THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN GIẢNG GIẢI
Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng từ ngày 11/05/1999 đến 20/04/2000
Giảng tại Singapore, Australia, Hồng Kông.
Tổng cộng 195 Tập (AMTB)
Chuyển ngữ: Ban biên dịch Tịnh Không Pháp Ngữ
Giám định biên dịch: Vọng Tây Cư Sĩ
Mã AMTB: 19-012-0001 đến 19-012-0195
THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN – Tập 28/195 (13A – bộ 128 đĩa)
Các vị đồng học, xin chào mọi người!
Hôm qua nói đến căn bản của tu học, tức là làm thế nào để thật sự có được tâm thành kính, đối với đúng sai, tà chánh, thiện ác có được sự phân biệt thật rõ ràng. Sự việc này vốn dĩ là không dễ dàng. Vào thời xưa nền giáo dục rất tốt, tuy thời xưa trường học không phổ biến, thế nhưng các bậc làm cha mẹ đều biết cách dạy bảo con cái, tinh thần trách nhiệm của họ rất khác so với người hiện nay. Người xưa thường vô cùng xem trọng việc giáo dục, phong khí xã hội đôn hậu, khái niệm luân lý đạo đức rất phổ biến. Chúng ta có thể thấy lời chỉ dạy của bậc Thánh Hiền thời xưa ở Trung Quốc trong sách Ngũ Chủng Di Quy, hiện nay có tặng cho các vị quyển Lễ Ký Tinh Hoa Lục, ở trong đó cũng có thể xem thấy. Từ thời Dân Quốc đến nay, đường lối giáo dục của thời xưa đã bị phủ định mà tiếp nhận rộng rãi quan niệm của người phương Tây. Người phương Tây là người theo chủ nghĩa vụ lợi, họ không nhận thức được rõ ràng luân lý đạo đức. Trung Quốc bị điều này làm ảnh hưởng rất lớn. Những người trẻ tuổi ngày nay từ nhỏ đã không có người dạy, không có người giảng, xã hội cũng không chú trọng, cũng không đề xướng.
Tập khí phiền não từ vô thủy kiếp đến nay ở trong tâm, bên ngoài thì ngũ dục lục trần cám dỗ thì sao lại không động tâm, không khởi ý niệm được chứ? Ở trong hoàn cảnh này, thật sự không khởi tâm, không động niệm thì đó không phải phàm phu rồi, người này nhất định là Phật Bồ-tát tái lai. Sự thay đổi đường lối giáo dục này, chỉ có một số ít những người lớn tuổi có học sách xưa thỉnh thoảng vẫn còn đàm luận. Ở trong cửa Phật, các lão Hòa thượng khi giảng kinh thuyết pháp cũng thỉnh thoảng nhắc đến một chút, còn từ nay về sau thì rất khó nói.
Từ hiện tượng này, chúng ta thật sự lĩnh hội được vì sao pháp vận của Thế Tôn có ba giai đoạn. Trong ba giai đoạn này, giai đoạn sau không bằng giai đoạn trước, tình hình ngày một tệ dần. Chúng ta đã hiểu rõ nguyên nhân này rồi, vì không có người dạy thiện pháp. Thực tế có phải là không có người dạy hay không? Là không có người chịu nghe, không có người chịu học, không có người chịu tiếp nhận. Cho nên chư Phật Bồ-tát nhất định phải dùng cách thức khác để giúp đỡ chúng sanh, cách thức đó là trí huệ cao độ tột bậc, thêm nữa là độ khó cao mà hiệu quả thì không lớn. Đây chính là “lợi hành” và “đồng sự” trong Tứ Nhiếp Pháp, quả thật là chư Phật Bồ-tát từ bi đến cực điểm.
Sự nghiệp mà chúng ta làm ngày nay chính là kế thừa đường lối, hệ thống tư tưởng này, đó là xả mình vì người. Nếu theo quan niệm của người thế gian thì tự mình phải hy sinh to lớn, xa lìa danh vọng lợi dưỡng, xa lìa ngũ dục lục trần. Tại vì sao? Để cầu hạnh phúc cho tất cả chúng sanh. Mấy năm nay chúng tôi ở các nơi giảng kinh thuyết pháp, trong tổng đề mục chọn lấy hai câu của trường Đại học Bắc Kinh nêu ra là: “Học vi nhân sư, hành vi thế phạm” (học để làm chuẩn mực cho người khác, hành động để nêu gương cho đời), hai câu này quả thật đúng là tâm Bồ-tát, hạnh Bồ-tát. “Sư” là chuẩn mực, “phạm” là tấm gương tốt. Chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói việc làm có thể làm tấm gương tốt cho người thế gian hiện đại hay chưa? Nếu làm tấm gương tốt cho người khác thì chính mình nhất định phải tuân thủ luân lý đạo đức, phải tuân thủ lời giáo huấn Thánh Hiền. Cho nên phải đọc thuộc kinh, phải nghiền ngẫm lý cho thật sâu, sau đó thực hiện lời giáo huấn của Thánh Hiền.
Người thế gian có thể sống đời sống sung túc, có thể hưởng thụ cái mà người thế gian gọi là lạc thú. Hậu quả của lạc thú này là gì vậy? Có nghĩ đến hay không? Họ không hề nghĩ đến. Chúng ta thì nghĩ đến rồi. Nếu sự hưởng thụ này không thể giúp thoát khỏi lục đạo luân hồi thì các vị nên biết, sự hưởng thụ này là ngắn ngủi tạm bợ. Ở trong kinh Phật có thí dụ là “nếm mật trên lưỡi dao”. Là việc không đáng làm. Cho nên chư Phật Bồ-tát thị hiện đều là thị hiện khổ hạnh là rất có đạo lý. Mục đích của sự thị hiện khổ hạnh là vì chúng sanh thời kỳ mạt pháp. Phật ở thời kỳ chánh pháp làm tấm gương tốt cho chúng sanh thời kỳ mạt pháp, ý nói cho chúng ta biết, chỉ có trải qua đời sống này, loại hành trì này thì chúng ta mới có thể giữ vững được đức hạnh. “Dục bất khả túng” (không được buông thả lòng ham muốn). Người xưa nói dục tình sinh khởi từ chỗ cực vi tế, vừa mới sinh ra thì dễ dàng khống chế. Tổ sư đại đức của Tịnh Tông dạy chúng ta một niệm “A Di Đà Phật” là có thể trừ sạch cái ý niệm vi tế này.
Phải biết sự lợi hại được mất, trong kinh thường hay nói điều này. Chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay trôi lăn trong sanh tử không có ngày ra, khổ không thể tả. Đời này gặp được Phật pháp, gặp được pháp môn Tịnh Độ thù thắng nhất ở trong Phật pháp, đây chính là nói rõ, ở trong đời này đã có cơ hội để thoát khỏi lục đạo luân hồi, có cơ hội thoát khỏi thập pháp giới, cái cơ hội này gặp được không phải dễ. Sau khi gặp được rồi, chúng ta có thể thoát khỏi hay không? Mấu chốt là ở trong khoảng một niệm. Một niệm này phải giữ vững, mọi niệm đều là giác ngộ. Vì sao dạy bạn niệm Phật vậy? Niệm Phật chính là giữ vững mọi niệm đều là giác ngộ. Người niệm Phật thì nhiều mà người thành tựu rốt cuộc rất ít. Vì sao đa số người không thể thành tựu vậy? Vì họ không biết lợi hại, họ không hiểu rõ ràng sự lợi hại, được mất. Cho nên ý niệm của họ vẫn bị trói buộc vào ngũ dục lục trần, không thể buông xả triệt để. Như vậy là họ bỏ lỡ cơ hội trong đời này rồi, vô cùng đáng tiếc. Vì sao mỗi ngày phải đọc kinh, mỗi ngày phải giảng kinh? Đạo lý rất đơn giản, chính là sợ chúng ta quên mất, chính là sợ chúng ta nhất thời lơ là lại làm sai, nên mỗi ngày phải giảng kinh.
Lớp bồi dưỡng của chúng ta tuy số người không nhiều, chúng ta kế thừa sứ mệnh của chư Phật Bồ-tát, đem đạo lý này, chân tướng sự thật này giới thiệu cho tất cả mọi người. Nếu chúng ta muốn giúp đỡ người khác, trước tiên tự mình phải hiểu rõ ràng, minh bạch, thấu triệt thì mới có khả năng giúp đỡ người khác. Sự việc này nhà Phật thường nói đây là “công đức vô lượng”. Nếu như bản thân chúng ta không hiểu rõ, không thấu triệt, thì sao có thể giúp đỡ người khác? Cho nên mỗi ngày phải giảng, mỗi ngày nghiên cứu thảo luận, vậy mà đè nén không nổi phiền não của chính mình, vậy mới biết tập khí phiền não của chính mình sâu nặng cỡ nào. Như vậy ta phải làm thế nào? Không ngừng nỗ lực bền bỉ hơn nữa.
Các đồng học lớp bồi huấn của chúng ta có cái duyên này thù thắng hơn quá nhiều so với người học Phật thông thường. Chúng ta mỗi ngày đều rất chăm chỉ nỗ lực làm. Cư sĩ Lý Mộc Nguyên rất phát tâm. Đạo tràng ở cảng Dương Thổ, trường học của họ vẫn chưa tìm được chỗ, hiện nay vẫn không thể di dời nên chúng ta không thể sử dụng. Họ nóng lòng mở lớp bồi dưỡng khóa thứ năm, nhất định phải làm. Hôm qua họ nói với tôi, đã thuê được lầu hai của từ đường họ Đỗ ở đối diện với văn phòng chúng ta. Tôi đã đi xem, thấy địa điểm rất tốt. Tiền thuê mỗi tháng là 2.600 đồng Singapore, không đắt lắm, việc trông nom vô cùng thuận tiện. Khóa thứ năm chúng ta có thể nhận 30 học sinh. Từ nay về sau học viên từ Trung Quốc đến bên này để tham gia lớp bồi dưỡng, hết thảy đều do Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc tại Bắc Kinh chỉ định. Chúng ta không chiêu sinh. Khi các học viên mới đến thì chúng ta nhất định phải tăng cường nghiên cứu thảo luận. Thời gian cũng phải dài, toàn tâm toàn lực làm tốt sự việc này. Dạy học như thế nào? Tôi muốn cùng các đồng học các bạn cùng nhau nghiên cứu thảo luận, chúng ta áp dụng chế độ phụ đạo. Mỗi vị đồng học lớp Hoa Nghiêm phụ đạo cho hai đồng học mới vào học. Địa điểm luyện tập giảng kinh không đủ, chúng ta phải tìm thêm mấy địa điểm giảng kinh, chia ra để thực tập. Hy vọng trong thời gian ngắn có thể thu được hiệu quả.
Cái mà chúng ta truyền thụ là kỹ thuật diễn thuyết. Điều mà tôi đã gợi ý cho các vị đồng học là đức hạnh còn quan trọng hơn kỹ thuật. Năm xưa, trong sách Yếu Lĩnh Tu Học Nội Điển tôi đã nói, đức hạnh chiếm 90%, kỹ thuật chẳng qua chỉ chiếm 10% mà thôi. Việc tu dưỡng đức hạnh nhất định phải dựa vào chính mình, người khác không giúp gì được. Người khác có thể giúp bạn những kỹ xảo, còn việc tu dưỡng đức hạnh của chính mình thì ở trong kinh luận đã nói quá nhiều rồi. Mọi người đều đọc Kinh Vô Lượng Thọ, từ đầu đến cuối, mỗi phẩm đều có nói đến, nói nhiều nhất, cụ thể nhất là từ phẩm 32 đến phẩm 37. Những lời giáo huấn này, ở trong Phật Pháp gọi là “hành” pháp. Phật pháp có bốn loại lớn: “giáo, lý, hành, quả.” Đây là “hành” pháp. Nhất định phải thực hiện “hành” pháp, là phương pháp tu hành, nếu không thực hiện thì đó là nói suông. Không thực hiện thì nhất định không được thọ dụng. Chỉ sau khi thực hiện, bạn mới có được lợi ích chân thực của Phật pháp, đó là “quả”. Cho nên “giáo, lý, hành, quả” tuy nói là bốn sự việc, nhưng trên thực tế là một; một mà bốn, bốn mà một.
Câu tiếp theo của Cảm Ứng Thiên dạy chúng ta “tích đức lũy công” (tích góp công đức). Ở trong tiểu chú, câu đầu tiên giải thích thế nào là đức? Thế nào là công? Giữ tâm là “đức”, thực hiện trên sự tướng gọi là “công”. Đức không tích thì không dày, công không bồi thì không lớn. Chúng ta thấy chư Phật Bồ-tát, từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp, những điều mà họ làm, bốn chữ này đã bao gồm hết rồi, việc mà họ làm chính là “tích công lũy đức”. Vì ai mà tích công? Vì ai mà lũy đức? Vì tất cả chúng sanh, không vì chính mình, như vậy mới đích thực là đại công đại đức. Chúng ta cần noi theo chư Phật Bồ-tát. Chư Phật Bồ-tát vì sao phải làm như vậy? Họ hiểu rõ một chân tướng sự thật, tất cả chúng sanh trong hư không pháp giới là chính mình, cho nên họ mới làm. Chúng ta không biết chân tướng sự thật cho nên mới có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Chỉ lo cho bản thân, không quan tâm tới mọi người, luôn cho rằng mình và mọi người là hai việc khác nhau. Chỉ biết lợi mình, không biết lợi người. Không biết được là lợi người mới là chân thật lợi mình, lợi mình thực tế chính là tự hại, chỉ có lợi người mới là lợi chính mình. Cái hại của lợi mình chính là lục đạo luân hồi, chính là tam đồ ác đạo.
Nội dung bộ Cảm Ứng Thiên Vựng Biên vô cùng phong phú, quyển chú giải dẫn chứng là trải qua mấy đời không ngừng thêm vào. Ngày nay chúng ta thấy bản này là bản tương đối hoàn thiện, cần đọc nhiều, suy nghĩ nhiều, cần cố gắng nỗ lực học tập. Học Phật, học Bồ-tát là bắt đầu học từ chỗ này. Tâm của chúng ta có giống Bồ-tát hay chưa? Hành vi của chúng ta có giống Bồ-tát hay không? Thường xuyên nghĩ về điều này. Khởi tâm động niệm liền suy nghĩ cái ý niệm này của ta Phật Bồ-tát có cho phép hay không? Lời nói này ta có nên nói hay không? Cái việc này ta có nên làm hay không? Đây là cái tiêu chuẩn. Cảm Ứng Thiên Vựng Biên là cái tiêu chuẩn thấp nhất. Học Phật là bắt đầu học từ chỗ này. Ấn Tổ cả đời cực lực đề xướng, đạo lý là ở chỗ này.