Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 12B
Vị thứ hai là:
Dương Tự Trừng người huyện Ngân.
“Ngân” là Ninh Ba, Triết Giang hiện nay, thời xưa gọi là huyện Ngân. Có một người tên là Dương Tự Trừng.
Ban đầu vốn là một viên thư biện trong nha huyện.
Làm một viên thư biện ở nha huyện, giống như quan thư ký, quan văn thư hiện nay. Người này:
Có tấm lòng nhân hậu, nghiêm giữ pháp luật, làm việc công chính liêm minh.
Đây là đức hạnh của ông, tâm địa nhân hậu, suy mình ra người. “Nghiêm giữ pháp luật, làm việc công chính liêm minh”, tuyệt đối không nhận hối lộ của người khác.
Tri huyện đương thời là người rất nghiêm khắc.
Thời là đương thời, quan huyện này rất nghiêm khắc.
Ngẫu nhiên đánh một tù nhân.
Ngẫu nhiên đánh một phạm nhân.
Đến nỗi máu chảy khắp mặt đất mà vẫn chưa nguôi giận.
Phạm nhân này khiến quan huyện nổi giận, quan huyện đánh anh ta một trận, đánh đến máu chảy khắp người, mà cơn giận của quan vẫn chưa nguôi.
Họ Dương quỳ xuống xin tha.
Dương Tự Trừng quỳ xuống đất cầu xin giúp cho phạm nhân này. Vị quan huyện này nói:
Quan huyện nói: “Tên phạm nhân này phạm pháp làm những việc trái nghịch đạo lý, làm sao có thể không giận cho được”.
Ông cầu xin tha cho phạm nhân, quan huyện nói, tù nhân này làm quá nhiều chuyện xấu. “Làm sao có thể không giận cho được”, quan huyện nói lý do ông nổi giận.
Dương Tự Trừng dập đầu thưa rằng.
Dương Tự Trừng khấu đầu nói với quan huyện.
Bề trên lỗi đạo, nhân dân đã mất lòng tin từ lâu, nếu [họ phạm pháp] tra ra sự tình, thương xót họ còn không hết thì làm sao còn vui được. Vui còn không được huống hồ là nổi giận. Quan huyện nghe xong cảm động mà nguôi giận.
Dương Tự Trừng nói rất hay!“Bề trên lỗi đạo”, câu này thật không dễ nói ra. Từ đây thấy được, tâm ông quả thật rất nhân hậu, bản thân không sợ bị mất chức, ông nói lời thật. “Thượng” là chỉ triều đình, hiện nay bản thân triều đình có sai trái, nhân dân đã mất niềm tin đối với triều đình rồi. Do đây có thể biết, nhân dân phạm pháp lỗi do đâu? Lỗi do không có ai dạy họ, ai phụ trách việc giáo dục? Nho giáo dạy học là quan viên địa phương, huyện trưởng. Ngày xưa gọi tri huyện là “quan phụ mẫu”, quý vị là cha mẹ của nhân dân ở địa phương này, quý vị là thầy của nhân dân, là lãnh đạo của nhân dân. Nho giáo nói: “Làm lãnh đạo của dân, làm cha mẹ của dân, làm thầy của dân”. “Chi” là nhân dân. Thủ trưởng của địa phương là lãnh đạo của nhân dân, là cha mẹ của dân, là thầy của dân. Con cháu của quý vị làm càn làm quấy là do quý vị không dạy tốt họ. Trong câu “bề trên lỗi đạo” hàm nghĩa rất rộng.
Dương Tự Trừng thật sự rất gan dạ, người này bình thường có đức hạnh, có lòng gan dạ, dám nói lời chân thật. Khi ông thẩm vấn hỏi ra được sự tình, thật sự họ làm rất nhiều chuyện xấu, cần phải phán trọng hình. Ông phải thương xót họ, không thể sanh tâm vui mừng, “vui còn không được huống hồ là nổi giận”, làm sao ông có thể nổi giận cho được? Quan huyện cũng không tệ, nghe Dương Tự Trừng nói xong, cơn nóng giận cũng giảm xuống, không còn giận dữ nữa.
Gia đình ông rất nghèo.
Gia đình Dương Tự Trừng rất nghèo.
Nhưng có ai mang quà biếu, ông đều không nhận.
Đương nhiên ông có thể giúp đỡ những người khổ nạn, đặc biệt là những phạm nhân này. Ông có tâm thương người nên thường giúp họ, đương nhiên có một số người đem lễ vật đến để nhờ cậy, nhưng ông không nhận bất cứ thứ gì. Đại công vô tư, làm việc theo lương tâm của mình, tuyệt đối không nhận hối lộ.
Gặp lúc thiếu lương thực, tù nhân phải chịu đói.
Có khi phạm nhân thiếu lương thực.
Ông thường nghĩ mọi cách để cứu tế.
Ông ngày ngày nghĩ cách để giúp họ. Đến những nhà có thể hành thiện quyên góp, để giúp những phạm nhân này, khiến họ có thể ăn no.
Một hôm.
Có một hôm.
Có một số tù nhân mới đến bị đói khát.
Phạm nhân mới đến, có vài người không được ăn.
Gia đình ông lại thiếu gạo.
Gạo trong nhà ông không nhiều.
Nếu mang gạo cho tù nhân thì cả nhà phải chịu đói.
Nếu đem gạo ở nhà cho phạm nhân thì người trong nhà mình không có cơm ăn.
Nếu giữ gạo lại ăn thì tù nhân chịu đói rất đáng thương.
Nghĩ lại thấy phạm nhân rất đáng thương.
Ông liền bàn với vợ chuyện này.
Ông bèn thương lượng với vợ.
Vợ ông hỏi: “Tù nhân từ đâu đến?” Ông nói: “Từ Hàng Châu đến, dọc đường chịu đói khát, mặt mày xanh xao vàng vọt”.
Vợ ông hỏi: “Những phạm nhân này từ đâu đến?” Từ Hàng Châu đến, trên đường đi chịu đói chịu khát, sắc mặt rất kém, xanh xao vàng vọt.
Do đó hai vợ chồng liền giảm bớt phần gạo của gia đình để nấu cháo cho tù nhân ăn.
Ông đem phân nửa số gạo của mình chia cho phạm nhân, còn gia đình mình nấu cháo ăn.
Sau đó, ông sanh được 2 người con trai.
Về sau Dương Tự Trừng sanh hai người con trai.
Con trưởng là Dương Thủ Trần, con thứ là Dương Thủ Chỉ, cả hai đều giữ chức Lại bộ Thị lang ở hai miền Nam và Bắc.
Đây là quả báo, bản thân tích thiện tích đức, đến đời con cháu thì được quý hiển. Hai người con trai đều làm quan đến chức Lại bộ Thị lang ở hai miền Nam Bắc. “Thị lang”, địa vị này tương đương với Phó Bộ trưởng hiện nay. “Lại bộ”, lúc đó không gọi là Bộ trưởng, mà gọi là Thượng thư. Thượng thư là Bộ trưởng, Thị lang là Phó Bộ trưởng.
Cháu lớn làm quan đến chức Hình bộ Thị lang.
Hình bộ hiện nay chính là bộ Pháp vụ, bộ Tư pháp, cũng làm đến chức Thứ trưởng.
Cháu nhỏ làm quan Liêm hiến ở Tứ Xuyên.
Liêm hiến cũng là tên chức quan thời xưa, về sau vào thời nhà Minh gọi là Án sát sứ, thông thường cũng gọi là Khâm sai đại thần.
Cũng đều là những vị quan nổi tiếng.
Đương thời đều là những vị đại thần hiền đức nổi tiếng.
Hiện nay các ông Sở Đình, Đức Chính.
Các trước thuật trong lịch sử không ghi tỉ mỉ về họ. “Kim” là cùng thời đại với tiên sinh Liễu Phàm, hai người Sở Đình và Đức Chính,
Cũng là con cháu của ông.
Cũng là hậu duệ của ông, hậu duệ của Dương Tự Trừng. Đây là ông làm chức thư biện nhỏ trong huyện nha. Do đây có thể biết tích lũy công đức, bất luận hiện tại cuộc sống của chúng ta như thế nào, trong xã hội có địa vị như thế nào, làm ngành nghề gì đều có thể làm, cơ hội rất nhiều. Chỉ cần giữ tâm lợi ích xã hội, lợi ích nhân dân chính là tích lũy công đức. Làm việc thiện không cầu quả báo thì công đức này càng lớn. Không cầu quả báo thì nhất định được quả báo càng thù thắng hơn. Tích được thiện lớn, tích được thiện nhiều thì bản thân mình sẽ cảm nhận được quả báo. Như tiên sinh Liễu Phàm là một ví dụ, cùng thời đại với tiên sinh Liễu Phàm là ông Du Tịnh Ý cũng là một ví dụ. Đến lúc cuối đời thì được hưởng quả báo, quả báo kéo dài đến đời con cháu của họ, đời đời không dứt. Trường hợp thứ ba:
Vào khoảng năm Chánh Thống.
Chánh Thống là niên hiệu của Anh Tông triều nhà Minh.
Trịnh Mậu Thất tạo phản ở tỉnh Phúc Kiến.
Lúc đó Trịnh Mậu Thất là một tên thổ phỉ, cường đạo, thổ phỉ, ông làm loạn ở khu vực Phúc Kiến.
Rất nhiều kẻ có học và nhân dân đi theo giặc, triều đình cử quan Đô hiến Trương Khải người huyện Ngân xuất quân xuống phía Nam chinh phạt, dùng mưu kế đã bắt được giặc.
Hoàng đế Anh Tông sai Trương Khải người huyện Ngân dẫn binh xuống phía nam chinh phạt, bình định cuộc nổi loạn này, bắt được Trịnh Mậu Thất, nhưng vẫn còn một số dư đảng.
Sau đó cử viên Đô sự họ Tạ thuộc Bố chánh ty đi truy lùng bắt giết dư đảng của giặc ở phía Đông, Phúc Kiến.
Thủ lĩnh của bọn thổ phỉ đã bị bắt, nhưng bên dưới vẫn còn dư đảng. Cho nên, triều đình lại sai Đô sự họ Tạ thuộc Bố chánh ty, Bố chánh ty tương đương với tỉnh trưởng hiện nay, Đô sự là một chức quan dưới Bố chánh ty. Phái Đô sự Tạ tìm giết dư đảng ở phía đông, nghĩa là bình định số tòng đảng còn lại.
Đô sự Tạ tìm cách điều tra được danh sách những kẻ dư đảng.
Vị Đô sự Tạ này rất hiếm có, trước tiên nghĩ cách lấy được danh sách của nhóm đạo tặc.
Phàm những người không có tên trong danh sách.
Trong bọn dư đảng, những người không có tên trong danh sách này.
Được bí mật trao cho 1 lá cờ nhỏ màu trắng và dặn: “Ngày quân binh truy quét thì cắm lá cờ ấy ở trước cửa”. Đồng thời nghiêm cấm quân binh không được giết người bừa bãi, nhờ vậy mà cứu được cả vạn người dân.
Đây là tướng lĩnh thống lĩnh binh lính, ông hiểu cách tích đức, không giết oan người, không lạm sát người. Cho nên, ông dụng tâm đi thu thập tên của nhóm giặc đảng, không phải thực sự nằm trong nhóm giặc đảng thì không được hàm oan người. Quan binh vào thành kiểm tra, ông cho những người không liên quan đến bọn giặc một lá cờ trắng nhỏ, để khi quan binh vào thành thì đem lá cờ này cắm trước cửa, cấm quan binh đến phiền nhiễu. Nhờ vậy nên cứu sống cả vạn người, đây là công đức mà ông tích được.
Trong lịch sử từ xưa đến nay, người làm tướng quân, đại tướng quân, rất ít người bảo toàn được hậu duệ, do nguyên nhân gì vậy? Vì sát hại quá nhiều, cho nên hậu duệ đều không tốt. Trong các bậc võ tướng, người có hậu duệ tốt quả thật không nhiều, trong lịch sử thật sự có thể đếm ra được. Những người làm tướng quân nếu đều thương tiếc mạng người, tuyệt đối không lạm sát, kỷ luật quân đội rất nghiêm khắc, như vậy mới bảo toàn được hậu duệ.
Về sau con trai của Đô sự Tạ là Tạ Thiên thi đỗ trạng nguyên, làm quan đến chức Tể tướng. Cháu nội là Tạ Phi cũng đỗ thám hoa.
Đây là nói quả báo của con cháu Đô sự Tạ, con trai ông là Tạ Thiên đậu trạng nguyên, làm quan đến tể tướng, “tể phụ” là tể tướng. Cháu ông là Phi cũng đậu thám hoa, thám hoa là hạng thứ ba của tiến sĩ. Đây đều là lịch sử chứng minh câu nói “gia đình tích thiện ắt thừa niềm vui”. Lại nói với chúng ta ở Bồ Điền có gia đình họ Lâm:
Ở Bồ Điền có nhà họ Lâm, đời trước có một bà lão ưa làm việc thiện, thường làm bánh bột gạo bố thí cho người, ai đến xin cũng cho, không hề chán mỏi.
Đây là nói tại Bồ Điền, cũng là ở Phúc Kiến, “đời trước có một bà lão ưa làm việc thiện”, tức là tổ tiên của ông có bà nội rất thích hành thiện. Bà thường làm bánh bột gạo bố thí, bố thí cho những người nghèo khó, ngày nào cũng làm như thế, suốt đời không mệt mỏi. Ngày nào cũng làm bánh bố thí, có người đến xin, bà đều cho hết. Hằng ngày bố thí, không hề mệt mỏi.
Làm việc tốt, lượng sức mà làm. Đối đãi tốt với người khác, bản thân nhất định có quả báo thiện. Đừng sợ thiệt thòi, đừng sợ bị lừa gạt, ngạn ngữ thường nói: “Thiệt thòi là phước”. Cho nên, tôi thường nghĩ mình không có cơ duyên này, nếu tôi có cơ hội này, tôi muốn mở một tiệm cơm, mở tiệm cơm miễn phí cúng dường mọi người. Hiện nay ở Cư Sĩ Lâm tại Singapore, tôi đem suy nghĩ của mình nói với cư sĩ Lý Mộc Nguyên, ba năm nay ông thật sự làm được. Hằng ngày mời cơm miễn phí, bình quân một ngày có hơn một ngàn người đến Cư Sĩ Lâm ăn cơm; cuối tuần, ngày nghỉ lễ có đến ba bốn ngàn người, đây là việc tốt!
Cư Sĩ Lâm có bị người ăn đến sập tiệm hay không? Không hề, càng ăn càng hưng thịnh. Số người rất đông, rất nhiều người đến ăn cơm! Nói cho chư vị biết, từ khi mở ra đến nay chưa từng mua gạo, chưa từng mua dầu, cũng chưa từng mua rau, hơn nữa còn ăn không hết. Nguyên nhân là gì? Mọi người biết Cư Sĩ Lâm làm việc tốt này, ngày nào cũng có người đem gạo đến, có người đem dầu đến, có người đem rau đến. Đem đến quá nhiều, ăn không hết, ăn không hết thì sao? Chúng ta đem số rau gạo dư này tặng cho viện dưỡng lão và cô nhi viện. Cho nên, ở Singapore rất nhiều viện dưỡng lão và cô nhi viện của các tôn giáo khác đều nhận sự cung cấp của chúng ta. Đây là việc tốt! Nên làm.
Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây.
