LÃO CƯ SĨ LÝ BỈNH NAM
Ba điều kiện này tôi hoàn toàn có thể chấp nhận
Những năm đầu tôi đến Đài Trung gặp thầy Lý, theo ngài học tập, chính thức bái ngài làm thầy. Thầy đưa ra ba điều kiện, tôi có thể hoàn toàn chấp nhận, ngài liền nhận tôi làm học trò; không thể chấp nhận, ngài không nhận.
Điều kiện thứ nhất, những gì tôi học trước đây, ngài đều không công nhận; ngài phủ định. Thực ra lúc đó tôi học Phật mới được thời gian bốn năm, tiên sinh Phương Đông Mỹ dạy tôi triết học, Đại sư Chương Gia dạy tôi Phật học. Thầy Lý nói từ hôm nay trở đi phải nghe theo ngài, những gì người khác dạy ngài đều không công nhận, đều phủ định.
Điều kiện thứ hai, từ hôm nay trở đi, đọc kinh xem sách, chỉ cần là xem về phương diện văn tự, nhất định phải trải qua sự đồng ý của ngài; chưa được sự đồng ý thì nhất luật không được phép xem. Ti-vi, phim ảnh, đài phát thanh thì càng khỏi phải nói, ngay cả báo chí cũng không được xem.
Điều kiện thứ ba, đến nơi này học, chỉ có thể nghe một mình ngài giảng kinh, những người khác bất luận là Pháp sư, cư sĩ đại đức, bất kỳ người nào giảng kinh đều không được phép nghe. Đổi lời mà nói, bái ngài làm thầy, chỉ có thể theo một mình ngài học, nghe một mình ngài giảng kinh, những cái khác hoàn toàn phải buông xuống, hoàn toàn phải xả bỏ.
Chúng tôi là thành tâm thành ý đi cầu học, tôi suy nghĩ một chút liền nhận lời. Nhưng lúc đó trong lòng vẫn có sự nghi ngờ: vị thầy này quá độc đoán quá chuyên chế rồi, dường như chỉ có chính mình ngài, không có người khác. Nhưng tôi ngưỡng mộ đạo đức học vấn của ngài, vẫn là quy tâm lão lão thật thật vâng lời, không làm trái giáo huấn của ngài. Cuối cùng ngài nói với tôi, điều kiện của ngài không phải là vô thời hạn, ngài cùng tôi giao ước năm năm, trong năm năm nhất định phải tuân thủ. Tôi nghe xong trong lòng rất thoải mái, liền theo ngài.
Sau ba tháng, tôi liền cảm thấy có hiệu quả, bởi vì tâm thanh tịnh hơn nhiều rồi, rất nhiều thứ không thể xem không thể nghe, từ sáng đến tối chỉ nghe một mình ngài, tiếp nhận sự chỉ đạo của một mình ngài. Xem bất kỳ sách gì đều phải báo cáo với ngài. Xem kinh cũng không được, ngài không đồng ý, liền không thể xem, hết sức bị gò bó. Sau sáu tháng, hiệu quả liền rất rõ rệt rồi, cảm giác được bản thân có một chút trí tuệ, trí tuệ dần dần mở mang rồi. Mở mang bằng cách nào? Tâm định rồi, không đáng xem thì không thể xem, không đáng nghe thì không thể nghe, không đáng nghĩ thì không thể nghĩ. Đi học tập như vậy, từ từ tâm thanh tịnh rồi, tâm định rồi, sáu căn không chạy theo sáu cảnh bên ngoài nữa, biết được pháp môn của thầy cao minh, khâm phục rồi! Ban đầu có nghi ngờ, sau sáu tháng, một chút nghi ngờ cũng không có. Sau ba năm, tôi tự động nói với thầy: “Thầy yêu cầu con năm năm, con sẽ tuân thủ mười năm.” Ngài cười cười! Tôi tuân thủ cái giao ước này của Lão nhân gia mười năm.
Thầy Lý đem sự chỉ dạy của tiên sinh Phương Đông Mỹ và Đại sư Chương Gia hoàn toàn phủ định rồi, đây là vì nguyên nhân gì? Nói lời thật lòng, ngài đối với hai vị thầy này vô cùng tôn kính, đặc biệt là đối với Đại sư Chương Gia. Vì sao phải phủ định? Dễ dạy! Để tránh lúc ngài dạy, tôi lại sẽ nhớ đến lời tiên sinh Phương nói, lời Đại sư Chương Gia nói, liền sẽ nêu ra để biện luận với ngài, quá phiền phức rồi! Lời bất kỳ người nào nói thầy Lý đều không công nhận, đều phủ định, như vậy liền dễ dạy! Chính là phải loại bỏ sự ô nhiễm. Tôi tuy theo hai vị thầy Đại sư Chương Gia, tiên sinh Phương Đông Mỹ, đây là sự ô nhiễm nhẹ mức độ nhẹ, không phải nghiêm trọng. Giao ước ba điều của thầy Lý, chính là phải bảo vệ tâm thanh tịnh, tâm thuần tịnh, không có mảy may ô nhiễm, dễ dạy! Có thành tựu.
Thầy Lý đối với tôi vô cùng quan tâm, trên bề mặt thầy Lý đối với tôi cùng đối với những học trò khác hoàn toàn giống nhau, đến lúc tôi rời khỏi Đài Trung, mới biểu hiện ra, hoàn toàn không giống nhau. Chúng tôi thể hội được người làm thầy trọn đời không có gì khác, liền muốn tìm được một người truyền nhân, đệ tử có thể truyền pháp. Điều kiện có thể truyền pháp, tôn sư trọng đạo là điều kiện cơ bản; điều kiện thứ hai, trong sạch, chưa bị ô nhiễm, chịu học, hiếu học; có đủ những điều kiện này, thầy sẽ đặc biệt chăm sóc. Đạo hạnh trọn đời của ngài, chính là tấm gương mẫu mực của bạn.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
=========================
這三個條件我完全能接受
早年我到台中見李老師,跟隨他學習,正式拜他為老師。老師開出三個條件,我能完全接受,他就收我為學生;不能接受,他不收。
第一個條件,我以往所學的,他都不承認;他否定。其實當時我學佛才四年的時間,方東美先生教我哲學,章嘉大師教我佛學。李老師說從今天起要聽他的,別人教的他都不承認,都否定。
第二個條件,從今天起,讀經看書,只要是看文字方面的,一定要經過他同意;未經同意的一律不准看。電視、電影、廣播就更不用說,連報紙都不可以看。
第三個條件,到此地來學,只能聽他一個人講經,其他的不論是法師、居士大德,任何人講經都不准聽。換句話說,拜他作老師,只能跟他一個人學,聽他一個人講經,其他的完全要放下,完全要捨棄。
我們是誠心誠意的去求學,我想了一想答應了。但是那時心中還是有疑惑:這位老師太跋扈太專制了,似乎只有他自己,沒有別人。但是我仰慕他的道德學問,還是歸心老老實實聽話,不違背他的教誨。最後他告訴我,他的條件不是無限期的,他與我約法五年,五年內一定要遵守。我聽了心裡很舒服,就跟他了。
三個月之後,我就感到有效果,因為心清淨多了,很多東西不能看不能聽,一天到晚只聽他一個人的,接受他一個人的指導。看任何書都要向他報告。看經都不行,他不同意,就不能看,極受拘束。六個月之後,效果就很顯著了,感覺到自己有一點智慧,智慧漸漸開了。如何開的?心定了,不該看的不能看,不該聽的不能聽,不該想的不能想。如此去學習,慢慢的心清淨了,心定了,六根不再往外面六境上跑了,知道老師的法門高明,佩服了!起初有疑惑,六個月之後,一點疑惑都沒有。三年之後,我自動向老師說:「老師要求我五年,我會遵守十年。」他笑笑!我遵守他老人家此約法十年。
李老師將方東美先生與章嘉大師的教導完全否定了,此為何因?說實話,他對這兩位老師非常尊敬,尤其對章嘉大師。何以要否定?好教!以免他教的時候,我又會想起方先生說的,章嘉大師說的,就會提出來與他辯論,太麻煩了!任何人說的李老師都不承認,都否定,如此就好教!就是要去染污。我雖然跟隨章嘉大師、方東美先生兩位老師,這是輕度的輕微的染污,不是嚴重的。李老師的約法三章,就是要保護清淨心,純淨的心,無絲毫的染污,好教!有成就。
李老師對我非常的關懷,表面上李老師對我與對其他學生完全一樣,到我離開台中的時候,才表現出來,完全不一樣。我們體會到做老師的一生無別的,就想找到一個傳人,能傳法的弟子。能傳法的條件,尊師重道是基本條件;第二個條件,清白,沒有被污染,肯學、好學;具備這些條件,老師會特別照顧。他一生的行誼,就是你的榜樣模範。
Dùng sức dư của sự dũng mãnh tinh tấn trước đây, tự nhiên thúc đẩy nó
Người nào có thể thành Phật? Người tri túc thành Phật, là thật đấy. Bồ-tát Đẳng Giác vẫn chưa tri túc, bởi vì ngài vẫn còn một phẩm sanh tướng vô minh chưa phá. Nói cách khác, ngài vẫn còn nguyện vẫn còn cầu, hy vọng đem một phẩm vô minh này đoạn tận, không tri túc! Trên quả địa Như Lai tri túc rồi, liền một phẩm vô minh cũng không còn nữa, trăm phần trăm làm được rốt ráo viên mãn “không tranh với người, không cầu với đời”. Hai câu này tôi còn phải mở rộng nó ra một chút để nói, không tranh với tất cả chúng sanh tận hư không khắp pháp giới, không cầu với tất cả cõi nước tận hư không khắp pháp giới, mới là đại viên mãn chân chánh.
Pháp thân Bồ-tát có bốn mươi mốt giai cấp, bốn mươi mốt giai cấp này phải không nguyện không cầu mới có thể viên mãn, có nguyện có cầu không thể viên mãn. Ý này rất sâu.
Lúc tôi cầu học ở Đài Trung, thầy Lý vì tôi giải thích ý này, ngài nói Bồ-tát, người tu hành trong mười pháp giới có nguyện có cầu, dũng mãnh tinh tấn đến tu đạo. Đến pháp giới Nhất Chân, chính là sau khi phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân, không nguyện không cầu. Phải tinh tấn như thế nào? Nâng cao cảnh giới? Thầy Lý nói sự tu hành của họ xưng là “vô công dụng đạo”.
Lời này vẫn là khó hiểu, thầy nêu ra một ví dụ nói, năm mươi năm trước ở Trung Quốc, chúng ta ngồi thuyền buồm đi du lịch, lúc thuyền buồm di chuyển dựa vào sức gió để thúc đẩy, lúc không có gió phải lắc mái chèo; gió thúc đẩy cũng được, lắc mái chèo cũng được, giống như dũng mãnh tinh tấn. Thế nhưng lúc thuyền sắp lên bờ, buồm phải thu xuống, mái chèo không thể lắc, chỉ có thể dùng sào trúc chống từ từ, khiến thuyền cập bến. Sắp đến bến, cách khoảng chừng mấy trượng, lúc này sào đều không thể chống, toàn bộ phải buông xuống, thuyền tự tự nhiên nhiên dần dần cập bến. Ngài nói đoạn đó chính là “vô công dụng đạo”, chúng ta liền hiểu rồi.
Sự dụng công của Pháp thân Bồ-tát không giống với chúng ta, chúng ta là nghĩ có công dụng, các ngài là vô công dụng, giống như lúc thuyền sắp cập bến, không được dùng sức; hễ dùng sức liền sai rồi, liền sẽ tông vào bến tàu. Không thể dùng sức, phải dùng sức thừa của sự dũng mãnh tinh tấn trước đây, tự tự nhiên nhiên thúc đẩy nó. Thầy lấy ví dụ này nói cho chúng ta biết, tình huống tu hành của bốn mươi mốt vị Pháp thân Đại sĩ, chúng ta từ trong ví von này có thể thể hội được một chút. Nói cách khác, sau khi chứng đắc pháp thân lại phá một phẩm vô minh, về sau tuyệt đối sẽ không khởi tâm động niệm, tuyệt đối không có phân biệt chấp trước. Nếu có phân biệt chấp trước, có khởi tâm động niệm thì vẫn ở trong mười pháp giới, chưa rời khỏi mười pháp giới. Rời khỏi mười pháp giới, nhập pháp giới Nhất Chân, thông thường xưng là Pháp thân Bồ-tát. Pháp thân Bồ-tát tuyệt đối sẽ không khởi tâm động niệm, tuyệt đối không phân biệt chấp trước, không nguyện không cầu, các ngài là vô công dụng đạo, là tri túc.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
===========
用以往勇猛精進的餘力,自然推動它
何人可以作佛?知足的人成佛,真的。等覺菩薩還未知足,因為他還有一品生相無明未破。換句話說,他還有願還有求,希望把這一品無明斷盡,不知足!如來果地上知足了,則一品無明也沒有了,百分之百究竟圓滿的做到了「於人無爭,於世無求」。這兩句話我還要把它擴大一點來說,於盡虛空遍法界一切眾生無爭,於盡虛空遍法界一切剎土無求,才是真正的大圓滿。
法身菩薩有四十一個階級,這四十一個階級要無願無求才能圓滿,有願有求不能圓滿。此意甚深。
我在台中求學時,李老師為我說明此意,他說十法界中的菩薩、修行人有願有求,勇猛精進來修道。到一真法界,就是破一品無明、證一分法身之後,無願無求。要如何精進?提升境界?李老師說他們的修行稱為「無功用道」。
此言還是難懂,老師舉個比喻說,中國五十年前,我們坐帆船旅行,帆船在行走的時候靠著風力來推動,無風時要搖櫓;風推動也好,搖櫓也好,就如勇猛精進。可是船快要上岸時,帆要收下來,櫓不能搖,只能用竹竿慢慢的撐,使船靠近碼頭。快要到碼頭,大約還有幾丈遠處,此時篙都不能撐,全部要放下,船自自然然的往碼頭逐漸靠近。他說那一段就是「無功用道」,我們明白了。
法身菩薩用功與我們不同,我們是想有功用,他是無功用,就如船快靠岸時,不得用力;一用力就錯了,就會撞上碼頭。不能用力,要用之前勇猛精進的餘力,自自然然的推動它。老師以此比喻告訴我們,四十一位法身大士的修行狀況,我們從譬喻中能體會到一點。換句話說,證得法身之後再破一品無明,往後絕對不會起心動念,絕對沒有分別執著。如果有分別執著、有起心動念則還在十法界中,未離開十法界。離開十法界,入一真法界,一般稱為法身菩薩。法身菩薩絕對不會起心動念,絕無分別執著,無願無求,他是無功用道,是知足。
Nhất định phải phát tâm đảm đương làm trợ giảng của Phật Đà
Mục đích hiện thân của chư Phật Bồ-tát, chính là thượng cầu hạ hóa. Thượng cầu là thân cận Phật Đà, tiếp nhận giáo huấn của Phật Đà, hạ hóa là giúp Phật Đà giáo hóa chúng sanh. Phật là giáo sư của chúng sanh, Bồ-tát là trợ giảng của Phật, dạy và học cùng hỗ trợ nhau, công đức mới có thể viên mãn. Nếu chúng ta không thể phát tâm làm trợ giảng của Phật, thì rất khó làm được định tuệ viên mãn. Cho nên nhất định phải phát tâm đảm đương làm trợ giảng của Phật Đà. Phật chính là dùng những trợ giảng chúng ta đây để giáo hóa chúng sanh.
Những năm đầu lúc học Phật, tôi gọi những trợ giảng này là sứ giả của Phật Đà. Cách nói này của tôi, thầy Lý vì tôi mà ấn chứng, nói cách nói này không sai. Sứ giả của Phật Đà, sứ giả của chư Phật, sứ giả của Như Lai đều được, đều là trợ giảng của Phật Đà, trợ giảng của chư Phật, trợ giảng của Như Lai, trách nhiệm giáo hóa chúng sanh của Phật Đà rơi vào trên thân chúng ta, chúng ta đại diện cho Phật. Đại diện cho Phật, thì phải giống một vị Phật. Không giống, làm sao có thể đại diện cho Phật?
Phải giống ở chỗ nào? Trí đức phải giống, trí của chúng ta phải giống Phật, đức cũng phải giống Phật. Trí hiển lộ từ đức, trí tuệ Bát-nhã là tánh đức. Chúng ta dứt phiền não cầu Phật đạo là tu đức, chính là đi rèn luyện trong cuộc sống thường ngày, người xưa nói mài giũa, ý nghĩa đều rất hay. Ở trong hoàn cảnh vật chất thì gọi là mài giũa, ở trong hoàn cảnh nhân sự thì gọi là rèn luyện. Luyện chính là đem vọng tưởng phân biệt chấp trước của chính mình luyện bỏ đi. Giống như đánh sắt thành thép vậy, vọng tưởng phân biệt chấp trước là cặn bã, đem nó đào thải sạch rồi, thì sắt này liền biến thành thép ròng.
Mà sự mài giũa cần bắt đầu tu từ trong hoàn cảnh nhân sự, tu hành chân thật là tu ở chỗ này. Học tập cách đối nhân xử thế tiếp vật của Phật Bồ-tát, không thể học phàm phu. Phàm phu đối với tất cả mọi người bị cảm xúc hóa, thường hay thay đổi; đó là phàm phu, không phải Phật Bồ-tát.
Nêu ra một ví dụ đơn giản, chư vị từ trong ví dụ mà tỉ mỉ đi thể hội, sự qua lại của phàm phu trong lục đạo, giống hệt như đứa trẻ hai ba tuổi vậy. Trẻ nhỏ chung sống với nhau, một lát thì chơi thân, một lát lại giận dỗi, qua một lát lại chơi thân rồi, thay đổi thất thường. Lúc chơi thân thì rất thân, qua một lát lại đánh nhau; lúc đánh nhau giận dỗi cũng không sao cả, bởi vì một lát sau lại chơi thân rồi. Đây chính là phàm phu trong lục đạo! Tùy thuận vọng tưởng phân biệt chấp trước, vui giận thất thường, cảm xúc không ổn định, đây là hiện tượng bình thường, cho nên mới có lục đạo, mới có chín pháp giới. Đối với chúng sanh mà nói đây là bình thường, nhưng họ phải chịu khổ, phải chịu nạn, gọi là “kẻ đáng thương xót”!
Phật Bồ-tát nhìn thấy rõ ràng, Phật Bồ-tát giống như người lớn, tận tình dạy bảo họ, giúp họ mở mang trí tuệ, hiểu rõ mối quan hệ lẫn nhau, khôi phục lại sự bình thường, chính là giáo huấn của Thánh hiền! Tất cả đều quay về mức bình thường, bình thường chính là Phật pháp. Phật có ý nghĩa là giác, bình thường liền giác, không bình thường là bất giác. Người giác đối với người bất giác hiểu rõ rất tường tận; thế nhưng người bất giác đối với người giác thì hoàn toàn không biết gì, không biết được cảnh giới của ngài, cũng không biết tâm hạnh của ngài, cho rằng ngài cũng giống như chính mình, sai rồi. Người giác có thể chỉ đạo người bất giác.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
========
一定要發心擔當佛陀的助教
諸佛菩薩現身的目的,就是上求下化。上求是親近佛陀,接受佛陀的教誨,下化是幫助佛陀教化眾生。佛是眾生的教授,菩薩是佛的助教,教學相長,功德才能圓滿。我們如不能發心當佛的助教,就很難做到定慧圓滿。所以一定要發心擔當佛陀的助教。佛就是用我們這些助教來教化眾生。
早年學佛的時候,我稱這些助教為佛陀使者。我此說法,李老師為我印證,說此說法沒錯。佛陀使者、諸佛使者、如來使者都行,都是佛陀的助教、諸佛的助教、如來的助教,佛陀教化眾生之責落在我們身上,我們代表佛。代表佛,就得像個佛。不像,如何能代表佛?
何處要像?智德要像,我們的智要像佛,德也要像佛。智從德顯,般若智慧是性德。我們斷煩惱求佛道是修德,就在日常生活中去鍛鍊,古人說磨鍊,意思都好。在物質環境中為磨鍊,在人事環境中為鍛鍊。鍊就是把自己的妄想分別執著鍊掉。就如打鐵成鋼一樣,妄想分別執著是渣滓,將它淘汰盡了,此鐵就變成純鋼。
而磨鍊需從人事環境當中修起,真修行在此修。學習佛菩薩的處事待人接物,不能學凡夫。凡夫對一切人情緒化,時常轉變;那是凡夫,不是佛菩薩。
舉一個簡單的比喻,諸位從比喻當中細心去體會,六道凡夫的往來,就如兩三歲的小孩一樣。小朋友在一起相處,一會兒好了,一會兒惱了,過一會兒又好了,反覆無常。好時很好,過一會要打架;打架的時候惱了也無所謂,因為一會兒又好了。這就是六道凡夫!隨順妄想分別執著,喜怒無常,情緒不穩定,此為正常的現象,所以才有六道,才有九法界。對眾生來說這是正常的,可是他要受苦,要受難,是謂「可憐憫者」!
佛菩薩看得清楚,佛菩薩如大人,好好的教他,幫他開智慧,了解彼此的關係,恢復到正常,就是聖賢的教誨!一切都回歸到正常,正常就是佛法。佛是覺的意思,正常就覺,不正常是不覺。覺者對不覺者了解得很清楚;但是不覺者對覺者是一無所知,不知其境界,也不知道他的心行,以為也與自己一樣,錯了。覺者能夠指導不覺。
Biệt hiệu của ngài gọi là “Tuyết Lư”, tự xưng là “Tuyết Tăng”
Trong Tam Bảo lúc Phật Đà còn tại thế, Phật Bảo là đệ nhất. Phật không còn tại thế, Pháp Bảo là đệ nhất. Pháp Bảo là kinh luận, kinh luận tu học từ chỗ nào? Về lý mà nói bất kỳ một bộ kinh luận nào đều được, về sự mà nói thì không được. Trên sự mà nói, nếu kinh không khế cơ, tu học sẽ cảm thấy rất khó khăn, không có cách nào nhập môn. Lúc này liền phải nương tựa vào Tăng bảo. Người chân chánh y chiếu kinh luận tu hành, người này chính là Tăng bảo.
“Tăng” là nghĩa rộng, không phải nghĩa hẹp. Người hiện tại nói đến Tăng, liền nghĩ đến người xuất gia. Tăng mà Phật pháp chân chánh nói đến, không phải chỉ riêng người xuất gia, cư sĩ tại gia cũng thuộc về trong đó, Tăng là chỉ chung người tại gia, xuất gia.
Năm xưa lúc tôi ở Đài Trung thân cận Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, tôi vẫn chưa xuất gia, là lấy thân phận cư sĩ bái ngài làm thầy. Trong phòng khách của ngài có rất nhiều bức thư họa do mọi người tặng, phần đề từ gọi Lý lão là Tăng, là Hòa thượng, biệt hiệu của ngài là “Tuyết Lư”, trên bức thư pháp mà tiên sinh Khổng Đức Thành tặng ngài đề chính là Tuyết Lư Đại Hòa thượng. Bản thân ngài có một con dấu, trước đây lúc viết chữ ngài thường dùng con dấu đó, chữ khắc trên con dấu là “Tuyết Tăng”, ngài tự xưng mình là Tuyết Tăng.
Cho nên chữ “Tăng” không nhất định là chỉ người xuất gia, cư sĩ tại gia cũng có thể xưng. Làm sao mới có thể xưng là Tăng? Tu lục hòa kính, trì giới. Ít nhất phải có thể tu ngũ giới thập thiện, tu lục hòa kính, chính là Tăng Bảo. Nếu không hội đủ điều kiện này, người xuất gia cũng không thể xưng là Tăng, xưng Tăng là giả, không phải thật. Cư sĩ tại gia xác thực hội đủ thập thiện, ngũ giới, Bồ-tát giới, lục hòa kính, thì có thể xưng là Tăng.
Chư vị đồng tu thường hay nhìn thấy phần lạc khoản trên chữ thầy Lý viết, có lúc nhìn thấy ngài đóng con dấu là “Tuyết Tăng”, đây là đệ tử Phật có học có tu! Có thể có chứng, đương nhiên liền tốt hơn, đó là điều vô cùng khó được.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
========================
他的別號叫「雪廬」,自稱「雪僧」
三寶中佛陀在世,佛寶第一。佛不在世,法寶第一。法寶是經論,經論從何處修學?就理說任何一部經論皆可,就事說則不行。事上說,若經不契機,修學會感覺很困難,無法入門。此時就要依靠僧寶。真正依照經論修行的人,此人是僧寶。
「僧」是廣義的,不是狹義的。現在人說到僧,就想到出家人。真正佛法所謂的僧,不是只指出家人,在家居士也屬之,僧是通指在家、出家者。
當年我在台中親近李炳南老居士時,我還未出家,是以居士身拜他作老師的。在其客堂中有很多人送他的字畫上,題款稱李老為僧、為和尚,他的別號為「雪廬」,孔德成先生送他的書法上題的就是雪廬大和尚。他自己有一顆印,以前寫字他時常用那個印章,印章上刻的字是「雪僧」,他稱自己雪僧。
所以「僧」字不一定是指出家人,在家居士也能稱。如何能稱為僧?修六和敬,持戒。至少要能夠修五戒十善,修六和敬,就是僧寶。如不具足此條件,出家人也不能稱僧,稱僧是假的,不是真的。在家居士確實具足十善、五戒、菩薩戒、六和敬,則可稱僧。
諸位同修時常見到李老師寫字落款,有時候看到他蓋的是「雪僧」的印章,這是有學有修的佛弟子!能有證,當然就更好,那是非常難得的。
Thầy Dạy Bạn Tự Mình Đi Tìm
Học Phật, ít nhất phải thân cận một vị thiện tri thức có tu có học, thỉnh ngài ở trong vô số kinh điển, giúp chúng ta chọn một bộ. Thông thường một vị thiện tri thức, ngài dạy bạn tự mình đi tìm. Chúng tôi ở Đài Trung tham gia lớp kinh học của thầy Lý học giảng kinh, học giảng bộ kinh nào? Thầy dạy bạn tự mình đi tìm. Tìm ở chỗ nào? Tìm ở trong “Đại Tạng Kinh”; trong “Đại Tạng Kinh” không có, thì không học. Bởi vì không đáng tin cậy. Trong “Đại Tạng Kinh” có, tuyệt đối đáng tin cậy! Kinh thật, kinh giả lấy đây làm tiêu chuẩn.
Chúng tôi ở trong “Đại Tạng Kinh” đi lựa chọn, nếu lựa chọn không thích hợp, chọn quá sâu rồi, thầy liền sẽ nói với bạn, kinh này không thể chọn, vì trình độ, học lực không đủ. Bạn đi chọn lại, luôn luôn là để bạn chọn trước ba, bốn lần. Thật sự chọn đều không đạt yêu cầu, ngài mới thay bạn chọn một bộ. Hy vọng chính bạn có thể lựa chọn phù hợp với trình độ của chính mình, chính là kinh được chọn không thể quá dài, phải có thể xem hiểu ý nghĩa của kinh, như vậy mới dễ học. Nếu ý nghĩa của kinh rất sâu, chính mình xem đều xem không hiểu, thì đừng học, học sẽ rất mất sức, vì chọn quá sâu, không hợp trình độ.
Cho nên lúc đó đồng học chúng tôi phần lớn chọn ở trong “A-hàm”, kinh Tiểu thừa, bộ Kinh Tập. Mà sẽ không chọn kinh điển chuyên tông của Đại thừa, vì nó quá sâu rồi. Học tập theo thứ tự từng bước, công đức là tích lũy theo năm tháng, tích lũy là phải dựa vào sự thiết thực đi làm.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
=========================
老師教你自己去找
學佛,至少要親近一位有修有學的善知識,請他在眾多的經典中,幫助我們選一部。通常一位善知識,他教你自己去找。我們在台中參加李老師的經學班學講經,學講哪一部經?老師教你自己去找。到何處找?到《大藏經》中找;《大藏經》中沒有的,不學。因為靠不住。《大藏經》中有的,絕對可靠!真經、假經以此為標準。
我們在《大藏經》中去選擇,如選擇的不合適,選得太深了,老師就會告訴你,此經不能選,因程度、學歷不夠。你再去選,總是讓你先選個三、四次。實在選的都不合格,他再替你選一部。希望你自己能選擇適合自己的程度,就是所選的經不能太長,要能看懂經的意思,這才好學。如果經的意思很深,自己看都看不懂,就不要學,學起來很吃力,因選得太深,不合程度。
所以當時我們同學多半在《阿含》、小乘經、經集部中選。而不會選大乘專宗的經典,因其太深了。學習按部就班,功德是隨著年歲累積的,累積是要靠確實去做。
Một Lạy Đạo Tràng, Hai Lạy Trụ Trì, Ba Lạy Tín Đồ
Lúc tôi mới học Phật, thầy Lý Bỉnh Nam dạy tất cả học sinh của lớp Kinh học, chúng ta trong mỗi niệm đều cùng tất cả chư Phật Bồ-tát, tất cả đạo tràng cõi Phật, tất cả chúng sanh rộng kết thiện duyên, bất luận đến bất kỳ nơi nào, người khác đều hoan hỷ chúng ta, sẽ không ghét bỏ chúng ta; những việc chúng ta muốn làm, đều có đông đảo mọi người đến giúp đỡ chúng ta. Pháp duyên của chúng ta thù thắng!
Lúc đó thầy Lý mở một lớp kinh học, đào tạo nhân tài giảng kinh hoằng pháp, đồng học có hơn hai mươi người. Một tuần học ba lần, một lần là Lão nhân gia ngài dạy chúng tôi, hai lần khác là học sinh chúng tôi lên bục biểu diễn, ngài ở dưới nghe, nghe xong rồi giúp chúng tôi sửa chữa. Tôi vẫn nhớ rất rõ ràng, thời gian lên lớp của chúng tôi là thứ năm, buổi tối thầy dạy chúng tôi giảng kinh; thứ bảy là nữ chúng đồng tu giảng đại tọa ở Liên Xã Đài Trung , chủ nhật là nam chúng đồng học giảng đại tọa ở Linh Sơn Tự. Cho nên hoạt động của lớp kinh học chúng tôi một tuần ba lần.
Ngài dạy các đồng học học giảng kinh chúng tôi, nhất định phải hiểu được kết pháp duyên, không thể không kết duyên! Tâm kết duyên phải thường có, không thể gián đoạn. Nếu không kinh giảng có hay hơn nữa, không có pháp duyên; liền không có thính chúng, không có người đến thỉnh bạn giảng kinh, không có người cung cấp địa điểm cho bạn giảng kinh.
Bất luận tại gia xuất gia, chúng ta đến một đạo tràng, nhìn thấy đại điện luôn phải lạy Phật ba lạy. Thầy Lý dạy chúng tôi cách lạy, người học giảng kinh chúng tôi, lạy Phật ba lạy ý nghĩa không giống với người bình thường, là trong tâm âm thầm phát nguyện. Chúng tôi lạy Phật lạy thứ nhất, phát nguyện kết duyên cùng đạo tràng này, hy vọng tương lai có thể giảng kinh ở đạo tràng này; lạy thứ hai, phát nguyện kết duyên cùng các vị trụ trì, đương gia, đại đức thường trụ của đạo tràng này, họ tương lai sẽ hoan nghênh tôi, mời tôi đến đây giảng kinh; lạy thứ ba, phát nguyện hồi hướng cho tất cả tín đồ của đạo tràng này, có duyên với tất cả tín đồ của đạo tràng, tương lai tôi đến giảng kinh liền có rất nhiều người đến nghe, đây là ba lạy lạy Phật của người học giảng kinh.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
===================
一拜道場,二拜住持,三拜信徒
我初學佛時,李炳南老師教所有經學班的學生,我們念念當中都與一切諸佛菩薩、一切佛剎道場、一切眾生廣結善緣,無論到任何地方,別人歡喜我們,不會討厭我們;我們想做的事情,都有眾多人來幫助我們。我們的法緣殊勝!
當時李老師辦了一個經學班,培養講經弘法的人才,同學有二十多人。一個星期上課三次,一次是他老人家教我們,另外兩次是我們學生上台表演,他在下面聽,聽了之後幫助我們改正。我還記得很清楚,我們上課的時間是星期四,晚上老師教我們講經;星期六是女眾同修在台中蓮社講大座,星期天是男眾同學在靈山寺講大座。所以我們經學班的活動一星期三次。
他教我們學講經的同學們,一定要懂得結法緣,不能不結緣!結緣之心要常有,不能間斷。否則經講得再好,沒有法緣;就沒有聽眾,無人來請你講經,無人提供場所給你講經。
不論在家出家,我們到一個道場,見到大殿總要禮佛三拜。李老師教我們拜法,我們學講經的人,禮佛三拜意思不同於一般人,是心中默默的許願。我們第一拜拜佛,發願與此道場結緣,希望將來能在此道場講經;第二拜,發願與此道場住持、當家、常住大德們結緣,他們將來會歡迎我邀請我來此講經;第三拜,發願迴向給此道場所有的信徒,與道場所有信徒有緣,將來我來講經就有很多人來聽,此為學講經者的禮佛三拜。
Thầy khuyên tôi dùng việc giảng kinh để tiêu nghiệp chướng
Những năm đầu lúc ở Đài Trung theo thầy Lý học Phật, thầy thường khuyên bảo chúng tôi, phước báo lớn nhất thế xuất thế gian, hiệu quả thù thắng nhất trong việc chuyển biến nghiệp lực chính là giảng kinh. Giảng kinh, dùng tâm chân thành, không vì danh văn lợi dưỡng mới tương ưng. Nếu như giảng kinh tham đồ danh văn lợi dưỡng, muốn nâng cao địa vị của bản thân trong xã hội, cho dù giảng kinh giảng rất vất vả, giảng cả đời, đời sau cũng chỉ có phước báo nhỏ, không có phước báo lớn gì.
Thầy có trí tuệ, có học vấn, kinh nghiệm phong phú, lúc theo ngài, Lão nhân gia 70 tuổi, tôi mới 32 tuổi. Nhìn thấy học sinh trẻ tuổi có người không những không có phước báo, lại còn nhiều bệnh mỏng mạng. Thầy liền sẽ rất yêu thương bảo vệ, khuyên họ phát tâm giảng kinh; phát tâm giảng kinh chuyển nghiệp nhanh nhất. Năm xưa tôi chính là thuộc về loại học sinh này, không có phước báo lại mỏng mạng, thầy khuyên tôi dùng phương pháp này để tiêu nghiệp chướng, thật sự có hiệu quả không thể nghĩ bàn.
Tôi vốn dĩ không có phước báo, học Phật năm mươi năm nay, giảng kinh 44 năm tích lũy, hiện tại mọi người nhìn thấy tôi có một chút phước báo rồi; một chút phước báo này hoàn toàn là đời này sau khi học Phật tu được. Trước khi chưa học Phật, xác thực là một chút phước báo cũng không có, cuộc sống trôi qua rất khổ. Mà vì Phật pháp, vì chúng sanh, không vì chính mình, chính mình không nghĩ gì cả; lại không có phước báo, lại không có thọ mạng, còn nghĩ gì nữa? Cho nên sau khi học Phật, chỉ muốn niệm Phật vãng sanh Tịnh độ.
Mặc dù Đại sư Chương Gia dạy tôi, “Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng”. Thế nhưng tôi học Phật từ trước đến nay chưa từng có bất kỳ sự mong cầu nào, ngay cả giảng kinh thuyết pháp tôi cũng không có mong cầu, chỉ là sống một ngày giảng một ngày; bởi vì tôi biết Phật pháp tốt, kinh giáo thù thắng, tôi đã nhận được lợi ích này, hy vọng tất cả chúng sanh đều có thể nhận được. Tôi đem Phật pháp giới thiệu cho mọi người, là nghĩa vụ của tôi, là trách nhiệm của tôi. Không có mảy may mong cầu, thế nhưng trí tuệ, phước báo, thọ mạng vẫn hiện tiền. Không phải tôi không cầu liền không có, không cầu tự nhiên có được viên mãn.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
================
老師勸我用講經來消業障
早年在台中跟隨李老師學佛的時候,老師時常勸導我們,世出世間最大的福報,轉變業力效果最殊勝的是講經。講經,用真誠的心,不為名聞利養才相應。如果講經貪圖名聞利養,要在社會上提升自己的地位,就算講經講得很辛苦,講一輩子,來生也只有小福報,沒有什麼大福報。
老師有智慧、有學問、經驗豐富,跟隨他時,他老人家七十歲,我才三十二歲。見年輕學生有不但無福報,還多病短命者。老師就會很愛護,勸其發心講經;發心講經轉業最快。我當年就是屬於這一類的學生,沒有福報又短命,老師勸我以此法來消業障,真的有不思議的效果。
我原本沒有福報,學佛五十年來,講經四十四年累積,現在大家看到我有一點福報了;這一點福報完全是此生學佛以後修的。未學佛以前,確實是一點福報都沒有,生活過得很苦。而為佛法,為眾生,沒有為自己,自己什麼都不想;又無福報,又無壽命,還想什麼?所以學佛以後,只想念佛往生淨土。
雖然章嘉大師教我,「佛氏門中,有求必應」。但是我學佛從來沒有任何希求,連講經說法我也沒有希求,只是活一天講一天;因為我知道佛法好,經教殊勝,我既得此利益,希望一切眾生都能得到。我把佛法介紹給大家,是我的義務,是我的責任。無絲毫希求,但是智慧、福報、壽命還是現前。並非我不求就沒有,不求自然圓滿得到。
Trước khi giảng kinh, viết biểu giải lên bảng đen
Người mới học giảng kinh thuyết pháp cho đại chúng, phải dùng thái độ gì? Phải nhập định. Chư vị đều biết, trước đây pháp sư thăng tọa giảng kinh, có nghi thức giảng kinh, nghi thức rất dài, cần khoảng hơn bốn mươi phút. Pháp sư ngồi trên chỗ ngồi nhập định, sau khi nghi thức xong rồi, dẫn khánh vừa gõ pháp sư xuất định rồi, mới bắt đầu giảng kinh. Phải đem tất cả vọng niệm buông xuống, ý chí tập trung, mới có thể thể hội được nghĩa lý vi diệu, nghĩa thú vô tận trong kinh. Nếu như tâm tán loạn, tuyệt đối không có cách nào thể hội, không thể thành tựu.
Bình thường chúng ta giảng kinh có cần phải chuẩn bị đầy đủ hay không? Cần, đó là thái độ kính nghiệp. Tôi đem việc này xem như một việc quan trọng để xử lý, tôi rất xem trọng, cũng có sự chuẩn bị đầy đủ. Chuẩn bị có tác dụng hay không? Không nhất định. Có lẽ sau khi lên bục giảng, tư liệu đã chuẩn bị, một câu cũng không dùng đến. Bởi vì trí tuệ hiện tiền, Phật lực gia trì. Phàm là các bậc đại đức giảng kinh, đều có sự cảm ứng này.
Trước đây thầy Lý ở Đài Trung giảng kinh, một tuần giảng một lần. Ngày giảng kinh ngài không tiếp khách, trong thư viện có chuẩn bị cho ngài một căn phòng nghỉ ngơi, ở trên một lầu nhỏ, ngày hôm đó tương đương với bế quan trên lầu nhỏ. Bữa trưa đưa lên lầu, ngài không xuống lầu, lúc giảng kinh buổi tối mới xuống. Ngài ở Đài Trung giảng kinh ba mươi tám năm, ba mươi tám năm như một ngày; tôi theo ngài mười năm, ngài lấy thân giáo làm tấm gương cho chúng tôi. Dụng tâm kính nghiệp như vậy, chúng tôi khâm phục!
Ngài cũng xem chú sớ của cổ đại đức, làm sự chuẩn bị đầy đủ. Có lúc ngài đem nghĩa thú quan trọng trong kinh, dùng phương thức biểu giải liệt kê ra, trước khi giảng kinh, đem biểu giải này viết lên bảng đen; tôi giúp ngài viết bảng đen không ít năm. Những bút ký này hiện tại đều in trong “Toàn Tập”, khoảng chừng có hai, ba cuốn là bút ký mà ngài làm lúc giảng kinh trước đây. Ngài làm tấm gương cho hậu học chúng tôi, tuyệt đối không cẩu thả.
Những năm đầu tôi giảng kinh, mười năm đầu hoàn toàn tuân theo phương pháp này của thầy, ngài một tuần giảng một lần, tôi một tuần khoảng chừng giảng năm, sáu lần; bởi vì ngài vẫn còn những việc khác, công việc của ngài rất nhiều. Sau khi tôi xuất gia, đem việc thế gian hoàn toàn buông xuống rồi, chuyên môn đi con đường giảng kinh, cho nên tôi ngày ngày giảng. Mười năm đầu, ngày ngày đều phải dùng rất nhiều thời gian làm công tác chuẩn bị; sau mười năm liền càng ngày càng thuần thục rồi, ngạn ngữ gọi là “quen tay hay việc”, thời gian chuẩn bị càng ngày càng ngắn.
Lúc mới giảng kinh, giảng một giờ đồng hồ, phải mất bốn mươi giờ đồng hồ chuẩn bị, thật sự không dễ dàng. Khoảng chừng sau nửa năm, chưa tới một năm, càng ngày càng có tiến bộ, giảng một giờ đồng hồ, ước chừng chỉ cần chuẩn bị mười mấy giờ đồng hồ liền có thể hoàn thành rồi. Sau hai năm, giảng một giờ đồng hồ, chuẩn bị sáu, bảy giờ đồng hồ liền được rồi. Sau ba năm, có thể một đổi một rồi, giảng một giờ đồng hồ, khoảng chừng chuẩn bị một, hai giờ đồng hồ liền có thể rồi. Về sau, mỗi ngày giảng một giờ rưỡi đồng hồ, dùng thời gian cả một ngày chuẩn bị cho một tuần liền đủ dùng rồi, càng ngày liền càng có tiến bộ. Sau mười năm, gần như không cần phải chuẩn bị. Cho nên, hiện tại mọi người thấy tôi giảng kinh, tôi không có chuẩn bị, giảng quen rồi.
Sự chuẩn bị của tôi chỉ là đem đoạn văn trong kinh điển, dùng bút màu đánh dấu ra, trên bục giảng liền sẽ rất dễ nhìn. Ngoài ra chính là trong kinh điển có lúc vẫn còn từ mới, từ mới nhất định phải tra từ điển, không thể tùy tiện đọc bừa. Cho nên chuẩn bị chính là đánh dấu đoạn văn, tra xem có từ mới xa lạ và danh từ, danh tướng thuật ngữ xa lạ hay không. Thế nhưng tôi vẫn là mỗi ngày đọc kinh, đây là kính nghiệp; giảng kinh là sự nghiệp của tôi, tôi phải y giáo tu hành. Tôi mỗi ngày không thể không đọc kinh, mỗi ngày không thể không xem chú sớ của các bậc tổ sư đại đức; xem chú sớ là nghe các ngài giảng kinh, nghe báo cáo tâm đắc của các ngài. Trên thực tế, giảng kinh đã không cần chuẩn bị nữa rồi.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
===========
在講經之前,把表解寫在黑板上
初學為大眾講經說法,要用什麼態度?要入定。諸位都知道,以前法師升座講經,有講經的儀式,儀式很長,大約需要四十多分鐘。法師坐在座位上入定,儀式完了之後,引罄一敲法師出定了,才開始講經。要把所有妄念放下,意志集中,才能體會到經中微妙的義理,無盡的義趣。如果心散亂,絕對無法體會,不能成就。
平常我們講經需不需要做充分的預備?需要,那是敬業的態度。我把此事當作一件重要的事情來處理,我很重視,也有充分的準備。準備有無用處?不一定。也許上台之後,所準備的資料,一句都用不上。因為智慧現前,佛力加持。凡是講經的大德們,都有此感應。
以往李老師在台中講經,一星期講一次。講經當天他不見客,在圖書館為他準備一個休息的房間,在一個小樓上,當天等於在小樓上閉關。午餐送到樓上,他不下樓,晚上講經的時候才下來。他在台中講經三十八年,三十八年如一日;我跟隨他十年,他以身教為我們榜樣。如此的用心敬業,我們佩服!
他也看古大德的註疏,做充分的準備。有時候他將經中重要的義趣,用表解的方式列出來,在講經之前,把此表解寫在黑板上;我幫他寫過不少年的黑板。這些筆記現在都印在《全集》中,大概有兩、三冊是他以往講經所做的筆記。他為我們後學做榜樣,絕不草率。
我早年講經,前十年完全遵照老師此法,他一星期講一次,我一星期大概講五、六次;因為他還有其他的事情,他的工作很多。我出家之後,把世間事完全放下了,專門走講經之路,所以我天天講。前十年,天天都要用很多的時間做準備工作;十年之後就愈來愈熟了,諺語所謂「熟能生巧」,準備的時間愈來愈短。
初講經時,講一個小時,要四十個小時準備,真的不容易。大概半年之後,不到一年,愈來愈有進步,講一個小時,約只需要準備十幾個小時就能夠完成了。兩年之後,講一個小時,準備六、七個小時就行了。三年之後,可以一比一了,講一個小時,大概準備一、兩個小時就可以了。後來,每天講一個半小時,用一整天的時間準備一個星期的就夠用了,愈來就愈有進步。十年之後,幾乎無需要準備。所以,現在大家見我講經,我沒有準備,講熟了。
我的準備只是把經典中的段落,用彩色的筆勾出來,在講台上就會很醒目。另外就是經典中有時候還有生字,生字一定要查字典,不能隨便亂念的。所以準備就是勾段落,查看有無生疏的生字和生疏的名詞、名相術語。但是我還是每天讀經,此為敬業;講經是我的事業,我要依教修行。我每天不能不讀經,每天不能不看祖師大德們的註疏;看註疏是聽他們講經,聽他們的心得報告。實際上,講經已經無需準備了。
Trong cửa nhà Phật, không bỏ một ai
Cùng là học Phật, vì sao có chúng sanh được lợi ích, có chúng sanh không được lợi ích? Đây là điều thường nói trong kinh giáo về duyên chíu muồi và duyên chưa chín muồi. Duyên chín muồi nhận được lợi ích, chính là căn chín muồi! Căn chưa chín muồi mà trồng thiện căn, hiện tiền không được lợi ích. Đối với người không có thiện căn thì giúp họ trồng thiện căn, người có thiện căn thì giúp họ tăng trưởng, người thiện căn chín muồi thì giúp họ thành tựu. Nhưng trong đó ắt có người thành tựu, số người thành tựu nhiều ít không nhất định, ít nhất đều sẽ có một, hai người. Dưới hội của Đại sư Lục Tổ Huệ Năng có bốn mươi ba người thành tựu, thật sự là không tiền tuyệt hậu, trước Đại sư Huệ Năng không có, sau Đại sư Huệ Năng cũng không có.
Thành tựu này là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, trong Phật pháp địa vị của họ như thế nào? Là địa vị Bồ-tát Sơ Trụ của Viên giáo trong kinh Hoa Nghiêm, không thể nói là không cao, trong một đời có thể siêu việt lục đạo, siêu việt mười pháp giới, thành tựu thù thắng như vậy, Tông môn là như vậy, Giáo hạ cũng không ngoại lệ. Cho nên mỗi một tông phái của Phật pháp, đời đời đều có truyền nhân. Truyền nhân nhất định phải là người khai ngộ, không khai ngộ làm sao truyền? “Đại triệt đại ngộ” của Thiền tông, “đại khai viên giải” của Giáo hạ, trong Tịnh độ tông chúng ta được “nhất tâm bất loạn”, được “niệm Phật tam muội”, đây mới là truyền nhân. Cho nên một vị Pháp sư thường thường trong một đời, chỉ được một người, công đức của ngài liền viên mãn rồi. Cũng có Tổ sư đại đức không có một truyền nhân nào.
Tôi từng vì việc này mà thỉnh giáo thầy Lý, vì sao ngài phải đến? Thầy Lý nói “trong cửa nhà Phật, không bỏ một ai”, thế gian vẫn còn người có duyên phận với ngài, nhưng những người có duyên này có thiện căn mà nhân duyên chưa thành thục, ngài đến giúp đỡ họ tăng trưởng thiện căn. Còn có người có duyên với ngài, tuy có duyên nhưng chưa trồng thiện căn, ngài đến giúp họ trồng thiện căn. Đây là từ bi!
Chúng ta rõ ràng thấu hiểu rồi, giống như trồng cây ăn quả, mục đích nông phu đến vườn cây là xem quả chín rồi, liền hái quả. Lúc chưa chín cũng phải đến, đến xem nó lớn lên thế nào, có sâu bệnh hay không, lượng nước, phân bón có đủ hay không, lúc không có cây ăn quả, họ vẫn là phải đến, đến xem những đất đai này có thể trồng những cây ăn quả nào, sau đó lại đến trồng cây!
Cho nên số lượng chư Phật Bồ-tát ứng hóa ở thế gian rất nhiều, từ đây chúng ta có thể thể hội được sự từ bi vô tận của Phật Bồ-tát, tướng mạo thị hiện, nhất định là thanh tịnh không nhiễm, trụ ở thế gian âm thầm cảm hóa, sinh ra sức ảnh hưởng rất lớn.
Giống như Tổ sư đại đức, Đại sư Ấn Quang, Lão Hòa thượng Hư Vân thời cận đại đều làm tấm gương tốt cho người tu hành, chúng ta học tập theo các ngài liền sẽ có thành tựu. Nếu sợ phiền não tập khí sâu nặng, học không được, liền không thể thành tựu, chỉ có thể trồng một cái thiện căn mà thôi. Hy vọng đời sau kiếp sau, hoặc là sau nhiều đời nhiều kiếp, phiền não tập khí tiêu trừ rồi, thiện căn hiện tiền rồi, liền có thể thành tựu.
Cho nên ngài đến là có mục đích, đối với chúng sanh là có lợi ích, chúng sanh căn thành thục thì lợi ích ở hiện tiền, chúng sanh căn chưa thành thục thì lợi ích ở đời sau, người có duyên mà không có thiện căn lợi ích có thể ở đời sau nữa, thậm chí là sau nhiều đời nhiều kiếp, mà hạt giống kim cang của Phật pháp vĩnh viễn không hư hoại.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
============
佛氏門中,不捨一人
同樣學佛,為何有些眾生得利益,有些眾生不得利益?此為經教中常說的緣成熟與緣未成熟。緣熟的得利益,就是根熟!根未熟的種善根,現前不得利益。對於無善根的人幫他種善根,有善根的人幫他增長,善根成熟的人幫他成就。但是這其中必有成就的,成就的人多少不一定,至少都會有一、兩個。六祖惠能大師會下成就的人有四十三個人,真的是空前絕後,惠能大師之前沒有,惠能大師之後也沒有。
此成就是大徹大悟,明心見性,在佛法中他的地位如何?《華嚴經》圓教初住菩薩的地位,不能說不高,一生能中超越六道,超越十法界,如此殊勝的成就,宗門如是,教下也不例外。所以佛法每一個宗派,一代一代都有傳人。傳人必須是開悟的,不開悟如何傳?禪宗的「大徹大悟」,教下的「大開圓解」,我們淨土宗中得「一心不亂」、得「念佛三昧」,這才是傳人。所以一個法師往往一生當中,只得到一個,他的功德就圓滿了。也有祖師大德一個傳人都沒有的。
我曾經為此請教過李老師,他為什麼要來?李老師說「佛氏門中,不捨一人」,世間還有與他緣分的人,但是這些有緣的人有善根但因緣未成熟,他來幫助他們善根增長。還有與他有緣的人,雖有緣但未種善根,他來幫他種善根。這是慈悲!
我們明白了解了,如種植果樹,農夫到果園來的目的是看果子熟了,就採摘果子。沒熟時也要來,來看看它長得如何,有無病害蟲,水分、肥料是否足夠,無果樹的時候,他還是要來,來看這些土壤能夠種哪些果樹,然後再來種樹!
所以諸佛菩薩應化在世間的人數很多,由此我們能體會到佛菩薩的無盡慈悲,所示現的相,一定是清淨不染,住在世間潛移默化,產生很大的影響力。
如祖師大德,近代的印光大師、虛雲老和尚都為修行人做好榜樣,我們向他們學習就會有成就。如果怕煩惱習氣深重,學不來,就不能成就,只能種個善根而已。希望來生來世,或者多生多劫之後,煩惱習氣消了,善根現前了,就能成就。
所以他來是有目的的,對眾生是有利益的,根熟的眾生利益在現前,根未熟的眾生利益在來世,有緣而無善根的人利益可能在後世,甚至於多生多劫之後,而佛法金剛種子永遠不壞。
Thầy vừa gặp mặt, liền dùng tay chỉ vào tôi, chú phải tin Phật
Phật thuyết pháp là giúp đỡ chúng sanh dứt nghi sanh tín. Phật nói tài phú càng bố thí càng nhiều. Nếu không tin tưởng, sợ sau khi bố thí xong liền không còn nữa, mắc lừa lớn của Phật rồi, là đối với Phật không có tín tâm. Chỉ có người chân chánh tin Phật, đối với giáo huấn của Phật Đà không nghi ngờ, mới chân chánh có thể trong một đời tu tích vô lượng vô biên công đức thù thắng. Cho nên chữ “tín” quan trọng biết bao, “tín là nguồn đạo, mẹ của công đức”.
Năm xưa tôi phát tâm xuất gia, xuất gia hai năm mới thọ giới. Vừa xuất gia liền dạy Phật học viện, cũng giảng kinh hai năm rồi. Thọ giới xong, trước tiên phải quay về Đài Trung để bái tạ thầy. Tôi vẫn chưa bước vào cửa, ngài ở trong nhà nhìn thấy tôi, liền dùng tay chỉ vào tôi nói “Lại đây! Lại đây! Chú phải tin Phật”, nói liền mấy lần “Chú phải tin Phật”. Tôi bước đến trước mặt ngài, cũng ngây người ra. Lúc đó tôi đã học Phật chín năm rồi, giảng kinh cũng giảng hai năm rồi, xuất gia thọ giới rồi, sao có thể không tin Phật?
Ngài bảo tôi ngồi xuống, giải thích cho tôi, tin Phật không dễ dàng, rất nhiều lão hòa thượng đến chết đều không tin Phật, tôi lúc này mới hiểu được ý của ngài. Thế nào gọi là tin Phật? Người y giáo phụng hành mới gọi là tin Phật. Những gì Phật nói trên kinh đều chưa làm được, không tin tưởng, không tin Phật, làm sao có thể có thành tựu?
Chúng ta thân cận một vị thầy, nguyên tắc là tôi tín nhiệm thầy, giáo huấn của thầy, tôi sẽ y giáo phụng hành. Cùng là một câu nói, người khác nói tôi không tin tưởng, thầy nói tôi tin tưởng; người khác nói tôi không làm theo, thầy nói tôi bằng lòng làm theo. Phật liền giống như vị thầy của chúng ta.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
=================
老師一見面,用手就指著我,你要信佛
佛說法是幫助眾生斷疑生信。佛說財富愈施愈多。如不相信,怕施完之後就沒有了,上了佛的大當,是對佛沒有信心。只有真正信佛的人,對佛陀的教誨不疑,真正能在一生中修積無量無邊殊勝功德。所以「信」字多重要,「信為道源功德母」。
我當年發心出家,出家兩年才受戒。一出家就教佛學院,也教了兩年經。受了戒,首先要回到台中去拜謝老師。我還未進門,他在屋內看到我,用手指著我說「來!來!你要信佛」,說了好幾次「你要信佛」。我走到他面前,也呆了。當時我已學佛九年了,講經也講了兩年,出家受了戒,怎會不信佛?
他要我坐下來,為我解釋,信佛不容易,許多老和尚到死都不信佛,我這才明白他的意思。何謂信佛?依教奉行者謂之信佛。佛在經上說的都未做到,不相信,不信佛,如何會有成就?
我們親近一位老師,原則是我信任老師,老師的教誨,我會依教奉行。同樣一句話,別人說的我不相信,老師說的我相信;別人說的我不照做,老師說的我願意照做。佛就如我們的老師。
Giảng kinh thuyết pháp, trước tiên phải học ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một trong bốn khoa dạy học của Khổng Tử, môn học thứ nhất trong dạy học của Khổng Tử là “đức hạnh”, môn học thứ hai chính là “ngôn ngữ”, chúng ta không thể không xem trọng việc học tập ngôn ngữ. Trước đây Lý lão thường hay dạy chúng tôi, điều chú ý đầu tiên là ngôn ngữ không được đắc tội người. Thời xưa, những hiểu lầm do ngôn ngữ gây ra, ví dụ trong lịch sử có rất nhiều, tai họa nhỏ thì gây ra họa sát thân, tai họa lớn thì gây ra nước mất nhà tan.
Nho giáo xem trọng, Phật giáo cũng xem trọng. Tôi thường nhắc đến, nhà Phật thông thường sắp xếp theo thứ tự ba nghiệp “thân, khẩu, ý”, “Kinh Vô Lượng Thọ” vừa mở đầu đã dạy chúng ta cương lĩnh tu hành là khéo giữ gìn ba nghiệp, đem khẩu nghiệp đặt ở vị trí số một, “khéo giữ khẩu nghiệp, không chê lỗi người”. Có một số người không biết đạo lý này, thích nói đùa, không biết rằng người nói vô tâm, người nghe hữu ý, từ đó mà sinh ra rắc rối, kết oán thù.
Thầy Lý từng nêu ví dụ về Quách Tử Nghi, ông là đại tướng thời nhà Đường, được phong hầu, địa vị cao cả! Có một ngày, Quách Tử Nghi nghe nói Lư Kỷ đến gặp ông, lập tức thay đại lễ phục ở nhà cung kính chờ đợi. Địa vị của Lư Kỷ khoảng chừng là trưởng khoa, vụ trưởng hiện tại, địa vị rất thấp. Người nhà đều rất lấy làm lạ, bao nhiêu quan lớn nhân vật lớn đến, ông đều rất thoải mái, vì sao đối với người này lại tôn trọng đến thế? Ông nói với người nhà, người này không phải người bình thường, nếu như đắc tội ông ta, tương lai lúc ông ta đắc chí sẽ báo thù, cho nên nhất định phải dùng lễ lớn để tiếp đãi, không dám đắc tội.
Quả nhiên giống như Quách Tử Nghi nói, về sau Lư Kỷ làm tể tướng. Quách Tử Nghi có trí tuệ, không đắc tội người. Người có tâm địa trung hậu lão thành, thoải mái một chút không sao cả; kẻ tâm hồn hẹp hòi thì có ân ắt báo, có thù ắt báo, đối với loại người này phải rất có lễ phép.
Ngôn ngữ không thể không cẩn thận, đặc biệt là phải giáo hóa chúng sanh, giảng kinh thuyết pháp, trước tiên phải học ngôn ngữ.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
========================
講經說法,首先要學言語
言語是孔子教學四科之一,孔子教學第一個科目為「德行」,第二個科目就是「言語」,我們不能不重視言語的學習。以前李老時常教我們,首要注意言語不能得罪人。古時候,因為言語造成的誤會,歷史上的例子很多,小的禍害造成殺身之禍,大的禍害造成國破家亡。
儒重視,佛也重視。我常提起,佛家一般順序按「身口意」三業排列,《無量壽經》一開端教導我們修行的綱領善護三業,把口業放在第一,「善護口業,不譏他過」。有一些人不知此理,喜歡開玩笑,不知道說者無心,聽者有意,因而生麻煩,結怨仇。
李老師曾舉郭子儀之例,他是唐朝的大將,封侯的,地位崇高!有一天,郭子儀聽說盧杞來見他,立即換上大禮服在家恭候。盧杞的地位大概是現在的科長、司長,地位很低。家人都很奇怪,多少大官大人物來,你都很隨便,為何對他如此的尊重?他與家人說,此人非普通人,如果得罪他,將來他得志時會報復,所以一定要以大禮接待,不敢得罪。
果然如郭子儀所說,後來盧杞做了宰相。郭子儀有智慧,不得罪人。心地忠厚老成的人,隨便一點沒有關係;心胸窄狹者有恩必報,有仇必報,這種人對他要很有禮貌。
言語不能不謹慎,尤其是要教化眾生,講經說法,首先要學言語。
Thầy Lý giới thiệu cho chúng tôi vài vị đại đức thời cận đại
Giải, không dễ dàng! Đặc biệt là chánh giải, phàm phu chúng ta tự cho là chính xác, trên thực tế là sai lầm. Vì sao vậy? Tình chấp của phàm phu chưa dứt, tư tưởng kiến giải là từ tám thức năm mươi mốt tâm sở lưu xuất ra, làm sao có thể so với Phật Bồ-tát? Từ đây có thể biết, chuyển tám thức thành bốn trí, kiến giải đó mới là chánh tri chánh kiến chính xác.
Người mới học nếu không thể chấp nhận cách nói này, liền không có cách nào học Phật rồi. Bởi vì đối với những gì Phật Bồ-tát nói hoàn toàn không thể chấp nhận, lúc nghiên cứu kinh giáo nhất định là tùy thuận sự lý giải của chính mình, ý của chính mình để học kinh giáo, tuyệt đối không phải là ý của Như Lai! Lấy điều này để giải thích kinh, khó tránh khỏi có sai sót. Chư vị đã nghe qua công án của Thiền sư Bách Trượng, “đáp sai một chữ chuyển ngữ, đọa năm trăm đời thân chồn hoang”. Bởi vì dẫn dắt sai lầm, dẫn dắt sai lầm chúng sanh, phải gánh chịu trách nhiệm nhân quả.
Đối với người chưa khai ngộ, chúng ta giảng thế nào mới không trái nhân quả? Giảng chú giải của người xưa, tuyệt đối tuân thủ chú giải; đổi lời mà nói, chúng ta ở trên bục giảng phiên dịch chú giải của người xưa. Chú giải của người xưa được viết bằng văn ngôn, chúng ta đem văn ngôn dùng văn bạch thoại hiện đại nói ra, thầy dạy chúng tôi phương pháp này. Tuyệt đối không thể tùy ý phát huy, phát huy là xen tạp ý của chính mình ở trong đó, khó tránh khỏi không xảy ra vấn đề. Nói lời thật lòng, người chưa khai ngộ căn bản là không đủ tư cách giảng kinh. Nhưng tình huống hiện tại không giống, người giảng kinh cực kỳ thiếu, chúng tôi chỉ đành bước ra lấp chỗ trống cho đủ số!
Hiện tại trình độ quốc văn của chúng ta rất kém, chú giải của cổ nhân chúng ta xem không hiểu. Làm sao đây? Chọn chú giải của các vị đại đức thời cận đại. Thầy Lý giới thiệu chúng tôi đọc tham khảo chú giải của vài vị đại đức thời cận đại có: của Lão Pháp sư Đế Nhàn, của Pháp sư Viên Anh, của Pháp sư Hưng Từ, của Pháp sư Từ Chu, của Pháp sư Bảo Tĩnh, của Pháp sư Đàm Hư, đây là do thầy chọn cho chúng tôi. Những người này có khai ngộ hay không? Thầy không dám nói, nhưng những người này thật sự là pháp sư tốt, có tu có học, có đạo đức, có học vấn. Chú giải của các ngài cũng được viết bằng văn ngôn, là văn ngôn rất cạn, chúng ta tham khảo chú giải của các ngài, giảng chú giải của các ngài, chúng ta xem hiểu được, chỉ cần chú giải không giảng sai, trách nhiệm các ngài chịu. Cá nhân không có chỗ ngộ thì không thể phát huy, phải tuân thủ chặt chẽ quy củ; nếu chúng ta tự ý phát huy, trách nhiệm phải tự mình chịu. Nói tóm lại, những người này các ngài có thật sự khai ngộ hay chưa, chưa biết được, ít nhất các ngài có tu có học, liền rất khó được rồi.
Giáo nghĩa phải giảng được thấu triệt, giảng được rõ ràng, khiến cho người ta không đến nỗi hiểu sai ý nghĩa, khó, quá khó quá khó rồi! “Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như Lai”, đâu có dễ dàng! Trong chừng ấy năm, bậc tiền bối của chúng ta giảng kinh thuyết pháp, trong thính chúng người hiểu sai ý nghĩa rất nhiều. Nghe tôi giảng kinh, hiểu sai ý của tôi cũng không ít, như vậy liền biết được việc này không dễ dàng.
Chúng ta dụng công ở việc buông xuống. Nhất định phải buông xuống phiền não tập khí của chính mình, buông xuống nghiệp chướng của chính mình, mới có thể có một chút xíu trí tuệ, một chút trí tuệ đó sẽ khởi tác dụng.
Cho nên phàm phu tu hành không thể thành tựu, đều là bị ngũ dục hãm hại, bị “tài, sắc, danh, thực, thùy” hãm hại. Chỉ cần tâm có ý niệm này, liền không có cách nào ngộ nhập. Bởi vì khởi tâm động niệm là do phiền não tập khí của chính mình làm chủ, tuy học tập kinh giáo vẫn là bị nó làm chủ, đây là tâm luân hồi mà tôi thường hay nói. Dùng tâm luân hồi để học Đại thừa, Đại thừa cũng là tâm luân hồi, liền không ra khỏi luân hồi. Không có cách nào buông xuống tự tư tự lợi, xả mình vì người, hy sinh cống hiến, “quyết định giải” mà trên kinh nói, làm không được.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
================
李老師給我們介紹幾位近代的大德
解,不容易!尤其是正解,我們凡夫自以為正確,實際上是錯誤的。為什麼?凡夫的情執沒有斷,思想見解是從八識五十一心所流出來的,與佛菩薩如何能比?由此可知,轉八識成四智,其見解才是正確的正知正見。
初學者如果不能接受此說法,就無法學佛了。因為對於佛菩薩所說的完全不能接受,研究經教時一定是隨順自己的理解、自己的意思來學經教,絕對不是如來的意思!以此解經,不免有錯。諸位聽過百丈禪師的公案,「錯下一個字轉語,墮五百世野狐身」。因為誤導,誤導眾生,要負因果責任。
對於未開悟的人,我們如何講才不背因果?講古人的註解,絕對遵守註解;換言之,我們在講台上翻譯古人的註解。古人註解是文言文寫的,我們把文言文用現代白話文說出來,老師教我們此法。絕對不能隨意發揮,發揮是夾雜著自己的意思在其中,難免不出問題。說實話,未開悟者根本就不夠資格講經。但是現在情況不同,講經者極缺,我們只有出來濫竽充數!
現在我們的國文程度很差,古人的註解我們看不懂。怎麼辦?選近代大德們的註解。李老師介紹我們閱讀參考幾位近代大德的註解有:諦閑老法師的,圓瑛法師的,興慈法師的,慈舟法師的,寶靜法師的,倓虛法師的,這是老師為我們選的。這些人有沒有開悟?老師不敢說,但是這些人真的是好法師,有修有學,有道德,有學問。他們的註解也是文言文寫的,很淺的文言文,我們參考他們的註解,講他們的註解,我們看得懂,只要註子沒講錯,責任他負。個人沒有悟處就不能發揮,要緊守著規矩;如果我們自行發揮,責任要自己負。總而言之,這些人他是否真正開悟了,未知,至少他有修有學,就很難得了。
教義要講得透徹,講得明白,讓人不至於錯解意思,難,太難太難了!「願解如來真實義」,談何容易!這麼多年當中,我們的上一輩講經說法,聽眾當中錯解意思的人很多。聽我講經,錯解我意思的也不少,如此就知道此事不容易。
我們用功於放下。一定要放下自己的煩惱習氣,放下自己的業障,才能有一點點智慧,那一點智慧會起作用。
所以凡夫修行不能成就,都是被五欲所害,被「財色名食睡」所害。只要心有此念頭,就無法悟入。因為起心動念是由自己的煩惱習氣在主宰,雖學習經教還是受其作主,此為我時常說的輪迴心。用輪迴心來學大乘,大乘也是輪迴心,就出不了輪迴。無法放下自私自利,捨己為人,犧牲奉獻,經上說的「決定解」,做不到的。
Phàm là người nói không thật lòng, thầy đối với người đó đều đặc biệt khách sáo
Làm thế nào để người khác tín nhiệm bạn, tâm phục khẩu phục đối với bạn? Luôn không ngoài “Tứ nhiếp pháp”. Lấy “chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi” thực tiễn vào trong Tứ nhiếp pháp, mỗi niệm đều nghĩ cho người khác, đây là chỗ mà bạn có thể cảm động người. Nghĩ cho chính mình, nếu như là tự tư tự lợi, nói có hay hơn nữa, trong tâm chột dạ mà không chắc chắn; chính là giả dối, không phải chân thành.
Người thế gian hơi có học vấn, tâm là tĩnh; người không có học vấn, tâm là nông nổi. Người không có học vấn nói chuyện không lão thật, nói không thật lòng, không phải là thật tâm, người có học vấn có đức hạnh, nhìn một cái liền thấu suốt rồi. Sau khi thấu suốt liền mỉm cười cho qua, tuyệt đối sẽ không nói toạc ra. Bởi vì nói toạc ra liền sẽ kết oán thù. Người có đức hạnh có học vấn ở thế gian đều biết, oán gia nên giải không nên kết.
Tôi ở Đài Trung thân cận thầy Lý mười năm, nhìn thấy ngài bình thường đối nhân xử thế tiếp vật, phàm là người nói không thật lòng, thầy đối với người đó đều đặc biệt khách sáo, không có một câu trách mắng người đó; không những đối diện mặt không có, sau lưng cũng không có; đương nhiên cũng sẽ không có một câu tán thán. Chúng tôi nhìn thấy nhiều, liền học được rồi. Đây là điều mà cổ đại đức gọi là thực học, chính là thiện xảo phương tiện. Nếu những gì người đó nói là lời từ tận đáy lòng, chân chân thành thành, thầy đối với người này tán thán, thường hay nêu ra để khích lệ chúng tôi, bảo chúng tôi xem như tấm gương, dạy bảo chúng tôi phải học tập theo người đó.
Cuộc sống này là chánh thọ, là nghệ thuật cao độ, là sự hưởng thụ cao nhất mà tiên sinh Phương đã giảng. Chúng ta từ chỗ thiện hữu tỉ mỉ quan sát, liền sẽ phát hiện. Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam mà chúng ta tận mắt nhìn thấy, không phải thời gian ngắn, tôi nhìn ngài mười năm rồi, không phải giả vờ, hoàn toàn xuất phát từ tự nhiên.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
======================
凡是言不由衷的,老師對他都特別客氣
如何使別人信任你,對你心服口服?總不外「四攝法」。以「真誠、清淨、平等、正覺、慈悲」落實在四攝法中,念念為他想,這是你能感人之處。為自己想,若是自私自利,說得再好,心虛而不踏實;就是虛偽的,不是真誠的。
世間稍有學問的人,心是靜的;無學問的人,心是浮躁的。無學問的人說話不老實,言不由衷,不是真心的,有學問有德行的人,一眼就看穿了。看穿後一笑置之,絕對不會說穿。因為說穿就會結怨仇。世間有德行有學問的人都知道,怨家宜解不宜結。
我在台中親近李老師十年,見他平常處事待人接物,凡是言不由衷者,老師對他都特別客氣,沒有一句責備他的話;不但面對面沒有,背後也沒有;當然也不會有一句讚歎的話。我們看得多,學到了。此為古大德所說的實學,就是善巧方便。說話的人所說如是肺腑之言,誠誠懇懇,老師對此人讚歎,時常提出來勉勵我們,要我們視為榜樣,教導我們要向他學習。
此生活是正受,是高度藝術,方先生講的最高的享受。我們從善友處仔細觀察,就會發現。我們親眼看到的李炳南老居士,不是短時間,我看他十年了,不是裝的,完全出自於自然。
Giảng học giảng kinh ở Đài Loan 38 năm
Phật pháp ở thế kỷ cận đại suy vi thành mê tín. Vì sao đặc biệt nói là thế kỷ cận đại? Trong đạo tràng không giảng kinh nữa, chỉ là phục vụ cho người chết, làm pháp hội kinh sám Phật sự, cho nên gây ra một sự hiểu lầm rất nghiêm trọng cho đại chúng xã hội, cho rằng đây là mê tín, cho rằng đây là tôn giáo, là tôn giáo cấp thấp trong tôn giáo, đa thần giáo, phiếm thần giáo, ở trong xã hội không có địa vị, thật sự là oan uổng.
Bậc đại đức chân chánh, Lão cư sĩ Lý ở Đài Loan giảng học giảng kinh ba mươi tám năm, mãi cho đến lúc ngài vãng sanh, ba mươi tám năm chưa từng gián đoạn, đã vực dậy nền Phật pháp ở Đài Loan. Tổ chức tọa đàm Phật học đại học cao đẳng, đem Phật pháp nâng tầm thành học thuật cao cấp, giúp đỡ các trường đại học cao đẳng thành lập xã đoàn Phật học, phụ đạo sinh viên đại học cao đẳng học Phật. Ngài làm như vậy, tuyệt đối không phải tự lợi.
Thầy Lý tiếp nhận lời mời làm giáo sư của Đại học Trung Hưng, Học viện Y dược Trung Quốc, không phải vì danh, cũng không phải vì lợi. Tiền lương theo giờ trường học trả cho ngài, ngài đều quyên góp cho xã đoàn Phật học. Đại học Trung Hưng có xã đoàn Phật học do sinh viên tổ chức, sinh viên Học viện Y dược Trung Quốc cũng có xã đoàn học Phật, hóa đơn tiền lương mỗi tháng, thầy ký tên, sinh viên lãnh tiền. Không vì lợi, cũng không vì danh, ngài đang truyền đạo, đây là một cơ hội truyền đạo.
Thỉnh thoảng thầy đến trường lên lớp, chúng tôi cũng đi dự thính, phát hiện thầy hoàn toàn đang giảng kinh, phương pháp vô cùng khéo léo. Ở Đại học Trung Hưng ngài cho sinh viên đọc là cổ văn, ý nghĩa toàn là Phật pháp. Lúc về sau chúng tôi tán thán hoan hỷ thầy cao minh, khiến cho sinh viên học Phật rồi, hoàn toàn không để lại dấu vết. Ở Học viện Y học Trung Quốc giảng “Nội Kinh”, cũng lại như vậy. Ngài đang giảng Phật pháp, truyền Nho truyền đạo, nếu không tỉ mỉ đi quan sát, đi thể hội, không biết được những gì ngài làm là hạnh thù thắng, thật sự là nghệ thuật cao độ.
Tiên sinh Phương Đông Mỹ cũng lại như vậy, những năm cuối đời ở lớp tiến sĩ Đại học Đài Loan mở khóa học “Phật học Tùy Đường”, “Phật học Đại thừa”. Sau khi nghỉ hưu, ở lớp tiến sĩ Đại học Phụ Nhân dân lập của Công giáo mở môn “Triết học Hoa Nghiêm”. Đây là đem kinh điển của nhà Phật, chính thức đưa vào mở lớp ở lớp tiến sĩ của học phủ cao nhất. Thế nhưng ngài là giáo sư, không phải người xuất gia, cũng không phải cư sĩ, điều này đối với Phật giáo có ảnh hưởng.
Tôi đã ở độ tuổi nghỉ hưu, sở dĩ vẫn tiếp nhận lời mời của Đại học Queensland, là vì làm lợi ích chúng sanh. Nếu có cơ hội mở khóa học “Hoa Nghiêm” trong trường học, chúng tôi là thân phận người xuất gia, không giống với thầy Phương, rõ ràng đem Phật pháp Đại thừa nâng tầm lên học thuật cao nhất, nâng tầm thành khóa học của sở nghiên cứu. Chúng tôi đem Phật pháp từ mê tín quay về lại chánh tín, từ chỗ bị người bình thường coi nhẹ nâng tầm lên học thuật cao nhất, nền giáo dục bậc cao như cách nói thông thường, điều này đối với bản thân Phật pháp mà nói, có lợi cho việc hoằng truyền Phật pháp về sau; điều thật sự bức thiết cần đến là có thể giúp đỡ xã hội hiện đại tiêu trừ xung đột, thúc đẩy hòa bình.
Bộ trưởng Từ Văn Viễn của Singapore nghe “Kinh Hoa Nghiêm” một khoảng thời gian rồi, ông nói: “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh” xác thực có sự giúp đỡ đối với hòa bình thế giới, đối với việc tiêu trừ xung đột, hóa giải sự hiểu lầm giữa người với người, giữa tộc người với tộc người, giữa tôn giáo với tôn giáo có sự giúp đỡ rất lớn.
Học viện hòa bình của Queensland, sở nghiên cứu hòa bình, mục tiêu học tập chủ yếu của họ chính là hóa giải hiểu lầm, tiêu trừ xung đột, đây là sách giáo khoa tốt nhất để thúc đẩy hòa bình thế giới. Cho nên trước đây vào những năm thập niên 70, Tiến sĩ Toynbee của Anh Quốc cùng tiên sinh Ikeda của Nhật Bản nhắc đến, muốn giải quyết vấn đề xã hội của thế kỷ hai mươi mốt, ông khẳng định chỉ có học thuyết Khổng Mạnh của Trung Quốc cùng với Phật pháp Đại thừa.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam
====================
在台灣講學講經三十八年
佛法在近代世紀淪為迷信。為何特別說近代世紀?道場中不講經了,只是為死人服務,做法會經懺佛事,所以造成社會大眾一個很嚴重的誤解,認為這是迷信,認為這是宗教,是宗教中的低級宗教、多神教、泛神教,在社會上沒有地位,真正是冤枉。
真正的大德,李老居士在台灣講學講經三十八年,一直到他往生,三十八年從未中斷,將佛法在台灣帶動起來了。辦大專佛學講座,把佛法提升為高等的學術,幫助大專院校成立佛學社,輔導大專學生學佛。他如是做,絕對不是自利。
李老師接受中興大學、中國醫藥學院聘請為教授,不是為名,也不是為利。學校給他的鐘點費,他都捐給佛學社。中興大學有學生組織的佛學社,中國醫藥學院學生也有學佛社,每個月薪水單子,老師簽字,學生領錢。不為利,也不為名,他是在傳道,這是一個傳道的機會。
偶爾老師到學校上課,我們也去旁聽,發現老師完全在講經,方法非常巧妙。在中興大學他給學生讀的是古文,意思全是佛法。回來後我們讚歎歡喜老師高明,讓學生學了佛,完全不著痕跡。在中國醫學院講《內經》,亦復如是。他是在講佛法,傳儒傳道,如不細心去觀察、去體會,不知道他所行是勝行,真正是高度藝術。
方東美先生亦復如是,晚年在台灣大學博士班開「隋唐佛學」、「大乘佛學」的課程。學退休之後,在天主教私立輔仁大學博士班開「華嚴哲學」。這是把佛家的經典,正式帶到最高學府博士班去開課。但是他是教授,不是出家人,也不是居士,此對佛教有影響。
我已退休之齡,之所以還要接受昆士蘭大學的聘請,是為利眾生。如果有機會在學校中開《華嚴》課,我們是出家人的身分,與方老師不同,明顯的把大乘佛法提升到最高的學術,提升到研究所的課程。我們把佛法從迷信回歸到正信,從被一般人忽略提升到最高的學術,一般所說的高等教育,這對佛法本身來說,有利於佛法往後的弘傳;真正迫切需要的是能夠幫助現代社會消除衝突,促進和平。
新加坡徐文遠部長聽《華嚴經》有一段時間了,他說:《大方廣佛華經》確實對世界和平有幫助,對於消除衝突,化解人與人之間、族與族之間、宗教與宗教之間的誤會有大幫助。
昆士蘭的和平學院,和平研究所,他們主要的學習目標就是化解誤會,消除衝突,這是促進世界和平最好的教科書。所以過去在七十年代,英國的湯恩比博士與日本的池田先生談到,要解決二十一世紀社會問題,他肯定只有中國孔孟學說與大乘佛法。









