Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 6B
Bên dưới, tiên sinh Liễu Phàm nói tiếp:
Mỗi ngày cần phải biết được lỗi lầm của mình, để mỗi ngày sửa đổi. Một ngày không biết lỗi của mình, an nhiên nghĩ ngày hôm đó mình không có lỗi. Một ngày không có lỗi để sửa thì ngày hôm đó không có tiến bộ.
Những lời này đối với chúng ta mà nói là quan trọng hơn bất cứ thứ gì! Trong nhà Phật thường nói “khai ngộ”. Có người hỏi tôi thế nào gọi là khai ngộ? Tôi nói với họ, bạn biết được lỗi lầm của mình là bạn khai ngộ rồi. Bạn có thể sửa đổi được lỗi lầm của mình thì đó gọi là chân tu hành. “Vụ yếu” là nhất định phải, nhất thiết phải. Mỗi ngày đều phải kiểm điểm, phản tỉnh, tìm ra lỗi lầm của mình. Việc quan trọng nhất của các đồng tu học Phật là hai thời công phu sáng tối. Thời khóa sáng tối không phải niệm cho Phật, Bồ-tát nghe, không chú trọng hình thức. Dụng ý của thời khóa sáng là nhắc nhở bản thân, hy vọng hôm nay ta xử sự đối nhân, tiếp vật không quên lời giáo huấn của Phật, dụng ý của thời khóa sáng là ở chỗ này. Thời khóa tối là phản tỉnh, kiểm điểm xem mình cả ngày hôm nay đối người, đối sự, đối vật, có điều nào đã làm đúng, chính xác, có điều nào đã làm sai, thời khóa tối là phản tỉnh. Nếu làm đúng thì ngày mai tiếp tục duy trì, còn làm sai thì ngày mai nhất định phải sửa đổi. Làm công khóa sáng tối như vậy sẽ có công đức, tuyệt đối không phải gõ mõ tụng kinh, niệm Phật cho Phật, Bồ-tát nghe. Sáng niệm một lần, tối niệm một lần, nhưng hoàn toàn không liên quan đến tư tưởng, ngôn hành của mình. Thời khóa sáng tối như vậy không những không có công đức mà còn tạo tội nghiệp! Tạo tội nghiệp gì? Phật, Bồ-tát không ở trước mặt, nhiều nhất là bạn tạc một bức tượng hay vẽ một bức tranh, bạn nhẫn tâm đối trước tôn tượng này, bức tranh này sáng sớm gạt một lần, tối đến lại gạt thêm lần nữa. Tâm của bạn quá tàn nhẫn, tội lỗi này rất lớn. Ngày nay người học Phật rất nhiều, nhưng người thật sự hiểu được đạo lý trong Phật pháp thì không nhiều. Rất hy vọng chư vị đồng học hiểu được tinh thần và ý nghĩa của thời khóa sáng tối, chính là ở đây nói: “Ngày ngày biết lỗi, ngày ngày sửa đổi”. Một ngày không biết lỗi của mình, bạn an nhiên cho rằng mình không có lỗi, tự cho mình là đúng, đây là bệnh nặng. Một ngày không thấy lỗi để sửa thì bạn không cách gì tiến bộ được. Không tiến bộ, nói cách khác bạn nhất định sẽ thoái lui.
Người thông minh tài trí trong thiên hạ rất nhiều.
Mấy câu ở phía sau, tiên sinh Liễu Phàm rất cảm thán! Không phải không có nhân tài thông minh tuấn tú, có!
Họ sở dĩ không thể vun bồi đạo đức, sự nghiệp không thể hiển hách, chính là do sống qua loa tạm bợ, để uống phí cả một đời.
Đây là muốn cảnh tỉnh chúng ta, vì sao những người này không thể tăng trưởng đạo đức mỗi ngày? Vì sao đức nghiệp không thể rộng lớn mỗi ngày? Đều do hai chữ “nhân tuần” làm hại. “Nhân tuần” nghĩa là gì? Nói như ngày nay nghĩa là qua loa miễn cưỡng, được ngày nào hay ngày ấy, không siêng năng nỗ lực. Về phương diện đức học, công việc không siêng năng nỗ lực thực hành. Sau cùng:
Thuyết lập mạng mà thiền sư Vân Cốc truyền dạy là một đạo lý tinh túy nhất, thâm thúy nhất, chân thực nhất, chính xác nhất. Con nhất định phải nghiền ngẫm cho thật kỹ rồi tận tâm tận lực mà làm, đừng để thời gian quý báu luống uổng trôi qua.
Đây là kết luận cuối cùng của phần này, đặc biệt nhấn mạnh học thuyết lập mệnh mà thiền sư Vân Cốc dạy ông. Học thuyết này cực kỳ tinh thuần, tinh túy nhất. “Chí thúy”, “thúy” là thâm, thâm sâu tột cùng. “Chí chân, chí chánh”, “chân” là tuyệt đối không có hư vọng, “chánh” là tuyệt đối không có chút tà ngụy nào. Ông suốt đời tinh tấn tu học, thay đổi vận mệnh. Số mệnh không có công danh nhưng ông được công danh, số mệnh không có con nhưng ông được con trai, số mạng chỉ sống đến 53 tuổi nhưng ông sống đến 74 tuổi, sống nhiều hơn 21 năm. Điều này đủ để chứng minh lời giáo huấn của thiền sư Vân Cốc là chính xác không hề sai.
Những bài văn này của tiên sinh Liễu Phàm, vốn là để giáo huấn con cháu đời sau của mình. Con cháu của ông cũng không tệ, biết được đây là những lý luận phương pháp quý báu, họ không tự tư, mà đã đem ra công bố với đại chúng. Hy vọng xã hội đại chúng đều có thể hiểu rõ học thuyết lập mệnh, đều có thể thay đổi vận mệnh của mình. Như vậy khu vực này, quốc gia này của chúng ta, thậm chí mở rộng ra toàn thế giới, mọi người đều có thể y theo lời giáo huấn này mà tu học thì xã hội sẽ an định, thế giới được hòa bình, nhân dân trên toàn thế giới được hạnh phúc. Đây là tâm lượng, đức hạnh của các bậc cổ thánh tiên hiền, đức hạnh của các ngài. Chương này chỉ giới thiệu đến đây.
Tiếp theo chúng ta xem phần thứ hai. Phần thứ hai là “phương pháp sửa đổi lỗi lầm”, phần thứ ba là “phương pháp tích thiện”, hai chương này là trọng điểm, là trọng tâm. Nếu dùng phương pháp trong kinh Phật để nói, thì chương thứ nhất là phẩm tựa, là lời tựa, chương thứ hai và thứ ba là chánh tông, phần sau cùng gọi là lưu thông. Chúng ta dùng ba phần để xem bốn thiên văn chương này, vậy thì cơ bản sẽ hiểu rõ tông chỉ của bài văn này. Hiễu rõ ràng tường tận học thuyết lập mệnh, vậy bắt đầu hạ thủ từ đâu? Nhất định phải bắt đầu hạ thủ từ việc sửa lỗi. Con người không phải sinh ra đã là thánh nhân, sao có thể không có lỗi lầm cho được? Khổng tử nói: “Đừng sợ sửa lỗi lầm”, ý là nói có sai lầm thì đừng sợ sửa đổi. Phải có dũng khí sửa sai, phải có quyết tâm, phải có nghị lực để sửa lỗi. Cho nên, ông đem những phương pháp và đạo lý sửa lỗi dạy bảo con trai mình, lỗi lầm dù rất nhỏ cũng phải sửa. Phía trước nói người thông thường chúng ta sống qua loa, tạm bợ, nghĩa là sơ suất những lỗi nhỏ, không xem trọng những ác niệm nhỏ. Do đó, lỗi nhỏ nuôi dưỡng thành lỗi lớn, ác niệm nhỏ dần dần dưỡng thành ác niệm lớn, như vậy hậu quả sẽ không tưởng tượng được.
Bây giờ chúng ta xem chánh văn, đoạn thứ nhất nói về “nguyên nhân của việc sửa lỗi”. Tránh họa cầu phước là thường tình của con người, nhưng lành dữ họa phước nhất định có dự báo, đây là điều chúng ta không thể không biết. Mở đầu bài văn, tiên sinh Liễu Phàm trích dẫn ghi chép của người xưa:
Các quan đại phu thời Xuân Thu khi thấy lời nói hành động của một người, liền đoán biết được họa phước của họ, thường rất ứng nghiệm. Có thể xem thấy những việc này trong sách Tả Truyện, Quốc Ngữ.
Thời đại Xuân Thu, Khổng tử sanh vào thời đại này, lúc đó vẫn là thời nhà Chu. Cuối thời nhà Chu, vương thất suy vi. Rất nhiều chư hầu đối với thiên tử nhà Chu đa phần đều là bằng mặt mà không bằng lòng, mỗi người đều có ý đồ mở rộng thế lực của mình, cho nên Xuân Thu là một xã hội động loạn. Khổng tử sanh trong thời kỳ này, cũng là cảm khái muôn phần! Các vị đại phu thời đó, đại phu là trợ thủ của quốc vương, chư hầu. Đại khái trong tổ chức chính trị hiện nay, các nhân vật như Bộ trưởng, Thủ tướng đều thuộc tầng lớp đại phu này. Họ gặp rất nhiều người. Họ có học thức, kinh nghiệm phong phú, nhìn thấy cử chỉ của người này, nghe lời nói của người này “liền đoán biết được họa phước của họ”, “ức” là suy đoán, nghĩ đến lành dữ họa phước sau này của họ, đều có thể đoán được rất linh nghiệm. Những vấn đề này đều ghi chép trong Tả Truyện, Quốc Ngữ. Tả Truyện và Quốc Ngữ đều là trước thuật của Tả Khưu Minh. “Chư Ký” giống như “Công Dương Truyện” và “Cốc Lương Truyện”, chúng ta đều có thể thấy rất nhiều ghi chép rất rõ ràng. Đây chính là nói rõ, lành dữ họa phước sẽ có dự báo. Đoạn văn nói tiếp:
Đa số điềm báo của cát hung đều khởi lên từ tâm rồi biểu hiện ra lời nói và việc làm.
Trong tâm con người tồn tại ý niệm thiện ác, những hạnh nghiệp thiện ác mà bạn tạo ra, không che giấu được người. Quý vị có thể che giấu lừa gạt được người ngu si, nhưng không giấu được người có đạo đức, có học vấn. Ta không che giấu được những người này, quả thật họ vừa nhìn thì đã thấu rõ ruột gan chúng ta. Thế gian hiện nay vẫn còn người như vậy, trong đời tôi gặp được vài người, ba vị thầy của tôi đều rất hiếm có. Thầy Phương Đông Mỹ, đại sư Chương Gia, cư sĩ Lý Bỉnh Nam, họ đều có năng lực này. Tiếp xúc đại chúng, đôi lúc cũng nói đến người nào đó bạc mệnh, không có phước báo, không có thọ mạng. Người nào đó tâm địa thuần hậu, tích lũy công đức, tương lai chắc chắn có phước báo, họ cũng có thể thấy một cách rất rõ ràng sáng tỏ. Đối với những người phước mỏng đều sanh tâm thương xót, dạy họ sửa lỗi tu thiện, sáng tạo vận mệnh. Lúc tôi còn trẻ, thuộc hạng người không có phước báo, đoản mệnh, tôi thuộc hạng người này. Nhưng tôi chịu học tập, chịu nghe lời thầy, cho nên thầy rất thương tôi, dạy tôi thay đổi vận mệnh, tự cầu đa phước, cho nên những điều dự báo này đều rất rõ ràng. “Khởi lên từ tâm rồi biểu hiện ra lời nói và việc làm”, khởi tâm động niệm ở trong lòng tự nhiên biểu hiện ra bên ngoài, chính là ngôn ngữ và cử chỉ, làm sao để nhận ra? Ở đây đưa ra một nguyên tắc:
Những người nhân hậu rộng lượng thường được phước. Những người hẹp hòi khắt khe thường gặp tai họa.
Đây là hai nguyên tắc quan sát người, Bạn nhìn thấy người này tâm địa lương thiện, nhân hậu, đối đãi người trung hậu, lúc nào cũng lo nghĩ cho người khác thì người này tương lai có phước. Nếu ngược lại, người này tâm lượng nhỏ hẹp, khởi tâm động niệm đều vì lợi ích cho riêng mình, làm những việc tổn người lợi mình. Đối với mình không có lợi ích thì họ tuyệt đối không làm, rất hà khắc với người khác. Người như vậy không có phước báo, mặc dù trước mắt họ có phước báo, trước mắt có phước báo, đó là phước trong mạng của họ, phước trong mạng không hề nhỏ. Vì họ có tâm bất thiện, hành vi bất thiện cho nên phước của họ đã bị tổn giảm, bị tổn giảm nhưng vẫn còn dư phước. Do đây có thể biết, nếu họ giữ tâm tốt, làm việc tốt thì phước báo của họ suốt đời hưởng không hết, dư phước của họ nhất định con cháu đều hưởng được. Đây là chân tướng sự thật.
Mắt phàm tục không nhận rõ nên nói họa phước không nhất định, không thể dự đoán trước được.
Người thế tục không có học vấn này, không có thường thức này, giống như bị thứ gì đó che mất tầm nhìn vậy, hiện nay chúng ta gọi là bệnh đục thủy tinh thể. Mắt bị màng trắng gây chướng ngại tầm nhìn, khiến bạn không nhìn thấy gì. Nói họa phước không có nhất định, hơn nữa còn không cách gì dự đoán trước, đây là cách nhìn nhận của người thế tục. Người thật sự có học vấn, có đức hạnh, họ không nhìn nhận như vậy, họ thấy rất rõ ràng sáng tỏ. Tiếp theo nói:
Tâm chí thành hợp với lòng trời. Khi thấy người tâm hạnh thiện lương thì biết trước phước của họ sắp đến. Khi thấy người tâm hạnh bất thiện thì biết trước họ sắp gặp họa.
Đây là nói rõ họa phước có thể biết trước, có thể dự đoán khá chuẩn xác. Chúng ta có năng lực này hay không? Đáp án là khẳng định. Ở đây, câu đầu tiên ông đã nói:“Tâm chí thành hợp với lòng trời”. Chúng ta muốn có năng lực này thì chỉ cần làm tốt bảy chữ này là được. Nếu chúng ta khởi tâm động niệm là chân thành thì hợp với phép tắc tự nhiên. “Thiên” chính là phép tắc tự nhiên, không thêm một tơ hào ý nghĩ nào vào trong đó. Tơ hào ý nghĩ này, chúng ta thường nói là vọng tưởng, phân biệt, tuyệt đối không thêm một chút vọng tưởng, phân biệt nào vào trong đó thì chúng ta cũng có năng lực này. Tâm địa chân thành, thanh tịnh, bình đẳng thì năng lực này liền hiện tiền.
Một người phước báo sắp hiện tiền, bạn thấy họ: “Tâm hạnh thiện lương thì liền đoán trước được”. Bạn có thể nhận ra được tâm họ thiện, lời nói thiện, hành vi thiện, nhân hậu với người khác thì chúng ta có thể đoán được phước báo của họ sắp đến rồi. Nếu tư tưởng ngôn hành của họ bất thiện thì chúng ta biết họ ngày càng gần với tai họa rồi. Nhỏ là quan sát một người, lớn thì quan sát xã hội này, quan sát một gia đình, quan sát một đoàn thể, cho đến quan sát quốc gia, thế giới, mọi thứ đều chính xác. Trong này có đạo lý, có học vấn, tuyệt đối không phải vọng ngữ. Bản thân chúng ta phải biết, trong đời mình, đặc biệt là lành dữ họa phước trong tương lai, phải phản tỉnh từ chỗ này. Phản tỉnh từ khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác của chúng ta. Nếu thuần thiện thì ta có thể khẳng định là tiêu tai phước đến. Nếu tâm mình bất thiện, lời nói bất thiện, nói lời ngon ngọt lừa gạt chúng sanh, hành vi bất thiện thì bản thân phải cảnh giác, họa hoạn và tai họa nhất định là ngày càng gần kề. Từ cá nhân đến gia đình, đến xã hội, đến quốc gia, đến thế giới đều như vậy cả. Bên dưới là nói về “nền tảng sửa lỗi”.
Nay muốn được phước lành, tránh xa tai họa.
Đây chính là cầu lành tránh dữ.
Đừng vội bàn đến việc hành thiện, mà hãy sửa đổi lỗi lầm trước.
Hai câu này vô cùng quan trọng! Cho nên thứ tự sắp xếp của hai phần “phương pháp sửa lỗi” và “phương pháp tích thiện” là từ đây mà ra. Trước khi chúng ta nói đến hành thiện tích đức, thì đầu tiên phải nói đến việc sửa lỗi, vì sao vậy? Nếu không sửa lỗi, hoặc sửa đổi không triệt để, sửa đổi không rốt ráo. Tuy tu thiện, nhưng trong thiện lại xen lẫn điều ác, thiện cũng không thuần, cho nên công đức của thiện không thể hiển lộ. Do đó, sửa lỗi là điều kiện tiên quyết của việc tích thiện.
Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến chỗ này.
