Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 7B


Video Thumbnail

LIỄU PHÀM TỨ HUẤN GIẢNG GIẢI

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng ngày: 16-20/4/2001
Giảng tại: Đài Truyền Hình Phượng Hoàng – Thâm Quyến – Trung Quốc
Tổng cộng 20 Tập.

Chuyển ngữ: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Mã AMTB: 19-016-0001 đến 19-016-0020

Liễu Phàm Tứ Huấn –  Tập 7B

Chúng ta xem tiếp điều thứ hai.

Thứ hai là phải phát tâm kính sợ.

Biết sợ hãi, biết sợ mới có thể sanh tâm thành kính.

Trời đất ở trên soi thấu, khó lừa dối được quỷ thần. Dù người đời không thấy tội lỗi của chúng ta nhưng thiên địa quỷ thần lại thấy tường tận rõ ràng. Tội nặng sẽ rước lấy mọi tai họa, tội nhẹ thì bị tổn giảm phước phần hiện có, ta làm sao không lo sợ cho được?

“Úy” là sợ, sợ hãi, trong này cũng bao hàm ý nghĩa cung kính. “Úy” thường dùng kèm với “kính”, là “kính sợ”. Thời xưa con em đối với cha mẹ tôn trưởng, học trò đối với thầy đều có tâm kính sợ, vừa yêu kính vừa sợ hãi. Nếu không có tâm sợ hãi, lại không biết hổ thẹn, chư vị thử nghĩ xem, họ còn việc xấu gì mà không dám làm? Trong xã hội hiện nay, người biết hổ thẹn rất ít, người biết yêu kính, sợ hãi cũng rất ít, nguyên nhân là gì? Nguyên nhân là do không được dạy dỗ tốt. Con người không phải thánh hiền, không phải Phật, Bồ-tát tái lai, vì thế giáo dục quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Hiểu được đạo lý này, hiểu được phương pháp này, đích thực chỉ có các bậc cổ thánh tiên hiền. Trong Lễ Ký, Học Ký chúng ta đọc có câu: “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”. Lại xem trong lịch sử, từ xưa đến nay khi thành lập một chính quyền, hình thành một triều đại, không quá 5 năm thì quốc gia nhất định sẽ chế định lễ nhạc, như vậy công tác giáo hóa nhân dân đã hoàn thành rồi. Cho nên, thời gian loạn lạc thay đổi triều đại rất ngắn, họ phải nhanh chóng khôi phục lại trật tự. Chỉ có thời đại này của chúng ta, người thời đại này rất đáng thương, rất khổ! Sau khi Mãn Thanh diệt vong cho đến nay đều không chế định lễ nhạc. Lễ nhạc chưa hề được ban bố, lịch sử trong tương lai gọi thời đại này là “thời loạn”, đây là một thời kỳ có thời gian động loạn dài nhất trong lịch sử. Con người không biết làm thế nào để sinh sống, để qua lại với nhau.

Trước đây tôi ở Đài Loan, có người hỏi tôi, thông thường ở Đài Loan khi cha mẹ qua đời, trong tang lễ con cái có mặc hiếu phục, có người mặc đồ tang bằng vải gai, có người mặc đồ Tây màu đen. Các vị đồng tu thấy vậy đến hỏi tôi, họ nói: “Điều này có hợp lễ hay không?” Tôi nói: Từ khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập đến nay chưa có ban bố lễ nhạc, họ mặc đồ tang bằng vải gai là dùng lễ thời nhà Thanh, còn họ mặc y phục màu đen là dùng lễ của người nước ngoài. Tôi gật đầu, đều có thể dùng, vì quốc gia không có lễ, nên người ta dùng phương thức nào cũng được. Không có lễ mà, không giống như thời xưa. Trước đây, thời đại đế vương rất coi trọng lễ nhạc, y phục không được mặc tùy tiện. Bạn có thân phận như thế nào thì mặc y phục như thế đó, sĩ, nông, công, thương đều có phân biệt. Mọi người vừa nhìn thấy liền biết bạn làm ngành nghề gì, trong xã hội bạn thuộc địa vị nào. Địa vị thấp hơn bạn, thì nhất định phải tôn trọng bạn, thuận tiện cho việc hành lễ. Bây giờ không còn nữa, bây giờ quý vị xem ở Đài Loan, tổng thống và nhân dân đều mặc đồ Tây, ở cùng một chỗ không thể phân biệt. Không có lễ, thiên hạ đại loạn, trật tự xã hội không còn nữa, điều này trước đây tuyệt đối không thể được. Nhưng chúng ta sanh vào thời đại này, chúng ta hướng đến xã hội thời xưa, nhưng chúng ta cũng không thể lơ là hiện thực của thời đại ngày nay. Tuy mọi người không nói, nhưng trong lòng chúng ta phải hiểu.

Có trời đất quỷ thần không? Nhất định có. Vậy ở đâu? Mắt chúng ta không nhìn thấy, tai không nghe thấy, thân thể không tiếp xúc được. Không thể nói chúng ta không tiếp xúc thì họ không tồn tại, thứ không tiếp xúc được quá nhiều, không thể nói họ không tồn tại. Huống gì những cảm ứng của quỷ thần, không những trong lịch sử ghi chép rất nhiều, mà hiện tại trên tin tức, báo chí, tạp chí chúng ta cũng thường thấy những báo cáo này, những báo cáo này đương nhiên đều là sự thật. Nhưng vẫn có rất nhiều người không tin tưởng, điều này cũng khó trách, nếu không đích thân chứng kiến thì người khác nói gì cũng đều không tin. Đến lúc nào đó bạn có phước phần, có nhân duyên thấy được quỷ thần, như vậy bạn mới tin.

Năm hai mươi mấy tuổi, khi tôi mới học Phật, lão cư sĩ Chu Kính Trụ, ông là một vị trưởng bối rất thương yêu và quan tâm tôi. Ông có rất nhiều chuyện, đều là chính mình trải qua, thường kể cho tôi nghe, chúng tôi cũng rất thích nghe kể chuyện. Bởi vì những chuyện này đều là ông đích thân trải qua, cho nên chuyện đó là thật không phải giả, không phải ông dựng chuyện để gạt chúng tôi. Chúng tôi hỏi ông nhân duyên học Phật. Bởi vì ông học tài chính, thời kỳ kháng chiến ông làm Cục trưởng thuế vụ ở Tứ Xuyên, quản lý thuế. Sau khi kháng chiến thắng lợi, ông là người Triết Giang, ông làm trưởng phòng tài chính tỉnh Triết Giang. Trước kháng chiến, ông từng làm Tổng giám đốc ngân hàng tại Tô Châu. Tôi thỉnh giáo ông nhân duyên học Phật, ông nói với tôi, nhân duyên học Phật là vào thời kỳ kháng chiến. Ông ở tại Trùng Khánh, một hôm cùng mấy người bạn đánh mạt chược, đây là chuyện bình thường, thường thì hơn 2 giờ khuya mới giải tán, ai về nhà người nấy. Lúc đó, tuy địa vị ông rất cao nhưng vẫn không có phương tiện giao thông, ông là đi bộ về nhà. Không như bây giờ đều có xe hơi, lúc đó đều đi bộ, hơn nữa đèn trên đường rất tối. Điều này người thời nay rất khó thể hội được, phải tầm tuổi như tôi thì khi nói đến điều này bạn mới có thể cảm nhận được. Trên đường đi rất xa mới có một bóng đèn, mà ánh sáng bóng đèn chừng bằng ánh sáng của 40 cây nến, treo rất cao, khoảng cách rất xa, thật sự là rất tối. Trở về lúc đêm khuya, ông trở về cũng phải đi bộ rất xa, đại khái phải đi bộ bốn đến năm mươi phút mới về đến nhà. Khi đi trên đường, ông thấy phía trước có người, lúc đó người ấy cũng đi cùng đường, ở phía trước ông, ông cũng không chú ý đến. Đi khoảng gần nửa tiếng đột nhiên ông nghĩ, nhìn thấy ở phía trước là một người phụ nữ. Tự hỏi: “Tại sao người phụ nữ này lại đi một mình trong đêm muộn đến như vậy nhỉ?” Ông bảo, vừa nghĩ đến đây thì dựng cả tóc gáy. Nhìn kỹ người đi ở trước, cô ta có thân trên không có thân dưới, ông vô cùng sợ hãi, vừa giật mình thì người ở trước liền biến mất, không còn nữa. Ông cùng đi với người này suốt nửa tiếng đồng hồ, tuyệt đối không phải hoa mắt, ông thấy ma thật. Ông bảo, bắt đầu từ hôm đó ông mới thật sự tin Phật.

Sau khi học Phật, ông rất cảm kích con ma đó, ông nói nếu không đích thân chứng kiến thì cả đời ông mãi mãi không thể tin tưởng. Cha vợ ông là Chương Thái Viêm, rất có địa vị trong giới học thuật. Cha vợ ông là Phật tử kiền thành, cũng có rất nhiều chuyện thường kể cho ông nghe. Sau khi ông nghe xong thì bán tín bán nghi, đến khi chính mình gặp phải chuyện này thì ông mới tin, điều này là có thật. Chuyện của ông rất nhiều, nếu kể ra thì phải mất vài tiếng đồng hồ, rất thú vị, tuyệt đối không phải giả.

Bản thân tôi đời này tuy chưa từng thấy ma quỷ, nhưng tôi đã từng gặp hồ ly tinh như trong tiểu thuyết Liêu Trai. Lúc đó tôi khoảng 15, 16 tuổi, tôi quả thật đã gặp hồ ly tinh. Cho nên tôi tin đó là thật, không phải giả. Tôi gặp con hồ ly tinh này, nó đã biến thành hình người, nhưng là người nam không phải người nữ. Rất nhiều người đã từng gặp, ở Hằng Sơn, Hồ Nam. Sau khi kháng chiến thành công tôi trở về quê nhà, ở quê nhà có một người thân gặp chuyện rất kỳ lạ. Quê chúng tôi là sản xuất gạo, gạo thu gom được đều chuyển đến bán ở Vu Hồ, Nam Kinh. Người bà con này của tôi có một thuyền gạo, gạo được đóng vào bao xong xuôi, sau đó đưa lên thuyền. Khi xếp lên thuyền  thì nhìn thấy một con chồn từ ván cầu chạy lên thuyền, mọi người trên thuyền liền đi tìm, tìm mãi nhưng tìm không thấy. Không tìm thấy, mọi người cho rằng người nhìn thấy ấy bị hoa mắt nên thôi. Khi chở thuyền gạo này đến Nam Kinh, sau khi đến Nam Kinh, lúc đưa hàng xuống, đột nhiên trong bao không còn một hạt gạo nào, cả một thuyền gạo không thấy nữa. Mọi người mới biết, đều do con chồn đó gây ra, họ thấy con chồn đó là thật không phải giả, tất cả gạo trong thuyền không còn nữa. Cho nên ở lại Nam Kinh mấy ngày rồi quay về, khi về đến nhà thì thấy gạo của ông ấy vẫn còn nguyên ở trong kho. Không biết đã đắc tội gì với con chồn này mà nó lại trêu đùa ông như vậy. Không có tổn thất gì, nhưng nó đã chuyển cả thuyền gạo trở về nhà, đây hoàn toàn là sự thật. Cho nên, thế gian rộng lớn đủ chuyện kỳ lạ, không thể nói mình không tận mắt thấy thì không tin, những việc chúng ta tận mắt chứng kiến quá ít. Những chuyện này ở Hồng Kông cũng rất nhiều, ở Đại Lục lại càng nhiều, ở nước ngoài cũng rất nhiều. Tôi gặp rất nhiều người, vì giảng kinh có nhiều thính chúng, họ thường kể lại những chuyện họ đích thân gặp phải cho tôi nghe. Cho nên, khó lừa gạt trời đất quỷ thần, chúng ta lừa người thì dễ, nhưng gạt trời đất quỷ thần thì rất khó.

Dù người đời không thấy tội lỗi của chúng ta.

Chúng ta che giấu lỗi lầm rất kín đáo, vô cùng vi tế, người khác không cảm nhận được.

Nhưng thiên địa quỷ thần lại thấy rõ ràng tường tận.

“Giám” là tấm gương, giống như tấm gương soi rất sáng tỏ, chiếu thấy hết.

Tội nặng sẽ rước lấy mọi tai họa.

Nếu bạn tạo ác nghiệp nặng thì nhất định gặp phải những tai họa không ngờ được.

Tội nhẹ thì bị tổn giảm phước phần hiện có.

Nhẹ thì phước báo hiện nay bị tổn giảm. Nếu bạn hiểu được đạo lý này, nếu bạn thấu triệt được chân tướng sự thật này thì làm sao không sợ hãi cho được? Xem tiếp kinh văn bên dưới:

Không chỉ như vậy.

Không những chỉ có vậy.

Dù ở trong phòng tối, nhưng hành vi của ta đều bị thần minh dùng mắt nhìn, dùng tay chỉ. Dù cố che giấu thật kín đáo, cố che đậy thật khéo léo, nhưng ý muốn và mong cầu trong lòng sớm đã lộ ra ngoài rồi, cuối cùng cũng khó dối lòng mình. Một khi bị người phát hiện thì chẳng đáng một xu. Làm sao có thể không cung kính dè dặt cho được?

Ở phần trước nói trời đất quỷ thần nhìn thấy chúng ta rất rõ ràng, đoạn này nói với chúng ta về hoàn cảnh cư trú hiện tại, gọi là: “Mười con mắt nhìn, mười ngón tay chỉ”, đặc biệt là xã hội đô thị hiện nay, dân số đông đúc, nhất cử nhất động của chúng ta đều có rất nhiều người nhìn thấy, dù chúng ta che đậy kỹ đến mấy. Cố che đậy thật khéo léo”, “văn” là che đậy, quý vị che giấu khéo léo đến mấy thì “ý muốn và mong cầu trong lòng sớm đã lộ ra ngoài rồi, cuối cùng cũng khó dối lòng mình”. Ở trước đã nói với quý vị, người có học vấn, có đạo đức, họ vừa nhìn là biết ngay. Bị người khác nhìn thấu, vậy thì không đáng một xu. Nghĩ đến những điều này, làm sao không sợ hãi cho được? “Lẫm lẫm” là dáng vẻ lo sợ, sợ hãi. Đây nghĩa là con người khởi tâm động niệm, lời nói việc làm  phải dựa vào lương tâm, thiện lương, phải biết sợ chế tài của dư luận. Chúng ta làm việc thiện, không muốn để mọi người biết. Chúng ta làm việc ác, hy vọng mọi người đều biết. Người khác chỉ trích thì việc ác của chúng ta được báo hết, đây là việc tốt. Họ chỉ ra mà mình thật sự có sai lầm, thì ta phải tiếp thu, phải hối cải. Họ chỉ ra nhưng ta không có lỗi lầm này, ta cũng rất hoan hỷ, ta bị oan uổng, bị oan uổng là phương pháp tiêu tai tiêu nghiệp chướng thù thắng nhất.

Cho nên, bất luận bị người chỉ trích đúng hay không, chúng ta đều phải giữ tâm cảm ơn. Cổ nhân nói rất hay: “Có lỗi thì sửa, không có cố gắng hơn”. Người khác phê bình chúng ta, đặc biệt là phê bình ác ý. Nếu có thì phải lập tức sửa đổi làm mới, còn không có thì ta càng phải cố gắng hơn, tuyệt đối không phạm lỗi đó, thành tựu đức hạnh của chính mình. Cho nên,  người thật sự biết tu dưỡng, người thật sự biết đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, quả thật không giống người thông thường. Trong mỗi niệm của họ đều nghĩ đến điểm tốt của người khác, tuyệt đối không để điều bất thiện của người khác ở trong lòng, đó là việc không đáng nhất. Vì sao vậy? Vì tâm của chúng ta là thuần thiện, để việc xấu của người khác ở trong tâm mình, khiến thiện tâm của mình bị phá hoại mất, quý vị nói như vậy oan uổng biết bao? Chúng ta thấy trong xã hội, người ngu si như thế không ít. Người ta khen ngợi chúng ta, nịnh bợ chúng ta, chúng ta cũng phải bình tĩnh mà suy xét. Họ nịnh bợ mình, khen ngợi mình, mình thật sự có đức hạnh này không? Mình đã thật sự làm việc tốt này chưa? Dù có thật thì chúng ta cũng phải khiêm tốn, chúng ta càng phải nỗ lực hơn. Nếu lời tán thán của họ vượt quá sự thật  thì chúng ta phải sanh tâm hổ thẹn, nhất định phải xin lỗi họ: “Tôi không có nhiều ưu điểm như vậy đâu, bạn nói quá lời rồi, bản thân tôi cần phải nỗ lực khuyến khích chính mình, hy vọng không phụ lòng khen ngợi của bạn”. Tu dưỡng bản thân như vậy mới có thể thành tựu được đức hạnh của mình. Về phương diện quả báo, mới có thể tránh được tai họa, thiện phước mới có thể hiện tiền, đây là đạo lý nhất định. Chúng ta phải hiểu, phải siêng năng nỗ lực tu học. Phải có tâm hổ thẹn, phải chăm chỉ nỗ lực.

Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây.