Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 12A
Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Mời xem đoạn văn bên dưới:
Chúng ta đều là kẻ phàm phu, tội lỗi đầy dẫy như lông nhím, nhưng khi nhìn lại những việc đã qua lại thường chẳng thấy mình có lỗi lầm gì, bởi tâm ý qua loa nên mắt bị che mờ.
Đến đoạn này, sau khi đưa ra ví dụ, bây giờ mới chính thức nói. Bản thân chúng ta là phàm phu, lỗi lầm và ác nghiệp quá nhiều. “Vị tập” là ví dụ, giống như lông trên mình con nhím vậy, tụ tập ở một chỗ. “Khi nhìn lại những việc đã qua”, chúng ta nghĩ lại những việc đã qua, dường như thường “không thấy mình có lỗi lầm gì”, không phát hiện thấy mình có sai lầm gì. Cho nên, người thông thường chúng ta hay nói: “Tôi không có tội gì lớn, tôi không có lỗi lầm gì”. Bản thân chúng ta cũng thường có cảm nhận này, đây là nguyên nhân gì vậy? Vì tâm quá thô thiển, mê muội tối tăm không thấy được lỗi lầm của mình. Cho nên thực tế mà nói, Cự Bá Ngọc là tấm gương rất tốt của chúng ta. Đoạn văn bên dưới nói với chúng ta ác nghiệp cũng có điềm báo:
Song người có tội ác quá sâu nặng.
Trong Phật pháp gọi là nghiệp chướng sâu nặng. Nghiệp chướng quá nặng, nhất định có điềm báo không tốt.
Cũng có điềm báo như tinh thần u ám, bế tắc, nói trước quên sau.
Chúng ta tỉ mỉ quan sát những người xung quanh, có khi chúng ta có thể phát hiện thấy, người này rất hay quên, hồ đồ, đần độn. Nói với họ chuyện gì họ quên rất nhanh.
Hoặc không có chuyện gì mà thường sanh phiền não.
Những vấn đề này chúng ta thử nghĩ xem, bản thân mình có hay không? Khi không có vấn đề gì, khi không có ai trêu trọc cũng tự sanh phiền não, chỉ cần bình tĩnh quan sát là có thể phát hiện được.
Hoặc gặp bậc hiền nhân quân tử, lại thấy hổ thẹn buồn chán.
Đây là sợ gặp bậc chánh nhân quân tử, gặp những bậc chánh nhân quân tử, bản thân cảm thấy rất hổ thẹn. Hiện tượng này, nói thực ra vẫn còn cứu được, vì sao vậy? Vì họ còn có tâm hổ thẹn.
Hoặc nghe những lời bàn luận chân chánh nhưng lại không vui thích.
Không vui khi nghe người khác nói lời chân chánh, vì sao vậy? Vì bản thân tạo ác đa đoan, dưỡng thành tập khí ác, nên khi nghe những lời chân chánh hoàn toàn tương phản với những gì mình làm, do đó không vui vẻ tiếp nhận.
Hoặc giúp người nhưng lại bị người oán trách.
Chúng ta bố thí, lấy lễ vật tặng cho người nhưng người ta còn oán trách. Trong tình huống họ bắt buộc phải tiếp nhận, ví dụ họ bị lạnh, bị đói, khi đói lạnh bức bách, chúng ta tặng cho họ một ít áo quần thức ăn đương nhiên là họ nhận. Nhận xong nhưng họ không cảm kích, trái lại còn oán hận bạn, có tình hình này. Trong thế gian hiện nay thường gặp, đây đều là điềm báo ác nghiệp sâu nặng, chúng ta phải thường suy nghĩ.
Hoặc đêm ngủ gặp ác mộng.
Buổi tối gặp ác mộng, gặp ác mộng chắc chắn không phải điềm báo tốt. Bản thân nhất định phải cảnh giác, biết được ác nghiệp của mình rất nặng nên buổi tối mới gặp ác mộng.
Thậm chí nói năng lung tung, thần chí bất thường.
Đây là không có tinh thần, nói năng lộn xộn, lung tung.
Tất cả những điều này đều là biểu hiện của việc làm ác.
Đây là nói sơ lược vài ví dụ, đều là tướng không tốt.
Nếu có một trong các biểu hiện như thế, thì phải phát tâm mạnh mẽ, sửa lỗi làm mới, mong mọi người đừng tự gạt mình.
Nếu chúng ta tự kiểm điểm thấy mình có một hay hai điều giống như các trường hợp nêu ra ở trên thì chúng ta phải cảnh giác, lỗi lầm và ác nghiệp của mình nhất định rất nghiêm trọng. Phải cảnh giác, phải nhanh chóng quay đầu, lập tức phấn chấn. “Sửa lỗi làm mới”, nghĩa là phải sửa đổi lỗi lầm làm mới bản thân. “Hy vọng mọi người đừng tự lừa gạt chính mình”, câu này là khuyến khích chúng ta, hy vọng ta không làm dở dang chính mình. Điều này bản thân nhất định phải phấn đấu, người khác không giúp được. Phương pháp sửa lỗi chỉ nói đến đây.
Tiếp theo chương thứ ba là: “Phương pháp tích thiện”. Mở đầu bài văn, tiên sinh Liễu Phàm trích dẫn hai câu trong kinh Dịch để nói rõ với chúng ta.
Kinh Dịch nói: “Gia đình tích thiện ắt thừa niềm vui”.
Hai câu này có thể dùng lịch sử để chứng minh, từ xưa đến nay phàm là người trung hậu thật thà, người tích thiện thì đời sau của họ luôn hưng vượng. Cho dù không phát đạt lớn thì cũng có thể sống bình an qua ngày, không đến nỗi gặp phải một số tai họa. Điều này có thể thấy được trên lịch sử, hiện tại chúng ta cũng có thể quan sát được, chỉ cần chúng ta tỉ mỉ để tâm quan sát. Hay nói cách khác, ngược lại tổ tiên gia đình này và bản thân họ tích ác, ức hiếp người, chỉ làm những việc tổn người lợi mình thì gia đình này chắc chắn không thể hưởng được phú quý lâu dài, mặc dù hiện tại họ rất giàu có. Cho nên, có một số người thấy hiện tượng này nghĩ rằng, gia đình này không có việc ác gì mà không làm vì sao vẫn giàu có như vậy? Đó là họ không hiểu đạo lý. Đây là do trong đời quá khứ gia đình họ, hoặc là bản thân họ, tiền bối của họ trong đời quá khứ tu phước báo lớn. Nhà Phật nói: “Tu phước không tu tuệ”, vì họ không có trí tuệ nên đời này họ mới tạo ác nghiệp, tạo ác nghiệp nhất định giảm phước. Ví dụ trong quá khứ họ tu phước, có tài sản bạc tỉ. Đời này tuy phát tài nhưng tâm bất thiện, ở đâu cũng chèn ép người khác, làm những việc tổn người lợi mình. Phước báo của họ bị tổn giảm, của cải ngàn vạn biến thành của cải trăm vạn, tổn thất quá nhiều. Nhưng họ vẫn còn của cải trăm vạn, vẫn giàu có hơn người bình thường rất nhiều. Nhân quả thông ba đời! Đời này họ hưởng hết dư phước này rồi thì tội báo của họ liền hiện tiền. Có một số người đời sau họ mới chịu quả báo, có một số người ngay đời này, đến tuổi già thì mất tất cả, phá sản. Nguyên nhân là gì? Do gia đình họ tích ác nên họ gặp báo ứng như vậy. Con người phải hiểu đạo lý này, hiểu rõ chân tướng sự thật. Nhất định phải biết đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức. Đối với cá nhân mình, đối với gia đình mình, đối với dòng tộc mình nhất định có lợi ích lớn. Bên dưới tiên sinh Liễu Phàm đưa ra một ví dụ:
Tích.
“Tích” là đời quá khứ.
Nhà họ Nhan muốn gả con gái cho Thúc Lương Hột.
Nghĩa là nhà họ Nhan muốn đem con gái mình gả cho Thúc Lương Hột.
Do xét thấy tổ tiên nhà Thúc Lương Hột tích chứa phước đức sâu dày.
“Lịch tự” nghĩa là kể rõ tổ tông của Thúc Lương Hột từ đời này qua đời khác đều tích đức, đây là gia đình tích thiện.
Nên đoán biết con cháu nhà ấy nhất định sẽ hưng vượng.
“Nghịch” là dự đoán, dự đoán con cháu gia đình này tương lai nhất định sẽ hưng thịnh. Thúc Lương Hột là phụ thân của Khổng tử, cho nên ông ngoại của Khổng tử, ông ngoại dự đoán tương lai gia đình ông nhất định sẽ hưng thịnh. Ông đem con gái mình gả cho Thúc Lương Hột, sau đó sinh ra Khổng tử. Ông xem như thế nào vậy? Ông thấy tổ tiên của Khổng tử đời đời tích đức, cho nên gia đình họ sẽ xuất hiện đại thánh nhân. Đây là chuyện đầu tiên nói về tích đức. Điều thứ hai:
Khổng tử tán thán vua Thuấn là bậc đại hiếu.
Người xưa nói về hiếu đạo, trước tiên phải suy tôn Đại Thuấn, người này là tấm gương trong việc tận hiếu. Chúng ta đọc trong truyện ký lịch sử, nhất định phải noi gương ông. Phụ thân của ông, sau khi vợ chết, tức là mẹ đẻ của Thuấn, cha cưới thêm một người mẹ kế. Sau đó mẹ kế cũng sinh một đứa con, bà đối đãi với Thuấn không tốt. Phụ thân ông bị ảnh hưởng từ mẹ kế, cho nên phụ thân, mẹ kế và em trai là con mẹ kế; trong gia đình bốn người thì ba người dùng tâm ác đối đãi với Thuấn, mấy lần dồn Thuấn vào chỗ chết. Hoàn cảnh gia đình này quá ác liệt, nhưng Thuấn vẫn có thể hiếu thảo. Trong mắt ông không hề thấy cha mẹ và em trai không tốt với mình, mà luôn cảm thấy mình làm không tốt, khiến phụ thân không thích, mẹ kế không thích, em trai không thích, ngày ngày sửa đổi chính mình. Cứ như vậy suốt mấy năm sau mới cảm hóa được cả gia đình mình. Đây gọi là đại hiếu, là hiếu thảo chân thật. Thuấn tùy thuận tất cả, trong tùy thuận có trí tuệ cao độ, nhà Phật gọi là phương tiện thiện xảo. Nên ông có thể tránh được việc người nhà làm thương tổn mình, có thể bảo toàn tánh mạng của mình, nhưng vẫn dùng tâm chân thành và lòng yêu thương chăm sóc cha mẹ và em. Đây là chuyện mà người bình thường không làm được, nhưng ông làm được. Cho nên Khổng tử xưng tán ông rằng:
Nói rằng: “Tông miếu tổ tiên được thờ phụng, con cháu đời đời giữ được phước lành, đây đều là sự nhận định vô cùng chính xác”.
Ông ngoại của Khổng tử, cho đến Khổng phu tử tán thán Đại Thuấn, đây đều là danh ngôn chí lý.
Nay tôi lấy những câu chuyện xưa để kiểm chứng.
Ông lại lấy những gia đình tích thiện thuở xưa, bạn xem sự phát đạt của con cháu họ trên lịch sử có ghi chép. Trong xã hội hiện tại chúng ta cũng có thể nhìn thấy. Bên dưới ông đưa ra mười trường hợp. Vị thứ nhất là:
Quan Thiếu sư Dương Vinh, người Kiến Ninh. Tổ tiên sống bằng nghề đưa đò. Có lần trời mưa lâu ngày, nước lũ dâng cao cuốn trôi nhà dân. Người chết đuối theo dòng mà trôi xuống, những thuyền khác đều lo vớt của cải trôi trên mặt sông, chỉ riêng ông cố và ông nội của Thiếu sư chỉ lo cứu người, không hề vớt chút tài vật nào. Người trong làng đều cười chê họ là ngu khờ.
Chúng ta xem đoạn này trước. Dương Vinh làm quan đến chức Thiếu sư, thời xưa Thiếu sư là thầy của Hoàng đế, thầy của Hoàng đế có Thái sư, Thiếu sư. Thiếu sư đại đa số là thầy của Thái tử, thầy của Hoàng đế gọi là Thái sư, thầy của Thái tử đa phần gọi là Thiếu sư. Cho nên, cách xưng hô dành cho thầy có Thái sư, Thái phó, Thái bảo. Dương Thiếu sư, tức Dương Vinh, người Kiến Ninh, Kiến Ninh hiện nay là Kiến Âu, tỉnh Phúc Kiến. Tôi từng ở đây 6 năm, từng đến nhà của Dương Vinh, là một tứ hợp viện ba lớp rất lớn. Bây giờ, hình như đổi thành thành phố Kiến Âu rồi. Tổ tiên của họ, đời này qua đời khác đều là “kiếm sống bằng nghề đưa đò”, nghĩa là làm nghề đưa đò, họ làm nghề này. Do đây có thể biết, cuộc sống cũng rất gian khổ.
Có lần gặp trận mưa lớn, mưa lâu ngày, nước sông dâng cao. Con sông này hình như là thượng nguồn của sông Mân Giang, nó chảy thẳng từ Phúc Châu ra biển. Nước dâng cao nhấn chìm xóm làng, cũng nhấn chìm rất nhiều người. Người chết trôi theo dòng sông, đương nhiên có rất nhiều người chèo thuyền. Người thông thường chèo thuyền đi vớt những vật dụng trôi trên sông, không quan tâm đến người chìm trong nước, mà đều đi vớt tài vật. Chỉ có tổ tiên của Dương Vinh, chính là ông nội, ông cố của ông là đi cứu người. Đối với những tài vật trôi nổi theo dòng nước, họ không hề lấy một thứ gì, chỉ có cứu người! Người trong thôn thấy họ làm như thế đều nói họ ngu si, cứu người có lợi ích gì đâu? Rất nhiều tài sản của người khác trôi trên sông, vớt được thì là của mình. Họ không cần tài vật, chỉ chuyên tâm cứu người, đây là tích đức.
Đến khi cha của Thiếu sư ra đời thì gia đình dần dần khá giả hơn.
Khi phụ thân Dương Vinh ra đời thì hoàn cảnh gia đình họ ngày càng sung túc hơn.
Có vị thần hóa thành một đạo sĩ đến nói rằng: “Ông nội và cha ông có âm đức lớn nên con cháu sẽ được giàu có vinh hiển. Ông hãy chôn cất họ ở đây”. Cha ông nghe lời bèn an táng họ tại đó. Hiện nay chỗ đó gọi là mộ Bạch Thố. Sau đó sanh ra Thiếu sư, 20 tuổi đã thi đậu tiến sĩ, làm quan đến vị trí Tam công. Hoàng đế còn phong tặng ông cố, ông nội và cha ông như chức quan của ông. Con cháu đời sau đều được hưng thịnh, mãi đến ngày nay vẫn còn rất nhiều người hiền đức.
Đây là lấy câu chuyện của Dương Vinh để chứng minh “gia đình tích thiện ắt thừa niềm vui”. Ông cố, ông nội của ông tuy nghèo khó, nhưng đến đời phụ thân ông thì hoàn cảnh gia đình dần dần chuyển biến tốt hơn. Lúc này có một vị đạo trưởng, ở đây chép là thần nhân hóa thành đạo trưởng, chúng ta nói có một vị đạo trưởng nói với phụ thân ông rằng, ông nội và cha ngươi có âm đức, ông nội tức là ông cố của Dương Vinh, từng cứu rất nhiều mạng người, có âm đức, con cháu nhất định quý hiển. “Ông hãy chôn cất họ ở đây”, chỉ cho ông chỗ mai táng, chúng ta gọi đây là phong thủy. Có một mảnh đất phong thủy rất tốt, có thể mai táng ở đó. Phụ thân của Dương Vinh liền đem ông nội mình mai táng ở chỗ đạo nhân chỉ, bây giờ gọi đó là Mộ Bạch Thố.
“Sau đó sanh ra Thiếu sư”, sau đó Dương Vinh ra đời; “20 tuổi đã thi đậu tiến sĩ”, nhược quan là 20 tuổi, 20 tuổi thi đậu tiến sĩ. Làm quan đến vị trí Tam công, Thiếu sư là một trong Tam công. Hoàng đế rất cảm kích ông, truy phong ông cố, ông nội và phụ thân ông như chức quan của ông. Chức quan của ông là Thiếu sư, ông cố, ông nội và phụ thân của ông đều được truy phong làm Thiếu sư. “Con cháu đời sau đều được hưng thịnh” mãi đến nay, đến nay tức là thời tiên sinh Liễu Phàm còn tại thế. Thời đại đó là thời nhà Minh, gia đình họ vẫn còn rất nhiều hiền nhân, đời đời đều có hiền nhân, đây là tổ tông tích đức.
