Đệ Tử Quy & Tu Học Phật Pháp –  Tập 20B

Video Thumbnail

Giám định: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Chủ giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc
Giảng ngày 06/3 đến 13/3 năm 2005 Tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Tổng cộng 80 Tập (tách tập)

Cẩn dịch: Ban biên dịch Tịnh Không Pháp Ngữ
Giám định biên dịch: Vọng Tây Cư Sĩ

Mã AMTB: 51-118-0001 đến 51-118-0040

Đệ Tử Quy & Tu Học Phật Pháp –  Tập 20B

Trong những mối quan hệ nào phải thành thật giữ chữ tín? Chúng ta có thể quay trở về luân thường đại đạo. Quan hệ giữa cha con nhất định phải thành thật giữ chữ tín, nếu như bạn tùy tiện hứa với con cái, sau đó lại thất hứa, vậy thì địa vị của cha mẹ ở trong lòng con cái ngày một giảm xuống, cho nên lời nói phải đi đôi với việc làm.

Thời Xuân Thu có một câu chuyện như sau, một hôm vợ của Tăng Sâm phải ra ngoài đi chợ, con của bà kêu la đòi đi theo, bà liền nói: con đừng làm ồn nữa, không được đi theo mẹ, lát nữa mẹ về sẽ mổ heo cho con ăn. Con trai bà không làm ồn, cũng không đòi đi theo nữa. Sau đó khi bà từ chợ trở về nhà, nhìn thấy Tăng Sâm đang mài dao, bà rất lo lắng, chạy tới nói: thiếp chỉ nói giỡn để dỗ con thôi, chàng lại cho là thật? Tăng Sâm nói với vợ, nếu như nàng lừa con một lần, vậy thì có thể cả đời này con sẽ không tin lời nói của nàng nữa, cho nên vẫn là phải làm theo những gì nàng đã hứa. Bậc làm cha mẹ, “Việc không tốt, chớ dễ nhận. Nếu dễ nhận, tiến lui sai”. Lúc con người vui vẻ thường hay tùy tiện hứa hẹn, như vậy không thỏa đáng. Hoặc là nhiều người đang đánh mạt chược, lúc đang đánh mà con cái đòi cái gì đều nói: được được, cho con, đi đi! Sau đó con cái biết được, lúc đánh mạt chược là lúc xin xỏ tốt nhất. Điều này phải chú ý, nếu không con cái học được không phải là thành thật mà là quan sát sắc mặt. Mọi người có phát hiện ra ánh mắt của trẻ con bây giờ rất lợi hại không? Không tốt, không thành thật thì cuộc đời sẽ xảy ra rất nhiều vấn đề.

Chữ tín này, ngoài việc lời nói ra phải giữ chữ tín thì nó còn có một ý nghĩa khác. Ý nghĩa này không nói ra mà là để ở trong lòng, đó là tín nghĩa, tín nghĩa bao gồm đạo nghĩa, ân nghĩa, tình nghĩa. Mặc dù cha mẹ không nói với chúng ta rằng, “con phải hiếu thuận cha mẹ”, nhưng mà trong lòng chúng ta luôn nghĩ tới phải hiếu thuận cha mẹ. Giống như quan hệ vua tôi, quan hệ giữa lãnh đạo và cấp dưới, người lãnh đạo có nói với bạn rằng, “anh phải trung thành với tôi”, có nói như vậy không? Thường là không có. Hoặc là quan hệ vợ chồng, bạn có từng nói với chồng mình rằng, “anh không thể phản bội em không?”, cũng có người nói vậy. Đây là bổn phận làm người, đạo nghĩa làm người, mặc dù không nói ra thành lời, nhưng lúc nào cũng không dám quên. Giống như bạn bè với nhau, trong quá trình ở chung, họ có thể đã chở chúng ta một đoạn đường rất xa, lúc xuống xe, chúng ta rất cảm kích nói: cảm ơn, cảm ơn! Bạn bè sẽ nói: cảm ơn gì chứ, bạn bè với nhau không cần khách khí như vậy. Đạo nghĩa bạn bè luôn để ở trong lòng, không cần phải nói ra.

Chúng ta thấy rất nhiều người con hiếu thời xưa, họ đều ghi nhớ ân nghĩa, tình nghĩa này. Thời nhà Tống có một người đọc sách tên là Chu Thọ Xương, lúc ông bảy tuổi, mẹ của ông không phải là vợ cả mà là vợ lẽ, vợ cả của cha ông không thích mẹ ông, cho nên tìm cách ép mẹ ông tái giá, lúc ông bảy tuổi thì mẹ ông rời đi. Sau khi ông trưởng thành, trong lòng luôn nghĩ phải đón mẹ về phụng dưỡng, nhưng mà mãi vẫn chưa thực hiện được nguyện vọng. Tìm mẹ suốt năm mươi năm vẫn chưa tìm thấy, lúc đó ông đã làm chức quan khá lớn, nhưng mà trong lòng luôn nghĩ, một đời này không thể phụng dưỡng mẹ thì rất đáng tiếc. Ông hạ quyết tâm từ quan, nói với người nhà, lần này tôi ra ngoài tìm mẹ, nếu như không tìm thấy tôi sẽ không trở về. Ông đi một mạch về hướng Thiểm Tây để tìm.

Đi tới một nơi đột nhiên trời đổ mưa, vì trời mưa nên ông dừng lại tránh mưa, đúng lúc gặp được một số người nơi đó, thuận tiện hỏi họ có nhìn thấy người nào giống mẹ ông không? Thật may là mẹ ông sinh sống ở gần đó. Hiếu cảm động trời đất, tâm hiếu thảo của ông đã chiêu cảm trời đổ mưa, thành tựu nhân duyên của ông. Bởi vì mẹ ông tái giá, cho nên ông có rất nhiều người em nhỏ hơn mình, ông không chỉ đón mẹ về phụng dưỡng, mà còn đón toàn bộ em của mình về cùng hưởng niềm vui gia đình đoàn tụ. Qua đó chúng ta cũng cảm nhận được thái độ của người xưa đối với cha mẹ.

Trong Thi Kinh cũng có câu nói tới nỗi niềm nhớ thương cha mẹ, tình nghĩa đối với cha mẹ. Trong Chương Lục Nga có câu “Xanh tốt rau nga, nga hóa ra cao, thương thay cha mẹ, sinh ta khó nhọc”[1]. Thực ra đoạn này mặc dù nói tới thực vật, nhưng chủ yếu muốn nói, có một số thực vật gốc của chúng gắn liền với cha mẹ, đoàn kết cùng nhau, sinh sống cùng nhau; có một số thực vật thì tách ra. Người con hiếu thảo nhìn thấy loại thực vật gắn liền với cha mẹ, cùng nhau sinh trưởng với cây mẹ, thì cảm thấy giống như con cháu đời sau cùng sinh sống ở một nơi, họ nhìn thấy như vậy rất ngưỡng mộ, vì họ không làm được giống như cây này, ở bên cạnh bầu bạn cùng cha mẹ. Người con hiếu thảo thời xưa đến nhìn thấy thực vật cũng nhớ tới cha mẹ không còn để mà phụng dưỡng. Từ những câu thơ này, chúng ta có thể học tập theo tấm lòng của người xưa đối với cha mẹ.

Thời nhà Tống có một người đọc sách tên là Hoàng Đình Kiên, mặc dù chức quan của ông rất lớn, nhưng mà mỗi ngày trở về nhà, nhất định sẽ tự mình giúp mẹ rửa bô; cho dù là người hầu rất nhiều nhưng ông không muốn người khác làm. Chúng ta cũng có thể cảm nhận được, Hoàng Đình Kiên luôn nghĩ tới ân đức dạy dỗ của cha mẹ, nếu như mỗi ngày không giúp mẹ làm chuyện gì đó, hình như trong lòng cảm thấy không yên ổn, không thoải mái. Cho nên còn cha mẹ để phụng dưỡng, nội tâm rất yên ổn, còn cha mẹ để phụng dưỡng là phước báo lớn nhất.

Có một lần tôi xem ti vi, đúng lúc xem được chương trình phỏng vấn Hứa Hiệu Thuấn. Ông nói rằng đêm trước ngày 21 tháng 9 năm 1999 ông tới nơi sắp phát sinh động đất quay ngoại cảnh, ngày 20 tháng 9 đi quay ngoại cảnh, họ đi quay cảnh con dơi. Sau khi leo lên núi, là hướng dẫn viên địa phương dẫn họ lên núi, lên tới đỉnh núi vừa nhìn, vốn là nơi có rất nhiều dơi nhưng mà lúc đó lại không có con nào. Hướng dẫn viên địa phương này rất cảnh giác, cảm thấy chuyện này rất kì quái, liền mau chóng xuống núi. Lúc tai nạn sắp tới vạn vật đều cảnh giác được. Mỗi lần trải qua sóng thần, các nhà nghiên cứu đi quan sát phát hiện, không có bóng dáng một động vật hoang dã nào. Thực ra dục vọng của động vật rất ít, mỗi ngày chỉ cần ăn no là được, sẽ không nghĩ tới đi làm hại người khác, não của chúng tương đối tỉnh táo, khá nhanh nhạy khi tiếp nhận sóng dao động trong trời đất. Cho nên tất cả các động vật đều biết, chỉ có một loài động vật không biết, mọi người có biết là loài nào không? Lúc đó họ liền mau chóng xuống núi, nếu không sẽ gặp nguy hiểm, nhưng mà mới đi được nửa đường thì xảy ra động đất, có người đi cùng đã qua đời, ông thì bình yên vô sự. Trong buổi phỏng vấn đó, ông có nói một câu khiến cho tôi ấn tượng rất sâu sắc, ông nói nếu tôi có một ly nước để uống thì mẹ tôi nhất định có một chén cơm để ăn. Khi tôi nghe được câu này, tôi liền hiểu ra tại sao ông có thể thoát khỏi kiếp nạn, đó là nhờ vào tâm hiếu thảo của ông.

Năm nay Trung Quốc có chọn ra mười thanh niên xuất sắc nhất, trong đó có một người con hiếu thảo được chọn, em ấy tên là Điền Thế Quốc. Em ấy mới hơn ba mươi tuổi, bởi vì mẹ em bị bệnh Urê huyết, nhất định phải thay thận mới có thể kéo dài sanh mạng. Sau khi mẹ em bị bệnh, lo sợ liên lụy người nhà, nhốt mình trong phòng không chịu đi chữa bệnh. Em rất biết phương tiện thiện xảo, dùng một số phương pháp, cũng không nói cho mẹ biết là em đã đồng ý hiến thận cho mẹ, sau đó mẹ em đồng ý tiếp nhận thận hiến tặng, cũng thuận lợi khỏe mạnh trở lại. Hành động của em khiến cho rất nhiều người thân bạn bè cảm động, khi gặp em đều nói, năm nay cho dù bận rộn đến đâu, nhất định cũng sẽ về nhà thăm cha mẹ. Khi em ấy được chọn là một trong mười thanh niên xuất sắc, em nói rằng, những người khác rất có cống hiến với đất nước, tôi chỉ làm tròn bổn phận của một người con, việc nhỏ nhặt này còn không bằng một phần vạn ân đức mà mẹ dành cho chúng ta, tự em ấy cảm thấy hổ thẹn. Thực ra hành vi hiếu thảo của người con, cũng có thể tạo nên phong khí tốt đẹp cho toàn xã hội, thức tỉnh tâm hiếu thảo của nhiều người hơn, thái độ tri ân báo ân của nhiều người hơn. Người xưa biểu diễn nhiều vở kịch hay như vậy, chúng ta cũng phải để cho những vở kịch hay này không ngừng được biểu diễn trong gia đình, ngoài xã hội, tin tưởng rằng “Vua Thuấn là người nào, ta là người nào, người làm được thì ta cũng làm được”.

Ngoài mối quan hệ ngũ luân, còn có một mối quan hệ rất quan trọng, đó là quan hệ thầy trò. Thời xưa rất tôn kính lão sư, Một ngày làm thầy, cả đời làm cha”, thế nên quan hệ thầy trò cũng quan trọng giống như quan hệ cha con vậy. Thời xưa đối với tang lễ của lão sư đều để tang ba năm, giống để tang cha mẹ. Một đời Khổng lão phu tử dạy học, lúc ngài qua đời, học trò cảm niệm ân đức của ngài, cũng dựng một căn nhà bên cạnh mộ lão sư, thủ hiếu ba năm. Trong đó có một người học trò để tang sáu năm, đó là Tử Cống, bởi vì lúc Phu tử qua đời, Tử Cống còn đang làm kinh doanh ở đất nước khác, đợi đến khi ông trở về thì tang lễ đã kết thúc. Tử Cống cảm thấy vô cùng hối tiếc, sau khi để tang ba năm, ông tự mình tăng thêm ba năm, để tang sáu năm. Đương nhiên sự tôn kính đối với lão sư cũng được thể hiện trong cuộc sống, trong đối nhân xử thế, lúc nào cũng không quên lời dạy bảo của thầy.

Lễ bái sư thời xưa ở trong trường tư thục, là cha đưa con tới hành lễ bái sư. Lúc đầu cha đứng ở phía trước, con đứng ở phía sau, trước tiên là hành lễ ba quỳ chín khấu đầu với tượng Khổng lão phu tử. Sau khi lễ xong, mời thầy lên bục ngồi, vẫn là cha đứng trước con đứng sau, hành lễ ba quỳ chín khấu đầu với thầy. Đối với một đứa trẻ dưới năm sáu tuổi, ai là người chúng tôn kính nhất? Từ trong lời nói mà chúng ta hiểu được tâm lý của chúng. Đứa trẻ dưới năm sáu tuổi, mở miệng đều nói, Ba con nói, Mẹ con nói. Sau khi đi học thì trở thành thế nào? Thầy cô con nói sau khi vào cấp hai thì sao? Bạn học của con nói. Cho nên trong mỗi một khoảng thời gian, chúng ta làm tốt bổn phận của cha mẹ, bổn phận của thầy cô, vậy thì thái độ làm người đúng đắn của chúng sẽ được hình thành. Chúng tôn kính Cha mình như vậy, mà Cha mình lại hành lễ ba quỳ chín khấu đầu với Thầy, chúng rất tôn trọng Cha mình, Cha mình lại tôn trọng lão sư như vậy. Cho nên sau khi hành lễ xong sẽ để lại ấn tượng sâu sắc gì cho con trẻ? Tâm cung kính của chúng đối với lão sư đạt đến mức cao nhất.

muốn có thành tựu trong học vấn, nhất định phải cầu từ tâm thành kính, Ấn Tổ có một câu dạy bảo rất quan trọng: “một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Lễ nghi thời xưa có ảnh hưởng sâu rộng, chỉ là chúng ta hiện nay chỉ nhìn thấy vẻ bề ngoài, không hiểu được ý nghĩa và bản chất của những lễ nghi này. Trong quá trình tôi đi dạy học, năm đầu tiên chủ nhiệm lớp, có một cụ bà khoảng sáu bảy mươi tuổi, cháu của cụ quên mang đồ, cụ giúp cháu mang tới. Làm như vậy có đúng không? Có nên giúp con trẻ mang tới không? Không được! Chúng phải tự mình chịu trách nhiệm mới đúng. Nhưng mà cụ bà quá thương cháu, cũng chưa từng nghe qua diễn giảng về giáo dục, thông thường rất khó mà làm được. Bởi vì lớp tôi ở lầu 4, cụ leo tới lầu 4 đã thở muốn không ra hơi, đang đứng thở dốc thì gặp được tôi. Ngay lập tức cụ cúi người 90 độ chào tôi: Chào thầy Thái! Cụ cúi người chào như vậy để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng tôi, từ đó hai chữ Thầy giáo đè nặng trên vai tôi, cho nên tôi bị gù là có lý do. Một cụ bà thành kính như vậy, lại hành lễ với tôi, tôi phải xứng đáng với sự cúi chào của cụ.

Ngay lúc đó tôi thể hội sâu sắc câu “trách nhiệm nặng nề, đường đạo xa xôi”, không dạy dỗ tốt thì có lỗi với con cháu đời sau của người ta. Đột nhiên tôi cảm nhận được, lễ bái sư này, lão sư thời xưa ngồi ở đó nhận lễ ba quỳ chín khấu đầu sẽ có cảm nhận như thế nào? Như ngồi bàn chông. Tại sao vậy? Một người đọc sách, đến suy nghĩ lợi dụng người khác cũng không có, huống chi lại nhận đại lễ lớn như vậy thì càng hết sức lo sợ. Tại sao phải làm như vậy? Chủ yếu là thành tựu tâm cung kính của học trò. Chúng ta thể hội được điểm này thì cũng hiểu được làm lão sư thời xưa thật không đơn giản. Tiếp nhận lễ này xong, lúc nào cũng phải nghĩ rằng, nếu như không dạy dỗ tốt con cái của người ta thì làm sao xứng đáng với sự hành lễ của cha học trò dành cho mình? Chúng ta cũng có thể thông qua sự đối xử giữa thầy và trò mà hiểu được tình nghĩa thầy trò thời xưa, đạo nghĩa, ân nghĩa mà lão sư dành cho học trò, cũng có thể thấy được ân nghĩa mà học trò dành cho lão sư.

Thời nhà Minh có một vị trung thần tên là Tả Trung Nghị, Tả Trung Nghị làm quan chủ khảo, người đọc sách từ khắp nơi đến để chuẩn bị tham gia kì thi tiến sĩ. Tả Trung Nghị luôn suy nghĩ làm sao tiến cử người tài cho đất nước, cho nên đêm trước hôm thi, ông cải trang đi tuần tra, mặc quần áo bá tánh thường dân, đến một số chùa chiền lớn gần kinh thành để tìm hiền tài. Tại sao lại không đi tìm ở nhà khách vậy? Người có tiền ở nhà khách thì có thể thi đậu không? Rất khó, bởi vì ham chơi lười biếng, người đọc sách trước đây đều rất khắc khổ, thì mới có được thành tựu về học vấn. Cho nên, ngài Tả Trung Nghị liền đến miếu chùa để xem xét, đột nhiên ông đi đến bên một người thư sinh, người này đã viết xong một bài văn, vì quá mệt liền ngủ quên mất. Tả Công đọc xong bài văn của thư sinh này viết, liền cảm nhận sâu sắc được tấm lòng trung thành của anh đối với nước nhà, sứ mạng đối với nhân dân. Tả Công đọc xong rất vui mừng, liền lấy áo khoác của mình đắp lên người thanh niên, người thanh niên này là Sử Khả Pháp.

Sau này chính thức thi cử, khi đọc bài thi, Tả Công vừa nhìn thấy bài thi của Sử Khả Pháp, lập tức biết được là do ai viết. Tại sao ông lại lợi hại như vậy? Bởi vì văn chương được bộc lộ từ nội tâm của một người, từ bài văn cũng có thể cảm nhận được khí tiết và chí hướng của người viết. Vì vậy, ông đã chấm Sử Khả Pháp đứng đầu, sau này Sử Khả Pháp đỗ trạng nguyên. Sau khi đỗ trạng nguyên, các học trò có tên trên bảng vàng đều muốn đến nhận quan chủ khảo làm thầy, hôm đó Sử Khả Pháp đến thăm lão sư và sư mẫu. Vừa bước vào cửa, Tả Công liền nói với vợ của mình: “Sau này người kế thừa sự nghiệp của ta không phải con trai ta, mà là người học trò này”. Cho nên, người đọc sách không lo lắng bản thân không có con cái, mà càng lo sợ rằng sẽ không thể truyền thừa đạo đức học vấn của Thánh Hiền. Bản thân không có con cái, chỉ ảnh hưởng đến một nhà, còn đạo đức học vấn mà không có người kế thừa, sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều con cháu đời sau. Trong lòng họ luôn nghĩ tới làm sao tiến cử hiền tài cho đất nước.

Tại sao tôi lại có cảm nhận sâu sắc như vậy? Đó là bởi vì trong khoảng thời gian này tôi gặp được cô Dương, gặp được chú Lư, gặp được rất nhiều trưởng bối, mọi người đều vô tư đem trí tuệ của mình dạy lại cho tôi, bởi vì mọi người luôn nghĩ không thể để học vấn của Thánh Hiền bị đứt đoạn được. Được rồi, tiết học này chúng ta nói tới đây thôi, cảm ơn!

[1] Nga là một loại rau tốt đẹp, cao là một loại cỏ xấu. Ý nói: cha mẹ sinh ta, mong ta báo đáp lại, nay cha mẹ mất sớm, ta không đền đáp được, ta hoá vô dụng đối với các người, như cỏ cao kia.