Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 10B


Video Thumbnail

LIỄU PHÀM TỨ HUẤN GIẢNG GIẢI

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng ngày: 16-20/4/2001
Giảng tại: Đài Truyền Hình Phượng Hoàng – Thâm Quyến – Trung Quốc
Tổng cộng 20 Tập.

Chuyển ngữ: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Mã AMTB: 19-016-0001 đến 19-016-0020

Liễu Phàm Tứ Huấn –  Tập 10B

Giả dụ xã hội hiện nay, quốc gia hiện nay, mỗi người đều có thể “nhất tâm hướng thiện, chánh niệm hiện tiền” thì trong xã hội này làm gì có tà giáo? Làm gì có tà tri tà kiến? Tự nhiên sẽ biến mất không còn dấu vết, cổ đức thường nói: “Phá tà hiển chánh”. Hôm nay, chúng ta đảo ngược câu này lại để nói, hiển chánh thì tà không thể tồn tại. Vì sao trong xã hội có nhiều tà tri tà kiến đến như vậy? Vì không có sự giáo dục về chánh tri chánh kiến. Do đó tà tri tà kiến vừa xuất hiện thì mọi người sẽ hiếu kỳ liền học tập theo nó, [học theo] mù quáng. Ngạn ngữ nói: “Không sợ không biết hàng, chỉ sợ hàng so với hàng”. Nếu có thể đề xướng chánh pháp, nhân dân tự biết cách phân biệt, biết so sánh; khi bày hai vấn đề ra trước mắt, so sánh một chút họ sẽ nhận thức được, tự nhiên họ sẽ biết lựa chọn. Ngày nay, trên toàn thế giới tà giáo lan tràn khắp xã hội, nguyên nhân là gì vậy? Vì trong thời đại này không có người đề xướng chánh pháp. Nhà Nho thì bị khẩu hiệu “lật đổ học thuyết Khổng tử”. Nho giáo là chánh pháp, là dạy người về hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, dạy người ngũ luân bát đức, hiện nay không cần chánh pháp nữa. Phật pháp là chánh pháp, Phật pháp dạy người: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết, tu thập thiện nghiệp”. Hiện nay mọi người cho rằng Phật pháp là mê tín, phá trừ mê tín, lật đổ mê tín, điều này đã sanh ra một sự hiểu lầm lớn. Phật không mê tín, khẩu hiệu của Phật là “phá mê khai ngộ”. Coi phá mê khai ngộ thành mê tín để lật đổ, vậy thế nào gọi là không mê tín? Vậy thì nhất định sẽ cho rằng tà pháp là không mê tín, tà giáo là không mê tín, vậy đương nhiên cả xã hội sẽ như ong vỡ tổ, đều chạy đi học theo tà giáo. Điều này chúng ta phải suy nghĩ thật tường tận, làm thế nào mới có thể “hiển chánh phá tà”. Ngày nay trên toàn thế giới, rất nhiều quốc gia khu vực đều áp dụng. Xem tiếp đoạn văn bên dưới, đoạn văn này dùng ví dụ để nói.

Như mặt trời rực sáng giữa hư không, yêu ma quỷ quái thảy đều lẩn trốn hết.

Hai câu này là ví dụ, ví “mặt trời” là chánh pháp, ví “yêu ma quỷ quái” là tà pháp, “võng lượng” là yêu quái. Ban ngày yêu quái tự nhiên không thể tồn tại được, đạo lý này là tương đồng. Phần sau tiên sinh Liễu Phàm đưa ra kết luận.

Đây là phương pháp sửa lỗi chân truyền tinh thuần duy nhất.

“Tinh” là tinh thuần, “nhất” là duy nhất, độc nhất. Từ xưa đến nay, thánh thánh tương truyền, đây là chân truyền.

Lỗi do tâm tạo cũng từ nơi tâm mà sửa.

Đây là sửa từ gốc, như vậy mới có thể sửa được cứu cánh, mới có thể sửa được triệt để.

Như chặt cây độc, chỉ cần trực tiếp chặt tận gốc rễ của nó, đâu cần phải chặt từng cành, bẻ từng lá.

Đây là dùng ví dụ để nói, ví như chúng ta chặt cây, cây này có độc, không phải cây tốt, chúng ta phải nhổ tận gốc của nó. Phải chặt tận gốc, không cần phải chặt từng cành, bẻ từng lá; chặt từng cành, bẻ từng lá thì quá phiền phức! Nhổ tận gốc là xong rồi, cành lá tự nhiên sẽ khô héo. Đây là nói sửa lỗi lầm, phía trước là nói sửa từ trên lý giống như chặt cây, là chặt từ thân cây. Sửa từ trên sự thì giống như chặt từ lá cây vậy, điều này rất phiền phức, rất khó. Sửa từ tâm, chính là nhổ tận gốc cây, việc này thì dễ dàng, hơn nữa thật sự làm đến triệt để. Xem tiếp đoạn văn bên dưới, đây là tổng kết.

Phương pháp sửa lỗi cao minh nhất là trị tâm, khiến tâm luôn luôn thanh tịnh. Khi tà niệm vừa khởi liền phát giác, ngay đó tà niệm sẽ không còn nữa.

Chúng ta học Phật, lúc dụng công cũng phải nắm được cương lĩnh, nắm được cương lĩnh, bắt đầu tu từ căn bản thì sẽ không khó. Hôm nay, chúng ta nói đến Phật pháp, kinh điển của Phật pháp nhiều như vậy, cổ nhân hình dung là “mênh mông như biển”. Kinh sách lưu truyền từ Ấn Độ sang Trung Quốc, trên lịch sử ghi chép, sớm nhất là vào năm Vĩnh Bình thứ 10, thời Hán Minh Đế, tức năm 67 sau công nguyên. Năm nay là công nguyên 2001, điều này lịch sử có ghi chép. Trên thực tế, Phật pháp do cá nhân lưu truyền đến Trung Quốc, thời gian đó còn sớm hơn nữa, có thể sớm hơn hai, ba trăm năm. Còn quốc gia chính thức phái sứ giả đi thỉnh mời, nghênh đón là vào năm Vĩnh Bình thứ 10, thời Hán Minh Đế. Ở Trung Quốc, Phật pháp đã có hơn 2.000 năm lịch sử. Kinh điển không ngừng lưu truyền đến Trung Quốc, đại khái trễ nhất là vào thời Nam Tống. Thời Nam Tống, việc phiên dịch, khắc in Đại tạng kinh đã hoàn thành rồi, tổng cộng có hơn 7.000 quyển. Hiện nay còn thu thập thêm những trước tác của các bậc tổ sư đại đức xưa vào trong bộ tùng thư này, hiện nay Đại tạng kinh bằng Hán văn tổng cộng có hơn 30.000 quyển. Nếu chúng ta muốn học Phật, nhưng nhiều kinh sách như thế, bạn đều muốn xem qua, đều muốn nghiên cứu, đều muốn học tập, thì đó chính là tìm cành hái lá, việc này quá phiền phức. Như vậy biết đến năm nào chúng ta mới có thể nhập môn? Người biết học, bắt đầu học từ gốc rễ, điều này rất quan trọng.

Tôi học Phật được 50 năm, tôi giảng kinh cũng được 42 năm rồi. Trong cả cuộc đời học Phật, tôi tổng kết tinh túy của Phật pháp thành 20 chữ. Chúng ta giữ tâm, tức là nói đối nhân, xử sự, tiếp vật trong đời sống hằng ngày, chúng ta dùng tâm như thế nào? Trong kinh điển đức Phật dạy chúng ta dùng tâm chân thành. “Chân” thì tuyệt đối không có giả, “thành” tức là không hư dối, dùng tâm chân thành. Dùng tâm thanh tịnh, thanh tịnh chắc chắn không có ô nhiễm. Dùng tâm bình đẳng, bình đẳng thì không có cao thấp. Dùng tâm chánh giác thì tuyệt đối không có mê hoặc. Dùng tâm từ bi, yêu thương tất cả chúng sanh, trong tâm từ bi không có tự tư tự lợi. Chúng ta phải dùng năm loại tâm này, năm loại tâm này trong Phật pháp đại thừa gọi là tâm đại Bồ-đề. Nếu dùng tâm đại Bồ-đề để nói thì rất nhiều người không hiểu lắm. Nói theo chú giải trong kinh điển, cũng rất khó hiểu. Tôi nói như vậy thì mọi người dễ lý giải hơn,“chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi” là tâm Phật! Phật dùng tâm này để xử sự, đối người, tiếp vật. Việc làm của Phật là gì? Việc làm, tôi cũng dùng mười chữ là “nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, niệm Phật”. Niệm Phật, Phật nghĩa là giác, tức là niệm niệm giác mà không mê, niệm niệm chánh mà không tà, niệm niệm tịnh mà không nhiễm. Đó gọi là niệm Phật, niệm tự tánh Phật. Nắm được cương lĩnh này thì tu hành sẽ rất dễ, quả nhiên có thể khế nhập cảnh giới. Tất cả kinh điển của nhà Phật bày ra trước mắt bạn, bạn sẽ không cảm thấy khó khăn nữa, bạn đều có thể thông đạt, học tập được. Cho nên, thế xuất thế gian pháp đều phải biết căn bản, đều phải nắm được tinh yếu của nó, cương lĩnh của nó, có như vậy chúng ta mới hiểu rõ được. Đại khái, cao nhất là tu từ căn bản, là “trị tâm”, hiệu quả là “tâm luôn thanh tịnh”, làm gì có nhiều chuyện phiền phức như thế? “Tà niệm vừa khởi liền phát giác, ngay đó tà niệm sẽ không còn nữa”. Tâm này vừa động lập tức phát giác ngay, vừa phát giác thì ý niệm này liền biến mất. Cổ đức nói: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”, bạn phải giác thật nhanh, đừng để cho ác niệm nối tiếp nhau. Ác niệm vừa khởi lên thì niệm thứ hai chính là chánh niệm, đây là phương pháp tốt nhất.

Nếu chưa thể làm được như vậy.

Nếu như bạn không làm được, phương pháp cao nhất không làm được, vậy thì bất đắc dĩ phải áp dụng phương pháp thứ hai, bất đắc dĩ phải cầu phương pháp thứ hai, thứ hai là gì? Là hiểu lý.

Thì nên dùng phương pháp hiểu rõ lý để trừ bỏ tà niệm.

Hiểu rõ ràng tường tận đạo lý rồi thì tự nhiên sẽ xa lìa ác niệm, tà tư.

Nếu sửa theo lý cũng không làm được.

Điều này cũng không làm được, không làm được thì sao?

Thì nên sửa theo sự để ngăn chặn tà niệm.

Vậy thì chỉ còn cách hạ công phu từ cành lá. Ba tầng này, thực tế mà nói thì nhà Phật gọi là ba loại căn tánh khác nhau. Hàng thượng căn hạ thủ từ gốc, từ chỗ khởi tâm động niệm, đoạn tất cả ác. Hàng trung căn là dùng “phương pháp hiểu rõ lý để trừ bỏ tà niệm”. Hàng hạ căn thì chỉ có cách “sửa theo sự để ngăn chặn tà niệm”. Cho nên, đức Phật vì hàng hạ căn này nên chế định rất nhiều điều giới. Chư vị nhất định phải hiểu những điều giới này là vào thời Ấn Độ cổ 3.000 năm trước, lúc Thích-ca Mâu-ni Phật còn tại thế, đó là quy phạm cuộc sống của xã hội thời đó. Về mặt thời gian, đã cách chúng ta 3.000 năm rồi. Về hoàn cảnh địa lý, chúng ta ở đây là Trung Quốc, ở đó là Ấn Độ. Nếu bạn hiểu được đạo lý này, sau đó bạn nghiên cứu giới luật mới thật sự có tâm đắc. Có cần căn cứ theo từng điều giới luật để thực hành hay không? Không cần, vì sao vậy? Vì rất nhiều phương thức sinh hoạt hoàn toàn khác với chúng ta hiện nay, cần phải biết điều này. Phải hiểu được tinh thần của giới luật. Phải học tinh thần đó, trên sự tướng thì nên dùng phương thức sống thời hiện nay, không thể học theo phước thức sống của Ấn Độ cổ 3.000 năm trước được, như vậy là sai rồi! Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thấy vậy cũng phải cười, sao bạn lại ngốc đến như vậy. Bởi vậy trong Phật pháp, cho dù là giới luật, mỗi điều đều rất linh hoạt, không chết cứng. Nhưng giới căn bản thì siêu việt thời không, siêu việt thời gian, siêu việt không gian, mọi lúc mọi nơi đều chính xác, không thể thay đổi được. Giới căn bản này là gì? Là năm giới, chỉ có năm điều là “không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu”. Năm điều này bất luận là thời đại nào, bất luận ở khu vực nào, đều áp dụng được. Năm điều luật này là siêu việt thời không, cần phải tuân thủ. Rất nhiều những điều giới khác, nhất định phải xem có thích hợp với thời đại hiện nay của chúng ta hay không. Trong thời đại hiện nay của chúng ta, phải biết làm thế nào để sửa đổi mà không trái với tinh thần của nó. Nhưng về mặt sự tướng, nhất định phải tu sửa thêm.

Ở Trung Quốc lần đầu tiên làm công tác tu đính quy mô lớn là thời nhà Đường. Phật pháp thời nhà Đường, có người nói Phật pháp thời nhà Đường đã khởi lên một cuộc vận động cách mạng, cũng có thể dùng cách nói này. Đó chính là chế độ tòng lâm ở Trung Quốc đã được hưng khởi. Mã Tổ dựng tòng lâm, Bách Trượng lập thanh quy. Hai vị đại sư này đề xướng cộng tu, nương chúng tựa chúng. Hai người này là sư huynh đệ, là tổ sư đời thứ 8 của Thiền tông, hai vị đều là đời thứ 8. Nói theo cách thông thường thì các ngài là đồ tôn của đại sư Huệ Năng. Kiến lập tòng lâm chính là chế độ hóa giáo học và tu hành của Phật pháp, chính thức chế độ hóa. Tòng lâm giống như trường đại học hiện nay vậy, tổ chức rất nghiêm mật. Chủ tịch của tòng lâm chính là phương trượng, như hiệu trưởng của trường học vậy. Hòa thượng thủ tọa của tòng lâm, tương đương với giáo vụ trưởng của trường học. Hòa thượng duy-na của tòng lâm tương đương với huấn đạo trưởng. Giám viện của tòng lâm tương đương với tổng vụ trưởng. Danh xưng không giống với lãnh đạo chấp sự của trường học hiện nay nhưng công việc mà họ được phân công hoàn toàn tương đồng. Cho nên giáo vụ, huấn đạo, tổng vụ trong tòng lâm, đó là trường học, lập trường chính quy để dạy học, giúp mọi người cùng nhau công phu sửa lỗi tu thiện, đây gọi là tu hành. Tóm lại mà nói, tu hành chính là sửa lỗi tu thiện mà thôi. Hiện nay có rất nhiều người hiểu lầm, cho rằng tu hành nhất định phải ăn chay trường, nhất định phải hằng ngày gõ mõ tụng kinh, như vậy là hoàn toàn hiểu sai. Đó là hình thức, hình thức có thể thay đổi, còn tinh thần và nguyên lý nguyên tắc không thể thay đổi.

Hiện nay có rất nhiều đồng tu thường đến gặp tôi, họ xây dựng chùa chiền ở khắp nơi, tôi không tán thành. Vì sao vậy? Vì chùa là thời đại 2.000 năm trước, hoặc là trước thời nhà Thanh còn có thể nói được. Hiện nay là xã hội tự do dân chủ cởi mở, không thể khiến người ta trở lại thời đại chuyên chế được, đây là điều không thể. Đạo tràng hiện nay nên kiến lập như thế nào? Phải kiến lập theo phương thức trường học. Phật giáo vốn là giáo dục, cần phải trở về với giáo dục; bởi vậy thành lập trường học, không nên thành lập chùa, như vậy mới được. Nếu nói hoằng dương Phật pháp, đạo tràng hoằng dương Phật pháp tốt nhất, lý tưởng nhất, đó chính là truyền bá trên truyền hình vệ tinh thời nay. Chúng tôi giảng kinh thuyết pháp trong phòng thu hình, dùng vệ tinh để truyền bá, toàn thế giới đều có thể nghe được, bạn nói hiệu quả này lớn biết bao! Dùng phương pháp này hoằng pháp lợi sanh, đưa giáo học Phật pháp đến từng gia đình. Đem những lý luận, phương pháp tu học của Phật pháp, tận dụng khoa học kỹ thuật để truyền tải [Phật pháp] đến những người muốn học Phật. Như vậy là chính xác, không cần xây dựng chùa chiền nữa, thời đại xây chùa đã qua rồi.

Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây.