Thái Thượng Cảm Ứng Thiên – Tập 152/195

Video Thumbnail

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN GIẢNG GIẢI

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng từ ngày 11/05/1999 đến 20/04/2000
Giảng tại Singapore, Australia, Hồng Kông.
Tổng cộng 195 Tập (AMTB)
Chuyển ngữ: Ban biên dịch Tịnh Không Pháp Ngữ
Giám định biên dịch: Vọng Tây Cư Sĩ

Mã AMTB: 19-012-0001 đến 19-012-0195

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN –  Tập 152/195 (99A – bộ 128 đĩa)

Các vị đồng học, xin chào mọi người.

Xin mời xem Cảm Ứng Thiên đoạn thứ 86, trong chú giải cũng chỉ có hai câu:

Cưỡng thủ cưỡng cầu. Hiếu xâm hiếu đoạt.” (Đoạt ngang, cướp cạn, thích xâm lấn, chiếm đoạt).

Trong hai đoạn đầu của chú giải rất quan trọng, cũng rất có ý nghĩa. Thế nào gọi là “cưỡng thủ cưỡng cầu”? Đó là “Phận mình không đáng có nhưng lại quyết lòng muốn có, đó gọi là cưỡng ép”. “Phận” là bổn phận, bổn phận của bạn là không đáng có được. Chỗ này phạm vi là vô cùng rộng, danh văn lợi dưỡng ngũ dục lục trần đều bao gồm ở trong đó. Tài phú mà bạn không đáng có, bạn lại nhất định muốn có, địa vị mà bạn không đáng có được, bạn cũng nhất định muốn tranh đoạt lấy, đây gọi là “cưỡng”. Phàm là thuộc về những loại này, kỳ thực việc này có phù hợp với đạo lý nhân quả hay không? Nhất định là không phù hợp, nếu sự việc này là thật, trong mạng của bạn không có, mà bạn lại nhất định muốn có, nếu bạn có được thì định luật nhân quả đã bị đánh đổ rồi.

Không những Phật pháp đã nói với chúng ta, mà Thánh Hiền thế xuất thế gian, các vị Thần thánh trong hết thảy các tôn giáo, không một ai mà không xiển dương chân lý nhân quả này. Nói cách khác, bổn phận của bạn không có, hiện nay bạn miễn cưỡng nhất định muốn có, bạn quả nhiên có được rồi, đó vẫn là trong mạng của bạn có. Nói khác đi, “phận mình không đáng được có”, nhưng lại hiện ngay lúc này. Nói cách khác, thí dụ về tài phú, trong mạng của bạn có tài phú chứ không phải hiện tại bạn có được tài phú, cũng chính là nói thời tiết nhân duyên chưa chín muồi, lúc này bạn cứ cố tranh đoạt lấy, dù bạn đoạt được thì những tài phú mà bạn lẽ ra có được trong 10 năm, 20 năm, 30 năm nữa hiện tại chẳng qua là lấy sớm mà thôi, vẫn là trong mạng của bạn có sẵn. Cho nên ngạn ngữ cũng nói rằng: “Trong mạng có thì sẽ có, trong mạng không có thì đừng nên cưỡng cầu”, bạn cưỡng cầu cũng cưỡng cầu không được. Thế gian từ xưa đến nay, trong nước, ngoài nước, người thích việc cưỡng cầu quá nhiều. Nếu 100 người cưỡng cầu, mà 100 người đều có được thì dường như là có đạo lý. Thế nhưng trong 100 người cưỡng cầu, chân thật có thể có được thì chỉ một hai người mà thôi, có thể thấy đây không phải là thật. Chúng ta từ chỗ này, bình lặng mà quan sát, trong Liễu Phàm Tứ Huấn đã nói với chúng ta rất rõ ràng, đối với đạo lý nhân quả, đối với chân tướng sự thật, nhân quả báo ứng thì nói rất thấu triệt, đã lấy ra rất nhiều thí dụ. Chúng ta phải nên thấu triệt, sau đó thì ý niệm mong cầu sẽ tự nhiên mất đi, sẽ không còn nữa, đây là ý nghĩa của từ “cưỡng”, là miễn cưỡng.

Phía sau lại nói, lấy những thứ của người khác để cung cấp cho chính mình thì gọi là “thủ”.  Vì chính mình mà nhờ cậy người khác thì gọi là “ cầu”, người khác cúng dường ta thì đây là “thủ”; ta xin xỏ sự giúp đỡ của người khác thì đây là “cầu”, đều không thể nào miễn cưỡng. Phật pháp dạy chúng ta tùy duyên tùy phận, đây là người chân thật rõ lý. Dùng quỷ kế để ngấm ngầm chiếm lấy thì gọi là “xâm”, cậy thế chiếm lấy công khai thì gọi là “ đoạt”, đạt được như thế sẽ khó mà tiêu thụ, ngay cả những gì vốn có cũng bị mất luôn. Những lời này là chân thật bất hư, nếu dùng âm mưu quỷ kế lừa gạt đạt được, đây là “xâm”, xâm lược người khác, dùng thế lực của bạn, quyền lực của bạn, địa vị của bạn, ngang ngược trắng trợn mà đoạt lấy, những việc này xưa nay trong và ngoài nước, đặc biệt là trong xã hội hiện tại dường như đã trở thành phong khí phổ biến. Người ó thể cưỡng thủ cưỡng cầu, có thể xâm phạm người khác, đoạt lấy của người khác thì xã hội lại tôn xưng là anh hùng hảo hán, mọi người đều bội phục người đó rất giỏi, người đó có phương pháp. Họ không nghĩ đến việc bạn tranh đoạt được là nhất thời, bạn có thể hưởng thụ được mấy ngày chứ? Đâu biết họa hoạn đang ở phía sau, nếu chúng ta nhìn thấy họa hoạn phía sau đó là bạn phạm tội, bạn sẽ bị phán xử kết án, trong Phật pháp gọi đây là hiện báo, sau khi hiện báo kết thúc, vẫn còn có hậu báo. Trong Phật pháp có một thí dụ gọi là “hoa báo”, giống như việc hoa nở vậy, sau khi hoa nở thì kết thành quả, gọi là quả báo. Trong giai đoạn hoa báo chúng ta nhìn thấy những người này đều rất không tốt, nhưng người đời không biết cảnh giác, quả báo đều là ở ba đường ác: địa ngục, ngã quỷ, súc sanh. Con người thực tế mà nói đều là đang mê hoặc điên đảo, không biết được sự đáng sợ của nhân quả.

Tiếp theo đưa ra cho chúng ta rất nhiều công án, thông thường chúng ta gọi là câu chuyện. Việc thứ nhất là: “Trịnh Tuyên nói, tôi thấy tiền bạc là món vật mà mọi người đều yêu mến, ắt sẽ tranh dành.” Họa hoạn vô cùng! Việc này không cần thiết phải có học vấn thật cao thâm, cũng không cần phải có kiến thức rất sâu rộng, chỉ cần chúng ta bình tâm mà quan sát, đều ở ngay trước mắt chúng ta.

Người Trung Quốc xưa tạo chữ, trong những văn tự mà người xưa đã tạo ra hàm chứa trí huệ cao độ. Bạn hãy xem chữ “tiền”, chữ “tiền” là một chữ hội ý, trong“lục thư” thì nó thuộc về chữ hội ý. Bạn hãy xem xét một cách tỉ mỉ ý nghĩa của nó là gì? Bộ chữ bên phải là chữ “kim”, kim tiền, bên trái là chữ “qua”, “qua” là vũ khí. Không phải chỉ có một cây giáo, cây mác, mà là đến hai cây giáo đang đấu tranh nhau, đây gọi là “tiền”. Nói cách khác, tiền chính là vì tài phú mà tranh đấu với nhau, bạn nói xem thứ này đáng sợ biết bao, người xưa tạo ra chữ này để khi bạn nhìn thấy chữ này thì bạn liền hiểu được phải nhanh chóng tránh xa, vì đây là họa hại, nó không phải là một thứ tốt đẹp.

Trong số những đồng tu nhà Phật chúng ta, có một số người tuy là học Phật, nhưng vẫn chưa buông xuống danh lợi, anh chị em ruột thịt vẫn vì tài sản hoặc là di sản thừa kế mà kiện nhau ra tòa, lục thân không còn nhìn nhận nhau nữa, chỉ nhìn nhận tiền mà thôi. Trên thực tế thì họ cũng chưa nhận thức về tiền một cách chân thật, khi họ thực sự đã nhận thức được thì họ sẽ không còn tranh nữa, họ cũng sẽ buông xuống. Cho nên suy đi nghĩ lại thì tiền thật là đáng sợ, lão tổ tông của chúng ta từ xưa có trí tuệ, chân thật là có học vấn, để lại cho con cháu đời sau tài sản chân thật chính là trí tuệ, là kinh nghiệm, là giáo huấn, được biểu hiện trong các phù hiệu văn tự, để khi bạn nhìn thấy thì bạn giác ngộ, bạn liền thể hội được, bạn sẽ biết được phải sống như thế nào, phải xử sự đối người tiếp vật ra sao mới có thể đạt được hạnh phúc chân thật.

Ấn Tổ là Đại sư Ấn Quang đã quan sát thấy được thế gian hiện tại con người đã thiếu đi trí tuệ, những phù hiệu mang tính trí tuệ này bày ra trước mắt chúng ta, nhưng chúng ta nhìn không ra được ý nghĩa của nó, cho nên vẫn cứ mê hoặc điên đảo như cũ. Đã suy nghĩ sai, đã làm sai rồi, kết quả là bất thiện, kết quả là đau thương. Thế nên Ngài đã cực lực đề xướng giáo dục nhân quả, Ngài dùng Liễu Phàm Tứ Huấn, Cảm Ứng Thiên, An Sĩ Toàn Thư, dùng ba loại sách này để làm giáo trình, dạy bảo người sơ học.

Liễu Phàm Tứ Huấn dạy chúng ta nhận biết được chân tướng sự thật và đạo lý của nhân quả. Cảm Ứng Thiên giúp đỡ chúng ta phân biệt được đúng sai tà chánh, cho chúng ta một tiêu chuẩn để đoạn ác tu thiện. Trước tiên là dạy chúng ta đứng vững trong cõi trời người, không đến nỗi bị đọa vào ba đường ác, đây chân thật là giáo huấn từ bi của chư Phật Bồ-tát đối với hết thảy chúng sanh, sau đó tiến thêm một bước nữa là giúp đỡ chúng ta phá mê khai ngộ. Đối với An Sĩ Toàn Thư, do người thế gian mê đắm vào việc sát sanh để được ăn ngon, không thể khắc chế được dục vọng của việc ăn uống, tham muốn ăn thịt của hết thảy chúng sanh nên chiêu cảm kiếp nạn đao binh đến thế gian này, ngày nay chúng ta gọi đó là chiến tranh, là tai họa của loài người. Chiến tranh từ đâu mà có?  Là từ sát sanh ăn thịt mà ra, cho nên Phật khuyên mọi người không nên ăn thịt chúng sanh.

Nếu bạn nói không ăn thịt thì sẽ không đủ dinh dưỡng cho thân thể chúng ta thì ngày hôm qua các vị cũng nhìn thấy rồi. Cư sĩ Hứa Triết ngày hôm qua đã quy y, bà 101 tuổi, cả một đời ăn chay. Bà là người ăn chay từ khi trong thai, khi mới sinh ra ngửi thấy đồ ăn mặn thì liền nôn ói, có một sự phản ứng rất mãnh liệt, cho nên cả đời bà ăn chay. Từ tuổi trung niên trở về sau cuộc sống của bà càng ngày càng đơn giản. Ngày hôm qua các vị cũng đã nghe bà tự mình nói ra, bà mỗi ngày ăn một bữa, ăn rau xanh. Rau xanh đem đi luộc hoặc xào qua không được sao? Như vậy quá phiền phức, lãng phí quá nhiều thời gian, cuộc sống càng đơn giản càng tốt.

Ngày trước tôi theo lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, Lý lão sư hơn 30 tuổi mới bắt đầu học Phật, Ngài học Phật chưa bao lâu thì bắt đầu ăn chay, hơn nữa còn là một ngày ăn một bữa. Ngài không giống với cư sĩ Hứa Triết, Ngài không ăn rau còn xanh, mà là rau đã nấu chín, cuộc sống vô cùng đơn giản. Ngài có một cái nồi nhỏ, loại nồi nhỏ có quai cầm, nồi và chén là chỉ một, vì sao vậy? Để cho đỡ phiền phức, nếu muốn rửa thì rửa một cái là xong, chén và nồi xem như đều sạch cả. Ngài là người Sơn Đông, rất thích ăn mì, nên ăn rau xanh với mì, một bữa ăn chỉ cần 10 phút là xong, không lãng phí thời gian. Khi tôi ở Đài Trung nhìn thấy phương thức đời sống đó của Ngài, tôi liền học theo. Tôi sống ở Đài Trung 10 năm, trong đó khoảng 5 năm là tôi học tập phương thức đời sống của Lý lão sư, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Tôi cũng đi mua một cái nồi nhỏ có quai cầm, khi tôi nấu một bữa ăn cần đến bao nhiêu thời gian vậy? Chỉ 5 phút thôi, chỉ 5 phút là nước đã sôi rồi, mì thì chúng tôi rất thích ăn loại mì mà người Trung Quốc gọi là mì dẹp, người Đài Loan gọi là mì sợi, sợi rất nhỏ, loại này có nhiều dinh dưỡng, bỏ vào trong nồi nước vừa sôi lên liền tắt lửa. Rau cũng không cần phải xắt thái, chỉ cần dùng tay ngắt ra rồi bỏ vào trong nồi, đậy nắp lại, 5 phút sau thì chín rồi. Thế nên dùng các loại nhiên liệu cũng rất tiết kiệm, một bữa ăn chỉ cần 10 phút là đã giải quyết xong.

Chúng ta nhìn thấy cư sĩ Hứa Triết, bà ăn còn đơn giản hơn chúng tôi ngày xưa nhiều, bà hoàn toàn là ăn sống. Chúng tôi đã quan sát tỉ mỉ xem nhà của bà có phòng bếp hay không? Có, nhưng nhà bếp rất là ngay ngắn sạch sẽ, không một chút bụi thì biết được nhà bếp của bà chỉ để đun nước mà thôi, vậy mà bà đã sống đến 101 tuổi rồi. Ngày hôm qua các vị đã nhìn thấy tình trạng thân thể của bà giống như người thanh niên vậy, cho nên bà hay tự giới thiệu với mọi người bà là người thanh niên 101 tuổi. Hôm qua cũng mời bà biểu diễn tư thế ngồi thiền, bà xếp chân thành tư thế kiết già rất nhanh, tư thế ngồi rất chuẩn, do trong giảng đường không được thuận tiện nên chưa mời bà thực hiện tư thế trồng cây chuối cho mọi người xem. Bạn xem tai mắt của bà đều nhanh nhạy, lúc xem báo chí, các loại báo chữ viết đều rất nhỏ nhưng đều không cần đeo kính, bà rất thích đọc sách, thường đọc sách đến hai ba giờ sáng, quên cả thời gian đi ngủ. Bà ngủ rất ít, lượng công việc mà bà làm không hề thua kém bất kỳ một người thanh niên nào hiện nay, mỗi ngày bà đều bôn ba khắp nơi, chăm sóc những người bệnh, những người nghèo khổ, đi giúp đỡ họ. Hầu hết mọi người muốn đi thăm bà đều phải hẹn trước thời gian, nếu không hẹn trước thì không biết bà đã đi làm việc ở chỗ nào. Từ đó mà thấy những loại vitamin cho sức khỏe mà thường ngày chúng ta hay nói, đối với bà đều là giả, bà không có cái khái niệm này. Bà mỗi bữa đều ăn rau xanh, dầu, đường, muối, dấm, hết thảy đều không dùng, đường bà cũng không dùng, mấy mươi năm như một ngày. Thân thể của chúng ta nếu thiếu chất này, thiếu chất kia thì bắt đầu bị bệnh, còn bà thì đều không cần, mà thân thể vẫn khỏe mạnh như vậy. Chúng ta nếu không ăn muối, không ăn dầu thì lập tức có vấn đề, bà thì không cần đến nữa, đây là đạo lý gì vậy? Trong nhà Phật có một câu “Tất cả các pháp từ tâm tưởng sanh”, trong tâm bạn cứ nghĩ nếu thiếu muối thì e rằng thân thể sẽ yếu đi, và thân thể liền yếu thật, không còn khỏe nữa, từ tâm tưởng sanh ra mà. Tâm địa bà thanh tịnh, việc gì cũng không nghĩ đến, cho nên thân thể của bà đã hoàn toàn quay về với tự nhiên. Chúng ta nếu không ăn dầu, không ăn muối, không ăn đường thì thân thể liền thiếu rất nhiều dinh dưỡng, liền có bệnh, thân thể liền không khỏe ngay. Bạn hãy tỉ mỉ mà xem con bò con dê, chúng ngày ngày đều ăn cỏ xanh, có ăn dầu muối gì đâu, chúng không ăn đường, chúng cũng không ăn muối, thế nhưng chúng rất khỏe mạnh. Từ chỗ này chứng minh lời Phật đã nói “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh” nhất định là chính xác. Chúng ta một ngày từ sáng đến tối nghĩ tưởng lung tung nên đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe, thời gian để suy nghĩ quá lâu, đã tập thành thói quen, biến thành tập khí rồi, chỉ cần hơi thiếu một cái gì đó một chút, đi kiểm tra thì bắt đầu có bệnh. Nếu có thể quay đầu trở lại, chỉ cần bạn có quyết tâm, dần dần thay đổi thói quen sống của mình, thay đổi những nhận thức sai lầm của chúng ta, hồi phục về với tự nhiên thì thân thể tự nhiên sẽ khỏe mạnh sống lâu. Cho nên tôi nhìn thấy bà thì hai chữ “phú quý” trong nhà Phật nói tôi càng hiểu sâu hơn, hiểu thấu triệt hơn.

Rất nhiều người nhận thức về hai chữ “phú quý” này không rõ ràng, đã giải thích sai ý nghĩa của nó. Nói đến phú quý trong nhà Phật thì mọi người đều lắc đầu, nhưng hiện tại nói phú quý trong nhà Phật thì mọi người đã tương đối tin hơn. Vì sao vậy? Người xuất gia đều rất giàu có, nhà cửa giống như là cung điện vậy, tốt hơn so với hầu hết mọi người. Nhưng trong thời đại của Thích-ca Mâu-ni Phật ngày xưa thì phú quý phải bắt đầu nói từ đâu? Ba y một bát, ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới gốc cây. Ngày ngày đều đi ra ngoài khất thực thì phú quý chúng ta phải nói như thế nào? Nhìn thấy cư sĩ Hứa Triết thì chúng ta liền hiểu rõ, “phú” là vật chất trong đời sống của bạn không bị thiếu, mỗi ngày ăn một bữa là đủ rồi, không thiếu thì chính là “phú”, “phú” là biết đủ. Còn “quý” là nhận được sự tôn kính của đại chúng trong xã hội, không nhất định là có địa vị, không nhất định là phải có quyền thế, mọi người đều tôn trọng bạn, đây gọi là “quý”. Không những được đại chúng tôn kính mà ngàn vạn năm sau chỉ cần nhắc đến tên bạn thì người người đều tôn kính, đây mới chân thật là phú quý. Bậc Đế vương còn không thể bì, khôngcách nào sánh với bạn được, đây là đại đạo lý của vũ trụ nhân sanh, chúng ta phải tham cứu cho tỉ mỉ, hiểu rõ được rồi thì phải chăm chỉ nỗ lực học tập, đem ý niệm cạnh tranh hóa giải hết, dục vọng không những phải giảm xuống mà còn khiến nó tiêu tan không còn gì nữa, hôm qua các vị xem cư sĩ Hứa Triết không hề có dục vọng gì cả. Ngày hôm qua chúng tôi giảng 48 nguyện, đã giảng đến “nguyện không đắm trước thân thể”, rất là tương ưng [với điều này]. Nếu buông bỏ ngã chấp, buông được cái “ta” thì mức thấp nhất là chứng được quả Tu Đà Hoàn. Tu Đà Hoàn là quả vị bất thoái, nhất định là sẽ không thoái chuyển xuống địa vị phàm phu nữa, trong tam bất thoái thì người đó được địa vị bất thoái. Cho nên bà Hứa Triết tin là ông trời sẽ bảo hộ cho bà, bà có lòng tin này, chúng ta cũng phải có lòng tin Phật Bồ-tát sẽ bảo hộ chúng ta. Nếu bạn không chịu buông xả cái “ta” thì cho dù Phật Bồ-tát muốn bảo hộ bạn cũng không tài nào làm được. Vì sao vậy? Vì không tương ưng, phải phá ngã chấp thì mới có thể tạo ra được một kết nối tương thông với Phật Bồ Tát, mới có thể được cảm ứng, phải biết đạo lý này.

Vậy cái thân này là gì? Hôm qua tôi đã nói rất rõ, thân là “công cụ”, nó không phải là “ta”, là một công cụ giúp cho ta vì chúng sanh phục vụ, xem nó như là một công cụ, không nên xem nó là ta. Vậy “ta” là gì? Hư không pháp giới là “ta”, hết thảy chúng sanh là ta, ta dùng cái công cụ này để thành tựu cho “ta”, để phục vụ cho “ta” thì đúng rồi.