Thái Thượng Cảm Ứng Thiên – Tập 141/195

Video Thumbnail

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN GIẢNG GIẢI

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng từ ngày 11/05/1999 đến 20/04/2000
Giảng tại Singapore, Australia, Hồng Kông.
Tổng cộng 195 Tập (AMTB)
Chuyển ngữ: Ban biên dịch Tịnh Không Pháp Ngữ
Giám định biên dịch: Vọng Tây Cư Sĩ

Mã AMTB: 19-012-0001 đến 19-012-0195

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN –  Tập 141/195 (82A – bộ 128 đĩa)

Các vị đồng tu, xin chào mọi người!

Mời mọi người xem Cảm Ứng Thiên đoạn thứ 76 và đoạn thứ 77: Vô cố tiễn tài, phi lễ phanh tể (Không duyên cớ mà may quần áo mới. Không đúng lễ mà giết mổ súc vật). Câu này ý nói là không biết trân quý vật lực.

Hai câu tiếp theo nói: Tán khí ngũ cốc, lao nhiễu chúng sanh (Vung vãi hoang phí ngũ cốc. Làm nhọc sức chúng sanh)Đây là bốn câu trong kinh văn.

Hết thảy chúng sanh sanh đến thế gian này đều có nghiệp nhân. Nhà Phật nói rõ cho chúng ta chân tướng sự thật này. Phàm phu trong lục đạo đều chịu sự chi phối của nghiệp lực, những cơ hội ở trong một đời này như vinh hoa phú quý, thọ mạng ngắn hay dài, tất cả đều có định số. Do đó, những người xem tướng đoán mệnh giỏi đều tiên đoán tương đối chuẩn xác. Giống như đoạn mở đầu của Liễu Phàm Tứ Huấn, tiên sinh Viên Liễu Phàm đã thuật lại cho chúng ta: Thời trẻ ông được Khổng tiên sinh đoán mạng, tiên đoán vận mạng lành dữ của cả cuộc đời ông hầu như không mảy may sai chạy, đích thực chứng minh là không sai sót một chút nào. Đây không phải là những thầy bói toán thông thường trong xã hội, lời nói của những thầy bói này không đáng tin và không có trách nhiệm. Khổng tiên sinh đích thực có học vấn, ông có kiến thức cũng có tu dưỡng, cho nên ông mới có thể tiên đoán một cách chính xác như vậy.

Từ đó chúng ta biết được: Cuộc đời của một con người quả thật là giống như người phương Tây từng nói. Tôi trước đây từng xem qua những lời tiên tri của nhà tiên tri người Pháp Nostradamus, trong đó ông rất nhiều lần nói đến: Cuộc đời của một người giống như một kịch bản đã được viết sẵn, họ sống theo kịch bản này, không có ai có thể thay đổi kịch bản này. Điều này đều là quan niệm về số mạng. Phật pháp thừa nhận vận mạng là có thật, thế nhưng vận mạng nhất định có thể thay đổi được, tuyệt đối không phải là cố định.

Trước tiên chúng ta cần hiểu vận mạng từ đâu mà có? Là do chính mình tạo ra, nghiệp nhân quả báo ở trong đó vô cùng phức tạp. Nghiệp nhân có liên quan đến vô lượng kiếp trước, do tích luỹ phiền não tập khí trong đời đời kiếp kiếp và kết ân oán nợ nần với hết thảy chúng sanh, đến những đời tiếp theo khi nhân duyên hội tụ thì phải trả nợ. Do đó nợ mạng phải trả mạng, nợ tiền phải trả tiền. Những nghiệp nhân trong quá khứ nếu như chúng ta bình lặng mà tư duy quan sát cuộc đời của chính mình thì sẽ tự chứng minh được. Trong cuộc đời này, tất cả những người mà chúng ta gặp, hết thảy việc, hết thảy vật, suy nghĩ thật tỉ mỉ sẽ thấy có người đối với mình tốt, đó là vì trước đây chúng ta có ân huệ với họ。 Nếu có người đối với mình không tốt, chung sống không tốt là do trước đây chúng ta có oán với họ. Khi chúng ta đạt được tài vật thì trong tâm nên hiểu là do người khác trả nợ cho chúng ta, khi chúng ta bị tổn thất thì biết là chúng ta trả nợ họ. Nhà Phật nói rất rõ ràng, người sống ở thế gian chẳng qua cũng chỉ là báo ân báo oán, đòi nợ trả nợ mà thôi, tất cả đều vì những điều này mà đến.

Cho nên Phật tổng kết thành một câu: Nhân sanh có ý nghĩa gì? Là “nhân sanh thù nghiệp”. Chữ “thù” nghĩa là đền đáp, chữ “nghiệp” có nghĩa là nghiệp đã tạo trước đây, nếu trước đây tạo nghiệp thiện thì đời này bạn sẽ hưởng phước, nếu kiếp trước bạn tạo ác nghiệp thì đời này cuộc sống sẽ khó khăn vất vả. Thế nhưng nghiệp thì luôn không ngừng tạo, quả cũng không ngừng nhận. Nhân quả tuần hoàn, khi bạn hưởng phước nhất định sẽ lại tạo nghiệp.

Chúng ta không nói người khác, trong lịch sử Trung Quốc có “thập toàn lão nhân”, nói về phước báo thì từ xưa đến nay không ai có thể sánh được với hoàng đế Càn Long: Phước đức, thông minh trí huệ, khoẻ mạnh trường thọ, ông đều có đầy đủ cả. Đó quả thật là phước báo do ông tu được từ vô lượng kiếp đến nay mà có. Ông làm hoàng đế sáu mươi năm, sau đó bốn năm làm thái thượng hoàng, thế nhưng trong cuộc đời mình, ông cũng đã tạo không ít ác nghiệp. Khi phước báo hưởng hết rồi thì ác báo sẽ hiện tiền. Cho nên chúng ta quan sát từ chỗ này, Phu Tử nói với chúng ta: “Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi” (Nguy thay lòng người, vi diệu thay tâm đạo), hai câu này nói rất có đạo lý, nếu như người không giác ngộ thì không thể không tạo nghiệp. Phước báo càng lớn thì càng dễ dàng tạo nghiệp, hơn nữa lại càng tạo ác nghiệp rất nghiêm trọng. Những người bình dân trên thế gian không có uy đức, không có quyền thế, cho nên tội nghiệp cả đời tạo ra tương đối ít, tương đối nhỏ, chúng ta bình lặng quan sát tỉ mỉ thì sẽ biết.

Chúng ta may mắn được thân người, được thân người rồi còn có may mắn gì nữa? Đó chính là được thân người rồi còn được nghe Phật pháp, thế thì thân người này rất may mắn. Nếu như được thân người rồi mà không được nghe Phật pháp thì được cái thân người này rất bất hạnh, làm sao có thể không tạo tội nghiệp được chứ? Đúng như trong Kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện nói: “Vừa mới được ra rồi lại trở vào”, lập tức lại bị đọa lạc lại rồi, là việc trong chớp mắt, thật là bi thương, thật là đáng sợ.

Người được xem là phú quý chính là người được tiếp nhận giáo dục của Thánh Hiền. Cội nguồn giáo dục của Thánh Hiền có hai loại. Thứ nhất là đại triệt đại ngộ, là từ trong tự tánh mà lưu xuất ra. Đó chính là trí huệ chân thật, triệt để hiểu rõ chân tướng vũ trụ nhân sanh. Chân tướng vũ trụ nhân sanh là gì? Trên căn bản mà nói là khởi nguồn của vũ trụ, vũ trụ được sanh ra như thế nào, khởi nguồn của sự sống, mối quan hệ giữa vũ trụ và sự sống. Điều này là đại căn bản, sau khi chúng ta hiểu rõ rồi, Thánh Hiền nhân dạy chúng ta đạo làm người, dạy chúng ta chung sống trong mối quan hệ giữa người với người, quan hệ giữa người với hoàn cảnh tự nhiên, quan hệ giữa người với thiên địa quỷ thần. Điều này chính là đại học vấn. Giáo huấn của cổ Thánh tiên Hiền thế xuất thế gian đối với hậu nhân, đối với hết thảy chúng sanh chẳng qua cũng chỉ là vậy. Sau khi hiểu rõ rồi thì người này có thể tránh hung gặp phước, tự cầu đa phước. Chúng ta vẫn chưa minh tâm kiến tánh nên chỉ có thể cung kính tin tưởng vào giáo huấn của người đã minh tâm kiến tánh, đi theo các Ngài.

Đoạn này của Thái Thượng Cảm Ứng Thiên dạy chúng ta không khác gì với giáo huấn của chư Phật Bồ-tát và đại Thánh đại Hiền. Đoạn kinh văn này nói về lý luận không nhiều nhưng trên sự tướng thì nói cũng không ít, đối với chúng ta rất hữu dụng. Nếu như chúng ta không thể sửa đổi trên sự tướng thì dù có tiếp nhận giáo huấn của chư Phật Bồ-tát cũng rất khó khai ngộ. Đó là vì nguyên nhân gì? Là phiền não nghiệp chướng đã chướng ngại giác ngộ nên không thể khai ngộ. Vậy điều kiện để khai ngộ là gì? Cổ Đại đức thường nói: “Phiền não nhẹ, trí huệ tăng”, chúng ta có phiền não nặng như vậy, làm sao có thể khai ngộ được chứ? Căn cứ vào giáo huấn của Thái Thượng Cảm Ứng Thiên mà tu học chính là phương pháp rất tốt để đoạn phiền não. Nhà Phật nói đến tổng cương lĩnh của việc tu học là: trì giới đắc định, nhân định khai huệ. Đây là con đường rất rõ ràng, là con đường thành Phật. Những văn tự của Thái Thượng Cảm Ứng Thiên chính là giới luật, chúng ta nếu có thể vâng theo, có thể phụng hành, tâm sẽ đắc định, khởi tâm động niệm, lời nói việc làm sẽ có một chuẩn tắc. Đạo lý này chúng ta nên hiểu rõ.

Câu: “Trân quý vật lực”, tuy rằng chỉ nói bốn chữ nhưng câu này là nguyên tắc, chúng ta nhất định cần phải thấu hiểu điều đó. Chúng ta cần biết sự khó khăn để có được vật lực, có được không dễ dàng. Tuy rằng ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, năng lực sản xuất được nâng cao, không phải vất vả như người xưa, ngày nay sử dụng số lượng lớn máy móc để chế tạo sản xuất dễ dàng. Nhưng chúng ta cần thường xuyên nghĩ rằng: Ngày nay ở thế gian vẫn còn biết bao nhiêu người thiếu thốn những vật dụng hằng ngày? Chúng ta có được rất dễ dàng, đó là dựa vào chút phước báo tu được từ đời quá khứ, trong đời này vẫn có thể đoạn ác tu thiện nên cảm được báo ứng. Thế nhưng chúng ta hãy nghĩ xem còn có rất nhiều người đang sống trong hoàn cảnh khó khăn thì tự nhiên chúng ta sẽ hiểu được cần phải trân quý những vật lực này. Vậy nên chỉ cần chúng ta có thể sống được qua ngày và bình an thì chính là phước rồi. Người sống tại thế gian này, ba bữa cơm có thể ăn no, có thể mặc ấm, có căn nhà nhỏ để có thể nghỉ ngơi thế là đủ rồi. Nếu như chúng ta có phước báo nhiều hơn thì phải biết bố thí cho chúng sanh, chúng ta cần phải tiếc phước, cần biết bồi phước.

Câu “Vô cố tiễn tài, phi lễ phanh tể”, Thái Thượng Cảm Ứng Thiên dạy chúng ta ở đây là: Người xưa khi giết mổ ăn thịt cũng có những quy định về thời gian, tuyệt đối không phải là ăn uống tùy tiện quá độ. Chữ “tiễn tài” ở đây ý nói là làm ra y phục. Chữ “phanh tể” là ẩm thực. Chúng ta học tiết kiệm từ cái ăn cái mặc, đây là đời sống vật chất thường ngày không thể thiếu. Thánh nhân khuyên dạy chúng ta từ chính chỗ này, chúng ta có thể tiết kiệm một phần tức là có thể giúp đỡ người khác một phần, nên thường giữ cái tâm này.

Chúng ta hãy xem xã hội ngày nay đều vi phạm hai câu này, vi phạm vô cùng nghiêm trọng, cho nên khi hưởng hết phước rồi thì tai hoạ liền hiện tiền. Thời xưa quần áo nhất định là vì nhu cầu thiết yếu của chính mình. Phật đã quy định ba y một bát cho đệ tử xuất gia. Đây là quy định của thời xưa khi sinh sống tại khu vực Ấn Độ, họ có ba chiếc y là đủ rồi. Singapore chúng ta thuộc khu vực nhiệt đới, nằm gần xích đạo, không có bốn mùa, cho nên sinh sống ở khu vực này y phục rất đơn giản. Nếu sống ở khu vực phía bắc Trung Quốc thì bạn phải có đủ quần áo của bốn mùa xuân hạ thu đông. Tuy là chúng ta sống ở khu vực này, thế nhưng nếu muốn đi đến phía bắc để du lịch thì vẫn phải cần có thêm y phục. Đây là có lý do chính đáng để thêm y phục, nếu không có lý do thì không cần phải tìm phiền phức này làm gì. Thời xưa, việc ăn uống, sát sanh, ăn thịt đều là dùng cho việc bái tế, hiến tế quỷ thần, sau đó mới hạ xuống để đại chúng cùng ăn, chứ không phải ngày ngày có thịt để ăn. Khi tôi còn nhỏ, lúc còn làm học trò, khi đó là thời kỳ đầu của kháng chiến, chúng tôi trưởng thành tại nông thôn, ở nông thôn trong một tháng chỉ được ăn thịt hai lần vào ngày mùng một và ngày rằm, mọi người mua một ít thịt để cúng thần linh và ông bà tổ tiên, lượng thịt rất ít. Cho nên trẻ nhỏ rất thích đón năm mới. Mấy ngày Tết hầu như ngày nào cũng có một ít thịt để ăn thế nhưng thời gian rất ngắn, cũng chỉ là mười đến hai mươi ngày là hết Tết. Ngày nay mỗi bữa ăn đều có thịt, bạn nói xem phải làm thế nào? Nhà Nho tuy là không cấm nhưng cũng không dạy bạn ngày ngày sát sanh ăn thịt. Nhà Phật hiểu được đạo lý này, ăn thịt chính là oan oan tương báo. Vì sao thế gian này lại có chiến tranh tàn khốc đến như vậy? Nói đến chiến tranh, chúng ta có thể nhớ đến đại thế chiến thứ nhất rất tàn khốc, đại thế chiến thứ hai so với đại thế chiến thứ nhất không biết là tàn khốc hơn bao nhiêu lần, nếu như đại thế chiến thứ ba mà xảy ra, có rất nhiều người nói: Đó là cuộc chiến tranh cuối cùng, vì khi cuộc chiến tranh này kết thúc thì thế giới này sẽ không còn chiến tranh nữa. Vì sao vậy? Vì mọi người đều chết hết rồi thì lấy ai mà đánh nhau nữa chứ? Đó là cuộc chiến tranh huỷ diệt thế giới.

Trong kinh Phật nói: “Đao binh kiếp”. Nếu như muốn thế giới này không có kiếp đao binh, Phật có dạy là: Trừ khi chúng sanh không ăn thịt nữa thì thế gian này sẽ không còn nạn kiếp đao binh nữa. Hàm ý của câu nói này vô cùng sâu sắc. Kiếp đao binh là do tích luỹ oán hận mà ra. Oán hận từ đâu mà có vậy? Là do ăn thịt chúng sanh. Chúng không phải cam tâm tình nguyện cho bạn ăn. Quả thật là cá lớn nuốt cá bé. Những oán hận trong lòng của kẻ yếu thế vĩnh viễn không bao giờ tiêu trừ. Phật nói với chúng ta: Hết thảy chúng sanh đều luân chuyển trong lục đạo, cho nên sản sinh ra báo ứng, oan oan tương báo không bao giờ ngừng dứt. Điều này chỉ có Phật nói rất thấu triệt. Chúng ta hiểu rõ đạo lý này rồi thì sẽ không dám ăn thịt chúng sanh nữa, hy vọng chúng ta cùng với hết thảy chúng sanh có thể hoá giải những oán thù này. Chúng ta chăm chỉ nỗ lực tu học để đem tất cả công đức hồi hướng cho hết thảy chúng sanh. Đó là sám hối, là chuộc tội. Cho nên trân quý vật lực là bắt đầu làm từ trong cuộc sống hằng ngày.