Đệ Tử Quy & Tu Học Phật Pháp –  Tập 39A

Video Thumbnail

Giám định: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Chủ giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc
Giảng ngày 06/3 đến 13/3 năm 2005 Tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Tổng cộng 80 Tập (tách tập)

Cẩn dịch: Ban biên dịch Tịnh Không Pháp Ngữ
Giám định biên dịch: Vọng Tây Cư Sĩ

Mã AMTB: 51-118-0001 đến 51-118-0040

Đệ Tử Quy & Tu Học Phật Pháp –  Tập 39A

Sư phụ Thượng Nhân tôn kính, các vị pháp sư, các vị đồng tu tôn kính, A Di Đà Phật!

Tiết học trước chúng ta đã bước sang phần “Có Dư Sức Thì Học Văn”. Học tập quan trọng nhất là “lập chí”, cho nên sau khi chúng ta trở về trước hết nhất định phải là 1 người con trai ngoan, 1 người con gái ngoan. Tiếp theo còn phải làm được những mục tiêu nào nữa? Các vị đồng tu còn mục tiêu gì phải đạt được nữa? Là học trò tốt, làm học trò tốt của Phật Bồ Tát, cổ Thánh tiên Hiền. Còn gì nữa? Công dân tốt, chúng ta “học để mô phạm cho người, hành vi để làm mẫu mực cho đời”, làm tấm gương tốt cho đại chúng.

Tiếp theo, con dâu tốt, quá tốt rồi. Vị đồng tu này đã nắm được mấu chốt rất quan trọng trong việc học tập rồi. Học phải khắc phục từ chỗ khó khắc phục nhất. Nếu khắc phục được thì tâm bình đẳng sẽ hiện tiền. Bởi vì tôi cũng từng gặp đồng tu nói rằng “thưa thầy, hiếu thuận cha mẹ thì có thể được, nhưng mẹ chồng thì…”.

Kỳ thực có thể có duyên sống cùng 1 mái nhà đều là việc hy hữu khó gặp, chỉ cần chúng ta buông bỏ phân biệt, chấp trước, có thể đề khởi tâm cung kính hiếu thuận thì tin rằng mẹ chồng cũng có thể tiếp nhận, thậm chí bởi vì biểu hiện của bạn, nói không chừng đời này mẹ chồng của bạn còn có thể học Phật nữa. Bởi vì bà nói “sau khi con dâu tôi học Phật thì biến thành người khác rồi, cho nên Phật Pháp rất tốt, tôi cũng nên học tập”. Có 1 cô giáo sau khi học xong trở về mỗi lần đều chào hỏi, cúi chào mẹ chồng. Có 1 lần mẹ chồng đang muốn phàn nàn 1 chút, đúng lúc cô tiện tay gắp đồ ăn cho mẹ chồng, mẹ chồng liền không thốt ra lời đó nữa, sau đó nói rằng “con học rất tốt”. Bởi vì cô thường cúi chào mẹ chồng. Con của cô mới được 1 tuổi 3 tháng, hiện nay động táhc thành thạo nhất chính là cúi chào. Cô không hề dạy con, cho nên việc này sẽ ảnh hưởng 1 cách thầm lặng.

Còn mục đích gì phải đạt được nữa? Làm cha mẹ tốt. Còn nữa không? Vì sao làm chồng tốt, vợ tốt đều đặt ở sau cùng vậy? Vâng, chúng ta lập định chí hướng này, dũng mãnh tinh tấn đi làm, đi thực hành. Câu thứ nhất nói là:

“Không gắng làm, chỉ học văn. Chỉ bề ngoài, thành người gì”

Chúng ta đều biết phiền não căn bản là tham, sân, si, mạn, nghi. Thông thường chúng ta đều cảm thấy tham, sân, si rất đáng sợ. Kỳ thực trên con đường tu đạo chữ mạn này cũng rất có tính sát thương. Các vị đồng tu có cảm nhận này không? Nó dường như xuất hiện 1 cách vô thức. Chúng ta cũng nhớ thời nhà Hán có 1 công án, lúc đó Triều Thố kiến nghị với Cảnh Đế để có thể làm suy yếu [thế lực của] những chư hầu được phong đất. Kết quả các chư hầu đã cùng nhau nổi loạn, tạo thành loạn 7 nước, mà Triều Thố quả thực niệm niệm đều vì đất nước. Ông tận sức lo nghĩ cho đất nước, không lo nghĩ cho bản thân. Ông không hề nghĩ đến bản thân. Sau đó 7 nước đã lấy danh nghĩa phải đánh dẹp Triều Thố, muốn giết ông. Kỳ thực trọng điểm là muốn giành lấy quyền lợi của đất nước. Lúc đó Viên Áng đã kiến nghị với Hán Cảnh Đế chỉ cần giết chết Triều Thố thì vấn đề liền được giải quyết ngay. Triều Thố là thầy của Hán Cảnh Đế, Cảnh Đế bị ép đến hết cách đành phải giết Triều Thố. Cho nên Triều Thố và Viên Áng đã kết thành oán thù.

Đời sau của Viên Áng là 1 vị cao tăng, hơn nữa nhiều đời đều là cao tăng, mấy trăm năm sau chính là Ngộ Đạt Quốc Sư. Ngộ Đạt Quốc Sư bởi vì đức hạnh rất tốt, cho nên hoàng đế đã ban tặng cho ngài 1 bảo tọa bằng gỗ trầm hương. Tu hành cao như vậy, nhận được bảo tọa bằng gỗ trầm hương nên đã sanh khởi 1 ý niệm cống cao ngã mạn, lập tức oan hồn của Triều Thố nhập vào đùi của ngài, mọc lên 1 cái mụn ghẻ mặt người. Sau đó bởi vì rất nặng, Ngộ Đạt Quốc Sư nhớ lại năm xưa khi còn trẻ ngài đã gặp 1 người già rất đáng thương, trên người có nhiều chỗ bị lở loét. Ngộ Đạt Quốc Sư còn đích thân giúp ông chữa trị vết thương, cũng không chê ông bẩn. Ông cụ đó đã nói với ngài rằng nếu trong đời ông gặp phải nạn lớn thì ông có thể đến nơi này tìm tôi. Cho nên Ngộ Đạt Quốc Sư đã đến nơi đó tìm vị trưởng giả này. Vị trưởng giả này chính là Ca Nặc Ca Tôn Giả. Ca Nặc Ca Tôn Giả đã dẫn Ngộ Đạt Quốc Sư đến bên 1 con suối, định dùng nước này để rửa mụn ghẻ thì sẽ khỏi bệnh. Lúc đang định rửa vết thương này thì đột nhiên mụn ghẻ mặt người nói chuyện, nói rằng ông ấy chính là Triều Thố, cho nên oán thù này đã kết mấy trăm năm rồi nhưng oán khí không tiêu.

Các vị đồng tu, từ câu chuyện này đã cho chúng ta rất nhiều sự cảnh giác. Thứ nhất, đương nhiên phải “rộng kết thiện duyên”, như vậy thì chúng ta mới thường có được sự trợ duyên, có thể gặp hung hóa cát. Tiếp theo, cũng phải cảnh giác không được kết ác duyên, oan oan tương báo, không ngày ngừng dứt. Đồng thời Ca Nặc Ca Tôn Giả đã thuyết pháp cho họ nghe nên Triều Thố cũng đã buông bỏ chấp trước, không còn báo đền lẫn nhau như vậy nữa. Đương nhiên Ngộ Đạt Quốc Sư gặp nạn này căn nguyên do đâu? Cũng là do 1 niệm ngạo mạn. Cho nên đối trị tập khí ngạo mạn chúng ta cũng phải thường xuyên quán chiếu ý niệm của mình. Khi người khác kiến nghị với chúng ta mà cách nghĩ [của họ] không giống chúng ta thì chúng ta phải nhìn lại xem có phải tâm nóng vội đã khởi lên rồi không. Kỳ thực đó đều có nhân tố của ngạo mạn ở bên trong. Lúc này phải nhanh chóng điều chỉnh thái độ của mình, phải thường tiếp nhận những lời khuyên chính đáng thì bản thân mới được lợi ích.

Do vậy khi Đường Thái Tông làm hoàng đế, có thần tử khuyên can ông. Sau khi khuyên can thì bãi triều, thần tử bên cạnh liền nói “bẩm hoàng thượng, vừa rồi ông ấy khuyên can có rất nhiều việc căn bản là không có thật. Vì sao ngài không phản bác ông ấy, không uốn nắn ông ấy?”. Đường Thái Tông nói rằng “nếu ta phản bác ông ấy, nếu ta ngăn cấm ông ấy mà tin tức này truyền ra ngoài thì người ta sẽ nói hoàng đế không tiếp nhận lời can gián. Đến lúc đó phong khí khuyên can này sẽ bị cắt đứt. Ta và đất nước sẽ bị tổn thất. Cho nên dù người khác kiến nghị, phê bình chúng ta có thể hơi thái quá, thậm chí không đúng thì chúng ta cũng có thể khiêm tốn bao dung, còn những khuyết điểm mà họ nhắc nhở chúng ta là thật thì chúng ta phải cố gắng đối trị, sửa đổi.

Tôi cũng từng hỏi các em nhỏ rằng “người tốt nghiệp đại học thì có văn hóa không?”. Các vị đồng tu, tốt nghiệp đại học có văn hóa không? Không nhất định, học Phật và không học Phật khác nhau rất nhiều. Các vị đồng tu đều biết là không nhất định [như vậy]. Tiếp theo tôi lại hỏi học trò “bất hiếu với cha mẹ thì có văn hóa không?”, “không có”. Vậy tốt nghiệp đại học mà bất hiếu với cha mẹ thì có văn hóa không? Đương nhiên cũng không có. Cho nên nhận thức của người thông thường đều cảm thấy học thức cao thì gọi là có văn hóa. Đây là nhận thức không chính xác. Trong văn hóa quan trọng nhất chính là đạo đức, luân lý. Khi không hiếu thuận [với cha mẹ] thì căn bản là không biết đến luân lý đạo đức, vậy làm sao có thể có văn hóa được chứ? Cho nên hiện nay học lực càng cao thì chỉ có nghĩa là họ vô cùng hiểu biết về 1 ngành nghề nào đó mà thôi, trên đại học là các trường dạy tri thức kỹ năng.

Chúng ta cũng nhìn thấy 1 số hiện tượng, hiện nay người có học lực cao thì tỷ lệ ly hôn cao. Học vấn càng cao, có thể sẽ sanh ra ngạo mạn và sở tri chướng càng nặng hơn, cho nên không thể chung sống tốt với vợ và người thân. Việc này cũng khó trách, họ có thể thường đối diện với máy tính. Máy tính rất nghe lời, bảo nó làm cái gì thì nó làm cái đó, nhưng con người thì không như vậy. Con người cần trao đổi, cần giao lưu, cần bao dung mới được. Có 1 người bạn anh ấy tốt nghiệp viện nghiên cứu. Có 1 hôm mẹ anh ấy bảo anh ấy làm giúp 1 số công việc nhà. Trong lúc làm việc nhà có thể làm việc gì đó không tốt, mẹ anh liền nói rằng “việc này đơn giản như vậy, sao con lại không cẩn thận như vậy, sao con ngốc thế”. Người bạn này vừa nghe mẹ mắng mình ngốc, liền rất tức giận nói rằng “con đã tốt nghiệp viện nghiên cứu rồi, mẹ còn mắng con ngốc sao?”. Các vị đồng tu, viện nghiên cứu đã cho anh ấy cái gì? Cho anh ấy sự ngạo mạn, 1 chút việc nhỏ như vậy làm cũng không tốt thì chúng ta nên khiêm tốn học tập mới đúng. Cho nên chú Lư thường nói “nếu là con của chú, nếu là con cháu của chú thì tuyệt đối không cho chúng học lên đến tiến sỹ”. Vừa học đến tiến sỹ thì mắt đều để ở đâu? Trên đỉnh đầu. Tốt nghiệp đại học ra ngoài trước tiên phải cố gắng rèn dũa, biết được người tài còn có người tài hơn, trời cao còn có trời cao hơn mới đúng.

Cho nên học vấn chân thật tuyệt đối không phải chỉ đọc tụng suông mà nhất định phải hiểu: biết được, ngộ được, làm được thì mới có thể đắc được. Giống như chúng ta tu hành cũng có sự nâng cao cảnh giới của tín, giải, hành, chứng. Mặc dù nói là biết được, ngộ được, làm được, đắc được nhưng người thật sự biết được thì nhất định sẽ thể ngộ được, người thể ngộ được thì nhất định sẽ bắt tay hành động, họ sẽ ấn chứng được chân tướng này. Các vị đồng tu, khi chúng ta thật sự thực hành “Đệ Tử Quy” thì chúng ta mới hiểu được, vì sao các bậc Thánh Hiền lại xem trọng việc thực hành nền tảng như vậy. Khi có nền tảng rồi thì tất cả đạo đức, học vấn của chúng ta mới có thể đứng vững.

Cho nên cũng có bạn phản ánh nói rằng: trước đây vốn dĩ đều đọc Kinh Đại Thừa nhưng khi đọc trong lòng không thiết thực, sau này bắt đầu học “Đệ Tử Quy”, mỗi ngày sớm tối đều đọc 1 biến trong tâm cảm thấy rất thiết thực, hơn nữa mỗi ngày đều đối chiếu từng câu, đều đang nâng cao cảnh giới, cho nên tín, giải, hành, chứng rất quan trọng. Khi tín, giải, hành của chúng ta đều dung hòa thành 1 thể rồi thì đó mới chân thật có thể khế nhập cảnh giới. Thông thường chúng ta có thể sẽ trả lời rằng “điều này tôi biết rồi”. Khi chúng ta căn bản không làm thì việc này còn kém rất xa, cho nên “không gắng làm, chỉ học văn” như vậy thì sẽ “chỉ bề ngoài, thành người nào”. Sau này chúng ta đối diện với mỗi câu kinh văn nhất định phải quán chiếu xem mức độ thực hành của bản thân.

Các vị đồng tu, chúng ta học tập thì nhất định phải trường thời huân tu. Hiện nay 1 ngày các bạn đọc “Đệ Tử Quy” mấy lần? Tôi cảm thấy mọi người rất dũng mãnh tinh tấn, trước khi ăn cũng đọc 1 lần, dường như trước khi đi ngủ cũng muốn đọc 1 lần. Sau khi trở về nhà nhất định 1 ngày ít nhất phải đọc 2 lần. Buổi sáng đọc nhắc nhở bản thân hôm nay nhất định phải thực hiện cái mình đã học. Bạn làm như vậy thì tính cảnh giác sẽ rất cao. Buổi tối trở về quán chiếu 1 chút hôm nay trong lúc xử sự đối người tiếp vật có làm hay không? Nếu không làm thì phải phản tỉnh 1 chút, ngày mai phải cố gắng. Buổi sáng nhắc nhở 1 lần, buổi tối phản tỉnh 1 lần, 1 ngày 2 lần. Các vị đồng tu, thang thuốc này là thang thuốc Đông Y, trị ngọn lại trị cả gốc. Tôi ở Hải Khẩu có 1 cô giáo thật sự đã đọc 3 tháng, sau 3 tháng cô đã trở về quê để dạy học. Câu tiếp theo:

“Nếu gắng làm, không học văn. Theo ý mình, mù lẽ phải”

Có thể trình độ hiểu biết, trình độ lý giải của chúng ta chưa đủ, thuận theo nhận thức của mình đi làm lại không cố gắng nghe thiện tri thức giảng kinh thì rất có thể sẽ “theo ý mình, mù lẽ phải”. Ví dụ chúng ta nhắc đến hiếu thuận, rất nhiều người có thể cảm thấy cái gì cũng đều thuận theo [cha mẹ]. Đó là sự hiểu lầm. Khi họ có thể đọc kinh điển mà thâm nhập, lại có thể nghe giảng thì họ sẽ hiểu được “cha mẹ lỗi, khuyên thay đổi, mặt ta vui, lời ta dịu”. Cho nên có thể nghe thiện tri thức giảng kinh thì chúng ta mới không y văn giải nghĩa, vậy thì chư Phật 3 đời đều như thế nào? Đều kêu oan.

Chúng ta cũng thường nghe thấy trong giáo huấn có nói “trong cửa Phật không bỏ 1 ai”, cũng nghe thấy “Phật không độ người vô duyên”. Các vị đồng tu 2 câu này có mâu thuẫn không? “Phật không độ người vô duyên”, “trong cửa Phật không bỏ 1 ai”. Trong cửa Phật quả thực là không bỏ 1 ai, mà chư Phật Bồ Tát đều là tăng thượng duyên của chúng sanh. Duyên có sâu có cạn, cho nên dù không bỏ 1 ai nhưng cũng phải quán cơ mới được. Khi không có duyên thì phải làm sao? Đương nhiên phải nhanh chóng kết duyên, có duyên thì phải khiến nó tăng trưởng, duyên chín muồi rồi thì phải giúp họ thành tựu. Kỳ thực Phật không độ người vô duyên, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta phải rộng kết thiện duyên. Tôi về Đài Loan, bởi vì tương đối có nhiều thực phẩm hữu cơ nên tôi đã mang mấy gói bánh bích-quy hữu cơ đến Hải Khẩu. Rất nhiều phụ huynh lần đầu tiên đến, chúng tôi mời họ ăn chút đồ, ăn đồ của người thì sẽ há miệng mắc quai. Quan trọng nhất là tu bố thí khiến họ sanh tâm hoan hỷ. Khi họ sanh tâm hoan hỷ thì tự nhiên duyên sẽ sâu thêm. Cho nên chúng ta niệm niệm phải làm sao để thành tựu nhân duyên, tuyệt đối không phải lùi bước.

Trong kinh điển cũng có nói “đối với tất cả chúng sanh làm bạn không mời”, nhưng lại nghe “chỉ nghe đến cầu học, chưa nghe tự đến dạy”. 2 câu này có mâu thuẫn không? Cho nên nghe thiện tri thức giảng kinh rất quan trọng, bởi vì sư trưởng nhất định sẽ đem nó triển khai và viên dung. Như vậy trong khi học chúng ta mới chẳng đến nỗi không hiểu nhiều chỗ, có thể làm sẽ bị thiên lệch. “Chỉ nghe đến cầu học, chưa nghe tự đến dạy”, quan trọng nhất là phải khiến người cầu học có tâm cung kính, như vậy họ mới đạt được lợi ích. Nếu người bạn này thật sự đã có tâm cung kính đối với chư Phật Bồ Tát, cổ Thánh tiên Hiền rồi, nhưng họ lại không biết bắt đầu hỏi từ đâu, mà chúng ta đã hiểu được tâm cung kính của họ, nhu cầu của họ thì lúc này chúng ta có thể chủ động “đối với tất cả chúng sanh làm bạn không mời”. Cho nên mọi việc cần phải quán cơ mới được. Khi chúng ta có thể thường huân tập, hiểu rõ đạo lý còn biết làm sao để tùy cơ ứng biến thì có thể không ngừng nâng cao cảnh giới.

Mỗi câu kinh văn trong “Đệ Tử Quy” đều có cảnh giới cao thấp. Phía trước chúng ta cũng nhắc đến 1 đoạn khai thị của Mạnh Phu Tử: “người có thể cùng nhau học tập nhưng chưa chắc thực hành giống nhau, có thể thực hành giống nhau nhưng chưa chắc có sức định giống nhau, có sức định giống nhau nhưng chưa chắc có thể tùy cơ ứng biến như nhau”. Ở đây có 4 cảnh giới khác nhau, đương nhiên chúng ta sẽ tiến bước theo hướng vững chắc, theo hướng tùy cơ ứng biến. Ví dụ “phàm nói ra, tín trước tiên”, cho nên không được nói dối. Hôm nay ví dụ bạn gặp 1 người thợ săn, trước đó đúng lúc có 1 con thỏ chạy qua, chạy về hướng đông. Người thợ săn thở hổn hển chạy đến hỏi bạn: “con thỏ chạy hướng nào rồi?”. Vậy bạn sẽ nói như thế nào? Hướng tây. “Phàm nói ra, tín trước tiên”, các bạn đã thi đạt rồi, chạy về hướng tây. Rất nhiều người sẽ cảm thấy tôi làm như vậy với người thợ săn có phải đã kết ác duyên với họ rồi không? Kỳ thực ngược lại là kết thiện duyên, quả thực là sự sự không chướng ngại, chỉ cần chúng ta xuất phát từ tâm chân thành thì tất cả đều viên mãn. Đối với chú thỏ thì nó đã thoát mạng, đối với người thợ săn này là đã bớt tạo 1 nghiệp sát, còn đối với chúng ta mà nói thì chúng ta đã giữ lại được tâm chân thành, tâm từ bi. Đó đều là đại hoan hỷ.

Cho nên, có Phật Pháp thì sẽ có phương pháp, mà phương pháp này đều là viên mãn, chỉ là cảnh giới của chúng ta vẫn chưa đạt đến mức đó, nhưng nhất định phải đi theo phương hướng này mà nỗ lực. Vì sao trong giới luật có khai giá trì phạm? Chính là để chúng ta hiểu được tùy cơ ứng biến.

Có 1 lần đúng lúc Khổng Phu Tử rời khỏi nước Ngụy, muốn đến 1 đất nước khác thì nhìn thấy 1 vị đại thần của nước Ngụy đang ở đó xây dựng xưởng chế tạo vũ khí, muốn chế tạo 1 số vũ khí để làm loạn. Phu tử vừa thấy liền liên tưởng rằng nếu họ tạo phản thì sẽ có kết quả gì? Dân chúng nhất định sẽ [sống cảnh] lầm than. Kẻ phản thần này thấy Phu Tử đã phát hiện ra liền bao vây ngài, không cho ngài đi. Ông ta nói với Phu Tử rằng “Ngài phải thề với trời là không nói chuyện của tôi ra thì tôi mới thả cho ngài đi”. Phu Tử liền nói “được, tôi đồng ý với ông”, đội quân liền rút đi. Sau khi rút đi Phu Tử lập tức nói với học trò rằng “đi, trở về nước Ngụy nói với quốc vương của họ”. Tử Lộ liền nói “Thưa Phu Tử, tại sao thầy có thể nói mà không giữ lời chứ?”. Phu Tử liền nói với Tử Lộ rằng “khi bị uy hiếp thì có thể không giữ chữ tín, hơn nữa ta đi thông báo cho dù danh dự của cá nhân ta có bị hủy hoại cũng không sao, chỉ cần hàng ngàn hàng vạn người dân tránh được tai họa là được”. Cho nên Phu Tử có thể xả bỏ được những thứ hư huyễn bên ngoài để thành tựu lợi ích chân thật của nhân dân. Đây đều là biết nên tùy cơ ứng biến như thế nào. Cho nên học “Đệ Tử Quy”, mỗi 1 câu chúng ta cũng phải không ngừng nâng cao cảnh giới hướng lên trên.

Phần “bình đẳng yêu thương” ở phía trước chúng ta cũng đã học “Người có lỗi, chớ vạch trần. Việc riêng người, chớ nói truyền”. Từ nay về sau miệng của mỗi người đều dính chặt rồi, nhưng lúc nên nói thì vẫn phải nói. Chúng ta chỉ cần nắm vững 1 nguyên tắc là làm việc không được dựa trên cảm tính. Khi cùng nhau quyết định 1 số quyết sách quan trọng đối với đoàn thể thì nên nêu ra các tình huống để quyết sách này có thể thực hiện đúng. Đây cũng là hiểu được tùy cơ ứng biến. Khi chúng ta kiên trì cùng nhau hoàn thành sự việc này. Tin rằng với tấm lòng vì tập thể, với tâm chân thành thì dù đối phương có nói ra 1 số sai sót của họ thì họ cũng có thể tiếp nhận. Sau khi rời khỏi hội nghị tuyệt đối không được phê bình lẫn nhau nữa, hơn nữa sau khi rời khỏi chúng ta cũng phải dùng tâm bình thường. Lần sau bạn thấy họ thì đừng thấy ngài ngại, bạn ngài ngại thì họ cũng sẽ ngài ngại. Chúng ta phải để tâm bình tĩnh lại trước, đến lúc có đồ ăn, đồ uống thì trước tiên đưa cho ai? Chính là đưa cho họ. Họ sẽ cảm thấy bạn thật sự vì cái chung chứ không phải vì riêng tư mà xoi mói lỗi lầm của họ. Cho nên về mọi mặt chúng ta cũng phải biết chờ thời cơ hành động để chuyển hóa.

Trong phần “Ở nhà phải hiếu”, chúng ta cũng nói “Cha mẹ dạy, phải kính nghe. Cha mẹ trách, phải thừa nhận”, nhưng nếu lúc cha bạn cầm 1 cây gậy rất lớn thì phải làm sao? Chạy cho nhanh. “Gậy nhỏ thì chịu đòn, gậy lớn thì bỏ chạy”, đây đều là tùy cơ ứng biến.