TỔNG CỘNG 80 TẬP (tách tập)
Đệ Tử Quy & Tu Học Phật Pháp – Tập 15A
Các vị pháp sư tôn kính, các vị đồng tu, xin chào mọi người!
A Di Đà Phật!
Chúng ta vừa nhắc đến: “Tiền của nhẹ, oán nào sanh. Lời nhường nhịn, tức giận mất”
Hôm qua từ trên văn tự chúng ta cũng đã hiểu được làm thế nào để hóa giải sân hận, oán giận. Dùng phương pháp gì? Dùng phương pháp khoan dung. Trong “Cách Ngôn Liên Bích” có câu nói rằng “Quẻ khiêm sáu hào đều cát tường”. Khiêm tốn đi đến đâu cũng đều đạt được lợi ích rất lớn, mọi việc đều thuận lợi, cho nên sáu hào đều cát tường mà “chữ THỨ là phẩm đức nên hành trì suốt đời”. Từng có học trò hỏi Khổng Tử rằng có chữ nào có thể phụng hành cả đời không? Chính là chữ “THỨ” này. Bạn có thể đứng ở góc độ của đối phương để thấu hiểu chỗ khó của họ, thậm chí thể hội được nguyên nhân tại sao họ lại gây ra những hành vi không tốt đó. Đừng tức giận trên quả mà chúng ta phải tìm hiểu trên nhân. Thường khi bạn hiểu được nguyên nhân của họ thì cơn giận của bạn đã giảm hơn một nửa rồi, gọi là “người đáng ghét nhất định có chỗ đáng thương”.
Hôm qua cũng có nhắc đến chuyện một em học trò của tôi thường đánh người, mắng người, cho nên quan hệ với mọi người không tốt, rất nhiều thầy cô nhìn thấy cũng cảm thấy em rất khó quản giáo. Chúng tôi hiểu được hoàn cảnh gia đình của em nên cơn giận liền tiêu tan hết. Cha em căn bản là không trở về nhà, mẹ em cũng không biết đã đi đâu, sau đó cha em lại lấy vợ người Thái Lan. Cô ấy căn bản không cách nào dạy dỗ con trẻ. Quả thực chúng ta phải dùng một tấm lòng khoan thứ, bao dung, thậm chí là dùng tâm giúp đỡ, tâm thành tựu thì liền có thể chuyển tức giận thành tha thứ. Đương nhiên, trong quá trình này trước tiên phải từ giới được định, từ định khai huệ thì tâm từ bi của chúng ta sẽ không khó hiển lộ, nhưng trong quá trình này trước tiên cũng phải điều phục được cảm xúc, tức giận. Hôm qua, chúng ta cũng đã hiểu, một câu vạn đức hồng danh là phương pháp hay nhất, nhưng tuyệt đối không phải lúc xảy ra xung đột lời nói với người thì mới lấy câu vạn đức hồng danh này ra niệm. Phải niệm khi nào? Chúng ta nên nghe theo lời dạy bảo của Đại Sư Ấn Quang là đi đứng nằm ngồi, mặc áo ăn cơm, từ sáng đến tối, từ tối đến sáng một câu Phật hiệu không cho gián đoạn. Đây là phương pháp rất tuyệt diệu, rất quan trọng. Rất nhiều bạn nói rằng “thầy Thái à! tại sao thầy giảng bài không căng thẳng vậy?”. Tôi nói là do niệm Phật, khi căng thẳng thì như thế nào? Nhanh chóng niệm A Di Đà Phật giúp cảm xúc của mình ổn định lại.
Tháng một năm kia, lần đầu tiên tôi diễn giảng ở Hải Khẩu. Kết quả là đối diện với hơn ba trăm thầy cô giáo, tôi cũng rất căng thẳng, lại sợ đến không ngủ được. Bởi vì tôi thi đại học đã uống hai viên thuốc an thần cũng không ngủ được, kết quả hôm sau thuốc phát huy tác dụng nên thi một cách mơ mơ hồ hồ, “một miếng ăn, một ngụm nước…”. Tôi sợ tình huống này sẽ tái diễn nên tôi đến trước Khổng Lão Phu Tử lễ ngài ba lạy: “Không Phu Tử à, xin ngài phù hộ cho con hôm nay ngủ thật ngon”. Kết quả thực sự là ngủ một mạch đến sáng. Ngồi ở phía dưới bục giảng thì niệm Phật suốt, lên bục giảng có hơn 300 gương mặt xa lạ tôi cũng luôn nghĩ đây đều là cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai nên vô cùng thân thiết, cho nên cũng rất tự nhiên mới có thể diễn giảng thoải mái. Do vậy trì câu Phật hiệu có lợi ích rất lớn. Trong buổi diễn giảng lần đầu tiên đó cũng là nhân duyên rất quan trọng, sau này các thầy cô trong trung tâm của chúng tôi phần lớn đều là những người bạn kết giao trong buổi diễn giảng đó.
Cho nên giảng bài có thể dùng cách niệm Phật. Khi cơn tức giận sắp bộc phát cũng có thể dùng cách niệm Phật để chế phục nó, nhưng công phu này nhất định phải rèn luyện trong những lúc bình thường. Rất nhiều bạn bè đều hỏi tôi rằng “thầy niệm Phật vào lúc nào vậy?”. Chúng tôi thường phải đi diễn giảng, một ngày phải dành một, hai giờ cố định để niệm Phật là điều rất khó, đều tranh thủ lúc nào vậy? Lúc nấu cơm thì A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, lúc giặt quần áo thì A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, đều có thể có nhịp điệu. Lúc đi bộ thông thường là hai tiếng một bước, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, chia thành những phần nhỏ như vậy. Cho nên đã là công việc thì phải tìm mọi cách để thành công chứ không phải tìm lý do để thất bại. Có người thường nói việc này tôi không có thời gian, việc kia tôi không có thời gian, kỳ thực thời gian là do con người tìm ra. Khi chúng ta ngồi xuống, người khác nói chuyện thị phi nhân ngã mà không quấy rầy đến bạn thì bạn hãy nhanh chóng tu hành, niệm Phật. Khi đi đứng nằm ngồi thường niệm Phật thì tâm của chúng ta sẽ rất bình tĩnh, cũng giống như một hồ nước vậy, khi bạn có tâm được mất, có tâm sân giận, ý niệm vừa khởi lên thì cũng giống như mặt hồ nổi sóng vậy. Bạn vừa nhìn liền biết được, đột nhiên vọng tâm của mình vừa khởi lên thì lập tức phải cảnh giác, lúc này không sợ niệm khởi chỉ sợ giác chậm, hãy nhanh chóng đè phục nó xuống. Năng lực giác chiếu này có được là nhờ công phu dụng công lúc bình thường, cho nên một câu Phật hiệu cũng có thể làm được “lời nhường nhịn, tức giận mất”.
Chúng ta học tập Thánh giáo cũng phải thông qua những quá trình khảo nghiệm và nâng cao. Sư trưởng cũng thường nói học Phật quan trọng nhất là phải nâng cao cảnh giới của bản thân. Chúng ta học “Đệ Tử Quy” cũng phải không ngừng nâng cao cảnh giới thực tiễn của bản thân. Trong “Luận Ngữ” Khổng Lão Phu Tử có nhắc đến “người có thể cùng nhau học tập nhưng chưa chắc thực hành giống nhau, có thể thực hành giống nhau nhưng chưa chắc có sức định giống nhau, có sức định giống nhau nhưng chưa chắc có thể tùy cơ ứng biến như nhau”. Câu này đã nói rõ học vấn có bốn cảnh giới. Cảnh giới thứ nhất là học tập; cảnh giới thứ hai, chữ “thích đạo” nghĩa là thực hành, đi làm; cảnh giới thứ ba chính là trong khi làm lúc nào cũng đều có thể đứng vững kiên định, như như bất động, đây là định công. Đây vẫn chưa phải là cảnh giới cao nhất, cảnh giới cao nhất là gì? Hiểu được tùy cơ ứng biến, khai trí huệ rồi, không phải học thành chết cứng, học thành con mọt sách, như vậy cũng không tốt.
Nhân duyên lần này của chúng ta là có thể cùng nhau học tập, mọi người cùng nhau học tập. Chúng tôi cũng phát hiện thấy mỗi vị đồng tu đều rất dụng công, học xong liền làm ngay, đây gọi là thực hành. Chúng ta có rất nhiều bạn học cùng cấp hai, cấp ba, đại học. Sau khi tốt nghiệp, mặc dù nhận nền giáo dục giống nhau nhưng tốt nghiệp xong ra ngoài xã hội liệu có đi cùng đường không? Tất cả đều khác nhau, cho nên đó chỉ là trạng thái học cùng, không cùng cảnh giới thực hành. Thời xưa có hai nhà binh pháp là Bàng Quyên và Tôn Tẫn, hai người họ đều cùng theo học một vị thầy, học xong kết quả có giống nhau không? Hoàn toàn khác nhau, cho nên học tập quan trọng nhất là giữ tâm đúng đắn mới được, nếu không sẽ không học được. Hai người cùng một thầy dạy nhưng kết quả hai người ra ngoài phong cách hoàn toàn khác nhau, đến cuối cùng còn tàn sát lẫn nhau.
“Có thể thực hành giống nhau nhưng chưa chắc có sức định giống nhau”. Mặc dù người đọc sách nhiều như vậy, niệm niệm đều nói mình phải làm học trò tốt của Khổng Phu Tử, phải làm học trò tốt của Thánh Hiền. Xem ra đều là đi trên đại đạo của Thánh Hiền, nhưng chỉ cần xuất hiện những việc liên quan đến lợi ích của họ, liên quan đến sự tồn vong sinh mạng của họ thì chưa chắc họ có thể giữ vững được chánh đạo. Cho nên trong “Đạo Đức Kinh” Lão Tử có một đoạn giáo huấn như vầy: “quốc gia hỗn loạn” mới biết ai là trung thần. Khi đất nước không có vấn đề gì thì mọi người dường như đều là trung thần, nhưng khi thật sự xảy ra vấn đề thì sẽ biết được ai có thể đứng vững. “Lục thân bất hòa thì sẽ có con hiếu từ”, kỳ thực mặc dù xã hội hiện nay của chúng ta đang loạn nhưng bạn có thể thật sự nhìn ra được ai là con hiếu thật sự. Trong phong khí như vậy họ vẫn có thể đứng vững vàng, giữ được bổn phận làm người thì cảnh giới của họ đã đạt đến trạng thái “định” này rồi.
Thời nhà Đường xuất hiện một tai họa rất lớn chính là loạn An Sử. Lúc đó, do Đường Huyền Tông sủng ái Dương Quý Phi nên xao nhãng việc triều chính. Kết quả An Lộc Sơn bắt đầu làm loạn, chiếm giữ toàn bộ đất nước một cách nhanh chóng, nội trong mấy tháng đã đánh chiếm một nửa giang sơn. Tất cả những người xuất thân khoa cử, những người đọc sách Thánh Hiền đều đi đâu? Tất cả đều giơ cờ trắng đầu hàng, may mắn có hai vị trung thần là Trương Tuần, Từ Viễn sống chết giữ lấy thành Tuy Dương, chết cũng cố sức chống lại nên đội quân của An Lộc Sơn không đánh lại được, nhờ vậy mới giúp quân đội của nhà Đường được tạm nghỉ, được điều chỉnh lại, chuẩn bị cho cuộc chiến khác. Nếu như không có Trương Tuần, Từ Viễn thì nhà Đường có thể đã bị đánh bại rồi. Cho nên các vị đồng tu, cuộc đời của bạn nếu có thể có những người bạn tri kỷ như vậy thì khi bạn gặp tai nạn họ có thể thật sự giúp bạn hóa giải. Sau đó An Lộc Sơn bắt được Trương Tuần, Từ Viễn và tra tấn họ rất dã man bắt họ đầu hàng, kết quả họ không chịu còn chửi mắng An Lộc Sơn. An Lộc Sơn đã nhổ răng của họ nhưng họ vẫn ngậm máu chửi mắng. Chúng tôi nghĩ lúc đó hai chân của An Lộc Sơn cũng đều phát run, đối trước một tinh thần bất khuất như vậy thì ông ta cũng cảm thấy rất hổ thẹn. Vâng, đây là có sức định giống nhau.
Cao hơn nữa chính là hiểu được tùy cơ ứng biến. Thời xưa có một người con hiếu tên là Mao Nghĩa. Bởi vì lúc đó là thời loạn thế nên phần lớn người đọc sách đều không muốn ra làm quan, tự mình lo tu dưỡng bản thân, cố gắng dạy học, không ham muốn công danh lợi lộc, nhưng Mao Nghĩa đã tiếp nhận một chức quan, muốn ra làm quan. Một số người bạn học tốt của ông cảm thấy tại sao ông lại làm như vậy nên xem thường ông. Bởi vì khi Mao Nghĩa tiếp nhận chức vị còn nở một nụ cười, cho nên những người bạn này dần dần đã rời xa ông. Sau đó làm quan được một thời gian thì mẹ của Mao Nghĩa vãng sanh, Mao Nghĩa liền từ quan, từ đó không ra làm quan nữa. Kết quả trong số những người bạn tốt của ông cũng có một người đọc sách rất nổi tiếng tên là Trương Phụng. Ông thấy Mao Nghĩa sau khi từ quan trở về trong lòng rất hổ thẹn. Ông nói nụ cười lúc đầu của Mao Nghĩa là cười vì ai? Ta bị đói không sao cả nhưng làm sao có thể để mẹ ta bị đói được. Ông vì phụng dưỡng mẹ nên tâm sanh hoan hỷ, đến khi mẹ ông vãng sanh thì ông muốn giữ khí tiết nên không muốn ra làm quan nữa, cho nên đây là tùy cơ ứng biến.
Chúng ta học “Đệ Tử Quy” cũng phải từ chỗ định mà đi đến chỗ tùy cơ ứng biến, ví dụ “tiền của nhẹ, oán nào sanh”. Đối với anh em chúng ta có nên “em trai à, anh cho em tất cả tài sản đấy”? Chúng ta cũng phải xem tình hình. Khi em trai vẫn chưa trưởng thành, rất nhiều đức hạnh còn chưa hình thành, bạn cho họ tiền thì họ sẽ tiêu hết. Do vậy chúng ta học học vấn Thánh Hiền vẫn phải có một tư tưởng cốt lõi là niệm niệm suy nghĩ cho người thì lúc này bạn sẽ biết tùy cơ ứng biến. Bạn nên nói rõ với họ “em lo cho cuộc sống và gia đình ổn thỏa rồi thì anh nhất định sẽ cho em những tài sản này”. Bạn phải hướng dẫn họ, phải giúp đỡ họ, nếu không họ sẽ sa ngã.
Tiếp theo là “lời nhường nhịn, tức giận mất”. Lời nói khi nào phải nhẫn nhịn? Khi có oán thù thì chúng ta phải nhẫn, sau đó lùi lại để cảm hóa đối phương. Phải nhẫn nhịn, nhưng khi đối diện với việc chung, quy tắc đạo đức chung, lúc nên nói thì bạn cũng phải nói, nếu không toàn bộ quần chúng đều không có quy tắc đạo đức chung. Chúng ta “lời nhường nhịn” lại biến thành nể quá hóa hỏng. Khi tôi ngồi trên xe buýt thường nhìn thấy có người hút thuốc. Bạn xem trên xe đều viết gì vậy? “Cấm hút thuốc”, nhưng họ vẫn hút, cho nên toàn bộ xã hội không có đạo lý công bằng chánh nghĩa nữa. Lúc này chúng ta nên chủ động khuyên can, nhưng khi khuyên can chúng ta phải nhớ “cha mẹ lỗi, khuyên thay đổi”, sau đó khuyên như thế nào? “Mặt ta vui, lời ta dịu”. Nếu bạn đối với họ rất hung dữ thì có thể hôm sau trên báo sẽ có một bài là “hôm qua trên xe buýt đã xảy ra đánh nhau”, vậy thì không tốt.
Có một lần đúng lúc nhìn thấy một người nam đang hút thuốc, tôi liền đi đến nói rằng “xin lỗi, anh à, tôi bị bệnh suyễn, anh có thể đừng hút thuốc được không?”. Tôi có bị bệnh suyễn không? Đây gọi là phương tiện nói dối giúp người khác có lối thoát, đúng không? Cho nên có đạo lý nhưng vẫn phải khoan thứ cho người. Tôi nói tôi bị bệnh suyễn anh có thể đừng hút thuốc không? Tôi còn mỉm cười nói với anh ấy. Kết quả có thể là chưa có ai từng khuyên anh ấy nên sự khuyên can bất ngờ này khiến anh ấy lúng túng không biết làm sao, vừa muốn mắng tôi lại không biết mắng như thế nào, cho nên lẩm bẩm không rõ như vậy, sắc mặt cũng không tốt. Lúc này chúng ta phải có định công, tiếp tục nhìn anh ấy mỉm cười sau đó dần dần quay đi tiếp tục bám vào móc treo. Khi bám vào móc treo chúng tôi nghĩ tất cả chúng sanh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai, chúng tôi phải nhanh chóng niệm Phật hồi hướng cho anh ấy, đánh thức thiện căn của anh ấy. Tôi liền ở đó nhắm mắt lại niệm Phật, A Di Đà Phật, cứ niệm như vậy, một lát sau tôi ngửi một chút thì không còn mùi thuốc nữa. Sau đó tôi xuống xe, sau khi xuống xe, hai vị thầy cùng đi nói với tôi rằng “người đàn ông đó nhìn thầy hai lần”. Anh ấy đứng đó nhìn tôi một cái, rồi lại nhìn tôi một cái. Lúc này chúng tôi rất điềm tĩnh nên anh ấy sanh tâm hổ thẹn, chúng tôi lại không phải cố tình gây xung đột với anh ấy để anh ấy có không gian phản tỉnh. Cho nên đối với việc đạo nghĩa chung chúng ta vẫn phải bênh vực lẽ phải, chú ý thái độ là được.
Sau này các thầy cô của chúng tôi nghe xong, họ ngồi xe buýt thường hay nghe thấy một câu là “Anh à, xin lỗi tôi bị bệnh suyễn”. Đúng lúc có một cô giáo, cô ấy khuyên người đầu tiên, người này liền dập thuốc đi. Kết quả có một người nữa lên xe lại hút thuốc, cô ấy lại đi đến nói với họ rằng “tôi bị bệnh suyễn anh có thể đừng hút thuốc được không ạ?”. Kết quả lại có một người nữa lên xe đang hút thuốc. Cô ấy đột nhiên cảm thấy có phải Phật Bồ Tát muốn thử xem cô ấy có thật tâm hay không? Kết quả đã khuyên đến người thứ năm. Khi cô ấy đang khuyên người thứ năm thì đột nhiên người thứ nhất liền nói “đừng hút thuốc nữa”. Cho nên chúng ta muốn tạo dựng đạo lý công bằng chánh nghĩa thì tự nhiên sẽ có một sức mạnh đoàn thể. Đây chính là giáo dục xã hội, dần dần con người sẽ sống có quy củ. Cho nên lúc này chúng ta cũng phải tùy cơ ứng biến. Phía sau mỗi câu của “Đệ Tử Quy” chúng ta cũng phải học tùy cơ ứng biến.
Cho nên lễ là gốc của nhà Nho, giới là gốc của nhà Phật. Giới cũng có khai, giá, trì, phạm. “Đệ Tử Quy” cũng có khai, giá, trì, phạm, nhưng trong câu giáo huấn này chúng ta nhìn thấy chữ “chưa chắc, chưa chắc, chưa chắc”, nhưng phía trước lại có chữ “có thể, có thể, có thể”. Làm sao khiến những cảnh giới này không ngừng nâng cao? Nó có một chữ mấu chốt chính là chữ “học” ở phía trước. “Hiếu học gần với trí”, chỉ cần chịu học thì nhất định có thể không ngừng nâng cao cảnh giới, mà sự hiếu học này còn phải khéo học. Khéo ở chỗ quan sát người khác rốt cuộc làm việc viên mãn như thế nào? Việc này chúng ta cũng phải khéo quan sát mới được, cho nên lúc nào chúng ta cũng đều đang làm “Thiện Tài Đồng Tử năm mươi ba lần tham vấn”. Chúng ta nắm vững một nguyên tắc là “Thấy người tốt, nên sửa mình. Dù còn xa, cũng dần kịp. Thấy người xấu, tự kiểm điểm. Có thì sửa, không cảnh giác”, hơn nữa đối mặt với người xấu chúng ta không những không học hành vi của họ mà phải tìm ra nguyên nhân xấu ác của họ, chúng ta tùy duyên tùy sức hướng dẫn họ, giúp đỡ họ, khiến họ chuyển biến, sửa đổi từ nhân ác. Chúng ta xem câu kinh văn tiếp theo, mời cùng đọc:
“Hoặc ăn uống, hoặc đi đứng. Người lớn trước, người nhỏ sau. Lớn gọi người, liền gọi thay. Người không có, mình làm thay”
Ăn uống, ngồi đi đều là những việc thường xảy ra trong cuộc sống của chúng ta. Khi chúng ta có đồ ăn ngon thì nhất định phải để người lớn ăn trước. Mấy chục năm về trước, khi ăn cơm nhất định phải đợi ông bà nội, phải đợi cha trở về, vì sao vậy? Bởi vì kế sinh nhai của gia đình đều là thành quả lao động vất vả của cha. Phận làm con phải tôn kính, phải cảm ơn công sức của cha, đương nhiên phải mời cha ăn trước. Do vậy trong nghi lễ này mọi lúc đều là nâng cao tâm hiếu và tâm cung kính của con người. Hiện nay lấy đồ ăn ra để ai ăn trước? Trẻ nhỏ ngồi đó còn chưa cầm đũa đã lấy tay bốc ăn rồi, cho nên đã không nắm bắt tốt cơ hội giáo dục này.
Chúng ta dùng kinh điển giáo dục trẻ nhỏ thì chúng sẽ hiểu được đồ ăn phải dâng cho người lớn trước. Sau đó khi ngồi vào vị trí, chữ ngồi đi này cũng phải dạy trẻ vị trí khi ăn cơm nên ngồi như thế nào. Vị trí chủ tọa nhất định là hướng đối diện với cửa ra vào. Bởi vì vị trí chủ tọa ngồi ở đó thì họ có thể nắm bắt toàn bộ tình hình phòng ăn hoặc là không gian nơi đó, cho nên phải để vị trí chủ tọa cho người lớn ngồi, hậu bối chúng ta cố gắng nên ngồi ở đâu? Ngồi ở bên cửa, thường khi có việc gì cần xử lý hoặc cần bưng đồ ăn. Chúng ta có thể ngồi ở đó. Trẻ nhỏ học rồi thì nên làm ngay, thầy cô còn nói với chúng nếu chiếc bàn này có đường vân, từng đường vân đó không được chỉ thẳng vào người chủ tọa, như vậy là không lễ phép. Đúng lúc có một lần tôi cùng ăn cơm với các em học sinh. Tôi vừa ngồi xuống thì chúng lập tức liền xoay bàn. Chúng nói không thể để những đường vân này chỉ thẳng vào thầy Thái được, chúng còn chuyển nó đi. Ở những chỗ vi tế như vậy mà trẻ đều đề khởi được sự cung kính thì chúng có thể bình tĩnh khi làm những việc lớn. Tăng trưởng thiện căn của trẻ từ những chỗ nhỏ này là điều rất quan trọng.
Có một cô giáo sau khi học xong trở về đều vấn an mẹ chồng cô. Khi vấn an cô đều cúi người, lúc ăn cơm cô cũng chủ động gắp thức ăn cho mẹ chồng ăn. Có một lần đúng lúc mẹ chồng muốn phàn nàn một chút thì vừa hay cô gắp thức ăn qua cho bà, lời của mẹ chồng cô đột nhiên dừng lại ở trong miệng, sau đó bà nói tiếp một câu “con học rất tốt”. Do vậy cung kính có thể hóa giải được rất nhiều những xung đột nhỏ giữa người với người.

