Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 11A


Video Thumbnail

LIỄU PHÀM TỨ HUẤN GIẢNG GIẢI

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng ngày: 16-20/4/2001
Giảng tại: Đài Truyền Hình Phượng Hoàng – Thâm Quyến – Trung Quốc
Tổng cộng 20 Tập.

Chuyển ngữ: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Mã AMTB: 19-016-0001 đến 19-016-0020

Liễu Phàm Tứ Huấn –  Tập 11A

Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Chúng ta xem tiếp đoạn văn bên dưới.

Dùng cách sửa đổi tâm đồng thời kèm theo những phương pháp còn lại, như vậy không có gì sai lầm. Nếu chỉ chấp vào những phương pháp kém hiệu quả mà không biết đến phương pháp vượt trội hơn thì thật là khờ dại.

Đây là thái độ học tập, cũng rất quan trọng. Hàng thượng căn tuy sửa đổi từ tâm, bắt đầu sửa từ chỗ khởi tâm động niệm, nhưng tuyệt đối không thể lơ là sự tướng. Không thể nói tâm tôi rất thanh tịnh, không cần tuân thủ giới điều nữa, đây là sai lầm. Sai ở đâu? Mặc dù bạn có công phu, nhưng công phu của bạn không phải chân thật, vì sao vậy? Vì người có công phu chân thật thì nhất định có lòng từ bi. Bạn có lòng từ bi thật sự thì bạn nhất định sẽ làm ra tấm gương, làm ra mô phạm tốt cho mọi người noi theo. Đây là lợi tha, tự lợi lợi tha, cho nên điều này là đúng, là chính xác. Nghĩa là hàng thượng căn nhất định phải từng giây từng phút chăm sóc hàng hạ căn. Chúng ta phải tuân thủ mọi giới luật mà đức Thế Tôn đã chế định. Từ giới điều suy rộng ra thì pháp luật của quốc gia, chúng ta cũng nhất định phải tuân thủ. Nói theo nghĩa rộng thì trì giới chính là tuân thủ pháp luật. Trong giới kinh của đại thừa, đức Phật đã nói rất rõ ràng rất tường tận. Trong kinh Phạm Võng nói với chúng ta, Bồ-tát nhất định phải tuân thủ, “không hủy báng quốc chủ”. Quốc chủ hiện nay gọi là người lãnh đạo quốc gia, tuyệt đối không được hủy báng. Trong Anh Lạc Bồ-tát Giới Kinh nói: “Không trốn thuế quốc gia”. Từ xưa đến nay, Trung Quốc hay nước ngoài, nhân dân có nghĩa vụ nộp thuế cho quốc gia, không được trốn thuế. Như những điều này đều thuộc về trì giới. Những điều lệ hiến pháp, pháp luật của quốc gia  là hữu hình. Vô hình là những quan niệm đạo đức, phong tục tập quán của chúng ta, đều phải tuân thủ. Trong xã hội hiện nay, do giao thông thuận tiện, nhanh chóng, truyền thông phát triển, chúng ta thường có cơ hội ra nước ngoài du lịch. Đến quốc gia khác, pháp luật của họ không giống với chúng ta, phong tục tập quán của họ không giống chúng ta, nên phải “nhập gia tùy tục”, đến đất nước người ta nhất định phải tuân thủ pháp luật và quy định của họ, tuân thủ phong tục tập quán của họ, đó đều ở trong phạm vi trì giới. Cho nên, trong giới luật bao hàm rộng lớn vô biên, chúng ta đều phải hiểu.

Nếu “chấp vào những phương pháp kém hiệu quả mà không biết đến phương pháp vượt trội hơn”, chấp trước vào những pháp luật, quy định này “tôi tuân thủ mọi thứ” nhưng không hiểu rõ lý, cũng không hiểu sửa đổi từ tâm. Cách sửa như vậy rất ngu ngốc, đây không phải là cách làm thông minh. Nhưng cũng là cách hay, có thể tuân thủ như vậy thì lỗi lầm thường sẽ tương đối ít. Sai lầm là điều không thể tránh, nhưng lỗi lầm có thể giảm đi rất nhiều. Cho nên ông nói với chúng ta, sửa lỗi lầm phải có ba loại tâm, cũng có ba loại công phu khác nhau, điều này nói rất rõ ràng, rất tường tận.

Đoạn bên dưới nói về hiệu quả của việc sửa lỗi, sau khi sửa lỗi sẽ xuất hiện những cảnh giới như thế nào. Cũng chính là nói, chúng ta thấy được hiệu quả như thế nào, thành tích ra sao. Mời xem đoạn văn này:

Nhưng phát nguyện sửa lỗi thì chỗ sáng cần có bạn tốt nhắc nhở, chỗ tối cần quỷ thần chứng minh, phải hết lòng sám hối, ngày đêm không giải đãi.

Chữ “cố” nói như hiện nay nghĩa là “nhưng”, nhưng đã phát nguyện sửa lỗi thì cần phải có sự giúp đỡ. “Minh” là rõ ràng, cần “bạn tốt nhắc nhở”, phải có những người bạn tốt chân thật thường xuyên nhắc nhở bạn. Vì sao vậy? Vì phàm phu hay quên, chớp mắt là quên rồi. Chư vị thử nghĩ xem, nếu có một người ở trước mặt bạn, là bạn tốt của bạn, thường xuyên nhắc nhở bạn, vậy bạn có chê họ nhiều chuyện hay không? Thật vậy, chắc chắn bạn sẽ chê họ nhiều chuyện, chê họ phiền phức. Cho nên, giáo học trong Phật giáo khiến chúng ta không thể không khâm phục sự thông minh trí tuệ của Thích-ca Mâu-ni Phật, ngài dùng phương pháp gì? Phương pháp này, hiện nay trong trường học gọi là công cụ dạy học. Ngài dùng danh hiệu, ngài dùng nghệ thuật để thời thời khắc khắc nhắc nhở chúng ta.

Về danh hiệu, ví dụ danh hiệu Thích-ca Mâu-ni Phật, đây không phải là danh hiệu của bản thân ngài. Tên chính của ngài, trong kinh điển ghi chép là Tất-đạt-đa, nhưng ngài có thói quen dùng danh hiệu này, danh hiệu này là nhắc nhở chúng ta. Nhưng thời xưa, cổ nhân dịch kinh hoàn toàn là dùng âm tiếng Phạn, dịch là Thích-ca Mâu-ni Phật, không dịch ý nghĩa của danh hiệu đó ra. Người thời nay chúng ta khi nghe đến danh hiệu này cảm thấy mù mờ không hiểu nghĩa là gì, nhưng cổ nhân hiểu. Thời xưa nhiều người giảng kinh, nhiều người dạy học, vì các tự viện thông thường đều là trường học. Pháp sư xuất gia chính là thầy giáo, họ ngày ngày ở đó tự nghiên cứu, rồi giảng dạy, dạy học cho đại chúng. Tự viện là trường học, cho nên mọi người đều hiểu.

Thích-ca nghĩa là nhân từ. Chúng ta đối người tiếp vật thiếu nhân từ, thường nghĩ đến tự tư tự lợi, tổn người lợi mình. Đều khởi ý niệm này, làm những chuyện này, như vậy là sai rồi. Cho nên Thế Tôn dùng danh hiệu Thích-ca này, nghe đến danh hiệu này, khi ta đối đãi với người phải nhân từ, phải có thể quên mình vì người. Hai chữ Mâu-ni nghĩa là thanh tịnh, phải thanh tịnh đối với mình, phải nhân từ đối với người khác. Dùng danh hiệu này thường nhắc nhở chính mình, chúng ta niệm danh hiệu này để nhắc nhở chính mình. Nghe người khác niệm danh hiệu này, cũng là nhắc nhở chính mình. Trong nhà mình có Phật đường nhỏ, hoặc có một phòng khách, trong phòng khách chúng ta đặt một tôn tượng Phật, viết tên của Phật hai bên giống như câu đối vậy. Đây là tràng phan mà mọi người thấy ở trong chùa, trên phan đều viết danh hiệu Phật Bồ-tát, có tác dụng gì vậy? Nhắc nhở chính chúng ta. Trong Phật giáo là dùng phương pháp này, tượng Phật, tượng Bồ-tát cũng là nhắc nhở chúng ta, khiến chúng ta vừa nhìn thấy liền biết nó biểu thị ý nghĩa gì. Thích-ca Mâu-ni Phật biểu thị cho nhân từ, thanh tịnh. Nước ta thờ Bồ-tát Quán Thế Âm nhiều nhất, Bồ-tát Quán Thế Âm đại biểu từ bi, đại từ đại bi. Đại từ đại bi nói như hiện nay là tâm yêu thương không có điều kiện, yêu thương tất cả chúng sanh. Chúng sanh có khổ có nạn, toàn tâm toàn lực giúp họ một cách vô điều kiện, đây là Bồ-tát Quán Thế Âm. Thấy tượng Bồ-tát Quán Thế Âm liền nghĩ, tôi phải từ bi đối với tất cả chúng sanh, cũng giúp đỡ tất cả chúng sanh vô điều kiện giống như Bồ-tát Quán Thế Âm vậy. Bồ-tát Quán Thế Âm là ai? Bồ-tát Quán Thế Âm chính là ta. Nhắc nhở mình, dùng tôn tượng này, dùng danh hiệu này nhắc nhở chính mình, mình phải học theo Bồ-tát Quán Thế Âm, mình phải học làm Bồ-tát Quán Thế Âm, chính là ý này. Cho nên công đức thờ tượng Phật rất lớn, công đức lớn ở đâu vậy? Chính là lớn ở chỗ này, thường nhắc nhở bạn.

Thờ tượng Bồ-tát Địa Tạng Vương, Bồ-tát Địa Tạng Vương đại biểu hiếu, hiếu thân. Địa là đại địa, Tạng là bảo tạng. Chúng ta sống trên địa cầu này, không thể tách rời đại địa, việc ăn ở, đi lại của chúng ta đều nhờ vào đại địa cung cấp. Bất luận là sinh sống ở đâu trên địa cầu, cuộc sống hằng ngày của chúng ta đều cần đến ngũ cốc, lương thực, đây là bảo tạng do đất sanh ra. Tài nguyên cất giấu dưới lòng đất rất nhiều, đều là kim ngân châu bảo, cung cấp cho nhu cầu cuộc sống của chúng ta. Đức Phật dùng “địa” tượng trưng cho “tâm địa” của chúng ta. “Tạng” là trong tâm địa, chân tâm của chúng ta có vô lượng trí tuệ, có vô lượng năng lực, đức chính là năng lực, có vô lượng tướng hảo, cần chúng ta đi khai thác. Dùng phương pháp gì để khai thác? Dùng hiếu thân tôn sư, chính là hiếu đạo và sư đạo. Kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện chính là nói về hiếu đạo và sư đạo, dùng điều này để khai thác. Cho nên, chúng ta nhìn thấy tượng Bồ-tát Địa Tạng, nghe đến danh hiệu Bồ-tát Địa Tạng, chúng ta phải biết hiếu thân tôn sư, nó luôn nhắc nhở chúng ta. Bồ-tát Văn Thù nhắc nhở ta về trí tuệ, phải cầu trí tuệ. Bồ-tát Phổ Hiền nhắc nhở ta phải thực hành trong đời sống. Như nhân từ và thanh tịnh của Thích-ca, từ bi của Quán Âm, hiếu kính của Địa Tạng, trí tuệ của Văn Thù, tất cả đều phải thực hành trong đời sống hằng ngày của chúng ta, thực hành trong công việc, thực hành trong xử sự, đối người, tiếp vật, đó gọi là Phổ Hiền. Bạn xem nhà Phật dạy học có tuyệt diệu hay không? Cho nên, tất cả hình tượng chư Phật Bồ-tát trong Phật giáo, tất cả hình tượng của thần minh, tất cả đều là dạy học, là biểu pháp. Tuyệt đối không phải mê tín, tuyệt đối không thể xem các ngài như thần minh để cung phụng, như vậy là hoàn toàn sai lầm. Dùng phương pháp này để nhắc nhở chúng ta. Nếu như ngày nào cũng có một người ở bên cạnh nhắc nhở thì chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu, chán ghét họ, thậm chí còn hận họ. Nhưng bày những tác phẩm nghệ thuật này ở trước mắt bạn, có thể thưởng thức, lại có thể nhắc nhở, bạn nói xem tốt biết bao!

Lần trước tôi đến thăm Đài truyền hình Phụng Hoàng, gặp Thường tiên sinh, trong phòng làm việc của ông đặt rất nhiều tượng Bồ-tát Di-lặc. Tôi nhìn thấy ông có chút giống Bồ-tát Di-lặc, bụng to, mập mạp. Bồ-tát Di-lặc biểu thị cho tâm hoan hỷ. Nhà Phật thường gọi là bình đẳng, từ bi. Sanh tâm bình đẳng, thì sẽ có tướng hoan hỷ. Chúng ta xử sự, đối người, tiếp vật tâm phải bình, sắc tướng phải nhã nhặn, phải hoan hỷ. Đây là dạy chúng ta làm sao để chung sống với đại chúng, hoàn toàn là biểu pháp. Danh hiệu người xuất gia chúng ta cũng không ngoại lệ, tôi xuất gia sư phụ đặt cho tôi pháp danh là Tịnh Không, tôi rất hoan hỷ. Mọi người vừa gọi đến tên này, tôi liền nghĩ mình có thanh tịnh hay không? Mình có buông bỏ hay không? Buông bỏ là không. Gọi đến tên này, tôi liền nghĩ xem mình đã làm được hay chưa? Danh có đúng với thực hay không? Nếu danh không xứng với thực thì chúng ta phải sanh tâm hổ thẹn, chúng ta đã có lỗi với cái tên này rồi. Cho nên, danh hiệu của Phật vô lượng vô biên, là tiêu biểu cho tánh đức vô lượng vô biên trong chân tâm bản tánh của chúng ta. Danh hiệu của Bồ-tát vô lượng vô biên, là tiêu biểu cho tu đức của chúng ta. Tánh đức, phàm phu chúng ta đã mê mất tự tánh, nên tánh đức không hiển lộ, phải dựa vào tu đức. Tu đức có công thì tánh đức liền hiện tiền, chính là ý như vậy.

Phật giáo không đơn thuần chỉ biểu pháp thông qua tên gọi, qua nghệ thuật tạo tượng, mà mọi thứ trang trí đều là biểu pháp. Ngay đến kiến trúc cũng không ngoại lệ, nếu quý vị chú ý, khi đến các ngôi chùa Phật giáo, bạn xem điện thờ Thích-ca Mâu-ni Phật, gọi là “Đại Hùng Bảo Điện”. Bạn xem kiến trúc của nó, nhìn từ bên ngoài có hai tầng, ở trong có một tầng, đều là nhắc nhở chúng ta. Bên ngoài hai tầng là dạy chúng ta phải thuận theo thế tục, “Phật pháp ở thế gian, không hoại thế gian pháp”. Ở trong phải bình đẳng, bên trong không được có hai thứ. Bên ngoài có thể không bình đẳng, nhưng bên trong tuyệt đối phải bình đẳng. Nếu bên ngoài mà bình đẳng thì trật tự xã hội này sẽ bị phá hoại. Bên ngoài nhất định phải có tôn ti, có cha con, có anh em, có lớn nhỏ, nó có trật tự, không được phá hoại trật tự này. Bên ngoài có hai tầng là tiêu biểu cho trật tự xã hội, tuyệt đối phải tuân thủ, bên trong nhất định phải bình đẳng, ý nghĩa quá hay!

Những phẩm vật thờ cúng đều là biểu pháp, chúng ta thắp một cây hương cúng Phật, hương tiêu biểu điều gì? Trong bài Tán Hương nói: “Giới định chân hương”, chân hương không phải cây hương bạn thắp, thấy cây hương đó phải biết mình phải tu giới, phải tu định, phải tu tuệ. Giới, định, tuệ là hương trong chân tâm tự tánh của mình, dạy ta ngửi thấy mùi hương này, nhìn thấy cây hương này, thì nghĩ ta phải tu giới định tuệ, ta phải đoạn tham sân si, không có điều gì mà không phải nhắc nhở. Những đồ thờ cúng trước Phật, quan trọng nhất, đơn giản nhất là phải cúng một ly nước, các vật dụng khác như hương hoa đều có thể không có, không thắp hương cũng không sao, nhưng nước nhất định phải cúng một ly. Nước tiểu biểu điều gì? Nước tiêu biểu cho tâm, thấy ly nước này hãy nghĩ xem, tâm mình có trong sạch như nước không, có nhiễm chút bụi nào không, có bình đẳng như nước không, nước bình lặng mà. Cho nên, nước tượng trưng cho thanh tịnh bình đẳng, lấy ý nghĩa này. Nước không phải để Phật uống, mà là để ta thấy, để mọi người thấy. Khi nhìn thấy ly nước này phải nghĩ rằng tâm tôi phải thanh tịnh, phải bình đẳng. Dùng những phương pháp này để nhắc nhở chúng ta. Tất cả mọi thứ, các ngài đều phải nhọc lòng nghĩ ra phương pháp để dạy chúng ta. Sau đó chúng ta mới thể hội được, ân đức lớn lao của Phật đối với chúng ta, suy nghĩ rất chu đáo, chúng ta không thể không phục sát đất, làm gì có mê tín! Chư vị phải biết, dùng nước trong cúng Phật, không được cúng trà. Trà có màu, như vậy thì không thanh tịnh, nó biểu thị trong tâm có ô nhiễm, vì vậy phải cúng nước trong. Nước trong là dùng nước máy hoặc nước sôi đều được cả, chỉ cần nước tinh sạch, trong nước không có những thứ vẩn đục, như vậy là được. Bạn phải hiểu ý nghĩa của nó là biểu pháp. Cũng chính là “chỗ sáng cần phải có bạn tốt nhắc nhở”, thời thời khắc khắc nhắc nhở chúng ta. Trong phút chốc mà không nhắc là chúng ta sẽ mê ngay, sẽ làm sai việc, sẽ bị hồ đồ. Cho nên, thiết bị dạy học trong Phật giáo rất tuyệt diệu. Đến nửa sau thế kỷ 20, sau thế chiến thứ hai, chúng ta mới thường nghe đến nghệ thuật, ngay cả đánh trận cũng chú ý đến nghệ thuật, có khẩu hiệu nghệ thuật hóa. Chúng ta liền nghĩ đến mấy ngàn năm trước Phật dạy học đã đi vào nghệ thuật rồi, dùng phương pháp nghệ thuật để dạy học.

“Chỗ tối cần quỷ thần chứng minh”. Quỷ thần chứng minh chính là cảm ứng, những câu chuyện về cảm ứng có rất nhiều. Những chuyện mà đời này tôi đích thân trải qua và các bạn đồng tu kể cho tôi nghe về những chuyện cảm ứng của họ, rất phong phú. Tu học Phật pháp là học làm người tốt, học làm người hiểu biết, vẫn cần phải có thiện căn, phước đức, nhân duyên.

Nếu không đầy đủ ba điều kiện này, thì đời này bạn không có duyên gặp được, gọi là không có cơ hội để gặp. Bạn có cơ hội gặp được, chứng minh trong đời quá khứ bạn có thiện căn, phước đức, nhân duyên. Trước đây khi tôi ở Mỹ, hội Phật giáo của chúng tôi ở Dallas, có một vị hội trưởng là cư sĩ Thái Văn Hùng, ông kể cho tôi nghe về nhân duyên học Phật của ông. Ông thường sống ở nước ngoài, là Hoa Kiều, không tin điều này. Năm đó cha ông qua đời, ông đến Đài Loan để tang đưa tiễn cha mình. Khi cha ông lâm chung, ông đứng bên giường, ông nhìn thấy có một tôn tượng Phật, tượng Phật này ở cửa sổ. Cửa sổ đó giống như khám thờ Phật vậy, tượng Phật đặt ở trong đó. Ông nói ông nhìn ít nhất 15 phút, thời gian dài như vậy tuyệt đối không nhìn lầm, ông ấn tượng rất sâu sắc, ông cảm thấy rất kinh ngạc! Ông hỏi người mọi người, mọi người không nhìn thấy, ông tín tâm học Phật bắt đầu từ đấy, đây là Phật đến độ ông. Về sau ông làm kinh doanh, kiếm được tiền, có lúc đi vào tiệm đồ cổ, ông thích mua đồ cổ. Trong tiệm đồ cổ ông nhìn thấy một tượng Phật, điêu khắc bằng đá. Ông vừa thấy tượng Phật này, chính là tượng Phật hiện ra ở cửa sổ ngày cha ông mất, ông lập tức mua về. Đó là mua ở Trung quốc, sau khi mua xong, đem đến Mỹ. Đầu tiên thờ ở nhà, sau đó đem chuyện này kể với tôi, tôi đến xem, xem xong cũng rất hoan hỷ. Tôi khuyên ông đem tượng Phật này thờ trong đạo tràng, vì ông là hội trưởng của đạo tràng này, hội Phật giáo Dallas, hiện nay tượng Phật này vẫn thờ trong đạo tràng đó. Đây là ông kể lại nhân duyên học Phật của mình, “chỗ tối cần quỷ thần chứng minh”.