Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 4B


Video Thumbnail

LIỄU PHÀM TỨ HUẤN GIẢNG GIẢI

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng ngày: 16-20/4/2001
Giảng tại: Đài Truyền Hình Phượng Hoàng – Thâm Quyến – Trung Quốc
Tổng cộng 20 Tập.

Chuyển ngữ: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Mã AMTB: 19-016-0001 đến 19-016-0020

Liễu Phàm Tứ Huấn –  Tập 4B

Dạy người trì chú, trì chú chính là tu tâm thanh tịnh. Con người chắc chắn có tạp niệm, bạn tập trung ý niệm vào trong câu chú thì tạp niệm liền mất. Dùng một ý niệm để thay thế tất cả các vọng niệm, đạo lý là ở đây, hiệu quả vô cùng rõ ràng. Cho nên, quý vị dùng phương pháp tham cứu cũng được, dùng phương pháp trì chú cũng được, dùng phương pháp niệm Phật cũng được, có rất nhiều phương pháp, nhà Phật nói tám vạn bốn ngàn pháp môn. Pháp là phương pháp, môn là con đường, phương pháp và con đường rất nhiều. Quý vị có thể chọn lựa một hoặc hai phương pháp, để giúp bạn nhiếp tâm, giúp bạn tiêu trừ vọng tưởng. Tâm địa thanh tịnh, trí tuệ liền hiện tiền, chân tâm liền hiện tiền, đây là một loại cách thức và phương pháp tu hành. Thiền sư Vân Cốc dạy ông niệm chú Chuẩn Đề, lại nói với ông:

Thiền sư nói với tôi rằng: “Những người vẽ bùa chú thường nói, vẽ bùa không đúng cách sẽ bị quỷ thần chê cười”.

Những chuyên gia vẽ bùa niệm chú thường nói, quý vị không biết vẽ bùa sẽ bị quỷ thần chê cười. Quỷ thần không những trêu đùa quý vị, mà có khi còn khiến quý vị không thể chịu được. Trong này có bí truyền.

 Vẽ bùa có một phép bí truyền, là trong lúc vẽ không được khởi tâm động niệm.

Vẽ bùa, trì chú, niệm Phật đích thực là phương pháp khác nhau nhưng công diệu thì như nhau. Đây chính là phương pháp hình thức khác nhau, nhưng nguyên lý mục đích thì hoàn toàn tương đồng, đều phải dùng chân tâm, tức là không khởi một vọng niệm nào thì bùa này sẽ linh.

Khi cầm bút lên để vẽ.

Là chúng ta cầm bút lên để vẽ bùa.

Trước tiên phải buông bỏ hết thảy vạn duyên, một niệm cũng không khởi.

Ông phải buông xuống tất cả mọi vọng niệm, một niệm cũng không sanh.

Từ chỗ trong tâm không chút động niệm như thế liền hạ bút chấm một điểm, gọi là hỗn độn khai cơ. Từ điểm đó, liên tục vẽ cho đến khi xong lá bùa. Trong quá trình đó mà không khởi lên một vọng niệm nào thì lá bùa đó sẽ linh nghiệm.

Vẽ bùa, nhưng bùa này có linh hay không thì bạn phải xem người vẽ bùa. Cho nên bình thường phải luyện tập, luyện thật thuần thục. Khi chúng tôi còn nhỏ, lúc là học sinh cũng thích vẽ bùa, ngày nào cũng luyện, nhưng chúng tôi không hiểu nguyên lý này. Nếu trong lúc vẽ bùa, mà còn khởi vọng niệm, thì bùa này không linh. Đạo bùa này, nhất định là từ khi hạ bút vẽ một điểm cho đến khi vẽ xong lá bùa, phải không khởi một vọng niệm nào. Tâm thanh tịnh, thì bùa này sẽ linh. Từ đó biết được, trì chú cũng như vậy. Lúc trì chú không được xen tạp một vọng niệm ở trong đó, xen tạp một vọng niệm thì chú này không linh. Vậy mới biết, niệm thần chú không dễ, chú càng dài càng khó niệm. Càng dài, thời gian dài rất khó để không có tạp niệm. Nhà Phật thường nói: Đọc kinh không bằng trì chú, trì chú không bằng niệm Phật. Vì sao vậy? Vì kinh dài hơn chú, không vọng tưởng là điều rất khó, chú cũng khá dài, lúc trì không khởi vọng tưởng cũng rất khó. Phật hiệu ngắn, bốn chữ A-di-đà Phật, trong bốn chữ A-di-đà Phật này không xen tạp một vọng niệm, thì câu Phật hiệu này sẽ linh. Vừa niệm Phật vừa khởi vọng tưởng thì Phật hiệu này sẽ không linh. Cho nên, những phương pháp này đều là nhiếp tâm, đều giúp chúng ta đạt được tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là chân tâm, trong tâm có vọng niệm thì tâm này gọi là vọng tâm. Vọng tâm có sanh diệt, chân tâm không sanh không diệt, trong chân tâm không có niệm, nên nó không có sanh diệt. Làm sao có thể đoạn tận sanh diệt, khôi phục được bất sanh bất diệt? Đây là mục tiêu cao nhất trong công phu tu học của nhà Phật, đạt đến bất sanh bất diệt. Đạo lý này rất hiếm có, thiền sư Vân Cốc đã nói cho chúng ta biết. Bên dưới nói:

Phàm là việc cầu trời để thay đổi số mạng thì đều phải từ tâm địa thanh tịnh mà cầu cảm ứng tương thông.

“Cảm cách” chính là cầu cảm ứng, cầu cảm ứng với tâm tánh, cầu cảm ứng với trời đều phải dùng tâm chân thành. Gọi là “thành ắt linh, không thành thì không được thứ gì”. Lại nói:

Mạnh tử luận về học thuyết lập mệnh.

Học thuyết lập mệnh là Mạnh tử nói sớm nhất.

Nói rằng: “Đoản mạng và trường thọ không phải hai”. Nếu cho đoản mạng và trường thọ là hai sự việc. Vậy khi không khởi tâm động niệm thì ai đoản mạng, ai trường thọ?

Mạnh tử nói lời này rất cao minh, “yểu” là đoản mệnh, “thọ” là trường thọ, đoản mạng và trường thọ là một không phải hai, câu nói này người thông thường nghe không hiểu. Đoản mạng và trường thọ khác biệt quá lớn, tại sao nói là một không phải hai chứ? Vì chúng ta nhìn thấy là hai, thấy có sự sai biệt quá lớn, chúng ta dùng tâm gì để nhìn vậy? Dùng tâm phân biệt để nhìn, dùng tâm chấp trước để nhìn, cho nên nhìn nó thành hai. Nếu tâm bạn bất động, trong tâm bạn không có một ý niệm nào, thì trường thọ và đoản mạng đích thực là một không phải hai, vì sao vậy? Vì không có phân biệt, có phân biệt mới có hai ba, không có phân biệt thì làm gì có hai ba?

Ai không phân biệt? Thánh nhân không có tâm phân biệt, đức Phật không có tâm phân biệt, Bồ-tát không có tâm phân biệt. Phàm phu có tâm phân biệt, cho nên biến tất cả pháp thế gian thành đối lập. Lớn và nhỏ là đối lập, dài và ngắn là đối lập, thiện và ác là đối lập, chân và vọng là đối lập, tất cả đều trở thành đối lập. Đối lập chính là thuyết tương đối mà các nhà khoa học nói. Sống trong thế gian tương đối, đây là thế gian hư vọng, trong kinh Kim Cang gọi là “mộng huyễn bọt bóng”. Đây không phải là chân tướng của vũ trụ nhân sinh, chân tướng của vũ trụ nhân sinh gọi là “nhất chân”. Nghĩa là nói, trong đó chắc chắn không có tương đối. Đây mới là chân, có tương đối thì không phải là chân. Trong lục đạo là tương đối, trong mười pháp giới vẫn là tương đối, đến nhất chân pháp giới thì tương đối không còn nữa. Chúng ta nói tương đối không còn nữa, vậy có tuyệt đối không? Tuyệt đối cũng không có, hai thứ tuyệt đối và tương đối hình thành lẫn nhau. Tương đối không còn, thì tuyệt đối cũng không còn. Cảnh giới này, trong kinh Phật gọi là “không thể nghĩ bàn”. “Nghĩ” là tư duy, quý vị không thể tư duy, vừa tư duy thì bạn sai rồi. “Bàn” là bàn luận, là nói, cũng không thể nói, nói là sai rồi, “mở miệng liền sai, động niệm liền trái”, đó là nhất chân pháp giới thật sự, đó là thật bình đẳng.

Mạnh tử nói những lời này không đơn giản, nếu ngài không khế nhập cảnh giới này, thì không nói được như thế. Cho nên tuy Khổng tử, Mạnh tử không tiếp xúc với Phật pháp, nhưng nếu dùng tiêu chuẩn của Phật pháp để xem Khổng tử, Mạnh tử, thì các ngài cũng là đại Bồ-tát, cũng không phải người bình thường. Ngôn luận của các ngài, sự quan sát của các ngài, trong Phật pháp gọi là cảnh giới của Thất địa Bồ-tát trở lên trong Viên giáo Đại thừa.

Nếu chia nhỏ ra để nói.

Nghĩa là mở rộng nó ra.

Biết được sung túc và thiếu thốn không hai, sau đó mới có thể lập mệnh giàu nghèo.

“Phong” là được mùa, năm nay nông dân được mùa, gặt hái tốt. “Khiểm” là gặt hái không tốt. Gặt hái được nhiều, phong phú, thì năm nay có thể sống sung túc. Năm nay mất mùa thì cuộc sống rất khó khăn. Nếu quý vị có thể hiểu “phong khiểm bất nhị”, đó chính là giàu nghèo không hai, vậy thì quý vị có thể lập mệnh giàu nghèo.

Khốn khó và hanh thông không hai, sau đó mới có thể lập mệnh sang hèn.

“Cùng” là rơi vào hoàn cảnh khó khăn, làm việc gì cũng gian nan khốn khổ, không thể thành tựu. “Thông” là thông đạt, muốn làm việc gì cũng có rất nhiều trợ duyên, thuận lợi vô cùng. Nếu bạn không hiểu được đạo lý này thì bạn không thể lập mệnh sang hèn. Chúng ta muốn hỏi thế gian có giàu nghèo hay không? Có. Có quý tiện hay không? Có. Nên lập mệnh như thế nào? Người nghèo thì an phận nghèo, người giàu an phận giàu, người quý an phận quý, người tiện an phận tiện, người nào sống đúng phận người đó, đây gọi là lập mệnh. Hai bên tôn trọng lẫn nhau, yêu kính lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau, đây là thật sự biết mệnh trời. Cho nên, thế gian vĩnh viễn thái bình, xã hội tuyệt đối không thể có động loạn, vì sao vậy? Vì biết mệnh, đây là học vấn, là thực học, là học vấn thật sự. Tiếp theo nói:

Đoản mệnh và trường thọ không hai, sau đó mới có thể lập mệnh sanh tử.

Hiện tượng sanh tử trong lục đạo đều có, có đáng sợ chăng? Không đáng sợ, sanh tử rất bình thường. Chỉ cần bạn hiểu rõ ràng sáng tỏ đạo lý trong đó, thì bạn còn tham sống sợ chết nữa không? Không còn nữa, sanh và tử là một việc, không phải hai. Người thông đạt, đối với vấn đề sanh tử, xả thân thọ thân giống như mỗi người chúng ta thay quần áo, đổi quần áo vậy. Chúng ta ví quần áo như thân thể, bộ quần áo này mặc đã lâu, bị dơ bẩn, bị rách rồi, thì chúng ta tự nhiên phải cởi nó ra. Thân này không cần nữa, thay một bộ quần áo khác, tức là thay một thân thể khác. Cho nên sanh tử, xả thân thọ thân giống như thay quần áo vậy. Ở đây chúng ta cần phải chú ý, quần áo này càng thay càng đẹp, như vậy thì tốt! Nếu càng thay càng xấu, như vậy là không tốt. Nếu một người làm nhiều việc ác, họ xả bỏ thân thể này, đời sau lại được một thân khác xấu hơn thân này, là thân súc sanh, thân ngạ quỷ, thân địa ngục, thân này ngày càng xấu hơn so với chúng ta. Nếu người này suốt đời hành thiện, hiếu thiện tích đức, sau khi họ xả bỏ thân này thì đời sau sẽ được sanh lên cõi trời, thân trời trang nghiêm hơn thân chúng ta nhiều. Họ được thân Bồ-tát, được thân Phật, ngày càng trang nghiêm hơn. Nếu hiểu được chân tướng sự thật này, hiểu được đạo lý này thì bạn mới thật sự chịu đoạn ác tu thiện. Tuy đoạn ác tu thiện là lợi ích người khác, nhưng lợi người mới thật sự lợi mình, đây là chân lý. Tổn người chắc chắn hại mình, người thế gian thường nói “tổn người lợi mình”. Lời này nói sai rồi, “tổn người chắc chắn hại mình”. Lợi mình là đạt được chút lợi ích nhỏ trước mắt, nhưng mấy mươi năm sau, sau khi bạn chết biến thành ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, đó thật sự là hại mình rồi, hại mình rất thê thảm, đến lúc đó bạn hối hận cũng không kịp nữa. Bởi vậy, tuyệt đối không được làm điều tổn hại người khác. Người thông minh, người hiểu biết thật sự, nhất định sẽ làm việc lợi ích tất cả chúng sanh.

“Văn nhân” là người đi theo sự nghiệp giáo dục văn hóa, ngày nay chúng ta thấy rất nhiều tác phẩm được xuất bản. Có rất nhiều người tặng sách, tặng các tác phẩm cho tôi xem, Trước tiên là tôi xem trang bản quyền. Nếu trên trang bản quyền viết: “Có bản quyền, cấm sao chép dưới mọi hình thức”, vậy sách này tôi không xem, vì sao tôi không xem? Vì tôi nghĩ họ viết chẳng có gì hay, vì tâm họ rất tự tư, họ không có ý lợi ích đại chúng. Tôi không muốn lãng phí thời gian và tinh thần, nên tôi không xem mấy sách như thế. Nếu ở sau in: “Hoan nghênh ấn tống, công đức vô lượng”, thì sách này tôi xem kỹ từ đầu đến cuối, vì sao vậy? Vì tâm họ rộng lớn, họ không có ý niệm tự tư tự lợi. Đây là người tốt, đây là người thiện, sách của họ nhất định có thể đọc, cho nên tôi đọc sách không giống với người thông thường. Như bản thân tôi mấy năm nay, số lượng băng ghi hình và băng ghi âm giảng kinh rất nhiều, thống kê tất cả có đến mấy nghìn loại. Thư tịch cũng có không ít, nhưng tôi hoàn toàn không có bản quyền, hoan nghênh ấn tống, hoan nghênh lưu thông. Người ta có thể lưu thông, ấn tống sách và băng đĩa của tôi, tôi rất cảm kích, coi như họ xem trọng tôi. Nếu họ không xem trọng tôi thì sao phải mất nhiều tiền như vậy để làm việc này? Tôi hà tất phải hạn chế người khác không được ấn tống, không được lưu thông chứ. Vậy thì việc chúng tôi giúp chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, sẽ vĩnh viễn không đạt được ý nguyện này. Cho nên, chúng tôi hoàn toàn không có bản quyền, hơn nữa còn hoan nghênh mọi người ấn tống lưu thông.

Do đó, đối với vấn đề sanh tử đã tham thấu, nhìn thấu rồi, biết được chân tướng sự thật này, cho nên không còn ý niệm tham sống sợ chết nữa. Bất luận khi nào, bất luận bị chết như thế nào, đều sẽ hoan hỷ vui vẻ, vì sao vậy? Vì biết sau khi xả bỏ thân này, lập tức thay một thân khác tốt hơn, thù thắng hơn hiện tại. Tôi có niềm tin, có sự chắc chắn.

Con người ở thế gian coi việc sanh tử là quan trọng nhất, nên Mạnh tử chỉ nói về đoản mạng và trường thọ, nhưng kỳ thực hết thảy mọi việc thuận nghịch đều bao gồm ở trong câu này rồi.

“Cai” là bao gồm, chỉ cần có thể thấu triệt được cửa ải này, thì trong tất cả mọi cảnh giới đối lập nhau, bạn đều có thể được tự tại. Hết thảy thuận nghịch”, thuận cảnh hay nghịch cảnh, thiện duyên hay ác duyên, trong mọi hoàn cảnh nhân sự đều bao gồm ở trong đó. Bao gồm ở trong đó là gì? Là không hai. Chúng ta phải nhập vào cảnh giới này, trong đời này chúng ta nhất định sẽ gặp một số người đối tốt với chúng ta, quan tâm chúng ta, đây là có ân huệ. Cũng có một số người bất mãn với chúng ta, ác ý hủy báng, hãm hại, sỉ nhục. Chúng ta dùng tâm như thế nào để đối đãi họ? Dùng tâm cảm ân đối đãi họ. Người tốt với tôi, tôi cảm kích họ, họ giúp đỡ tôi rất nhiều; người không tốt với tôi, người hủy báng tôi, người sỉ nhục tôi, người hãm hại tôi, tôi cũng rất cảm kích họ. Cảm kích họ điều gì? Vì họ tiêu nghiệp chướng cho tôi, thành tựu đức hạnh cho tôi. Tức là nói, họ dùng thủ đoạn này đối với tôi, xem tâm tôi có bình đẳng hay không, tâm tôi còn sân hận hay không? Nếu như tôi còn có một niệm sân hận, còn có một niệm trả thù, thì tôi là phàm phu, công phu không tiến bộ. Họ đối đãi với tôi như thế, cũng giống như một bài thi vậy, tôi đạt tiêu chuẩn rồi. Tôi không có ác ý hay ý niệm trả thù họ, không những không có ý trả thù, mà còn cảm kích họ, cảm ân họ.

Cho nên, trong Phật đường nhỏ của tôi, những oán thân trái chủ, những người đối với tôi rất tệ, tôi đều cúng bài vị trường sanh cho họ, ngày ngày tụng kinh lạy Phật cầu phước cho họ, ngày nào cũng vậy. Dù quý vị hãm hại tôi như thế nào đi nữa, tôi vẫn cầu nguyện cho quý vị, tôi xem quý vị chẳng khác gì Phật, Bồ-tát. Vì sao quý vị không tốt với tôi? Vì quý vị không hiểu về tôi cho lắm, cho nên tất cả đều phát sanh từ sự hiểu lầm, hà tất phải tính toán so đo? Tính toán so đo là sai lầm của tôi. Tôi không tính toán so đo, mà tôi cảm ân, tôi tôn kính họ. Khi quý vị gặp khó khăn, cần tôi giúp đỡ, tôi sẽ toàn tâm toàn lực giúp quý vị. Đây là đạo lý làm người, cần phải hiểu thấu triệt “pháp môn không hai”.

Pháp môn không hai là nhà Phật nói, chúng ta xem từ chỗ này, xem những gì Mạnh tử nói thì biết nhà Nho cũng khế nhập pháp môn không hai, Nho và Phật là một không phải hai. Sau đó chúng ta lại tỉ mỉ mà quan sát, rất nhiều kinh sách của các tôn giáo trong thế gian, trong mắt của tôi đều là pháp môn không hai. Tôi học Phật, nhưng tôi đi vào giáo đường của các tôn giáo khác, tôi cũng lễ bái, tôi cung kính. Rất nhiều người thấy vậy cảm thấy rất kỳ lạ, tôi nói chẳng có gì kỳ lạ cả, tất cả các vị thần đều là một không phải hai.

Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây thôi.