GIỚI THIỆU VỀ LÃO PHÁP SƯ

Giới thiệu sơ lược về Đạo Sư

LÝ NIỆM

Những lý niệm trong tu học Tịnh Tông

LỜI THANH MINH

Những thanh minh của Lão Pháp sư

SƯ THỪA

Những người Thầy của Lão pháp sư

ĐẠO HỮU

Những người bạn đạo của Lão pháp sư

HỌC HỘI

Giới thiệu về Tịnh Tông Học Hội

Lược thuật các lý niệm quan trọng

Từng đi qua những đô thị phồn hoa rực rỡ, hay ở nơi thôn dã giản đơn mộc mạc; Pháp sư Tịnh Không, vị trí giả tuổi ngoài chín mươi này, chỉ rắp tâm noi gương việc mở lớp dạy học của cổ Thánh tiên Hiền, Phật đà Thánh triết, thức tỉnh hàng trăm triệu nhân tâm, nhận thức nội hàm chân thật của sinh mạng, sáu mươi năm không biết mệt mỏi.

Từ tấm lòng son sắt “cha con có tình thân”, cho đến sự từ bi bác ái của chư Phật thần thánh, tấm lòng rộng lớn bình đẳng của ngài, dẫn dắt mọi người nâng cao tâm linh.

Từ thái độ xử thế cẩn trọng tỉ mỉ, cho đến những tri thức mới mẻ vô cùng về vạn vật trong vũ trụ, trí tuệ duệ triết thánh minh của ngài, khơi dậy mọi người mở rộng tư duy.

Từ những phép tắc dạy dỗ đệ tử để đồng mông dưỡng chánh, cho đến cảnh giới Hoa Nghiêm rốt ráo viên mãn, sự giảng dạy đi sâu vào cạn ra của ngài, khơi gợi mọi người làm phong phú thêm sinh mạng.

Từ ý niệm tâm thức nhỏ bé bằng một phần vạn tỷ, cho đến dòng sông dài luân hồi cuồn cuộn chảy không ngừng nghỉ, những tỷ dụ thiện xảo sinh động của ngài, làm chấn động mọi người buông bỏ mọi giới hạn.

Không có bất kỳ bối cảnh hiển hách nào, trong tay không một tấm bằng học vị; Pháp sư Tịnh Không, vị trưởng giả một mình vượt qua năm châu lục này, chỉ rắp tâm thực tiễn nhân sinh thành kính của Phật đà Thánh triết, đoàn kết tôn giáo đa nguyên, tuyên dương những lời dạy dỗ chân thật của thần thánh, thế giới là một nhà đối xử bình đẳng chung sống hòa mục.

Học không biết chán, dạy người không biết mỏi; vĩnh hằng vạch trần chân tướng sinh mạng vũ trụ cho người đời, chính là việc giảng kinh thuyết pháp ngày ngày không gián đoạn của lão nhân gia ngài.

Từ bi là gốc, phương tiện là cửa; vĩnh hằng quan tâm đến sự hạnh phúc hài hòa an lạc của người đời, chính là tấm lòng bác ái niệm niệm vì chúng sanh của lão nhân gia ngài.

Học làm thầy người, hành làm mẫu mực cho đời; vĩnh hằng khuyến khích người đời tích cực phấn đấu hướng thiện, chính là thân giáo và ngôn giáo vô tư vô ngã của lão nhân gia ngài.

Noi gương cổ Thánh, quay về tâm tánh; vĩnh hằng nhắc nhở người đời nhận thức tự ngã chân thật, chính là phong thái tinh thần thành kính khiêm hòa của lão nhân gia ngài.

Pháp sư Tịnh Không, sinh ra trong thời kỳ chiến loạn đầu thời Dân quốc, trọn đời tận sức cho việc hoằng dương nền giáo dục Thánh Hiền của Phật đà. Tuy chỉ tốt nghiệp trung học cơ sở, nhưng nhờ vào bầu nhiệt huyết chân thành hiếu học, tôn sư trọng đạo, ngài đã trước sau theo học với đại triết gia đương đại là Giáo sư Phương Đông Mỹ, Phật sống Tạng truyền là Đại sư Chương Gia và đại gia Nho học là Thầy Lý Bỉnh Nam trong mười ba năm, cần cù gian khổ dốc chí, rất được các vị thầy yêu thương. Thời thiếu niên, ngài đối với tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, có sự phản cảm khá sâu sắc. Trải qua sự giới thiệu của Giáo sư Phương, “Phật là đại triết, là Thánh triết. Phật giáo là đỉnh cao nhất của triết học thế giới, học Phật là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh”, ngài mới buông xuống thành kiến, đọc tụng kinh Phật. Thời gian đã lâu, càng cảm thấy pháp vị đậm đà. Sau này thân cận Đại sư Chương Gia, từ việc nhận thức Thích-ca Mâu-ni Phật, nỗ lực thực hành lời khai thị “nhìn thấu buông xả”, ngài đã đặt nền móng chân thật cho việc học Phật. Ngài thường mang trong lòng lời răn dạy “chí thành cảm thông” của Thầy Lý Bỉnh Nam, cho đến nay hoằng tông diễn giáo sáu mươi năm mà không gián đoạn, thâu nhiếp trọn vẹn vạn pháp dẫn về Tịnh độ tuyệt đối không nghi ngờ.

Sau khi Pháp sư xuất gia, vào thời khắc hoàn cảnh khốn quẫn nhất, may nhờ thính chúng là Cư sĩ Cao Hàn Anh đã dũng cảm đứng ra, cả nhà hộ trì, cho mượn phủ họ Cao để ở, trải qua mười bảy năm. Dưới sự vất vả tất tả lo liệu của Cư sĩ Hàn Anh, đã thành tựu sự rèn luyện giảng kinh trên bục giảng suốt ba mươi năm của Pháp sư, viên mãn được định tuệ nhu hòa nhẫn nhục sâu sắc của Pháp sư.

Ngày nay, khi chúng ta cung kính chiêm ngưỡng lão nhân gia ngài, được bao quanh trong sự tán thán ủng hộ của vô số đại chúng; hay là thông qua mạng internet, truyền hình vệ tinh, đĩa quang, thấm nhuần trong những lời khai thị trên tòa giảng sinh động thiện xảo, đi sâu vào lòng người của lão nhân gia ngài, chúng ta không ngại gì mà không dụng tâm tỉ mỉ thể hội sự từ bi chân thật “chỉ nguyện chúng sanh được lìa khổ, chẳng cầu an lạc cho chính mình” của vị trưởng giả này. Đó là một loại từ bi vô tận dựa trên cơ sở chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác; trải qua trăm chiết vạn khổ mà không nao núng, nhiều lần chịu sự nghi ngờ phỉ báng khinh nhục mà không thối chuyển. Chính là sự từ bi vô tận chân thật này, đã thành tựu tài biện tuệ giác viên dung vô ngại của lão nhân gia ngài. Chính là nghị lực từ bi trăm chiết không nao núng này, đã khiến cho lão nhân gia ngài trải qua muôn vàn đau khổ, trước sau bước đi vẫn nhẹ nhàng khỏe mạnh, vì sự hài hòa của thế giới mà chẳng từ chối bôn ba lao khổ. Cũng chính là tấm lòng từ bi vô tư vô ngã này, khiến cho lão nhân gia ngài dù nhiều lần gặp phải sự nghi ngờ phỉ báng, vẫn luôn nhìn xa trông rộng, vì chúng sanh phá mê khai ngộ mà không chán việc ân cần khuyên bảo.

Pháp sư học thông Đại đạo của chư Thánh Nho-Phật, thông tông thông giáo, nói viên dung không ngại; lại đối với các loại kiến thức khoa học công nghệ thiên văn đều tìm hiểu sâu rộng, khéo léo lấy tinh hoa của văn hóa giáo dục các tôn giáo; tâm lượng của ngài sâu rộng, tuệ giác sâu xa, đặc biệt là tấm lòng “cả đời không được biết đến mà chẳng hối hận” đó, thực sự không phải kẻ nông cạn như mạt học có thể thăm dò được dù chỉ là một phần vạn. Nay chỉ từ trong sự nhận thức có hạn, đem những khái niệm quan trọng trong việc giảng học thường ngày của ngài, tóm lược sơ qua. Tuy không tránh khỏi sự hẹp hòi của cái nhìn bằng ống quản, đo biển bằng vỏ trai, nhưng vẫn nguyện ôm ấp tấm lòng thành ném gạch nhử ngọc, thử nghiệm từ một góc độ toàn diện hơn, học tập vị trưởng giả có tuổi tác vượt qua thế kỷ, tâm lượng vượt qua tôn giáo, trí tuệ vượt qua cổ kim này. Quan trọng hơn là, hy vọng mượn từ ngôn giáo thân giáo của vị trưởng giả này, để chúng ta mở rộng tầm nhìn, đối với nền giáo dục trí tuệ Thánh Hiền có được sự nhận thức chính xác, lý giải sâu sắc, tiến tới noi gương thực tiễn, cùng hưởng thụ chân thiện mỹ tuệ vốn sẵn có của nhân sinh.

I. Thế nào là Phật đà Thánh Hiền

II. Nhận thức nền giáo dục Phật đà

III. Thực học gắng sức thực hành có diệu dụng lớn

IV. Thủ đoạn theo sát thời đại

V. Đặt lên hàng đầu việc bồi dưỡng giáo viên tốt

VI. Từ bi cứu tế phổ độ quần sanh

VII. Hoa Nghiêm đa nguyên hài hòa

I. Thế nào là Phật đà Thánh Hiền

Người hiện đại hễ nhắc tới Phật, Bồ-tát, thần thánh, hoặc cảm thấy cao sâu khó lường, hoặc liên tưởng đến sự mê tín, hư cấu. Sự giải thích đơn giản rõ ràng của Lão hòa thượng, thực sự khiến người điếc nghe được, người mù thấy được (thức tỉnh nhân tâm):

“Phật” không phải thần tiên, Phật là người. Phật là một con người như thế nào? Chúng ta từ trong tiểu sử một đời của Thích-ca Mâu-ni Phật nhìn thấy, Thích-ca Mâu-ni Phật giống như “Thánh nhân” mà người Trung Quốc nói đến. Điều kiện của Thánh nhân, là đối với hết thảy người, sự, vật trong vũ trụ đều có thể thấu đạt tường minh; nói cách khác, ngài là một người sáng suốt, bề bề đều hiểu, việc việc đều sáng, không mê hoặc, không hồ đồ, gọi là “Thánh nhân”. Nếu đối với hết thảy người, sự, vật không sáng tỏ, không thấu hiểu, thì gọi là “phàm nhân”.

Chúng ta từ Lục thư tạo chữ của Trung Quốc mà xem, chữ “Thánh” (聖) bên dưới là bộ “Nhâm” (壬), tượng trưng cho người ở trên đất, hiên ngang đứng thẳng. Sở dĩ gọi là Thánh giả, đứng sừng sững giữa đám đông, thấu suốt mọi sự lý, nên lấy âm “Nhâm”. Có bộ “Nhĩ” (耳 – tai), không phải chỉ dựa vào tai nghe. Nói rằng tâm thấu hiểu vạn vật, giống như tai thông tỏ âm thanh viên mãn. Do đó nghe tiếng biết tình, đối với mọi việc không gì không thông suốt thì gọi là Thánh. Vì thế ý nghĩa của chữ “Thánh”, là tượng trưng cho người này tâm thấu tỏ thật tướng của các pháp, từ miệng tuyên diễn, đứng sừng sững trong sáu đường mười pháp giới, giúp đỡ chúng sanh phá mê khai ngộ.

Thế nào là “Thần” (神) vậy? Định nghĩa của Lục thư là “thông minh chính trực thì gọi là thần”. Một bên của chữ “Thần” là chữ “Thị” (示); cách viết của chữ thị này, phía trên là hai nét ngang, nét ngang trên ngắn, nét ngang dưới dài, đây là chữ “Thượng” (上 – trên) thời cổ đại. Thượng chỉ cho trời cao. Bên dưới có ba nét rủ xuống, là thùy tượng (điềm báo). Vì vậy ý nghĩa của chữ “Thị”, cổ nhân giảng là “ông trời thả điềm báo”, người hiện đại gọi đó là hiện tượng tự nhiên. Phía bên phải của chữ “Thần” là chữ “Thân” (申), viết bằng chữ triện, giống như một cái lưới có ba cửa ải, ba cửa ải là chướng ngại. Nét sổ thẳng này giống như thanh bảo kiếm, có thể phá trừ ba tầng chướng ngại, thông suốt không bị cản trở, cho nên chữ “Thân” đại biểu cho sự thông đạt. Ba tầng chướng ngại này, chính là vật dục mà Thánh nhân Trung Quốc nói đến, cũng là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà trong cửa Phật nói đến. Từ đây có thể biết, bổn ý của chữ “Thần” này, là có thể phá trừ vật dục (cách vật), buông xả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, thấu đạt tường minh mọi hiện tượng tự nhiên. Cho nên thần là trí tuệ, là rõ ràng, chứ không phải mê tín!

Người Trung Quốc tôn xưng những bậc thấu đạt chân tướng vũ trụ là “Thánh Hiền”, ở Ấn Độ, thì gọi các ngài là “Phật, Bồ-tát”. Các danh từ Phật, Bồ-tát, A-la-hán v.v., đều là âm dịch từ tiếng Phạn. Người có thể triệt để buông xả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đối với hết thảy tánh tướng, nhân quả, sự lý của vạn pháp đều thấu đạt viên mãn, thì gọi là “Phật”. “Bồ-tát” có thể buông xả phân biệt, chấp trước, tuy thấu đạt nhưng vẫn chưa viên mãn. Nếu chỉ buông xả chấp trước, mức độ thấu đạt thấp hơn một bậc, thì gọi là “A-la-hán”.

Nếu dùng tên gọi học vị để xem, Phật giống như Tiến sĩ, Bồ-tát giống như Thạc sĩ, A-la-hán giống như Cử nhân. Cho nên Phật, Bồ-tát, thần thánh, hiền sĩ đều không mang sắc thái mê tín, mà là những bậc chân thật thấu đạt sự lý, là tấm gương tốt đáng để chúng ta noi gương học tập.

Lão hòa thượng thường nói, Thích-ca Mâu-ni Phật năm xưa vứt bỏ vương vị, là vì đã thấu hiểu triệt để, hy vọng giúp đỡ chúng sanh đạt được hạnh phúc an lạc, chỉ có giáo dục, nền giáo dục về luân lý, đạo đức, nhân quả, khoa học và triết học của Thánh Hiền, nền giáo dục nhân ái hòa bình không phân biệt tôn giáo tộc quần, hữu giáo vô loại (có dạy không phân loại), mới có thể chân thật làm được. Điều này cùng với lý niệm “dựng nước lãnh đạo dân, dạy học là đầu” của Thánh vương Trung Quốc không mưu mà hợp. Cổ Thánh tiên vương hiểu rõ, các thủ đoạn như vũ lực, quân sự, văn hóa, kinh tế, chính trị v.v., có thể làm sự phụ trợ cho nền giáo dục luân lý đạo đức, nếu làm thủ đoạn chính, thì rất khó đạt được viên mãn mục đích giúp đỡ chúng sanh lìa khổ được vui. Cho nên, Thích-ca Mâu-ni Phật từ bỏ vương vị, cả đời dấn thân vào công tác giáo dục nghĩa vụ về văn hóa đa nguyên, bốn mươi chín năm giảng kinh thuyết pháp chưa từng gián đoạn.

Giống như việc Khổng lão phu tử chu du liệt quốc mười bốn năm, hy vọng có thể gặp được minh quân, thi hành lý tưởng hoài bão về nền nhân chính. Đáng tiếc là trước sau nhân duyên không đủ, đành phải về quê dạy học. Năm năm sau thì từ giã cõi đời. Thế nhưng sức ảnh hưởng từ việc dạy học trong năm năm này của phu tử, đích thực vượt xa sức mạnh của chính trị, tộc quần, kinh tế, vượt qua cả cổ kim trong ngoài. Không những người đời sau tôn xưng ngài là “Tố vương”, “Chí Thánh tiên sư”, mà ngay cả ngày nay sau hai ngàn năm trăm năm, nếu nhắc tới các bậc đế vương tướng tướng cổ kim trong ngoài, chưa chắc ai ai cũng biết; nhưng hễ nhắc tới Khổng lão phu tử, thì ngay cả người phương Tây cũng không thể không chân thành khâm phục. Đây chính là sức mạnh vĩ đại của nền giáo dục luân lý đạo đức. Đây là một tiếng gọi từ sâu thẳm trong tâm linh chí thành không giả dối, là sự tuôn chảy thông suốt của đức năng viên mãn sẵn có trong tự tánh mỗi người, chứ không phải là những quy chương ràng buộc do Thánh Hiền Phật Bồ-tát chế định. Vì vậy có thể siêu việt thời không văn tự, cùng thiên địa vạn vật tâm tâm tương ấn. Các bậc Thánh như Nghiêu, Thuấn, Văn, Vũ, Khổng, Mạnh được truyền thừa nối tiếp nhau, sáng rọi cùng nhật nguyệt. Chư Phật Bồ-tát, Tổ sư Đại đức hiển phát viên mãn, thì quang thọ vô lượng.

II. Nhận thức nền giáo dục Phật đà

Khổng tử nói: “Danh không chính, thì ngôn không thuận; ngôn không thuận, thì sự không thành; sự không thành, thì lễ nhạc không hưng thịnh; lễ nhạc không hưng thịnh, thì hình phạt không trúng; hình phạt không trúng, thì dân chúng không biết để tay chân vào đâu. Do đó quân tử danh này ắt có thể nói được, lời nói này ắt có thể làm được. Quân tử đối với lời nói của mình, không cẩu thả mà thôi vậy.” (“Luận Ngữ” chương 13) Vì vậy, Lão hòa thượng từ khi xuất gia đến nay, một việc quan trọng nhất, chính là chánh danh cho Phật giáo.

1. Tính chất

“Phật” có nghĩa là giác ngộ, trí tuệ. Đáng quý nhất là, trí tuệ giác ngộ viên mãn này, hết thảy chúng sanh đều có một cách bình đẳng, người người đều có thể chứng được; nói cách khác, người người đều có thể thành Phật. Việc này không liên quan đến ngôn ngữ văn tự, mấu chốt nằm ở chỗ buông xả triệt để “vọng tưởng, phân biệt, chấp trước”. Ba ngàn năm trước tại Ấn Độ, Thích-ca Mâu-ni Phật đã làm chứng minh tốt nhất cho chúng ta, một ngàn bảy trăm năm sau tại Trung Quốc, Lục tổ Thiền tông là Đại sư Huệ Năng cũng thị hiện tấm gương tốt nhất cho chúng ta.

Thích-ca Mâu-ni Phật sau khi khai ngộ chứng đạo, câu nói đầu tiên ngài nói: “Lạ thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng của Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng được.” Từ đây có thể biết, trí tuệ, đức năng, tướng hảo viên mãn mà Phật đà chứng được, hết thảy chúng sanh; không chỉ là nhân loại, mà bao gồm cả những con kiến côn trùng nhỏ bé nhất, những chúng sanh nơi địa ngục tạo ác nghiệp cực nặng, đức năng trong tự tánh đều là bình đẳng viên mãn đầy đủ. Thích-ca Mâu-ni Phật không nhiều hơn chúng ta một phân, con kiến côn trùng nhỏ cũng không ít hơn chúng ta một phân. Nhưng vì sao ngày nay chúng ta lại cách biệt quá xa so với trí tuệ, đức hạnh, tướng mạo, sự hưởng thụ v.v. của Phật, Bồ-tát vậy? Phật đã nói rồi: Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nghiêm trọng, cho nên tướng mạo, phước báo, trí tuệ, đức hạnh thua xa Phật, Bồ-tát. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của kiến côn trùng, của chúng sanh địa ngục còn nặng hơn chúng ta, do đó sự thọ dụng lại càng không bằng chúng sanh cõi người.

Lão hòa thượng nói, giáo dục Phật đà, là nền giáo dục chân thật dạy chúng ta buông xả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, làm một bậc đại trượng phu đội trời đạp đất. Là nền giáo dục trí tuệ dạy dỗ chúng sanh quay về với tự tánh, hiển hiện bản sắc của chân ngã. Tu hành, là tu sửa những tư tưởng hành vi sai lầm, cũng tức là quá trình buông xả phân biệt chấp trước. Chứng đạo, thì là thành quả của việc buông xả vọng tưởng phân biệt chấp trước, khôi phục lại trí tuệ đức năng viên mãn.

Một tín đồ Cơ Đốc giáo tên là Hiểu Ân, trong một bài viết mang tựa đề “Sự nghi hoặc của Phật giáo” đã nói: “Pháp sư Tịnh Không nói Phật giáo là nền giáo dục Phật đà, là nền giáo dục về trí tuệ, giác ngộ vũ trụ nhân sinh. Phật giáo hiện đại ít nhất có bốn hình thức tồn tại khác nhau: Thứ nhất, Phật giáo truyền thống, chính là giáo dục Phật đà. Thứ hai, Phật giáo tôn giáo, Phật giáo vốn không phải là tôn giáo, hiện nay biến thành tôn giáo rồi. Thứ ba, Phật học, Phật giáo biến thành học thuật, biến thành triết học rồi. Thứ tư, Phật giáo tà môn ngoại đạo, đây là điều mới xuất hiện trong ba, bốn mươi năm gần đây, đó là điều vô cùng bất hạnh. Phật giáo Trung Quốc đã xả bỏ Tiểu thừa, lấy Nho và Đạo để thay thế Tiểu thừa, đặc biệt là lấy đức hạnh của Khổng lão phu tử, và nền giáo dục nhân quả của Đạo gia, làm căn cơ cho chúng ta bước vào cửa Phật, đây là đặc sắc của Phật pháp Đại thừa Trung Quốc. Pháp sư Tịnh Không giống như là đệ tử đích truyền của Thích-ca Mâu-ni Phật, người hiểu rõ nhất chân ý của Phật giáo.” (Trang web Cơ Đốc giáo http://www.godoor.net/text/ziliao/fyzl09.htm Cánh cửa của các tín ngưỡng khác – Sự nghi hoặc của Phật giáo)

2. Nội hàm

Lão hòa thượng thường nói, Phật giáo, là nền giáo dục xã hội văn hóa đa nguyên chí thiện viên mãn của Thích-ca Mâu-ni Phật đối với chúng sanh trong chín pháp giới. Về mặt thời gian mà nói, bao gồm quá khứ, hiện tại, vị lai. Về mặt không gian mà nói, từ cuộc sống trước mắt của chúng ta, suy diễn mãi cho đến thế giới vô tận. Không phân biệt quốc gia, tộc quần, tôn giáo, hàm chứa không gian đa chiều vô hạn.

Năm Dân quốc thứ mười hai (1923), đại gia Phật học là tiên sinh Âu Dương Cánh Vô từng phát biểu một bài diễn giảng tại Đại học Trung Sơn thứ tư (nay gọi là Đại học Sư phạm Nam Kinh), đề tài diễn giảng là: “Phật pháp không phải tôn giáo, không phải triết học, mà là điều cần thiết cho thời nay”. Lúc bấy giờ đã gây ra chấn động khá lớn tại Trung Quốc.

Vì sao nói “Phật pháp không phải tôn giáo” vậy? Lão hòa thượng giải thích, trong tôn giáo, Thượng đế và nhân dân là quan hệ “chủ tớ”, “cha con”; Thượng đế sáng tạo ra vạn vật, nhân dân không thể nào trở thành Thượng đế. “Tôn giáo” mà cửa Phật nói đến, “Tông” là chỉ Thiền tông, “Giáo” là chỉ giáo hạ, là tên gọi chung của các pháp môn học tập khác nhau.

“Phật pháp không phải triết học”. Vì trong triết học nhất định có năng sở, có đối đãi, nên mới có thuyết duy tâm, duy vật. Còn Phật pháp giải thích rõ vạn pháp trong vũ trụ, “chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”, thì “năng sở là một”, “tâm vật không hai”, tuyệt đối không có chút mảy may phân biệt đối lập nào.

Đề tài diễn giảng của tiên sinh Âu Dương, tuy chưa tổng kết rốt cuộc Phật pháp là gì, nhưng từ trong nội dung bài diễn giảng của tiên sinh, có thể thể hội được, Phật giáo đích thực là giáo dục. Lão hòa thượng từ trong sự thể hội học tập của năm mươi năm qua, càng chỉ ra rõ ràng, Phật giáo không phải tôn giáo, mà là nền giáo dục dung nhiếp một cách viên mãn các nền giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, khoa học, triết học, và là nền giáo dục chí thiện đạt đến đỉnh cao nhất của năm loại giáo dục này.

3. Hiệu quả

Lão hòa thượng thường nói, hiệu quả của việc dạy học Phật pháp, là giúp đỡ hết thảy chúng sanh hóa thù thành bạn, chuyển ác thành thiện, hóa mê thành ngộ, chuyển phàm thành Thánh. Nếu chân thật nỗ lực thực tiễn, nhỏ thì có thể chuyển biến vận mệnh cá nhân, lìa khổ được vui, vừa thì có thể hóa giải tất cả mâu thuẫn xung đột, giải quyết đủ loại vấn đề phức tạp, thực tiễn một thế giới hài hòa; lớn thì có thể chân thật thoát khỏi sanh tử luân hồi, cùng với chúng sanh trong pháp giới cùng chung hưởng nhân sinh hạnh phúc chân thiện mỹ tuệ viên mãn vĩnh hằng. Đặc biệt khi ở vào xã hội hiện đại, nhỏ từ cá nhân, gia đình, lớn đến quốc gia, thế giới, tràn ngập mâu thuẫn xung đột, ưu bi khổ não. Phật pháp cho đến nền giáo dục luân lý đạo đức Thánh Hiền của tất cả các tôn giáo, đích thực đúng như tiên sinh Âu Dương Cánh Vô đã nói: “mà là điều cần thiết cho thời nay.”

4. Tu học

Lão hòa thượng trong bài nói chuyện khi nhận lời mời đến “Hiệp hội Nho học Quốc tế” vào năm 2007 đã nói đến:

“Ba nhà Nho-Thích-Đạo, vào thời cổ đại đều không phải là tôn giáo, mà là giáo dục. Hơn nữa ba loại giáo dục này từ sớm đã dung hợp làm một thể. Nền giáo dục luân lý của Nho gia; nền giáo dục nhân quả của Đạo gia; nền giáo dục viên mãn của Phật gia, người bình thường từ nhỏ đều đã định sẵn nền tảng. Căn sâu gốc vững, sau đó một môn thâm nhập, mười năm huân tu, cổ nhân nói ‘mười năm đèn sách, một sớm thành danh’, đây là sự thật, cũng là điều tự chúng tôi tận mắt nhìn thấy.

Tổng cương lĩnh của việc dạy học, Nho gia giảng rất tóm tắt, rõ ràng, chính là tám câu đầu tiên trên “Tam Tự Kinh” (Nhân chi sơ, tính bản thiện. Tính tương cận, tập tương viễn. Cẩu bất giáo, tính nãi thiên. Giáo chi đạo, quý dĩ chuyên).

Việc dạy học trước tiên khẳng định ‘nhân tính bản thiện’, ‘nhân chi sơ, tính bản thiện’, ‘tính tương cận, tập tương viễn’, lý niệm dạy học của Thánh Hiền phát sinh từ chỗ này. ‘Cẩu bất giáo, tính nãi thiên’, thực chất và việc thi hành của giáo dục, chính là căn cứ vào hai câu này. Nếu như không dạy, tập tính và bản tính của chúng sanh quyết định là càng rời càng xa; bản tính vốn là thiện, tập tính là bất thiện, nói cách khác, chính là học theo thói xấu rồi. Cho nên “giáo chi đạo, quý dĩ chuyên”, câu này quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Con người có thể trở thành Thánh Hiền hào kiệt, không có gì khác, chính là chuyên. Dạy là chuyên, học cũng là chuyên, chữ chuyên này chính là nền giáo dục giới định tuệ mà nhà Phật đã nói, không thể không coi trọng.

Còn về ba cái gốc của Nho Thích Đạo, ví như Thập Thiện Nghiệp Đạo, so với Đại tạng kinh của Phật, tôi cảm thấy phân lượng nên là bình đẳng với nhau, vì sao vậy? Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo chính là căn bản của những gì Thích-ca Mâu-ni Phật đã học, đã tu, đã dạy, đã truyền trong suốt bốn mươi chín năm, cũng chính là việc giáo dục Phật đà được thực tiễn vào trong đời sống sinh hoạt của con người, là sự sinh hoạt hóa của toàn bộ “Đại tạng kinh”, “Đại tạng kinh” được thực tiễn vào trong công việc, thực tiễn vào trong đối nhân xử thế tiếp vật, thì chính là “Thập Thiện Nghiệp Đạo”. “Đệ Tử Quy” nên được xem là có mức độ tương đương với “Nho tạng”, “Cảm Ứng Thiên” và “Đạo tạng” cũng là tương đương với nhau. Chúng ta phải coi trọng ba cái gốc này như thế, tôn trọng ba cái gốc này, nghiêm túc tu học ba cái gốc này, sau đó lại mang nó phát dương quang đại. Đầy đủ sự tu dưỡng của ba cái gốc này, tức là có được điều kiện cơ bản để bồi dưỡng thành Thánh Hiền, sau đó chuyên tâm tấn công vào một môn, huân tu thời gian dài, quyết định sẽ có được thành tựu to lớn giống y như cổ Thánh tiên Hiền.”

Do trên mà biết, Lão hòa thượng dùng lời lẽ ân cần thiết tha khuyên dạy các đồng tu học Phật nên coi trọng “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên” và “Thập Thiện Nghiệp”, [hàng xuất gia thì cộng thêm “Sa-di Luật Nghi”], làm nền tảng trì giới căn bản quan trọng hàng đầu. Đây là hướng đến căn tánh của chúng sanh ngày nay, để thực tiễn lời răn dạy chân thật của Thích-ca Mâu-ni Phật là “lấy giới làm thầy, lấy khổ làm thầy”. Đồng thời nền tảng ba môn này, cũng là nền tảng cần phải có để thành tựu tất cả học vấn sự nghiệp thế xuất thế gian. Là nền giáo dục chân thật không thể thiếu để thực tiễn “xã hội hài hòa, thế giới hài hòa”. Đơn giản rõ ràng, mang tính thực dụng cực cao.

5. Nguyên tắc: Từ bi là gốc, phương tiện là cửa

Lão hòa thượng thường nói, tinh thần của Phật pháp là dạy chúng ta giác ngộ. Tổng cương lĩnh của việc tu học là ba câu nói: “giác mà không mê, chánh mà không tà, tịnh mà không nhiễm”. Về mặt phương thức thủ đoạn, ngài nhấn mạnh tính bản địa hóa, hiện đại hóa, theo sát thời đại. Bất luận ở nơi nào, đều không làm thay đổi tín ngưỡng vốn có của địa phương đó, chỉ giúp đỡ mọi người nâng cao bản chất và nội hàm của tín ngưỡng vốn có. Ví dụ, đối với người bái thần, Phật đem chân tướng của thần nói rõ ràng tường tận, để chúng ta kính ngưỡng đức của thần, noi gương sự thông minh chính trực của thần, đây chính là nền giáo dục chuyển hóa mê tín thành trí tuệ.

Ví dụ rất rõ ràng, Phật pháp vào năm 67 sau Công nguyên, Hán Minh Đế đã chính thức nghênh thỉnh đưa vào Trung Quốc. Hơn hai ngàn năm nay, hòa quyện với văn hóa Trung Quốc như nước với sữa, làm tăng thêm vẻ đẹp cho nhau. Nguyên nhân là do Phật giáo hễ đi vào Trung Quốc liền được Trung Quốc hóa, bất luận là ở trang phục, kiến trúc, tư tưởng văn hóa, thói quen sinh hoạt, lý niệm đạo đức, nó đã hòa thành một khối với Trung Quốc, cho nên toàn thể nhân dân Trung Quốc chấp nhận nó, dung nạp nó trở thành văn hóa bản địa. Từ đây có thể biết, thái độ của Phật giáo đối với bất kỳ quốc gia dân tộc nào, là tuyệt đối tôn trọng văn hóa bản địa, hoàn toàn không hề có sự đối lập với bản địa, điều nó chú trọng là viên dung một thể.

Lão hòa thượng cũng thường lấy ví dụ, Phật giáo truyền đến Tây Tạng, muộn hơn vùng đất Hán ở Trung Quốc khoảng sáu trăm năm, là do công chúa Văn Thành đời Đường mang đến Tây Tạng. Nhưng trước khi Phật giáo truyền vào, người dân Tây Tạng đã có tôn giáo của riêng mình, quỷ thần mà họ bái rất phức tạp. Sau khi Phật giáo truyền đến đó, đã hoàn toàn tiếp nhận những vị thần này, ngay cả nghi thức tôn giáo cũng không thay đổi, nhưng khi giảng giải nội hàm của nó, thì đã dung hợp lấy tinh thần Phật pháp là “giác, chánh, tịnh”, nâng cao được tố chất tín ngưỡng vốn có của nó. Cớ sao vậy? Cần biết rằng nhân dân Tây Tạng tín ngưỡng tôn giáo địa phương đã nhiều năm, căn sâu gốc vững, nếu như Phật giáo phản đối nó, bài xích nó, thì không có cách nào đứng vững tại địa phương đó để lợi ích hết thảy chúng sanh. Từ đây có thể thể hiện được trí tuệ từ bi bình đẳng viên dung của Phật pháp.

6. Nơi dẫn về: Giảng rộng các kinh, chỉ dẫn về Cực Lạc

Giống như phần lớn các đồng tu đều thấu hiểu, một trong những đặc sắc lớn nhất trong việc giảng kinh của Lão hòa thượng, trên phương diện giải môn, là giảng rộng các kinh mà nơi nơi đều dẫn về Tịnh độ, viên dung vô ngại. Ở trong hành môn, thì phổ khuyến đại chúng đoạn ác tu thiện, lấy việc niệm Phật cầu sanh Tây Phương làm việc lớn quan trọng nhất.

Trong sự nghiệp giảng dạy năm mươi năm như một ngày, Lão hòa thượng không chuộng nói huyền diệu, mà chuyên trọng thực chất. Bất luận là lên bục giảng kinh, hay trong những lúc nhàn đàm trong cuộc sống, ngài đều có thể viện dẫn rộng rãi, nói lý tinh xác, khéo léo kết hợp khoa học, mượn dùng tỷ dụ một cách khéo léo, mang rất nhiều khái niệm sâu sắc, huyền bí, hoặc khiến người ta hiểu lầm là tiêu cực trong Phật pháp, giới thiệu cho mọi người một cách đi sâu vào cạn ra. Đặc biệt đối với tánh tướng nhân quả của Tịnh độ tông, ngài giảng cực kỳ thấu triệt thiết yếu, sinh động thiết thực, giáo lý giáo nghĩa, nói viên dung không ngại. Không những có ảnh hưởng sâu rộng đối với việc hoằng dương pháp môn Tịnh độ, mà trong giới Phật giáo ngày nay, cho đến giới tôn giáo, giới học thuật thế giới, đều nhận được sự khẳng định cao độ. “Dựa vào tâm hạnh của Bồ-tát trong kinh Phạm Võng, tu pháp giác chánh tịnh của tự tánh, vào cảnh giới vô ngại của kinh Hoa Nghiêm, trụ ở Tịnh độ Tịch Quang của Phật Di Đà.” Có thể nói đây là tâm yếu tu học tự hành hóa tha trọn đời của lão nhân gia ngài.

III. Thực học gắng sức thực hành có diệu dụng lớn

Lão hòa thượng giảng kinh cho đến nay đã năm mươi năm, bất luận là yêu cầu đối với tự ngã, hay là dạy dỗ hàng hậu học, ngài đều đặc biệt nhấn mạnh “học làm thầy người, hành làm mẫu mực cho đời”. Thân giáo quan trọng hơn ngôn giáo, chân thật thực tiễn thì mới đạt được lợi ích chân thật. Thế giới hài hòa, cần phải bắt đầu làm từ tâm tôi. Nhân từ bác ái, cần phải bắt đầu làm từ sự khiêm nhường nhu hòa.

Lão hòa thượng từng nhận lời mời đến thăm các học phủ nổi tiếng như Oxford, London, Cambridge v.v., tiến hành giao lưu với các giáo sư, nghiên cứu sinh của Viện nghiên cứu Hán học trong và ngoài nước, vô cùng hoan hỉ. Ngài cảm nhận sâu sắc rằng học giả ngày nay tuy nhiệt tâm với Hán học, nhưng phần nhiều chỉ dừng lại ở việc thảo luận học thuật, khó mà đạt được sự thọ dụng chân thật. Cho nên Lão hòa thượng trong các buổi dạy học, tụ hội, diễn giảng, thường xuyên nhấn mạnh hai khái niệm “Nho học, Đạo học, Phật học, và học Nho, học Đạo, học Phật” là hoàn toàn khác nhau. “Sự nhân từ bác ái của Thánh triết, cần phải dựa vào tư tưởng ngôn hạnh của chính người học, thực tiễn vào trong đối nhân xử thế tiếp vật, thì mới có thể chân thật phát dương quang đại. Lời dạy bảo trong các điển tịch thần thánh, cũng là để chúng ta bắt đầu làm từ việc chuyển biến chính mình (như tứ tuyệt của Khổng tử: vô ý, là buông xả vọng tưởng; vô tất, là buông xả phân biệt; vô cố, là buông xả chấp trước; vô ngã, là buông xả sự ích kỷ). Lập chí làm Thánh Hiền, thì nên hóa giải sự đối lập và xung đột đối với hết thảy người, sự, vật từ nơi sâu thẳm trong nội tâm của chính mình trước, thì mới có thể thể hội được ý nghĩa chân thật của câu ‘học rồi thường xuyên thực tập, chẳng cũng vui sao’.”

Năm 2005, Lão hòa thượng đã thành lập “Trung tâm Giáo dục Văn hóa Lư Giang” tại quê nhà An Huy, Trung Quốc để làm khu vực thực nghiệm. Trung tâm này lấy việc bồi dưỡng giáo viên tốt, thúc đẩy nền giáo dục đạo đức toàn dân làm tôn chỉ, trong dự kiến, hy vọng ba năm sẽ thấy được thành hiệu. Thế nhưng trung tâm dạy học chưa tới nửa năm, đã đạt được hiệu quả thức tỉnh lương tri lương năng của nhân dân; phong khí dân gian thuần phác của tám mươi ngàn người dân thị trấn nhỏ Thang Trì đã nâng cao một cách rõ rệt, thành quả thực sự là điều không ngờ tới lúc ban đầu! Nghiên cứu kỹ mấu chốt quan trọng làm nên sự thành công trong việc thực nghiệm dạy học của trung tâm, chính là các vị thầy của trung tâm đều có thể tự thân gắng sức thực hành, nghiêm túc thực tiễn lời dạy dỗ của “Đệ Tử Quy”. Do vậy sự ngôn giáo ân cần của họ, tự nhiên cắm sâu vào lòng dân. Chứng minh chân lý mà cổ nhân Trung Quốc đã nói: “Từ thiên tử cho đến thứ dân, đều phải lấy tu thân làm gốc, dạy học là đầu”.

IV. Phương thức theo sát thời đại

1. Mở bản quyền, in tặng số lượng lớn điển tịch, đĩa quang

Bấy nhiêu năm nay, Lão hòa thượng Tịnh công nắm giữ tháo thủ “mang đến lợi ích chân thật cho chúng sanh”, “coi trọng giáo dục hơn trân bảo, xem nhẹ vàng bạc như đất cục”, không chạy theo trào lưu, mở bản quyền, mở ra phong khí “in tặng miễn phí kinh điển sách thiện, lưu thông đĩa quang âm thanh hình ảnh”. Ngài khuyến khích các bạn đồng học dưới nguyên tắc “không nên tự ý sửa đổi văn tự, bóp méo hàm ý của nội dung”, vô điều kiện trao tặng cho những nhân sĩ ở các nơi đang cần pháp bảo là kinh điển sách thiện. Dưới sự xướng đạo của lão nhân gia ngài, năm 1962 “Hoa Tạng Pháp Thí Hội” được thành lập, tháng 1 năm 1985 “Quỹ Giáo dục Phật đà” chính thức được thành lập tại Đài Bắc. Nhiều năm qua, trên toàn cầu đã lần lượt có hơn một trăm Tịnh Tông Học Hội được thành lập, đều là do cảm động trước sự giáo hóa của Lão hòa thượng, dưới tôn chỉ “xiển minh luân lý đạo đức, quảng bá giáo dục Phật đà, hoằng dương pháp môn Tịnh tông”, để xuất bản kinh điển cửa Phật, trước tác của Tổ sư Đại đức các đời, và các loại văn hiến trân quý như “Tứ Thư”, “Ngũ Kinh” v.v. của Nho gia, phát hành đĩa quang giảng kinh. Những văn hiến pháp bảo được tặng miễn phí này, số lượng nhiều, phân bổ rộng rãi đến mức, tuy không có thống kê chính xác, nhưng từ năm 1998, các đoàn thể nhận pháp bảo do “Quỹ Giáo dục Phật đà” trao tặng tại các quốc gia trên thế giới đã lên đến hơn hai trăm đoàn thể, tổng số kinh điển đạt đến hơn hai vạn tám ngàn thùng (hơn một triệu bảy trăm ngàn quyển), có thể thấy được một phần. Lại như từ năm 1989 đến 1995, Lão hòa thượng trao tặng “Đại tạng kinh” (mỗi bộ một trăm quyển) cho Trung Quốc Đại lục đạt đến hơn tám trăm bộ, năm 1993 tặng cho Thư viện Bắc Kinh, Thư viện Thượng Hải và các trường đại học trọng điểm trên cả nước những bộ “Tứ Khố Hội Yếu” (mỗi bộ năm trăm quyển) hoặc “Tứ Khố Toàn Thư” (mỗi bộ một ngàn năm trăm quyển). Năm 1999 ngài lại quyên tặng cho giới Phật giáo Đại lục năm trăm bộ “Càn Long Đại tạng kinh”, đồng thời cũng quyên tặng cho giới Phật giáo Đông Nam Á năm trăm bộ. Còn lại ngài tặng cho các thư viện quốc gia, học phủ bậc cao, các giới tôn giáo và đạo tràng tự viện tại các châu lục như châu Âu, châu Á, châu Mỹ, châu Phi, châu Úc mười ngàn bộ “Đại tạng kinh”, một trăm bộ “Tứ Khố Toàn Thư”, bốn mươi chín bộ “Hội Yếu” v.v., đều là cung cấp vô điều kiện, để làm đồ trân tàng sử dụng cho việc giao lưu văn hóa tôn giáo đa nguyên trên thế giới, cũng như cho những người có chí hướng học tập nghiên cứu.

Lão pháp sư thường miễn lệ các bạn đồng học: “Người ta tặng sách cho tôi, tôi điều đầu tiên là xem trang bản quyền. Nếu trên trang bản quyền in chữ ‘Giữ bản quyền’, tôi cũng không lãng phí thời gian đi xem nó. ‘Giữ bản quyền’ điều này đại biểu cho tâm lượng của họ rất nhỏ hẹp, có viết hay thế nào đi nữa, cũng không ra khỏi phạm vi đó. Nếu như nhìn thấy trang bản quyền ghi là ‘Hoan nghênh in lại’, không có bản quyền, điều này tôi rất hoan hỉ, nhất định sẽ xem hết từ đầu đến cuối. Điều này nói rõ chúng ta học Phật nên niệm niệm phải học theo Phật Bồ-tát, học tấm lòng đại từ bi của Phật Bồ-tát, ‘đồng thể đại bi, vô duyên đại từ’, vô duyên chính là ‘không có điều kiện’, toàn tâm toàn lực giúp đỡ chúng sanh, làm lợi ích cho chúng sanh.”

Trên con đường hoằng hộ chánh pháp, tràn ngập vô số những khen chê tán thán phỉ báng. Lão hòa thượng mấy chục năm như một ngày, trước sau chẳng đổi phong thái “chỉ mở ra phong khí chứ không làm người dẫn đầu”, “tùy duyên làm tròn bổn phận, tuyệt đối không phan duyên quyên hóa” của mình. Ngài kiên thủ việc thực hành “không làm giặc nước, không phỉ báng quốc chủ” trong kinh Phạm Võng, “không trốn thuế nước, không phạm luật nước” trong kinh Anh Lạc. Chỉ có một thân một mình, luôn lấy “đôn luân tận phận, nhàn tà tồn thành, thật thà niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ” để tự khích lệ tự miễn lệ mình.

2. Tuyển lấy những câu nói vàng ngọc, khuyến khích đại chúng đọc sách Thánh Hiền

Để cải thiện sự đáng tiếc của người hiện đại là thiếu nền tảng cổ văn, hơn nữa công việc bận rộn, thân tâm tràn ngập áp lực, Lão hòa thượng đặc biệt đề xướng hội tập các loại sách, tuyển lấy các câu cách ngôn; hoặc mang kinh điển sách thiện thu âm thành sách nói, nâng cao hứng thú học tập của đại chúng xã hội. Như trong Phật thất tại Dallas, nước Mỹ, ngài đã khai thị:

“Thế giới ngày nay loạn đến tột cùng, mọi người đều mong cầu sự yên trị. Muốn cầu cứu tế khắp toàn cầu, cứu nạn kiếp đang gấp như lửa sém lông mày, hóa giải sự bạo ngược thành vô hình, thì ắt phải khiến cho hết thảy chúng sanh, người người giữ tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt, làm người tốt. Muốn đạt được mục đích này, chỉ có cách ra sức đề xướng nền giáo dục đại giác, lấy những lời răn dạy vàng ngọc của bậc Thánh triết cổ kim trong ngoài làm chỗ nương tựa, để mong thiết lập nên nhận thức chung. Phật nói: Kiến hòa đồng giải, giới hòa đồng tu. Thế là có ý nghĩ hội tập các loại sách, tuyển lấy các câu cách ngôn. Như: ‘Đại tạng kinh’ của Phật giáo, ‘Tứ Khố Toàn Thư’, ‘Tứ Khố Hội Yếu’, Sử giám quần thư v.v. của Trung Quốc, đều có thể trích lấy để biên soạn thành sách Tinh hoa lục để lưu thông. Ắt phải khiến hết thảy chúng sanh có thể đọc, có thể hiểu, có thể thực hành, thì mới không phụ tấm lòng ân cần rủ lòng giáo hóa của Thánh triết từ xưa. Cương lĩnh tuyển lấy:

(1) Lấy những câu ngắn dễ hiểu rõ ràng, không lấy những đoạn văn dài.

(2) Lấy những lời dạy dỗ thực dụng cấp thiết, không lấy những lời bàn luận huyền diệu không sát thực tế.

(3) Lấy những lời răn dạy ắt mang lại lợi ích cho sự tu dưỡng của bản thân, hạnh phúc gia đình, sự nghiệp thành công, khiến cho xã hội hài hòa, quốc gia giàu mạnh, thế giới hòa bình, các dân tộc, các học phái, các tôn giáo cùng tồn tại cùng phồn vinh làm chuẩn tắc tuyển lấy.

(4) Phân loại hội tập biên soạn thành một tập sách, dịch sang các loại ngôn ngữ lưu thông trên thế giới. Giới thiệu tinh hoa văn hóa Trung Hoa, thúc đẩy thế giới đại đồng, là mục tiêu lý tưởng của chúng ta vậy.

(5) Hoặc như tinh hoa học thuật phương Tây: Hồi giáo, Tân Cựu Ước, tinh hoa cách ngôn lời răn vàng ngọc, nếu có thể lưu thông phổ biến trên toàn cầu, chắc chắn có thể thiết lập nên một thế giới mỹ mãn có nhận thức chung, cùng tồn tại, cùng phồn vinh, hòa mục đại đồng, giúp đỡ lẫn nhau cùng có lợi ích.”

3. Dạy học từ xa, khéo dùng kỹ thuật truyền thông công nghệ cao

“Đạo tràng của thế kỷ hai mươi mốt, nên là mạng internet, truyền hình vệ tinh.” Khoảng hai mươi năm trước, Lão hòa thượng đã đề ra cấu tứ này.

“Việc dạy học của chúng ta, chỉ cần một phim trường nho nhỏ là đủ rồi. Mỗi ngày ở trong phim trường đối diện với máy quay phim để giảng kinh, ngay lập tức truyền bá đến toàn thế giới thông qua mạng internet, truyền hình vệ tinh. Thông qua sự truyền bá của vệ tinh, đem Phật pháp đưa đến tận nhà của mỗi một người, đưa đến tận mạng internet, màn hình máy tính trên tay mỗi người. Ai đi tiếp nhận? Người có duyên! Phật độ người có duyên.”

Dưới sự dẫn dắt bằng tư tưởng tiên tiến cởi mở của Lão hòa thượng, năm 1995 “Mạng Tuyển tập Pháp sư Tịnh Không” đã được thành lập đầu tiên. Sau đó Tịnh Tông Học Hội ở các nơi hoặc các đạo tràng liên quan cũng lần lượt thiết lập trang web. Và cung cấp việc phát sóng các chương trình giảng kinh dạy học của Lão hòa thượng tại các đài phát thanh truyền hình ở các quốc gia trên thế giới. Bắt đầu từ năm 98, Lão hòa thượng trú ngụ tại Singapore, bắt đầu thiết lập việc phát sóng trực tiếp giảng kinh. Tết dương lịch năm 2003, đài Hoa Tạng Vệ Thị phát sóng buổi đầu tiên, là đài truyền hình dạy học chủ yếu phát các bài giảng kinh của Lão hòa thượng. Đánh giá sơ bộ, trên toàn cầu mỗi ngày có hơn chục triệu đồng tu, đều có thể thông qua mạng internet và truyền hình vệ tinh, để tiếp nhận sự giáo hóa của Phật đà Thánh Hiền.

Trong quá khứ từng có quan chức giáo dục thỉnh giáo Giáo sư Phương Đông Mỹ, làm thế nào để phục hưng văn hóa Trung Hoa? Sau năm phút ngưng thần suy nghĩ, Giáo sư Phương đã trả lời trúng phóc: “Thứ nhất, đóng cửa tất cả các đài truyền hình và đài phát thanh, báo chí tạp chí đồng loạt đình bản. Những thứ này ngày ngày đang phá hoại văn hóa Trung Hoa, nếu không triệt để nhổ cỏ tận gốc những thứ phá hoại văn hóa Trung Hoa này, thì muốn phục hưng là điều không làm được. Phương tiện truyền thông là tốt, nó không có tội, nó là một công cụ vô cùng tốt. Tội nằm ở nội dung, nội dung mà chúng phát sóng đi ngược lại một trăm tám mươi độ so với văn hóa cố hữu của Trung Quốc.”

Cảm nhận sâu sắc sự dẫn dắt của sư trưởng, Lão hòa thượng trong nhiều lần Hội nghị Hòa bình Quốc tế của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc đã đặc biệt kêu gọi, hy vọng Liên Hợp Quốc và lãnh đạo các quốc gia có thể nâng cao sự coi trọng, dùng mạng internet và vệ tinh để tuyên truyền tính quan trọng và cấp thiết của nền giáo dục luân lý đạo đức toàn dân.

“Xã hội hiện đại, mấu chốt để cứu vãn thế giới hay hủy diệt thế giới nắm trong tay của hai hạng người: Một là lãnh đạo quốc gia, một là người phụ trách truyền thông. Chính sách của lãnh đạo quốc gia, và định hướng của người phụ trách truyền thông, gây ảnh hưởng to lớn mang tính quyết định đến sự an lạc hạnh phúc của toàn dân. Phương tiện truyền thông là một công cụ vô cùng tốt, bản thân nó không có lỗi lầm, lỗi lầm nằm ở nội dung. Nếu có thể khéo léo lợi dụng mạng internet và truyền hình vệ tinh, làm công cụ dạy học để tuyên truyền nền giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả toàn dân, đích thực có thể dẫn dắt nhân dân thế giới đi về hướng tốt đẹp hạnh phúc. Dụng tâm suy nghĩ kỹ, thế giới ngày nay chấn động bất an, thiên tai nhân họa, cùng với việc truyền thông mạng internet phát sóng số lượng lớn nội dung bạo lực sắc tình, làm tăng thêm những suy nghĩ tà ác hành vi xấu ác sát đạo dâm vọng của con người, thực sự có mối quan hệ gắn bó mật thiết tương liên với nhau về mặt nhân quả.”

4. Hài hòa an định, phổ biến ba loại giáo dục xã hội

Lão hòa thượng dung hợp tinh hoa học vấn đức hạnh của ba vị sư trưởng là Giáo sư Phương, Đại sư Chương Gia và Thầy Lý, cộng thêm sự thể nghiệm thực tiễn suốt năm mươi bảy năm, đối với nền giáo dục Phật đà Thánh Hiền và lịch sử văn hóa truyền thống, không những có sự nhận thức tinh thâm và toàn diện, mà còn khéo léo tổng kết, nhấn mạnh thực tiễn, đề ra các hạng mục thi hành phù hợp với xã hội hiện đại, càng mang nó phát dương quang đại. Ví như đề xướng xây dựng “Kỷ niệm đường Tổ tiên vạn họ” chính là một ví dụ thực tế rất tốt. Lão nhân gia ngài nói:

“Lễ ký nói: ‘Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên’ (Dựng nước lãnh đạo dân, dạy học là đầu). Thánh vương Trung Quốc thời cổ đại xây dựng chính quyền, ắt lấy giáo dục làm gốc, các loại hình kiến thiết, mục đích đều là phụ trợ cho giáo dục. Trong hệ thống giáo dục, ngoài nền giáo dục trường học như tư thục, thái học ra, thì ‘Từ đường’, ‘Văn miếu’ và ‘Thành hoàng miếu’ càng chứa đựng ý nghĩa giáo dục xã hội quan trọng.

Mục đích của ‘Từ đường’ là giáo dục ‘hiếu đạo’. ‘Văn miếu’ (cũng chính là ‘Khổng miếu’), mục đích nằm ở giáo dục ‘sư đạo’. ‘Thành hoàng miếu’ là giáo dục nhân quả; trong đó bộ phận quan trọng nhất, chính là thập điện Diêm vương. Thánh vương thiết lập rộng rãi ‘Từ đường’, ‘Văn miếu’ và ‘Thành hoàng miếu’ tại các huyện thị trấn mạc. Trong sự thay đổi ngấm ngầm, khiến nền giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả đi sâu vào lòng người, đặt nền móng cho sự trị an lâu dài của quốc gia xã hội. Cần biết rằng, nhân dân học tập giáo dục nhân quả, thì không dám làm ác. Học tập giáo dục luân lý đạo đức, thì lấy làm xấu hổ khi làm ác. Loại giáo dục này thực sự là cội rễ to lớn để văn hóa Trung Quốc kéo dài không dứt trong nền văn minh thế giới.”

Năm 2003, Hiệp hội Giáo dục Phật đà Hồng Kông dưới sự xướng đạo của Lão hòa thượng, đã kiến lập “Kỷ niệm đường Tổ tiên vạn họ” đầu tiên trên toàn cầu. Căn cứ theo thống kê mới nhất, dân tộc Trung Hoa do năm mươi sáu dân tộc cấu thành, tổng cộng có hơn hai vạn ba ngàn họ. Vì vậy, đề xướng kiến lập Kỷ niệm đường Tổ tiên vạn họ, không những phát huy mỹ đức “thận chung truy viễn, dân đức quy hậu” (cẩn trọng khi cha mẹ qua đời, truy niệm tổ tiên xa xôi, đức dân sẽ trở nên thuần hậu), mà còn là sự thể hiện của đại đoàn kết dân tộc Trung Hoa. Lão hòa thượng trong bài “Duyên khởi” đã nói:

“Giáo dục Phật đà chính là sư đạo, mà sư đạo ắt phải kiến lập trên nền tảng của hiếu đạo, không có hiếu đạo tức không có sư đạo, cũng không có Phật đạo nào để nói. Hiếu đạo, sư đạo, Phật đạo đoạn tuyệt ở thế gian, thì hết thảy tai nạn ắt sẽ theo đó mà đến, đây chính là ngày tận thế mà các tôn giáo thế gian thường nói. Do đó phàm là đệ tử Phật chúng ta, đều nên dốc sức đề xướng hiếu đạo, để mong toàn cầu hễ nơi nào có người Hoa cư trú, đều có Kỷ niệm đường tổ tông tồn tại. Từ việc kỷ niệm tiên tổ của một quốc gia một dân tộc, tiến tới quảng bá đến ‘kỷ niệm tiên tổ của chúng sanh trong chín pháp giới’, đại hành hiếu đạo như vậy, thì sau đó ắt sẽ có sự thị hiện của Thánh Hiền sư đạo, sinh ra loại học thuật chuyển hóa ác thành thiện, hóa mê thành ngộ, chuyển phàm thành Thánh vậy. Đây là phước thiện lớn nhất của sinh dân.

‘Kỷ niệm đường Tổ tiên vạn họ Dân tộc Trung Hoa’ tại Hồng Kông được thành lập, mục đích là khiến cho quốc dân ta, người người có thể truy niệm người xưa tiếp nối tâm hiếu; lấy tình cảm chân thành bên trong củng cố lòng dân, bên ngoài kết nối tình kiều bào, và làm nơi nương tựa cho tâm hiếu của hơn một tỷ đồng bào Đại lục. Đây là ân trạch của nó lan rộng, trên đến vạn họ tông tổ, dưới đến ngàn vạn đời con cháu.”

Khắc thực mà luận, lịch sử năm ngàn năm xán lạn huy hoàng của Trung Quốc, chính là sự dung hợp trí tuệ và kinh nghiệm quý báu của các tộc quần văn hóa đa nguyên. Có lẽ đây chính là lý do vì sao, nhà triết học lịch sử người Anh là Tiến sĩ Toynbee đã chỉ ra: “Đối với người Trung Quốc mà nói, mấy ngàn năm nay, so với bất kỳ dân tộc nào trên thế giới đều thành công hơn trong việc đoàn kết mấy trăm triệu dân chúng về mặt chính trị, văn hóa. Họ cho thấy được bản lĩnh thống nhất về chính trị, văn hóa này, mang kinh nghiệm thành công không gì sánh kịp.” [Triển vọng thế kỷ 21 “Tập đối thoại giữa Toynbee và Daisaku Ikeda”]

5. Thủ pháp nghệ thuật, giáo hóa nhân tâm suy nghĩ cẩn trọng không tà vạy

Trong xã hội truyền thống Trung Quốc, mỗi huyện thị đều có Thành hoàng miếu. Bộ phận quan trọng nhất trong Thành hoàng miếu là “Thập điện Diêm vương”, dạy dỗ con người “thiện có quả thiện, ác có báo ác”. Lão hòa thượng tùy thời mà chế định cho phù hợp, lễ thỉnh họa sĩ Giang Dật Tử vẽ bức “Địa ngục biến tướng đồ”, vận dụng nghệ thuật để xướng đạo giáo dục nhân quả.

Năm 2005, Lão hòa thượng đến thăm cố Tổng Giám mục Công giáo Trung Quốc là Phó Thiết Sơn. Hai vị trưởng giả vừa gặp đã như cố nhân, không chuyện gì không nói, vô cùng hoan hỉ. Lúc bấy giờ, Lão hòa thượng tặng Tổng Giám mục một bức bản sao 1/4 tỷ lệ gốc của bức “Địa ngục biến tướng đồ” làm quà, ngài nói chuyện: “Quá khứ đế vương chuyên chế, định quốc an bang đích thực là có một bộ biện pháp riêng của họ. Ví dụ như, trong Thành hoàng miếu trưng bày Thập vương điện, cảnh thị đại chúng chớ làm các điều ác, vâng làm các điều thiện. Nghĩ kỹ lại xem, công dụng của một ngôi Thành hoàng miếu, vượt xa một vạn viên cảnh sát của xã hội hiện đại. Đối với sự an định của xã hội, đích thực đã sinh ra sức ảnh hưởng to lớn.” Vừa nghe lời này, Đại Giám mục Phó lập tức ung dung không vội vàng nói tiếp: “E rằng không chỉ một vạn, mười vạn đều có dư đó chứ!” Hai vị trưởng lão tôn giáo cười lớn hiểu ý nhau.

Trên thực tế, nghệ thuật cổ đại Trung Quốc, đều là lấy việc giáo hóa nhân dân hài hòa hướng thiện, nâng cao tâm linh làm tôn chỉ chủ yếu. Âm nhạc, mỹ thuật, hý kịch, điêu khắc, thuyết thư cùng các loại nghệ thuật dân gian v.v., đều là những phương thức quan trọng để Thánh vương các đời đẩy mạnh giáo dục xã hội. Đặc biệt là hý kịch, dễ dàng đi sâu vào lòng dân nhất. Lão hòa thượng thường nói:

“Khổng lão phu tử năm xưa chu du liệt quốc, thu thập rất nhiều thi ca dân gian ở các nơi, những thứ có ảnh hưởng không tốt đối với xã hội thì loại bỏ sạch sành sanh, giữ lại ba trăm thiên, cũng chính là ‘Kinh Thi’ sau này. ‘Kinh Thi’ trên thực tế chính là những bài hát lưu hành trong xã hội thời bấy giờ. Tiêu chuẩn của phu tử là gì? ‘Tư vô tà’ (suy nghĩ không tà vạy), cũng chính là ‘chánh tư duy’ mà nhà Phật giảng. Cho nên ‘tư vô tà’, trở thành chuẩn tắc biểu diễn sáng tác nghệ thuật các đời của Trung Quốc. Từ thơ Đường, từ Tống, khúc Nguyên, diễn biến thành hý kịch, côn khúc, kinh kịch mà mọi người quen thuộc hiện nay, lại diễn biến thành một số hý kịch địa phương, nghệ thuật dân tộc, nội dung của nó chủ yếu là bốn chữ: trung, hiếu, tiết, nghĩa, dùng phương pháp nghệ thuật để đạt được việc giáo hóa hết thảy chúng sanh. Bởi vì trường học trước kia không phổ biến, nhân dân từ trong ca múa, từ trong hý kịch mà học trung, học hiếu, học nhân, học nghĩa. Từ trong những nghệ thuật này, minh tỏ thiện nhân thiện quả, ác nhân ác báo, làm chuẩn tắc đối nhân xử thế cho cả đời mình. Người dân trong xã hội truyền thống vào những lúc nông nhàn, rảnh rỗi, đều thích tìm kiếm những trò giải trí này, trong giải trí là giáo dục, ngụ ý giáo dục vào trong giải trí.

Tôi không biết, quý vị có từng nghe qua thuyết thư, đại cổ thư hay không, lúc tôi còn nhỏ đi học, sau khi tan học liền đi nghe đại cổ thư, ở trong quán trà, pha một ấm trà nghe thuyết thư. Cái đó rất có thú vị, đó chính là tiếp nhận giáo dục xã hội. Cho nên nền giáo dục đạo đức luân thường của Trung Quốc, dùng phương thức này để truyền bá, đạt được mục đích giáo hóa chúng sanh.

Trong Phật pháp, chúng ta nhìn thấy trong ‘Đại tạng kinh’ có một kịch bản —— ‘Quy nguyên kính’, đây là một kịch bản côn khúc rất cổ xưa. Ngài ấy đem những đạo lý mà kinh điển đã giảng, biên thành câu chuyện, dùng phương thức biểu diễn trên sân khấu, đạt được hiệu quả dạy học, phương pháp này tốt. Cho nên nội dung trong kinh điển, có thể đem nó viết thành kịch bản để phát sóng trên truyền hình. Nếu có thể viết thành phim truyền hình nhiều tập, tôi tin rằng người xem sẽ càng nhiều hơn, sẽ rất dễ dàng tiếp nhận, hiệu quả còn to lớn hơn, thù thắng hơn cả việc chúng ta giảng kinh.”

V. Đặt lên hàng đầu việc bồi dưỡng giáo viên tốt

Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc là lão Cư sĩ Triệu Phác Sơ, trong buổi tọa đàm Công tác Giáo dục Phật giáo Trung Quốc (Thượng Hải) năm 1991, từng nói một câu khiến giới Phật giáo quốc tế cho đến nay vẫn không thể quên lãng: “Trong hiện tại và sau này, việc quan trọng nhất của Phật giáo Trung Quốc, thứ nhất là bồi dưỡng nhân tài, thứ hai là bồi dưỡng nhân tài, thứ ba vẫn là bồi dưỡng nhân tài!” Hơn mười năm trước, khi Lão hòa thượng lần đầu tiên đến thăm lão Triệu Phác tại Bắc Kinh, đã nói chuyện say sưa suốt bốn tiếng rưỡi đồng hồ, ngài đã đưa ra những đề nghị khẩn thiết đối với việc này:

“Trung Quốc nên xây dựng những đạo tràng hiện đại hóa. Đạo tràng lý tưởng hiện đại hóa, chính là trường học. Giống như thành phố đại học của Mỹ, một trường học chính là một thành phố, toàn quốc mười đạo tràng (Phật giáo Trung Quốc có mười tông phái) là đủ. Đạo tràng chia thành hai phần: ‘Học hội’ để tu hành và ‘Học viện’ để dạy học. Ví dụ Tịnh độ tông, có thể kiến lập một thành phố Tịnh tông, trong đó có Tịnh Tông Học Hội, Tịnh Tông Học Viện. ‘Tịnh Tông Học Viện’ lấy việc học tập kinh giáo, bồi dưỡng giáo viên tốt về dạy học làm chính; ít nhất xây dựng từ năm đến mười giảng đường, giảng giải Tịnh độ ngũ kinh nhất luận, hoan nghênh mọi người đến nghe giảng. ‘Tịnh Tông Học Hội’ lấy việc niệm Phật tu hành làm chính. Có thể kiến lập rất nhiều niệm Phật đường, cung cấp cho các bạn đạo tu hành theo các phương thức niệm Phật khác nhau như quán tưởng, quán tượng, trì danh. Giao thông hiện đại vô cùng thuận tiện, những người tu Tịnh độ trên toàn quốc, toàn thế giới đều đến thành phố Tịnh tông này để học tập. Các tông như Thiền, Luật, Thiên Thai, Hoa Nghiêm v.v., đều có thể dựa theo mô hình này để kiến thiết vận hành.

Còn đối với các đạo tràng truyền thống, mang giá trị lịch sử cao độ, có thể dùng làm tài nguyên tham quan du lịch. Sẽ do người chuyên môn giảng giải để du khách nhận thức Phật giáo, giới thiệu ý nghĩa của kiến trúc tự viện, hình tượng Phật Bồ-tát và các loại đồ cúng dường bày biện. Ngụ ý giáo dục vào trong giải trí, khiến cho những du khách từ khắp nơi trên thế giới không luống công khi đến đây du ngoạn một chuyến.”

Lão hòa thượng đối với việc bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp, đặc biệt nhấn mạnh “phúc giảng”. Lão nhân gia ngài nói: “Biện pháp cũ bồi dưỡng nhân tài giảng kinh thuyết pháp qua các đời trong cửa Phật, chính là phúc giảng. Tuyển chọn những đồng học có tư chất ưu tú và trí nhớ tốt từ trong thính chúng, để tăng cường huấn luyện. Trí tuệ của Phật pháp khác với sự thông minh của thế gian. Trí tuệ chân thật cần phải có nền tảng trì giới tu định. Phúc giảng chính là bồi dưỡng ‘giới định tuệ’. Vị phúc giảng đầu tiên trong cửa Phật, chính là người học trò đã tùy thị Thích-ca Mâu-ni Phật nhiều năm – Tôn giả A-nan.”

Năm 1995, Lão hòa thượng nhận lời thỉnh mời của Cư sĩ lâm Phật giáo và Tịnh Tông Học Hội tại Singapore, đến Singapore để chủ trì việc dạy học của “Lớp đào tạo nhân tài hoằng pháp”. Phương thức đào tạo chính là “phúc giảng”. Lớp đào tạo tổng cộng mở được bốn khóa, mỗi khóa kéo dài ba tháng. Các đồng học dựa theo nguyên tắc “một môn thâm nhập”, chuyên môn luyện tập phúc giảng một bộ kinh. Chỉ trong mấy tháng ngắn ngủi, phần lớn đều có thể nắm vững tốt các kỹ xảo diễn giảng.

Cổ nhân nói: “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”. Làm thế nào để bồi dưỡng giáo viên tốt dạy học chân thật “giải hành tương ưng, phẩm học đều ưu”? Lão hòa thượng đã dùng lời lẽ ân cần sâu sắc chỉ ra:

  1. Ắt phải chân thật có đủ “hiếu liêm, thành kính, hiếu học”, có thể trì giới chịu khổ, lập chí vì bậc Thánh thuở trước mà tiếp nối tuyệt học, vì thiên hạ mà mở ra nền thái bình của bậc chí sĩ nhân nhân, vạn duyên buông xuống, đóng cửa cấm túc, khổ học mười năm.

  2. Người học ắt phải mang “Đệ Tử Quy” của Nho gia, “Thập Thiện Nghiệp” của Phật gia, “Cảm Ứng Thiên” của Đạo gia, (hàng xuất gia thì cộng thêm “Sa-di Luật Nghi”) tận sức thực hành, thiết lập nền tảng đức hạnh Thánh Hiền. Nếu không dẫu có xem rộng vô số điển tịch, cũng chỉ thành nghiên cứu học thuật, không thể biến hóa khí chất, chuyển phàm làm Thánh.

  3. Sau khi ba cái căn bản đã bám rễ vững chắc, học giả có thể tự do chọn một bộ từ trong điển tịch của ba nhà, một môn thâm nhập, huân tu thời gian dài (mười năm). Mỗi người mỗi ngày đều phải báo cáo học tập nửa tiếng đồng hồ.

  4. Các đồng học mỗi ngày vừa đi sâu vào khóa học chuyên tu của mình, đồng thời lại có cơ hội lắng nghe tâm đắc báo cáo của các đồng học khác, ngày ngày cắt gọt dùi mài lẫn nhau, mười năm sau quyết định trở thành những vị giáo viên tốt tài đức vẹn toàn, đích thực có thể truyền thừa làm rạng rỡ Thánh học.

VI. Từ bi cứu tế phổ độ quần sanh

Nhiều năm qua, những nơi Lão hòa thượng đến, ngài đối với giáo dục văn hóa đạo đức, sự nghiệp phúc lợi xã hội v.v. tại địa phương đó, đều vô cùng quan tâm. Bất luận là học bổng, quyên góp thiết bị y tế, kiến thiết trường học, cứu trợ tai nạn khốn khó v.v., đều là sự hiệp trợ tùy duyên làm tròn bổn phận không phân biệt tôn giáo tộc quần. Thân là con cháu Hoa Hạ, Lão hòa thượng đối với tổ quốc lại càng thường mang lòng “tri ân báo ân”, dốc hết sức cống hiến. Tấm lòng yêu thương chân thành này, vượt qua thiên sơn vạn thủy, sự cách trở trùng điệp của ngôn ngữ văn hóa, đúng như người dân bản địa Indonesia từng nói: “Pháp sư Tịnh Không còn yêu người Indonesia hơn cả người Indonesia”.

Những năm gần đây, Lão hòa thượng còn đề ra “Cấu tứ về sự nghiệp phúc lợi người già – Lạc viên người già”:

Tôi đi giảng kinh dạy học ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, mỗi khi đến một nơi, điều quan tâm nhất là hai việc, thứ nhất chính là sự nghiệp phúc lợi người già, thứ hai thì là tỷ lệ tội phạm thanh thiếu niên.

Vì sao tôi đặc biệt quan tâm người già? Hiện nay dân số già hóa đã trở thành xu thế mang tính toàn cầu, làm thế nào để người già được an hưởng tuổi già hạnh phúc, là vấn đề cấp thiết mà chính phủ các nước đều quan tâm. Hệ thống xã hội “nuôi con phòng già” truyền thống đã không còn tồn tại nữa; con cái đối với cha mẹ không phải là không có tâm hiếu, mà phần nhiều cũng do thiếu khuyết năng lực phụng dưỡng và chăm sóc. Viện dưỡng lão dần dần trở thành nơi nương tựa duy nhất của người già.

Hiện tại trên toàn thế giới những quốc gia thiết lập thể chế dưỡng lão, chăm sóc người già không nhiều. Ví như Mỹ, Úc v.v., những chế độ về phương diện này rất hoàn thiện, đặc biệt là nước Úc, quốc gia chăm sóc người già vô cùng chu đáo. Thế nhưng bất kể là cơ cấu dưỡng lão của quốc gia hay dân gian, đa phần chỉ chú trọng đến sự chăm sóc về đời sống vật chất, thiếu khuyết đời sống tinh thần phong phú cùng sự nâng cao về mặt linh tính. Mà nhân viên phục vụ thường thường là chăm sóc một cách máy móc, thiếu khuyết tình yêu thương sự thấu hiểu. Vì thế người già thường rơi vào cảnh tâm linh trống rỗng, cô độc bất lực, suốt ngày ngồi ăn chờ chết.

Nhận thấy điều này, gần đây chúng tôi học tập sự dẫn dắt từ tâm hạnh tứ đẳng đại bi của “Kinh Hoa Nghiêm”, đã thu được một bộ cấu tứ dưỡng lão mới, hy vọng những bậc trưởng giả nhân từ hoan hỉ thực tiễn và quảng bá. Người già đã cống hiến cả đời cho xã hội, lúc tuổi già đáng nên được hưởng phước, thì mới là thực tiễn xã hội đại đồng hài hòa.

Viện dưỡng lão lý tưởng nên được xây dựng thành quản lý và phục vụ theo kiểu khách sạn năm sao, phòng ốc thoải mái ấm áp, cảnh quan tự nhiên bên ngoài vui mắt vui lòng. Mỗi người có một phòng, mỗi ngày có nhân viên phục vụ đến dọn dẹp sắp xếp. Phòng ốc có thể áp dụng phương thức bán trước để huy động vốn, cũng có thể xây xong rồi bán hoặc cho thuê. Nếu có phòng trống có thể kinh doanh đối ngoại, ví dụ như đón tiếp thân bằng quyến thuộc tạm thời đến thăm người già, hoặc đại chúng đến nghỉ dưỡng học tập ngắn hạn.

Nhà ăn có thể có nhiều phòng ăn, cung cấp cơm tự chọn cả ngày. Các loại thực phẩm phong phú, đồng thời tham chiếu vào những thói quen ăn uống và tín ngưỡng khác nhau của người già để cung cấp theo nhu cầu.

Tên gọi của nó không nhất thiết phải dùng những từ như “Viện dưỡng lão”, để tránh việc người già có cảm giác xót xa tự nhận thấy mình đã già yếu. Tốt nhất lấy tên là “Sơn trang” hoặc “Biệt thự”, trước chữ “Biệt thự”, “Sơn trang” ghép thêm địa danh vào. Ví dụ như ở dưới chân núi Thương Sơn có thể gọi là “Biệt thự Thương Sơn” hoặc “Sơn trang Thương Hải”. Sơn trang đồng thời cũng là đại học người già, trung tâm hoạt động văn hóa đa nguyên, trường truyền tập giáo dục luân lý đạo đức, phòng trưng bày văn hóa nghệ thuật, rạp hát ca nhạc… một tòa nhà tổng hợp.

Bên cạnh biệt thự có thiết lập bệnh viện và nhà trẻ hoặc trường tiểu học. Bệnh viện có thể kịp thời chăm sóc việc điều dưỡng cho người già; trẻ em và người già đều là đối tượng phục vụ bằng tình yêu thương của các nhân viên trong sơn trang (nuôi già giáo trẻ). Trẻ em trong nhà trẻ hoặc trường tiểu học, bất kể có phải là người thân của người già hay không, đều có cơ hội được quây quần hầu hạ bên gối người già, khiến cho người già được hưởng thụ sự vui vẻ, có được niềm vui vong niên; đồng thời cũng có thể bồi dưỡng cho những đứa trẻ mỹ đức thân cận người già, yêu thương người già, hiếu kính người già.

Nhân viên phục vụ của biệt thự, nhân viên y tế của bệnh viện, giáo viên của nhà trẻ hoặc trường tiểu học đều ắt phải trải qua sự giáo dục đào tạo bằng “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp Đạo” của ba nhà Nho Thích Đạo truyền thống Trung Quốc, có đủ quan niệm hiếu thân kính lão, dùng tấm lòng hiếu thảo chân thành để phục vụ người già, trở thành “con hiếu cháu hiền” của người già. Trung tâm Giáo dục Văn hóa tại thị trấn Thang Trì, huyện Lư Giang, tỉnh An Huy, Trung Quốc trong phương diện thực tiễn và quảng bá giáo dục “Đệ Tử Quy” đã có những thành tích vô cùng rõ rệt, đã nhận được sự đánh giá cao độ tại trụ sở chính của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc ở Paris, có thể tham khảo mô hình dạy học của trung tâm này.

Người già có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau cùng sống chung trong khu lầu biệt thự. Trong biệt thự có thiết lập phòng hoạt động văn hóa đa nguyên và phòng học hiện đại hóa, cung cấp sử dụng luân phiên. Ví dụ, đại sảnh có thể dùng để cầu nguyện lễ bái, giảng đạo hoằng pháp, pháp hội tôn giáo v.v., dùng thiết bị máy chiếu chiếu lên màn hình lớn hình ảnh thập tự giá của Cơ Đốc giáo, tượng Phật v.v. căn cứ theo những hoạt động tôn giáo khác nhau, vô cùng thuận tiện. Mỗi dịp lễ tết, ngày nghỉ cuối tuần, thường xuyên tổ chức những hoạt động biểu diễn văn nghệ đa nguyên, nội dung biểu diễn đều là những tiết mục mà các cụ già thuở xưa yêu thích, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người già – học tập “luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ, khoa học” – nâng cao linh tính của người già cùng sự nhận thức sâu sắc về sinh mạng.

Người già nếu như tinh thông một loại kỹ nghệ nào đó mà hy vọng có thể truyền thọ cho đời sau, cũng có thể dạy học miễn phí, hoan nghênh những người thanh niên trung niên ở các nơi đến “sơn trang” để học tập. Cũng có thể đem từng giọt từng giọt cuộc sống hạnh phúc của những cụ già vui vẻ ghi hình lại, chế tác thành đĩa quang âm thanh hình ảnh lưu thông, để đại chúng cùng chia sẻ.

Sau khi một sơn trang biệt thự dưỡng lão lý tưởng như vậy được xây dựng xong, chúng tôi sẽ mời Liên Hợp Quốc và đại diện các nước quang lâm tham quan học tập, giúp đỡ họ quảng bá sự nghiệp phúc lợi người già tại các nơi trên thế giới. Chúng tôi có thể tổ chức công ty xuyên quốc gia để kinh doanh, thiết lập các sơn trang biệt thự dạng chuỗi ở các quốc gia, các khu vực, dùng cùng một loại lý niệm và mô hình kinh doanh, chắc chắn sẽ nhận được sự hoan nghênh và dốc sức ủng hộ của chính phủ các nước. Bởi vì cách làm này có thể giúp đỡ chính phủ các nước giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bớt gánh nặng dưỡng lão.

Rất nhiều văn hóa truyền thống ưu tú của thế giới, như hý kịch địa phương, nghệ thuật thuyết xướng v.v., người hiện đại không biết thưởng thức học tập, đều đã dần dần suy vi. Những nghệ thuật văn hóa truyền thống này đều là điều mà các cụ già quen thuộc và yêu thích. Nếu như do các sơn trang biệt thự chuỗi trên thế giới luân phiên mời đến các sơn trang biệt thự khắp nơi trên toàn cầu để biểu diễn lưu động, thì đã có thể khiến tinh thần của người già thêm phong phú vui sướng, mà càng có thể cung cấp không gian biểu diễn cho nghệ thuật văn hóa truyền thống, khiến cho nghệ thuật văn hóa truyền thống ưu tú kéo dài không dứt, phát dương quang đại. Ý nghĩa lại càng thêm sâu xa!

Mỗi người chúng ta đều có cha mẹ, tự mình cũng sẽ có một ngày già đi. Mạnh tử nói: “Kính người già nhà mình rồi kính người già nhà người, yêu trẻ nhỏ nhà mình rồi yêu trẻ nhỏ nhà người”. Người già đã cống hiến cả đời cho quốc gia xã hội, thời tiết tuổi già chính là lúc hậu bối làm tròn đạo hiếu báo ân. Nếu chúng ta quả thực có thể lấy cái tâm hiếu dưỡng cha mẹ để chân thành hiếu dưỡng người già trong thiên hạ; kiến thiết lạc viên người già, thực tiễn cái hạnh kính già yêu già, và còn đoàn kết tôn giáo đa nguyên, các tộc quần, phát huy nền văn hóa truyền thống ưu tú của thế giới, quảng bá nền giáo dục thần thánh về hiếu đễ bác ái, thì vạn chúng hoan hỉ, thần người ủng hộ, thế giới hài hòa là điều có thể chỉ ngày đợi mong!

VII. Hoa Nghiêm đa nguyên hài hòa

Rất nhiều người thường ôm giữ sự nghi hoặc, một vị trưởng giả trong cửa Phật, vì sao lại phải tích cực dấn thân vào những công tác như giao lưu tương trợ với các tôn giáo khác, giúp đỡ các cấp trường học thiết lập học bổng v.v.? Điều này dường như chẳng có liên quan mảy may nào đến việc hoằng dương Phật pháp. Lão hòa thượng đối với điều này có sự giải thích vô cùng thấu triệt:

“Phật giáo cùng nền giáo dục tôn giáo, Thánh Hiền cổ kim trong ngoài đều là nền giáo dục văn hóa đa nguyên. Đặc biệt là bộ khái luận của Phật pháp ‘Kinh Hoa Nghiêm’ đích thực là trí tuệ cao độ dung hợp viên mãn các tôn giáo, văn hóa đa nguyên. Giống như trên thân người có mắt, tai, mũi, lưỡi, tay, chân cùng các loại cơ quan khác nhau, mỗi cơ quan đảm nhận chức vụ riêng, hỗ trợ hợp tác với nhau, thì thân tâm an lạc. Các tộc quần, văn hóa, tôn giáo, học thuật khác nhau trên thế giới, vốn là một khối cộng đồng sinh mạng, đáng nên tìm điểm chung gác lại bất đồng, cùng tồn tại cùng phồn vinh, tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, giúp đỡ hợp tác lẫn nhau, chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng. Vũ trụ vốn dĩ hài hòa, thế giới vốn dĩ là một nhà.”

Dựa trên cơ sở từ bi chân thành giúp đỡ chúng sanh lìa khổ được vui, Lão hòa thượng trong nhiều bài diễn giảng chủ đề tại các Hội nghị Hòa bình Quốc tế, hoặc trong những buổi nói chuyện cùng lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo tôn giáo, chuyên gia học giả đã đề ra:

“Cốt lõi của những gì được dạy, được học bởi tất cả các bậc thần thánh thế xuất thế gian, chính là ‘tâm yêu thương chân thành’; dùng giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ, khoa học, để khơi gợi tánh đức thuần tịnh thuần thiện vốn sẵn có trong tự tánh của hết thảy chúng sanh, thể hiện ngay trong lúc dùng thường ngày, trong việc đối nhân xử thế tiếp vật. Giống như Ấn Độ giáo có nói: ‘Dùng nhân từ để hóa giải sự bạo nộ, dùng thiện để đối đãi với hành vi ác’. ‘Kinh Koran’ nhấn mạnh: ‘Chân chủ đích thực là nhân từ’. ‘Thánh Kinh’ nói: ‘Thượng đế yêu thương người đời’. Khổng tử nói ‘thành nhân’, Mạnh tử nói ‘lấy nghĩa’. Do Thái giáo nói: ‘Việc kỳ diệu nhất mà một người có thể làm được, chính là tha thứ cho lỗi lầm của người khác’. Phật nói: ‘Từ bi là gốc, phương tiện là cửa’. Lời dạy dỗ của thần thánh không có một ai là không dạy con người giữ tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt, làm người tốt. Tiến tới đem tấm lòng yêu thương chân thành quảng bá đến vạn vật trong thiên địa, và hết thảy chúng sanh ở các không gian đa chiều khác nhau, chung sống hòa mục, cùng kính cùng yêu, thì lý tưởng đại đồng về hạnh phúc nhân loại, xã hội hài hòa mới có thể thực tiễn chân thật.

Những vị sáng lập của tất cả các tôn giáo đều là những hóa thân khác nhau của Chân chủ, Thượng đế, Phật pháp gọi đó là ‘tâm tánh’, ‘bản tánh’ v.v. Các loại nghi lễ tôn giáo, phương thức sinh hoạt khác nhau, thực chất là do thông tin giao thông lúc bấy giờ không thuận tiện, các bậc thần thánh tiên tri tùy theo bối cảnh văn hóa, thói quen sinh hoạt khác nhau của con người, mà tùy thuận bày ra vô số phương tiện. Nếu từ tôn chỉ thực chất của việc dạy học của thần thánh mà xem, tất cả các tôn giáo vốn dĩ là đoàn kết với nhau. Đủ loại tôn giáo, văn hóa, học thuyết trên thế giới đích thực đúng như Hoàng đế Ung Chính nhà Thanh từng nói: ‘Lý cùng xuất phát từ một nguồn, đạo cùng song hành mà chẳng trái nghịch nhau’.

Tháng 10 năm 2005, Lão hòa thượng đã hội kiến với Chủ tịch Liên minh Hồi giáo Thế giới là Trưởng lão Mahathir. Trong một giờ đồng hồ nói chuyện, Lão hòa thượng đặc biệt nhấn mạnh:

“Đoàn kết tôn giáo là nền tảng của thế giới hài hòa. Việc thực tiễn hòa bình thế giới, ắt phải là bốn phương diện: quốc gia và quốc gia, đảng phái và đảng phái, tộc quần và tộc quần, tôn giáo và tôn giáo chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng. Bốn phương diện này tuy khó thực tiễn, nhưng nếu từ đoàn kết tôn giáo thì tương đối dễ bắt tay vào. Đoàn kết tôn giáo, ắt phải được thiết lập trên nền tảng giáo dục tôn giáo học hỏi lẫn nhau, thì mới có thể trải qua thời gian dài mà vẫn càng thêm tươi mới. Nếu mỗi một tín đồ tôn giáo đều có thể thực tiễn lời dạy dỗ ‘nhân từ bác ái, thành kính khiêm hòa’ của thần thánh, chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng, thì lý tưởng đại đồng, xã hội hài hòa chẳng còn xa nữa.”

Lý niệm này, đã nhận được sự khẳng định sâu sắc của Trưởng lão. Ngày hôm sau liền thỉnh mời Lão hòa thượng tham gia “Diễn đàn Hòa bình Quốc tế Perdana” do ông chủ trì tại Kuala Lumpur vào tháng 12.

Đoàn kết tôn giáo, cách làm cụ thể để xướng đạo giáo dục tôn giáo đa nguyên, đích thực như Lão hòa thượng đã đề ra trong nhiều kỳ hội nghị quốc tế:

“Có thể bắt đầu làm từ việc mở ‘Viện nghiên cứu tôn giáo’, bồi dưỡng giáo viên tốt. Rồi mở ‘Đại học tôn giáo’ hoặc ‘Đại học văn hóa đa nguyên’, mở các khóa học như luân lý, đạo đức, kinh điển, nhân quả, khoa học, triết học v.v., bồi dưỡng các nhà truyền giáo cấp cao của các tôn giáo. Các tôn giáo mở học viện độc lập. Các học viện có khóa học chung, khóa học chuyên môn. Học sinh ngoài việc chuyên sâu đi sâu vào kinh điển của tôn giáo mình, đồng thời cũng có thể học tập nội hàm của tôn giáo khác. Nội dung giảng bài, thông qua sự kiểm duyệt của quốc gia đích thực có trợ giúp đối với sự an định hài hòa của xã hội, thì có thể thông qua mạng internet truyền hình vệ tinh để dạy học truyền lớp cho các tín đồ tôn giáo trên toàn quốc, cho đến toàn cầu.”

Lại như Lão hòa thượng có lời kiến ngôn đối với Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long:

“Singapore lấy bốn tộc quần lớn làm chính. Có thể dựa trên nền tảng kiến thiết hiện có, chọn lựa đường phố trong nước, để làm khu vực trưng bày đặc sắc của các tộc quần như tộc Hồi, tộc Hán, tộc Mã Lai, Ấn Độ v.v. Việc kiến thiết đường phố và trang phục của người dân, đều nên hiển thị đặc sắc văn hóa truyền thống. Cũng có thể buôn bán các văn vật, thức ăn nhẹ mang đặc sắc truyền thống. Như vậy, thì Singapore tự nhiên trở thành ‘Trung tâm văn hóa truyền thống toàn cầu’ mang đậm đặc sắc thế giới, thu hút nhân sĩ toàn cầu đến tham quan, học tập, du lịch ngoạn cảnh, thúc đẩy các hạng mục phát triển kinh tế như văn hóa, tham quan, du lịch, dịch vụ v.v. của quốc gia.”

Bắt đầu từ năm 1998, Lão hòa thượng tại Singapore đã dấn thân vào việc đoàn kết văn hóa tôn giáo đa nguyên, dẫn dắt các vị pháp sư trẻ tuổi, các đồng tu học Phật chủ động đi thăm chín tôn giáo lớn ở địa phương. Nhiều năm qua, Lão hòa thượng đã cùng các tổ chức, lãnh đạo tôn giáo ở các quốc gia như Singapore, Úc, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia v.v., tiến hành nhiều chuyến du lịch tham quan, giao lưu, giữ gìn tình hữu nghị chân thành. Năm 2006, Tịnh Tông Học Viện thừa mông sự thỉnh mời của đại diện phó của Thái Lan tại Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc là Tiến sĩ Kiriya Phittiyana, cùng với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc đã cùng nhau tổ chức sự kiện trọng đại “Hoan khánh lễ Vesak năm 2550” tại trụ sở chính ở Paris. Lão hòa thượng nhấn mạnh, tham gia làm đơn vị chủ trì sự kiện lần này chỉ có hai mục đích:

  1. Là đề ra trước các vị đại sứ của 192 quốc gia tại Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc cùng các nhân sĩ quốc tế, những thành quả thực nghiệm dạy học từ việc đề xướng “Đệ Tử Quy” tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Lư Giang ở An Huy, Trung Quốc trong một năm qua, để chứng minh cho mọi người: “Văn hóa truyền thống Trung Quốc có thể thực hành trong thời đại hiện nay; người dân là có thể dạy bảo cho tốt được”!

  2. Là thỉnh mời các đại diện của mười tôn giáo lớn tại Singapore và Úc Châu, nắm tay nhau trên bục giảng để cầu nguyện cho hòa bình thế giới, để chứng minh cho nhân loại thế giới: “Tôn giáo là có thể đoàn kết được”!

Lão hòa thượng trong đại hội đã có lời kiến ngôn chân thành: “Đây là hiệu quả sản sinh ra từ nỗ lực lớn nhất mà chúng tôi lấy sức mạnh dân gian để cống hiến trong suốt mấy chục năm qua. Tin tưởng sâu sắc rằng nếu như do chư vị ở Liên Hợp Quốc hoặc các vị lãnh đạo quốc gia xướng đạo nền giáo dục về luân lý, đạo đức, nhân quả toàn dân, đoàn kết văn hóa tôn giáo đa nguyên, thì sức ảnh hưởng sản sinh ra đối với việc thực tiễn xã hội hài hòa, thế giới hài hòa, tất nhiên sẽ vượt xa những gì chúng tôi đã làm trong quá khứ gấp mười lần, hàng trăm lần chứ chẳng phải chỉ có vậy!”

Sau cùng, mạt học kính cẩn cung lục lại một đoạn văn trong “Văn khuyên người tích âm đức của ông Quản Đông Minh thời Minh”, để bày tỏ đôi chút sự kính ý thành chí đối với việc Lão hòa thượng trọn đời quán triệt “nhân từ bác ái, thành kính khiêm hòa”, và nguyện xin được cùng khích lệ với chư vị nhân giả:

Báo đáp cái đức của người, không báo đáp cái oán của người. Chia sẻ cái lỗi của người, không chia phần cái công của người.

Thành tựu cái đẹp của người, không thành tựu cái ác của người. Giấu giếm cái ác của người, không giấu giếm cái thiện của người.

Ta không phụ người, mà cứ mặc cho người phụ ta. Ta không phỉ báng người, mà cứ mặc cho người phỉ báng ta.

Dùng thâm tâm để nhấc người ta khỏi biển sanh tử, mà người lại dùng thiển tâm mà hờ hững bỏ qua, đừng ruồng bỏ đừng gấp gáp.

Dùng nhiệt tâm để cùng người lên chung con thuyền nơi sóng gió, mà người lại dùng lãnh tâm mà bỏ rơi ta ở phương xa, chẳng oán hận chẳng mong cầu.

Làm tiêu tan mối hiềm khích to lớn vào lúc uốn cong ống khói dời đi củi gỗ, mà chẳng nhất thiết giành lấy công danh.

Chịu nỗi oan ức tột cùng nơi hạt châu sáng hạt ý dĩ, mà lòng dạ chẳng nhất thiết phải tự thanh minh.

Vì quốc gia mà nâng đỡ kỷ cương đang muốn rớt chưa rớt, thì chẳng nhất thiết phải lo buồn bởi bao điều hiềm nghi của công chúng, mà lại chẳng lấy khí tiết để tự cho mình là giỏi.

Vì thế giáo mà phát khởi ra những đạo thuật đang khó sáng tỏ đáng nên được sáng tỏ, thì chẳng nhất thiết phải lo âu bởi bao lời gièm pha của công chúng, mà lại chẳng lấy môn hộ để tự nêu danh.

Đạo ấy chẳng đi ngược với sự ngay thẳng ở trong Trung dung, mà cái tâm ấy thì chẳng mong cầu người ta biết, mà cầu ông trời biết. Chẳng sợ người ta không biết mình, mà cầu mong làm điều có thể cho người ta biết. Trong cái cầu mong cho người ta biết ấy, chẳng cầu mong có thể cho kẻ hương nguyện biết, mà cầu mong có thể cho kẻ cuồng quyến biết. Chẳng cầu mong có thể cho kẻ cuồng quyến biết, mà cầu mong có thể cho người làm theo đạo trung dung biết. Chẳng cầu mong có thể cho thiện sĩ của một làng một nước biết, mà cầu mong có thể cho thiện sĩ của thiên hạ biết. Chẳng cầu mong có thể cho thiện sĩ của thiên hạ biết, mà cầu mong có thể cho thiện sĩ của vạn đời biết. Cũng chẳng nhất thiết phải cầu mong có thể cho thiện sĩ của vạn đời biết, mà cầu mong có thể làm bậc quân tử nương theo đạo Trung dung mà lánh đời không được biết đến mà chẳng hối hận, ngầm hiểu nhau ở trong sự quan sát xa xôi của thiên nhãn sự lắng nghe xa xôi của thiên nhĩ vậy.

Phòng mạng Tịnh Tông Học Viện 20/08/2008

 

GIỚI THIỆU VỀ LÃO PHÁP SƯ

Giới thiệu sơ lược về Đạo Sư

LÝ NIỆM

Những lý niệm trong tu học Tịnh Tông

LỜI THANH MINH

Những thanh minh của Lão Pháp sư

SƯ THỪA

Những người Thầy của Lão pháp sư

ĐẠO HỮU

Những người bạn đạo của Lão pháp sư

HỌC HỘI

Giới thiệu về Tịnh Tông Học Hội