Thái Thượng Cảm Ứng Thiên – Tập 1/195

Video Thumbnail

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN GIẢNG GIẢI

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng từ ngày 11/05/1999 đến 20/04/2000
Giảng tại Singapore, Australia, Hồng Kông.
Tổng cộng 195 Tập (AMTB)
Chuyển ngữ: Ban biên dịch Tịnh Không Pháp Ngữ
Giám định biên dịch: Vọng Tây Cư Sĩ

Mã AMTB: 19-012-0001 đến 19-012-0195

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN –  Tập 1/195 (1A – bộ 128 đĩa)

Các vị đồng học, xin chào mọi người!

Gần đây, có một số đồng tu yêu cầu tôi giảng lại Thái Thượng Cảm Ứng Thiên lần nữa, và mong muốn được đưa đến đài truyền hình để phát sóng. Đây là một việc tốt, thế nhưng thời gian giảng lại cũng tương đối dài. Gần đây, chúng tôi đã bắt đầu giảng kinh Hoa Nghiêm, kinh Vô Lượng Thọ và kinh Địa Tạng. Cùng lúc giảng ba bộ kinh này đã là nhiều rồi, nay lại thêm một loại nữa, tôi cảm giác khối lượng công việc quá nặng. Nghĩ tới nghĩ lui, tôi tranh thủ thời gian nửa giờ vào mỗi buổi sáng, chúng tôi dự định từ hai đến ba tháng sẽ giảng viên mãn khóa trình này.

Khóa trình này thực tế mà nói là rất trọng yếu. Cuối triều Thanh đầu thời Dân Quốc, Ấn Quang Đại sư đặc biệt đề xướng pháp môn này. Cuối đời nhà Thanh, Ấn Quang Đại sư đang ở núi Phổ Đà, lúc đó Tri huyện Định Hải lên núi lễ thỉnh Ấn Quang Đại sư đến huyện Định Hải giảng kinh hoằng pháp. Đại sư là người Sơn Tây, giọng nói địa phương của Ngài rất khó nghe nên có trở ngại về mặt ngôn ngữ. Ngài liền phái một vị Pháp sư khác đến huyện Định Hải để giảng kinh. Pháp sư giảng kinh gì vậy? Hình như là giảng Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn. Chúng tôi từ trong tài liệu lịch sử xem thấy thông tin này thì rất kinh ngạc. Trưởng quan địa phương thỉnh Pháp sư đến giảng kinh, nhưng Pháp sư không giảng kinh Phật mà giảng kinh điển của Đạo giáo. Đặc biệt là cả đời Ấn Tổ cực lực đề xướng những loại sách như Liễu Phàm Tứ Huấn, Cảm Ứng Thiên, cho nên người đời sau phê bình Ấn Tổ rất nhiều. Đây đều là tri kiến của phàm phu. Trong Phật pháp, tôi nghĩ rất nhiều đồng tu đều biết một câu nói như thế này: “Viên nhân thuyết pháp, vô pháp bất viên (người viên mãn thuyết pháp, không pháp nào chẳng viên mãn), và có lẽ mọi người cũng nghe qua câu: “Pháp nào không phải là Phật pháp?”. Chúng ta thử nghĩ, hai câu nói này là ý gì? Thực tế cái gọi là thế pháp cùng Phật pháp là từ đâu mà phân biệt vậy? Từ nơi tâm của bạn mà phân biệt. Còn ở nơi pháp thì không có cái gì là thế gian pháp và xuất thế gian pháp cả, không có phân hai. Là từ nơi tâm của bạn mà phân chia. Nếu như tâm của bạn có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì đó gọi là thế gian pháp, cho dù bạn học Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh thì đó cũng là thế gian pháp. Tại sao vậy? Vì không ra khỏi tam giới. Nếu lìa khỏi phân biệt chấp trước thì hết thảy pháp đều có thể liễu sanh tử, xuất tam giới. Cho nên, có pháp nào không phải là Phật pháp chứ? Chúng ta cần phải hiểu rõ đạo lý này.

Hôm qua, chúng tôi đi thăm Thiên Chúa giáo, có một vị tiên sinh hỏi tôi một vấn đề: “Trong Thiên Chúa giáo gọi là linh hồn, nếu so với pháp tánh mà Phật giáo nói thì sự khác biệt ở chỗ nào?”. Tôi nói với ông ấy một cách đơn giản là có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì gọi là linh hồn; không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì gọi là pháp tánh. Ông ấy liền lĩnh hội được. Có phải là cùng một sự việc hay không? Chỉ là một, nhưng một cái là có phân biệt chấp trước, còn cái kia là lìa khỏi phân biệt chấp trước. Có phân biệt chấp trước thì mọi pháp đều có chướng ngại, rời phân biệt chấp trước thì vạn pháp viên dung. Cho nên, chúng ta phải biết, tất cả chúng sanh trong hư không pháp giới là đồng một pháp tánh, kinh Hoa Nghiêm nói là một pháp thân, “mười phương ba đời chư Phật cùng đồng một pháp thân”. Câu nói này các vị nghe cũng đã thuộc lòng. Đã cùng đồng một pháp thân, bạn thử nghĩ xem, có pháp nào không phải là Phật pháp? Vậy Cảm Ứng Thiên sao có thể là ngoại lệ? Cũng là Phật pháp, huống hồ Cảm Ứng Thiên và Âm Chất Văn, từ đầu đến cuối, mỗi câu mỗi chữ đều là sự trình bày của Ngũ Giới, Thập Thiện. Ngũ Giới, Thập Thiện trong nhà Phật là pháp căn bản. Rời khỏi Ngũ Giới, Thập Thiện thì người này đang hành tà đạo. Bất luận là bạn tu học pháp môn nào, bất luận là sơ học, là A-la-hán hay là Đẳng Giác Bồ-tát, nếu bạn lìa khỏi Ngũ Giới, Thập Thiện thì pháp bạn đang hành là tà đạo, vậy thì sao gọi là Phật pháp được chứ? Muốn giảng Ngũ Giới, Thập Thiện được viên mãn, giảng được thực tế thì Cảm Ứng Thiên và Âm Chất Văn là giáo trình tốt, nhất là ở giai đoạn hiện nay của chúng ta.

Ấn Quang Đại sư đã thấy rất rõ ràng, thế gian này có động loạn, có tai nạn, nếu muốn cứu vãn tai nạn chỉ có một phương pháp, đó là làm cho tất cả chúng sanh tỉnh ngộ. Chân thật giác ngộ, đoạn ác, tu thiện, cho dù không thể hoàn toàn hóa giải được tai nạn nhưng cũng làm cho tai nạn giảm nhẹ, thời gian của tai nạn được rút ngắn. Việc này chúng ta khẳng định có thể làm được.

Các vị đồng tu ở Đài Loan đến hỏi tôi, ở trong đại kiếp nạn, Đài Loan có thể tránh được không? Tôi nói với họ, nhất định là được. Người Đài Loan tạo tội nghiệp rất nặng, thế nhưng bạn nghĩ xem, người Đài Loan bắt đầu tạo tội nghiệp từ lúc nào vậy? Chẳng qua là hai mươi năm gần đây mà thôi. Các vị nhớ lại xem, hai mươi năm trước ở Đài Loan, người Đài Loan rất giữ gìn phép tắc. Nếu nói đến ba mươi năm trước thì phong khí của Đài Loan có thể nói là tốt nhất Đông Nam Á, nhân tâm thuần hậu hiền lương. Người Đài Loan tạo tội nghiệp là trong vòng hai mươi năm gần đây, phong khí xã hội đã hoàn toàn thay đổi. Cho dù là tạo tội nghiệp, nhưng người tạo tội nghiệp không nhiều lắm, thời gian cũng không quá dài, huống hồ người Đài Loan niệm Phật rất nhiều, người thiện tâm cũng rất nhiều, cho nên dù có kiếp nạn cũng sẽ không lớn lắm. Người Nhật Bản tạo tội nghiệp rất nặng, có thể nói là vô cùng nặng. Họ tương lai khi gặp đại nạn thì quả báo mà họ nhận lấy phải nặng hơn Đài Loan gấp mười lần. Đây là chúng ta từ trong đạo lý của Cảm Ứng mà nói, trồng nhân thiện được quả thiện; tạo nhân ác nhất định bị ác báo, đây là chân lý của Cảm Ứng. Cho nên, Ấn Tổ cực lực đề xướng ba quyển sách này, đây là trí huệ chân thật, cứu vãn kiếp nạn của thế giới. Đại sư Ngài cả đời cực lực đề xướng, người thật sự hiểu được thì không nhiều. Ấn Tổ vãng sanh rồi, người có thể kế tục Ngài phát dương quang đại việc này thì càng ít.

Năm 1977, lần đầu tiên tôi tiếp nhận lời mời của các đồng tu Hồng Kông, đến bên ấy giảng kinh Lăng Nghiêm. Lần đó thời gian tôi ở lại Hồng Kông tương đối dài, ở bốn tháng. Hai tháng đầu, tôi ở thư viện Trung Hoa Phật Giáo của Đàm Hư Pháp sư, khu vực Cửu Long; hai tháng sau, ở đạo tràng của lão Hòa Thượng Thọ Dã, là giảng đường Quang Minh của Lam Đường đạo. Ở thư viện, tôi thấy được các sách của Ấn Quang Đại sư do Hoằng Hóa Xã xuất bản, nơi đó họ thâu tập được rất nhiều. Tôi có quan hệ rất mật thiết với Ấn Tổ, chúng tôi có quan hệ sư thừa. Thầy tôi, lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam là học trò của Ấn Tổ. Do đó, tôi đối với giáo huấn của Ấn Tổ cũng như sách của Hoằng Hóa Xã xuất bản liền tự nhiên có cảm tình rất sâu sắc. Trong thư viện nhỏ này đã cất giữ sách của Hoằng Hóa Xã, tôi thảy đều xem qua nên phát hiện ba quyển sách Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, An Sĩ Toàn Thư và Liễu Phàm Tứ Huấn được Hoằng Hoá Xã in rất nhiều, sách in rất tốt.

Thư viện Trung Hoa Phật Giáo cất giữ số lượng sách này cũng không ít. Tôi liền lấy mỗi thứ một quyển mang về Đài Loan. Tôi xem mặt sau tờ bản quyền của ba quyển sách này, số lượng in mỗi bản ít nhất là mười ngàn quyển, nhiều nhất là năm mươi ngàn quyển và đã được tái bản mấy mươi lần. Tôi thống kê khái quát, số lượng in của ba quyển sách này vượt hơn ba triệu bản. Việc này khiến cho tôi vô cùng kinh ngạc. Hoằng Hóa Xã in các sách khác, mỗi sách chỉ in có một ngàn, hai ngàn bản, vì sao ba loại sách này được in nhiều đến như vậy? Điều này làm tôi chú ý. Tôi bình lặng mà suy nghĩ tỉ mỉ, Ấn Tổ khổ tâm muốn cứu tai nạn, kiếp nạn này, ba loại sách này là rất tốt.

Tại rất nhiều nhà sách, các vị đồng tu đều có thể xem thấy lời tiên đoán xưa của phương Tây. Có rất nhiều chủng loại, tôi đã xem qua mười mấy loại, đều nói năm 1999 là ngày tận thế. Đại kiếp nạn này có tính hủy diệt, hơn nữa thời gian kiếp nạn này rất dài, đại khái là kéo dài hơn hai mươi năm. Hơn hai mươi năm này bắt đầu từ năm 1990, đại khái phải đến năm hai ngàn mười mấy thì tai nạn này mới được xem là có thể qua được. Những sách đó của phương Tây chỉ nói những tai nạn này là do chúng sanh tạo ác nghiệp, Thượng Đế tức giận nên trừng phạt người thế gian, muốn sửa đổi lại thế giới này từ đầu. Quan niệm về số mệnh này còn xa mới bằng quyển Liễu Phàm Tứ Huấn và Cảm Ứng Thiên, vì những sách này mới có phương pháp cứu vãn, còn họ thì chỉ nói đến kiếp nạn mà không có biện pháp cứu vãn. Trong những tiên đoán của phương Tây có một loại gọi là Thánh Kinh Mật Mã, cái này so với lời tiên đoán còn cao minh hơn. Kết luận cuối cùng của Thánh Kinh Mật Mã nói là do lòng người, nếu như nhân tâm có thể quay đầu có thể hướng thiện thì kiếp nạn có thể được hóa giải. Thế nhưng chỉ nói một câu chung chung như vậy, còn làm thế nào để quay đầu, làm thế nào để đoạn ác tu thiện thì không nói một cách cụ thể, vẫn còn kém xa ba loại sách này. Ba loại này, không luận là nói về lý, không luận là nói về sự, đều nói rất thấu đáo.

Thực tế mà nói, chúng ta giác ngộ quá chậm, cũng là vì phước báo của chúng sanh thế giới này kém một chút. Vì sao nói chúng ta giác ngộ quá chậm vậy? Vì chúng ta không phiên dịch các loại sách này sang chữ nước ngoài, để lưu thông trên toàn thế giới. Chúng ta không hiểu được tầm quan trọng này. Nếu ba loại sách này có thể được dịch thành nhiều thứ tiếng, được lưu thông trên toàn thế giới với số lượng lớn thì sẽ có sự giúp đỡ rất lớn. Chúng ta không hiểu rõ, hiện tại biết được, thật đã không còn kịp nữa. Tuy “mất bò mới lo làm chuồng” nhưng chúng ta vẫn phải làm. Hy vọng mọi người phát tâm. Chúng tôi dẫn đầu để đi làm, tận khả năng đem nó dịch thành văn tự nước ngoài để có thể lưu thông đến toàn thế giới. Ai có duyên đọc được quyển sách này là người có phước. Hơn nữa, chúng ta có trách nhiệm, có sứ mạng khuyên bảo mọi người đọc tụng thọ trì, y giáo phụng hành, không những có thể chuyển biến nghiệp báo của chính họ mà còn có thể an định xã hội, giúp đỡ tất cả chúng sanh thế gian này tiêu tai giải nạn.

Từ Hồng Kông trở về Đài Loan, tôi đề xướng quyển Cảm Ứng Thiên Vựng Biên. Đến nay tôi đã tái bản rất nhiều lần, đại khái số lượng cũng gần một triệu bản. Năng lực của chúng ta rất có hạn nhưng cũng đã in Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, An Sĩ Toàn Thư và Liễu Phàm Tứ Huấn. Ở Đài Loan tôi đã đề xướng phiên dịch lưu thông, hơn nữa, ba loại sách này cũng đều được giảng qua mấy lần, bao nhiêu lần tôi không nhớ rõ. Lúc đó tôi giảng Cảm Ứng Thiên là dùng quyển này, cho nên bên trong sách có viết ghi chú, chỗ quan trọng đều được đánh dấu. Mấy ngày trước, khi các đồng tu yêu cầu tôi giảng, tôi liền tìm cho ra quyển này. Tìm được thì ít tốn công, bởi vì khi giảng giải tôi không cần phải chuẩn bị nữa. Hy vọng các đồng tu nên xem trọng vấn đề này, chân chính đoạn tất cả ác, tu tất cả thiện. Ấn Tổ dùng ba loại này để bù đắp giới hạnh thiếu sót của chúng ta.

Pháp môn niệm Phật, Tổ sư đại đức thường dạy bảo chúng ta là trì giới niệm Phật. Niệm Phật mà không trì giới, không hành thiện thì không thể vãng sanh. Cổ nhân đã nói: “Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, đau mồm rát họng chỉ uổng công!”. Cho nên tối trọng yếu là giữ tâm thiện, nói lời thiện, làm việc thiện. Đây cũng là kết luận sau cùng của Cảm Ứng Thiên. Giữ tâm thiện, lời nói thiện, làm việc thiện, trong Cảm Ứng Thiên nói là bạn sẽ được thiện thần bảo hộ, còn trong Tịnh Độ làm được như vậy thì bạn niệm Phật mới được vãng sanh.

Thế gian hiện nay tai nạn rất nhiều, nếu chúng ta gặp phải tai nạn thì không nên khiếp sợ. Ngày hôm qua, chúng tôi thăm viện dưỡng lão. Chúng tôi thấy có hai mươi mấy vị lớn tuổi bị bệnh ung thư thời kỳ cuối. Tôi nói với các nữ tu ở đây, đối với những người già này cần phải cho họ hy vọng, không nên để họ bị tổn thương, nên lấy giáo dục tôn giáo để khai mở dẫn dắt họ. Con người không có “chết”, sanh tử là việc thường tình, chúng ta chỉ là chuyển đổi đến một hoàn cảnh khác. Khi quan niệm được chuyển đổi lại thì họ sẽ xem nhẹ việc sanh tử, tâm của họ sẽ được bình lặng. Đây là một bước ngoặt, chúng ta sẽ chuyển đến một hoàn cảnh tốt hơn, một đời sống tốt hơn. Cho nên, giáo dục tôn giáo rất là quan trọng.

Họ còn chăm sóc cả trẻ nhỏ, bạn xem những đứa trẻ khuyết tật này được dạy dỗ đặc biệt. Đối với người già cũng phải làm như vậy, làm sao có thể lơ là được? Người già cần phải được khai thị một cách đặc biệt, phải thường thăm hỏi an ủi họ, so với việc dạy bảo trẻ nhỏ cũng quan trọng như nhau. Cần phải có người thường xuyên nói chuyện với những người già này, đem đại đạo lý này nói cho họ nghe, giúp đỡ họ thoát khỏi sự đau khổ sanh tử. Nếu họ là người học Phật thì nhất định khuyên dạy họ cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc. Nếu họ là người theo Thiên Chúa giáo, Ki-tô giáo thì bạn khuyên bảo họ nhất định phải cầu sanh thiên đường. Cõi trời thù thắng hơn rất nhiều so với cõi người. Đây là giáo dục. Không chỉ giúp đỡ những người già trên đời sống vật chất, mà trên đời sống tinh thần cũng không thể bị thiếu sót. Việc giải trí tiêu khiển cũng phải được tăng cường. Ngày hôm qua, những vị nữ tu đó nói với tôi, về mặt giải trí thì có một số thanh niên đến đây ca hát, biểu diễn cho các cụ xem, nhưng vị nữ tu nói những người già có vẻ không thích nghe. Tôi nói, đương nhiên là như vậy, người già không ưa thích nghe loại âm nhạc hiện đại, họ làm sao có thể vui vẻ mà nghe chứ? Tôi nói, các vị cần phải hiểu được tâm tình của người già, các vị cần phải mở âm nhạc từ ba mươi năm trở về trước, vậy thì họ sẽ thích nghe hơn. Những bài nhạc xưa của bốn mươi năm trước, sau khi họ nghe rồi liền nhớ lại là lúc trẻ họ đã từng hát, trong lòng họ sẽ có cảm động.

Tôi nói rồi, họ mới nghĩ đến. Tôi nói, các vị cần phải tìm những thứ này, người già không thích xem những biểu diễn ca múa hiện đại, nên cho họ xem kịch Triều Châu, kịch xưa. Khi các vị đem những thứ này đến thì họ liền hoan hỷ. Họ là người của thời đại nào, bạn phải dùng những thứ của thời đại đó thì họ liền thích ứng. Đây là việc mà chúng ta đều phải nghĩ đến. Cần phải thường nói chuyện với người già, để biết họ thích gì, họ mong muốn điều gì thì chúng ta chuẩn bị giúp họ. Đây mới thật sự là chăm sóc người già, để người già được vui lòng, để người già sống được tự tại, như vậy thì các vị mới tận hết trách nhiệm.

Tối hôm qua, tôi đã nói những sự việc này với cư sĩ Lý Mộc Nguyên. Cư sĩ Lý nói, chúng ta sẽ tận lực đi tìm những bài hát xưa , tìm những tuồng kịch xưa. Chúng ta tìm được những băng ghi âm này rồi thì tặng ngay cho họ. Trong số họ, người Trung Quốc rất nhiều. Cách làm này có thể nói đều là thực hiện việc đoạn ác, tu thiện.

Quyển sách nhỏ Thái Thượng Cảm Ứng Thiên này rất tốt. Vừa rồi tôi đã xem qua, họ chỉ in có một ngàn quyển, rất ít. Quyển này đọc tụng rất tốt, mang theo thuận tiện, chúng ta nên thường xuyên đọc. Phía sau còn có Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn, quyển sách này cũng rất là lý tưởng. Vậy là trong hai, ba tháng này, chúng ta dùng nửa giờ của buổi cơm sáng, cùng mọi người nghiên cứu quyển sách nhỏ này.