Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 4A


Video Thumbnail

LIỄU PHÀM TỨ HUẤN GIẢNG GIẢI

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng ngày: 16-20/4/2001
Giảng tại: Đài Truyền Hình Phượng Hoàng – Thâm Quyến – Trung Quốc
Tổng cộng 20 Tập.

Chuyển ngữ: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Mã AMTB: 19-016-0001 đến 19-016-0020

Liễu Phàm Tứ Huấn –  Tập 4A

Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Hôm qua nói đến thiền sư Vân Cốc dạy tiên sinh Liễu Phàm phải sửa đổi tự làm mới, đây chính là nói về thân nhân nghĩa đạo đức. Hôm nay chúng ta xem tiếp:

Thân thể bằng xương thịt này đương nhiên có định số, còn thân nhân nghĩa đạo đức lẽ nào không thể cảm thông với trời được sao?

Thân thể bằng xương thịt này là thân thể hiện nay của chúng ta, vì thân thể này không có cách nào rời khỏi vọng tưởng phân biệt chấp trước, bởi vậy đều rơi vào số mệnh. Cho nên dùng thuật số có thể suy đoán chuyện lành dữ họa phước cả đời của bạn. Nếu con người muốn vượt thoát số mệnh thì cần phải thay đổi từ mặt tâm lý. Những quan niệm và hành vi bất thiện trước đây đều có thể thay đổi, tương ưng với nghĩa lý thì thân này gọi là “thân nghĩa lý” Trong Phật pháp gọi là nguyện lực, thân bằng xương thịt là nghiệp lực, do nghiệp lực biến hiện ra. Nếu nguyện lực của chúng ta mạnh hơn nghiệp lực, trong Phật pháp gọi là thừa nguyện tái lai. Trong này chúng ta cần phải hiểu, thân huyết nhục không tách rời tự tư tự lợi, thân nhân nghĩa đạo đức là đại công vô tư, không nghĩ đến lợi ích của riêng mình nữa. Sống trong thế gian này, thân thể này là một công cụ phục vụ tạo phước cho xã hội, cho nhân dân, cho chúng sanh, hoàn toàn không còn liên quan đến nghiệp lực của chính mình, thân này gọi là thân nhân nghĩa đạo đức, thân này gọi là thừa nguyện tái lai. Chúng sanh có phước thì thân này sẽ thường trụ ở thế gian. Chúng sanh không có phước báo thì tự nhiên sẽ xả bỏ thân này. Hay nói cách khác, nhà Phật thường gọi là “liễu sanh tử, xuất tam giới”, chính là ý này. Bên dưới thiền sư trích dẫn câu nói trong sách cổ để làm chứng:

Chương Thái Giáp trong sách Thượng Thư có nói: “Tai họa do trời giáng xuống còn có thể tránh.

Đây là giả thiết, là tai họa thiên nhiên. “Do khả vi” là có thể tránh né. Ngày nay chúng ta nói thiên tai tự nhiên có thể tránh né, có thể cứu vãn được,đạo lý này rất thâm sâu.

Tai họa do chính mình tạo ra thì không thể thay đổi.

Việc này thì không thể cứu vãn, không thể tránh khỏi, ý câu này rất sâu sắc. Vì sao nói tai họa tự nhiên có thể tránh được? Hiện nay, người hiểu đạo lý này không nhiều. Thánh nhân nói với chúng ta, trong kinh điển Phật, Bồ-tát nói với chúng ta: “Y báo chuyển theo chánh báo”. Y báo là hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh tự nhiên cũng chuyển theo tâm người. Nếu xã hội này tâm người lương thiện, thuần hậu, thì hoàn cảnh sống của chúng ta sẽ chuyển thành tốt. Gọi là mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Không chỉ là tai họa do con người tạo ra, mà thiên tai tự nhiên cũng là do con người tạo ra. Trong Phật pháp nói, một loại là cộng nghiệp, một loại nữa là biệt nghiệp. Cộng nghiệp là mọi người cùng tạo, nó biến thành thiên tai tự nhiên. Do cá nhân tạo ra thì liền trở thành lành dữ họa phước của cá nhân. Cho nên, tự mình tạo nghiệp thì không cách gì tránh khỏi. Nghiệp do đại chúng xã hội cùng tạo ra thì tôi có thể tránh, tôi có thể cứu vãn. Đây là chân lý, là chân tướng sự thật. Lại trích dẫn hai câu trong Kinh Thi:

Kinh Thi nói: “Các bậc thánh hiền thường nói, hợp với lòng trời thì tự nhiên sẽ chiêu cảm được nhiều phước”.

Hai câu này, “vĩnh ngôn” nghĩa là thường nói, các bậc cổ thánh tiên hiền thường nói. “Phối mệnh” nghĩa là nói tương ưng với ý trời, tâm người đồng tâm trời, trời là tâm gì? Rốt cuộc trời ở đâu? Đây không phải là một thứ hữu hình, thực tế mà nói là một thứ vô hình, là một khái niệm trừu tượng, gọi là: “Trời có đức hiếu sinh”. Tâm trời là tâm yêu thương, yêu thương một cách vô tư. Tâm trời là tâm yêu thương công bằng, yêu thương bình đẳng. Nếu bản thân chúng ta có thể tu dưỡng, nâng tâm nguyện của mình đến đại công vô tư, đối đãi bình đẳng với mọi người, mọi việc, mọi vật, đây chính là ý nghĩa của câu “hợp với lòng trời”. Đương nhiên phước ở trong đó, không cầu phước báo cũng hiện tiền. Ý nghĩa này quý vị hãy tỉ mỉ mà suy nghĩ. Bên dưới thiền sư Vân Cốc nói:

Khổng tiên sinh đoán ông không đỗ đạt khoa cử, không có con. Đây là trời giáng tai họa cho ông, nhưng vẫn có thể tránh được.

“Thiên tác chi nghiệt”, đây là tội do ông tạo trong đời quá khứ, ông tạo nghiệp bất thiện, nên đời này ông không có phần công danh, ông cũng không có con. Điều này là do trong đời quá khứ ông tạo ra, có thể tránh né, có thể cứu vãn, cứu vãn như thế nào?

Nay ông hãy nâng cao đức hạnh.

Tôi phải sửa sai tự làm mới.

Nỗ lực làm thiện, rộng tích âm đức.

Âm đức là gì? Là làm việc tốt mà không để cho người khác biết, đây gọi là âm đức, âm đức được quả báo dày. Làm một chút việc tốt mà mọi người đều biết, như hiện nay quý vị được phương tiện truyền thông biểu dương, khen ngợi, giới thiệu quý vị trước xã hội quần chúng. Đây cũng là phước, nhưng phước này lập tức bị báo hết, rất đáng tiếc! Bởi vậy người làm việc tốt thật sự, đừng để người khác biết. Nếu làm việc tốt mà nhất định phải có giới truyền thông đưa tin, phải được báo chí biết đến, thì đây không phải việc tốt thật sự. Tâm này của bạn vẫn chưa rời danh văn lợi dưỡng, bạn không phải dùng chân tâm. Việc thiện này của bạn là giả thiện, là ngụy thiện, không phải chân thiện. Chân thiện thì cần gì để người khác biết? Nếu các phương tiện truyền thông đến đưa tin thì hãy nên tránh né, như vậy mới tốt. Thời xưa, các bậc đại đức tài năng chân thật, thường che giấu tài năng, ẩn cư trong rừng sâu, không ai biết đến, do đó họ tích được đức ngày càng dày. Đến lúc nhân duyên chín muồi, bị người phát hiện, họ có thể vì quốc gia, vì dân tộc mà kiến công lập nghiệp. Trong này chứa đựng rất nhiều học vấn, những điều này chúng ta phải tư duy thật sâu sắc, chúng ta đều phải học tập.

Đây là phước do chính ông tu tích được, thì tại sao ông không thể hưởng.

Bản thân tạo phước thì đương nhiên bản thân đều được hưởng. Tiếp theo đại sư lại dẫn chứng câu nói trong Kinh Dịch:

Kinh Dịch chỉ bày cho người quân tử cách cầu lành tránh dữ.

Ngài dẫn chứng hai câu này để tăng trưởng tín tâm cho tiên sinh Liễu Phàm.

Nếu nói số mệnh không thể thay đổi, thì điều lành làm sao có thể cầu, điều dữ làm sao có thể tránh.

Câu này nói rất hay, nếu nói vận mệnh là nhất định, không thể thay đổi được, vậy thì câu này trong Kinh Dịch nói không thông rồi. Nói cách khác, hai câu trong Kinh Dịch này nói với chúng ta, vận mệnh rất linh hoạt sống động, chúng ta mỗi ngày khởi tâm động niệm, niệm thiện thì tăng phước, phước tăng thêm một phần, niệm ác thì phước giảm bớt một phần. Mỗi ngày chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác có cộng trừ nhân chia, ngày ngày đều có cộng trừ nhân chia. Tại sao vận mệnh của người thế gian bị người đoán chắc như vậy? Vì mức độ cộng trừ nhân chia của họ không lớn, không rời trung tuyến của họ quá xa, cho nên đoán rất chuẩn. Nếu mức độ cộng trừ nhân chia rất lớn thì vận mệnh của họ sẽ không chuẩn nữa. Như ở trước nói, người làm việc thiện lớn thì vận mệnh không trói buộc được họ. Người làm việc ác lớn thì vận mệnh cũng không trói buộc được họ, đó chính là mức độ cộng trừ nhân chia lớn. Họ làm việc thiện lớn thì họa liền trở thành phước, nếu họ làm việc ác lớn thì phước sẽ biến thành họa, đạo lý là như vậy.

Chương đầu tiên của Kinh Dịch nói rằng: “Nhà tích điều thiện, ắt thừa niềm vui”. Ông có thể tin được điều này không?

Những cuốn sách này, bình thường tiên sinh Liễu Phàm thường đọc rất thuộc, đọc rất thuộc, không thể nói ông không hiểu ý nghĩa trong đó, nhưng hiểu chưa đủ sâu sắc. Hay nói cách khác, đọc những sách đó của các bậc cổ thánh tiên hiền, nhưng bản thân không thể áp dụng vào trong cuộc sống. Không cách gì thực hành trong cuộc sống, công việc, xử sự, đối người, tiếp vật, do đó vận mệnh của ông không thể thay đổi được chút nào. Thiền sư Vân Cốc vừa khai thị, ông liền hiểu rõ. Tiên sinh Liễu Phàm nói:

Tôi tin tưởng lời của thiền sư, liền lạy tạ rồi xin nhận lãnh lời dạy bảo.

Những lời thiền sư Vân Cốc dạy, đã thức tỉnh tiên sinh Liễu Phàm, vận mệnh đích thực là do chính mình tạo, chính mình có thể thay đổi, nhất định phải hiểu tự cầu đa phước. Chúng ta học Phật, có nhiều người hỏi tôi. Họ hỏi, thưa pháp sư vì sao thầy muốn học Phật? Tôi trả lời rất đơn giản, mục đích học Phật của tôi rất đơn thuần, là để nâng cao cảnh giới của mình, đây là nói từ phương diện quả báo. Từ trên nhân mà nói, là để nâng cao đức hạnh của mình. Tích lũy công đức là tu nhân, nhân tốt đương nhiên quả sẽ thù thắng. Khi nghiệp nhân quả báo đến mà bản thân bạn có thể nhận ra được, thì bạn sẽ rất hoan hỷ. Nhà Phật thường nói: “Thường sanh tâm hoan hỷ”, suốt đời đều sống trong niềm hoan hỷ, điều này thật vui sướng! Trong lòng không có âu lo, không có vướng bận, không có vọng tưởng, không có chấp trước, không có phiền não, đây gọi là được đại tự tại. Trong kinh luận thường nói: “Thường sanh tâm hoan hỷ”, suốt đời sống trong thế giới cảm ân, điều này hạnh phúc biết bao! Vì điều này nên tôi mới học Phật. Thật ra, đây là ngày xưa thầy dạy cho tôi. Trước khi học Phật tôi rất yêu thích triết học. Thầy giáo tôi là thầy Phương Đông Mỹ, thầy nói với tôi: “Phật học là tinh hoa trong triết học, là đỉnh cao nhất trong triết học, học Phật là sự hưởng thụ cao nhất của đời người”, tôi bị câu nói này của thầy làm chấn động, cho nên siêng năng học tập. Sau khi tôi xuống tóc xuất gia, đến thăm thầy thầy rất hoan hỷ, thầy nói: “Con đường anh chọn rất đúng, tôi chỉ nói với anh như vậy, không ngờ anh làm thật”. Quả thật là tôi được thầy chỉ dẫn, tôi cũng giống như tiên sinh Liễu Phàm vậy. Tôi tin tưởng lời thầy, lạy tạ rồi xin nhận lãnh lời dạy bảo. Thầy Phương giới thiệu Phật pháp cho tôi, đại sư Chương Gia đặt nền tảng cho tôi, thầy Lý Bỉnh Nam dùng thời gian 10 năm bồi dưỡng tôi. Suốt đời được lợi ích, được an vui, được tự tại. Tiên sinh Liễu Phàm hiểu rồi, giác ngộ rồi, tiếp theo là thật làm.

Do đó, tôi đem tất cả những lỗi lầm trước đây.

Trong quá khứ đã tạo ra các loại tội ác, đủ thứ sai lầm.

Ở trước Phật chí tâm phát lộ sám hối.

Phát lộ là không hề giấu giếm một chút nào, nói ra tất cả.

Đồng thời viết thành một bài sớ trình bày tất cả.

Sớ là văn chương, nghĩa là bản thân hạ quyết tâm phải sửa sai làm mới. Viết một bài văn, cầu Phật, Bồ-tát làm chứng cho mình, dụng ý là như vậy.

Trước tiên cầu thi đỗ cử nhân.

Trong mệnh của ông không có công danh, cầu điều này trước. “Đăng khoa” là trước tiên cầu thi đậu cử nhân. Số mệnh của ông chỉ có tú tài, tú tài đến cao nhất chỉ là cống sinh, bởi thế ông không có khoa đệ, nói như hiện nay là ông không có học vị.

Nguyện làm đủ 3.000 điều thiện để báo đáp ân đức của trời đất, tổ tông.

Bắt đầu chân thật đoạn ác tu thiện, phát tâm lớn như thế, điều này rất khó được. Thiền sư Vân Cốc thấy vậy đương nhiên rất hoan hỷ, người này có thể dạy được. Tuy lúc này tiên sinh Liễu Phàm đã 35 tuổi rồi, nhưng có thể thật sự quay đầu, đoạn ác hướng thiện.

Vào thời nhà Minh, lúc đó “công quá cách” rất phổ biến. Chúng ta thấy trong lịch sử, rất nhiều vĩ nhân có thành tựu, đều từng dùng phương pháp “công quá cách” này để kiểm điểm sai lầm của chính mình.

Thiền sư liền lấy một bản công quá cách đưa cho tôi xem, bảo tôi ghi chép tất cả việc làm hằng ngày lại. Việc thiện thì cộng thêm, việc xấu ác thì trừ đi. Ngài còn dạy tôi trì chú Chuẩn Đề, qua một thời gian ắt có sự linh nghiệm.

Tiên sinh Liễu Phàm quả thật là một phàm phu, là hàng sơ học, hơn nữa căn tánh không phải là thượng căn lợi trí, có thể nói là hàng căn tánh trung hạ, cho nên thiền sư Vân Cốc liền dùng phương pháp “công quá cách” để giúp ông. Phương pháp công quá cách hiện nay cũng rất lưu thông ở Đài Loan và Hồng Kông, đều có thể tìm thấy. Trước đây, chúng tôi cũng từng in ấn. Mỗi ngày đều ghi chép lại, việc tốt mình làm hằng ngày đều ghi lại, mỗi ngày gây ra lỗi lầm, phản tỉnh lỗi lầm, lỗi lầm cũng ghi lại. So sánh thiện và ác, hôm nay rốt cuộc ta làm việc thiện nhiều hay ác nhiều? Khi mới làm nhất định là thiện ác hỗn tạp, có thể là ác nhiều hơn thiện, do đó sự cảnh giác của bản thân liền được nâng cao. Ngày ngày siêng năng nỗ lực sửa đổi, hy vọng đến một ngày, mở công quá cách ra là thuần thiện không có ác, như vậy là bạn thành công rồi. Đây là dạy ông thay đổi từ trên sự. Phương pháp này không phải là một phương pháp cao minh, nhưng đối với người thông thường mà nói là một phương pháp rất có hiệu quả.

Lại dạy ông trì chú Chuẩn Đề. Trong Phật pháp có tham thiền, trì chú, niệm Phật, tuy phương pháp khác nhau nhưng mục tiêu và công hiệu hoàn toàn giống nhau, đó là nhiếp tâm. Người bình thường không thể không có vọng niệm, chỉ có Phật, Bồ-tát, bậc đại tu hành mới không có vọng niệm. Vọng niệm có hại rất lớn đối với chúng ta, chúng ta phải biết, vọng niệm không những phá hoại tâm thanh tịnh của chúng ta, mà còn có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thân thể của chúng ta. Chúng ta xem đức Phật Thích-ca Mâu-ni lúc còn tại thế, một ngày ăn một bữa, ngày ăn một bữa ngọ, mà ăn rất đơn giản, rất ít. Người bây giờ chúng ta nghĩ “như vậy sao đủ dinh dưỡng?” Chúng ta không hiểu đạo lý, khi hiểu rõ đạo lý rồi thì bỗng nhiên đại ngộ, thì ra dinh dưỡng là bổ sung năng lượng cho chúng ta.

Thân thể giống như một bộ máy vậy, bộ máy này vận hành suốt 24 tiếng đồng hồ, khi ngủ cũng không ngừng, tim vẫn đập, mạch vẫn đập, máu huyết đang tuần hoàn, nên cần có năng lượng. Ăn uống là bổ sung năng lượng, như xe hơi cần đổ xăng vậy. Nhưng chúng ta biết, có xe hao xăng, có xe tiết kiệm xăng. Thân thể chúng ta cũng như vậy, thân thể đối với việc tiêu hao năng lượng, có hao năng lượng, có tiết kiệm năng lượng. Rốt cuộc năng lượng hao vào đâu? Hiện nay, chúng tôi thật sự đã hiểu rõ, 95% tiêu hao vào vọng niệm. Như vậy mới biết vì sao người tu hành có thể ngày ăn một bữa? Vì tâm họ thanh tịnh, ít vọng niệm nên họ tiêu hao năng lượng ít, thân thể mạnh khỏe. Phàm phu vọng tưởng nhiều, tạp niệm nhiều, mỗi ngày bổ sung ba bữa còn chưa đủ, còn phải ăn khuya, ăn điểm tâm, từ sáng đến tối đều phải bổ sung, họ tiêu hao quá nhiều năng lượng. Tiêu hao quá nhiều thì chắc chắn ảnh hưởng không tốt đến thân thể. Bởi vậy, bạn muốn giữ gìn thân thể khỏe mạnh thì phải giảm bớt vọng tưởng. Vọng niệm giảm bớt rồi, thì việc ăn uống của bạn tự nhiên cũng giảm bớt. Thân thể mạnh khỏe nhất sẽ không cần ăn uống, vì sao vậy? Dù ăn uống ít đến đâu cũng không có cách nào để hoàn toàn không bị ô nhiễm, không ăn uống thì nhất định sẽ không có ô nhiễm, như vậy thân thể của bạn mới thật sự mạnh khỏe. Cho nên, ăn nhiều không phải là việc tốt, ăn nhiều thì những chất dơ bẩn không thể bài tiết hết, nên mức độ ô nhiễm của các cơ quan trong thân thể bạn sẽ nhiều hơn người khác, hiện nay gọi là “có nhiều cơ hội mắc bệnh”. Người xưa nói là “bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra”, lời này không sai chút nào.