúng ta, giai đoạn hiện tại của chúng ta là phải học Đông Phương Trì Quốc Thiên Vương và Nam Phương Tăng Trưởng Thiên Vương. Trì Quốc Thiên Vương dạy chúng ta cái gì? Dạy chúng ta “tận trách nhiệm”. Phải nhìn vào độ sâu câu nói này, chính là “tận hiếu tận trung”, các vị nghĩ xem có đúng không?”Trung hiếu”, ở phía trước đã giảng qua rất nhiều lần, giảng rất tường tận. Đông Phương Thiên Vương dạy chúng ta, trong bổn phận cương vị, làm công việc thuộc bổn phận cương vị của chính mình đến tận thiện mỹ, đó chính là tận trung tận hiếu. Người người đều làm tốt cương vị công tác thì xã hội tự nhiên sẽ an định phồn vinh, thế giới nhất định hòa bình. Nam Phương Tăng Trưởng Thiên Vương dạy chúng ta cầu tiến bộ, nhà Nho nói “ngày mới lại mới”, Phật pháp gọi là “tinh tấn”. Học vấn phải có tiến bộ, đức hạnh phải có tiến bộ, tài nghệ phải có tiến bộ, thậm chí mức độ đời sống cũng phải có tiến bộ, mọi thứ đều có tiến bộ, cho nên Phật pháp không phải là bảo thủ.
Nhiều năm qua, tôi đi khắp nơi khuyến khích các đồng tu, nhất định phải hiện đại hóa và bổn thổ hóa Phật pháp. Thực tế hai câu nói này là tôi nói ra, thế nhưng không phải do tôi phát minh, Phật pháp vốn dĩ chính là như vậy. Hai ngàn năm trước, Hán Vũ Đế lễ thỉnh hai vị cao tăng là Ma-đằng và Trúc-pháp-lan đến Trung Quốc. Sau khi họ đến Trung Quốc liền lập tức Trung Quốc hóa, mặc áo tràng hải thanh của chúng ta, tay rộng cổ lớn, mặc quần áo của người Trung Quốc; ăn uống đi đứng, hoàn toàn là Trung Quốc hóa; xây dựng đạo tràng, hình thức cung điện cũng là Trung Quốc hóa, họ không đem cách thức kiểu dáng của Ấn Độ đến Trung Quốc. Họ hiểu được bổn thổ hóa, cho nên người Trung Quốc mới hoan nghênh, mới tiếp nhận. Họ tạo tượng của Phật, khuôn mặt giống như người Trung Quốc, vừa nhìn thì thấy thật là thân thiết. Cho nên tôi đến Hoa Kỳ nói với người Hoa Kỳ là Phật giáo chưa đến Hoa Kỳ. Người Hoa Kỳ ngạc nhiên, hỏi:“Phật giáo ở Hoa Kỳ rất nhiều, tại sao nói Hoa Kỳ không có Phật giáo?”. Tôi liền hỏi lại họ: “Có tôn tượng Phật nào, có tôn tượng Bồ-tát nào có khuôn mặt giống như người Hoa Kỳ hay không?”. Vì vậy tôi nói Phật Bồ-tát chưa đến Hoa Kỳ, đến Hoa Kỳ là Hoa kiều, là Nhật kiều, không phải chân thật là người Hoa Kỳ. Cho nên nhất định phải biết bổn thổ hóa và hiện đại hóa thì giáo dục này mới có thể phát dương quang đại.
Chúng ta phải hiểu được sự giáo huấn của Phật đối với chúng ta. Phật trầm lặng ít nói, không nói lời thừa, trừ khi có người nêu ra vấn đề thỉnh giáo với Ngài thì Ngài giải đáp cho họ nghe. Không có người hỏi, bạn không hỏi thì Ngài không nói. Nếu bạn không hỏi, gặp được đức Phật, đức Phật không nói câu nào, tâm của Ngài thanh tịnh như vậy. Không nói chính là nói, không dạy chính là dạy, Ngài dạy bạn cái gì? Dạy bạn ít nói chuyện.
Thứ hai Trịnh Huyên nói: “Nhiêu nhiêu nhiêu, thiên tai vạn họa nhất thời tiêu” (Dung dung dung, muôn vàn tai họa nhất thời tiêu). “Nhiêu” chính là tha thứ. Lượng thứ với người khác, không nên tính toán với người khác, tai họa liền không thể phát sinh. Tai họa này chính là xung đột, mâu thuẫn xung đột liền không còn, đem nó tiêu trừ từ trong nội tâm.
Thứ ba Trịnh Huyên nói ba chữ nhẫn: “Nhẫn nhẫn nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử ẩn” (Nhẫn nhẫn nhẫn, oan gia trái chủ đều ẩn mất). Chúng ta đời đời kiếp kiếp đã kết biết bao nhiêu là ân oán nợ nần với hết thảy chúng sanh. Đời đời kiếp kiếp trói buộc dây dưa không dứt, nếu không thể nhẫn thì những phiền phức này, những chướng nạn này nhất định sẽ không thể tránh được.
Sau cùng Trịnh Huyên nói: “Hưu, hưu, hưu, cái thế công danh bất tự do” (Buông buông buông, công danh trong đời đều trói buộc.) “Hưu” chính là buông xả.
Cho nên Trịnh Huyên dạy chúng ta bốn phương pháp này là: trầm mặc, lượng thứ, nhẫn nhường, buông xả. Đều là chỗ hạ thủ để đoạn trừ tam độc phiền não. Chúng ta chân thật hiểu được rồi, chân thật có thể tu học như thế thì đạo nghiệp mới có thể thành tựu. Nói đạo nghiệp thì kỳ thực cũng quá cao. Chúng ta cũng không hiểu thế nào là đạo nghiệp. Chúng tôi nói đến chỗ thỏa đáng nhất, chỗ thiển cận nhất đó là: bạn là có thể đạt được cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn. Không những đời sống tinh thần bạn có thể đạt được, mà đời sống vật chất cũng có thể đạt được. Bạn muốn cầu công danh, cầu phú quý, thì đây đều là phương pháp hay, là phương pháp chính đáng. Cầu như lý như pháp thì cái mà bạn đạt được là phước báo chân thật. Còn nếu không hợp lý, đi ngược lại với tình lý, không như pháp thì cái mà bạn có được đều gọi là tạo nghiệp. Trước mắt tuy rằng có được một chút tiện nghi lợi ích nhỏ, nhưng hậu quả thì thật không thể tưởng tượng, sẽ có báo ứng. Như lý như pháp mà cầu được thì đây là cái mà bạn đáng được hưởng thụ. Chúng ta đều phải hiểu đạo lý này.
Câu tiếp theo phía sau là “Được sủng ái mà lo sợ”. Đây là vô si. Nếu hợp với hai câu phía trước thì là ba thiện căn: vô tham, vô sân, vô si này. Hết thảy thiện pháp của thế gian đều từ nơi này mà sanh ra.
Hôm nay thời gian đã hết rồi, câu này ngày mai chúng ta sẽ tiếp tục bàn đến.
A Di Đà Phật!
