Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 14A
Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Mời xem tiếp đoạn văn này, đây là trường hợp thứ tám:
Ở huyện Gia Hưng có người tên là Đồ Khang Hy, ban đầu giữ chức Chủ sự ở Hình bộ. Ban đêm ông trực ở trong ngục, thận trọng tra hỏi vụ án của từng tù nhân, nhờ vậy nên ông phát hiện ra rất nhiều vụ án oan, nhưng ông không nghĩ đó là công lao của mình, chỉ âm thầm đem những vụ án oan này tấu trình lên quan Hình bộ Thượng thư. Sau đó thẩm vấn lại những phạm nhân này, quan Hình bộ Thượng thư đã dựa vào lời khai mà ông cung cấp thẩm vấn lại những tù nhân này, nên ai cũng khâm phục, nhờ đó đã phóng thích cho mười mấy tù nhân bị hàm oan. Lúc ấy, dân chúng ở kinh thành đều ca tụng quan Thượng thư anh minh.
Chúng ta xem đoạn này. “Gia Hưng” ở tỉnh Triết Giang, những ví dụ mà Liễu Phàm tiên sinh đưa ra, đại đa số đều là những câu chuyện tại khu vực Triết Giang. Do đây có thể biết, nguyên tắc đưa ra ví dụ nhất định phải ở khu vực gần nhất. Khi nghe nói đến mọi người đều biết, như vậy lòng tin mới mạnh. Còn về thời đại thì càng gần càng tốt. Đồ Khang Hy làm quan trong Hình bộ. “Chủ sự” là tên chức quan đương thời. Có một đêm ông ngủ ở trong ngục, ở cùng với các phạm nhân. Ông tỉ mỉ nghe ngóng tình trạng của những phạm nhân này, vì vậy biết được trong số phạm nhân có không ít người bị oan, bị người vu cáo. Đồ tiên sinh không cho đó là công lao của mình, ông đem những tình hình này bí mật viết vào giấy trình lên đường quan của ông, đường quan là cấp trên của ông, cũng chính là Hình bộ Thượng thư, Hình bộ Thượng thư tương đương với bộ trưởng hiện nay.
“Sau đó thẩm vấn lại những phạm nhân này”, mấy ngày sau thẩm vấn lại những phạm nhân này, đường quan lấy những tình tiết mà Đồ Khang Hy cung cấp để thẩm vấn những phạm nhân này, phạm nhân không ai không phục, nhờ vậy đã giải oan cho khoảng mười mấy người. “Nhất thời” là lúc chuyện này được truyền đi. “Liễn hạ”, liễn là xe Hoàng đế ngồi, liễn hạ tức là nói thủ đô, kinh thành, nơi Hoàng đế ở. “Lúc ấy dân chúng ở kinh thành đều ca tụng quan Thượng thư anh minh”. Mọi người không ai mà không khen ngợi sự công chánh liêm minh của quan Hình bộ Thượng thư. Đồ tiên sinh lại nghĩ đến một vấn đề, bên dưới nói:
Đồ tiên sinh lại tấu trình lên Hình bộ Thượng thư rằng: “Kinh thành ở dưới chân thiên tử mà còn có nhiều vụ án oan như vậy, thì toàn quốc có hàng triệu dân lẽ nào không có người bị hàm oan ư. Vì vậy xin kiến nghị cứ năm năm một lần, nên cử một vị quan giảm hình về các tỉnh thẩm tra lại các vụ án để phán xử cho công bằng”.
Đây là kiến nghị của ông, kiến nghị lên quan Thượng thư. Ông nói ở nơi kinh thành còn có nhiều người bị hàm oan đến thế, thì bên ngoài kinh thành, trên toàn quốc dân chúng rất nhiều, làm sao không có người bị hàm oan? Chắc chắn rất nhiều người bị hàm oan. “Nghi” là cần, cứ năm năm một lần phái một vị quan giảm hình đi điều tra lại những vụ án này để phán xử cho công bằng, đây là một việc tốt.
Hình bộ Thượng thư đem lời kiến nghị này trình tấu lên triều đình.
Cấp trên của ông, Hình bộ Thượng thư chấp nhận ý kiến đó, đem ý kiến này tấu lên Hoàng đế.
Được Hoàng đế phê chuẩn.
Hoàng đế bằng lòng.
Lúc ấy, Đồ tiên sinh cũng được phái là một trong các quan giảm hình.
Đồ Khang Hy cũng được phái làm một trong các vị quan giảm hình. Việc này đã giải oan giúp cho rất nhiều người bị oan khuất.
Một hôm ông nằm mộng thấy một vị thần đến nói rằng: “Số ông không có con, nay ông kiến nghị việc giảm hình rất hợp với lòng trời”.
Đây là cảm ứng, bản thân có thể tu thiện tích đức, hợp với ý trời, thượng đế thương yêu tất cả chúng sanh, gọi là “trời có đức hiếu sinh”. Cách làm của ông, kiến nghị của ông rất tương ưng với ý trời. Số mệnh ông không có con trai, nay:
Thượng đế ban cho ông ba người con trai.
Ông không hề cầu con trai, không cầu con trai, nhưng ông được cảm ứng này.
Tương lai đều làm quan mặc áo tía đai vàng, đêm ấy vợ ông có thai. Về sau, bà sanh ra ba người con trai là Ứng Huân, Ứng Khôn, Ứng Tuấn, đều được quan tước hiển vinh.
Đây là thiện nhân thiện quả. “Áo tía đai vàng” nói trong đoạn này là nói mặc quan phục màu tím, thắt lưng bằng vàng, đây là quan lớn. Chúng ta biết lễ phục ngày xưa, hoàng tộc mặc long bào màu vàng, chỉ giới hạn trong hoàng tộc. Văn võ bá quan, trong quan văn “áo bào màu tím” là tước vị cao nhất. Đại khái là Thượng thư trở lên, Bộ trưởng trở lên thì quan phục mới là màu tím, đây là một trường hợp. Tiếp theo, trường hợp thứ chín là Bao Bằng, người này bỏ tiền của ra để tu sửa chùa chiền, cũng được cảm ứng.
Huyện Gia Hưng có người tên Bao Bằng, tự là Tín Chi. Cha ông là Thái thú Trì Dương, sanh được bảy người con, Bao Bằng là con út. Ông ở rể nhà họ Viên ở huyện Bình Hồ, thường qua lại với cha tôi, giao tình rất thân. Ông học rộng tài cao, nhưng đi thi nhiều lần không đỗ, nên để tâm học Phật và Đạo giáo.
Chúng ta xem đoạn này. “Huyện Gia Hưng có người tên Bao Bằng”, ở đây đến tự của ông là Tín Chi cũng viết ra. Do đây có thể biết, Bao Bằng và Liễu Phàm tiên sinh khá thân. Phụ thân của Bao Bằng từng làm Thái thú Trì Châu. Thái thú cao hơn Tri huyện một bậc, cùng một cấp quan với Tri phủ. Trì Châu ở huyện Quý Trì, tỉnh An Huy. Ông sinh được 7 người con trai, Bao Bằng nhỏ nhất. Đại khái là ông nhiều con cái cho nên đứa con này ở rể trong nhà họ Viên tại Bình Hồ, là người một nhà với Viên Liễu Phàm, ở rể trong nhà họ. “Thường qua lại với cha tôi, có giao tình rất thân”, phụ thân của Liễu Phàm tiên sinh và Bao Bằng thường qua lại, họ là bạn bè tốt. Người này “học rộng tài cao”, nhưng “nhiều lần đi thi không đỗ”, mỗi lần đi thi đều không đỗ. Do đó “để tâm học Phật và Đạo giáo”, “nhị thị” là Phật giáo và Đạo giáo, ông đi học Phật, học Đạo.
Một hôm ông dạo chơi ở phía đông Mão Hồ, bỗng gặp một ngôi chùa trong thôn, thấy tượng Quán Âm Bồ-tát bị nước mưa dột ướt hết như đứng ngoài trời. Ông lập tức tìm trong túi được 10 lạng bạc, trao cho vị thầy trụ trì để tu sửa mái chùa. Vị tăng nói công trình quá lớn mà khoản tiền này thì quá ít, e là không thể làm được. Bao Bằng lại lấy ra bốn xấp vải đặc biệt sản xuất ở Tùng Giang, lại tìm trong rương hành lý được 7 chiếc áo hai lớp vải đay mới, rồi đưa hết cho vị tăng, người hầu có ý ngăn lại. Bao Bằng nói: “Chỉ cần thánh tượng không bị ướt thì ta dù có ở trần cũng không sao”.
Chúng ta xem đoạn này. Một hôm, ông ra ngoài đi du ngoạn, du ngoạn ở Mão Hồ, đột nhiên trong ngôi chùa của một thôn trang, thấy tượng Quán Âm Bồ-tát. Lúc đó trời mưa, phòng ốc trong chùa bị mưa dột, tượng Quán Âm Bồ-tát bị mưa ướt. Ông thấy vậy rất đau lòng, liền “lập tức tìm trong túi”, thác là túi tiền. Mở túi tiền ra xem, bên trong còn mười lạng bạc, “thập kim” chính là mười lạng bạc. Lấy ra hết, giao cho người xuất gia trong chùa, nhờ thầy tu sửa lại phòng ốc để Bồ-tát không bị mưa dột ướt hết nữa. Vị xuất gia này nói với ông, công trình tu sửa nóc nhà này rất lớn, mười lạng bạc quá ít, sợ không thể hoàn thành. Ông dẫn theo người tùy tùng, đi du ngoạn thường mang theo hành lý mang theo vài bộ áo quần. Trong này có bốn xấp vải sản xuất ở Tùng Giang. Mở rương ra xem còn có bảy bộ áo quần, đây đều là áo quần mới chưa mặc. Bên trong còn có thêm vài thứ tương đối quý giá, “trữ triệp” là sợi đay, áo quần được làm bằng sợi đay. “Triệp” là áo hai lớp. Có áo một lớp, có áo hai lớp đều là đồ mới. Người tùy tùng của ông nói: Thôi, cần gì phải quyên nhiều như thế! Bao Bằng nói chỉ cần thánh tượng không bị ướt, có thể sửa được nóc nhà này, tượng Quán Âm Bồ-tát không bị mưa dột ướt, cho dù ta ở trần cũng không sao. Đây là một tấm lòng chân thành!
Vị tăng cảm động rơi nước mắt nói: “Cúng dường tiền, vải và quần áo không khó, nhưng tấm lòng chí thành như thí chủ đây thật không dễ có”.
Người xuất gia nghe ông nói như vậy, vô cùng cảm động! Ông nói bố thí tiền bạc và những bộ áo quần, vải vóc này, đây không phải việc khó, nhưng tấm lòng chân thành này thì thật hiếm có.
Khi mái chùa tu sửa xong, ông đưa cha cùng đến chùa và ở lại trong chùa. Đêm đó ông mộng thấy thần già-lam đến cảm tạ nói rằng: “Con ông sẽ được hưởng phước lộc ở đời. Về sau con ông là Bao Biện, cháu ông là Bao Sanh Phương đều thi đỗ tiến sĩ, quan tước vinh hiển”.
Đợi đến khi mái chùa tu sửa xong, Bao Bằng đưa phụ thân ông cùng đi xem, buổi tối cũng ở trong ngôi chùa này. Tối đến Bao Bằng mộng thấy thần già-lam, già-lam là thần hộ pháp, thần hộ pháp đến cảm ơn ông. Thần nói, con cái ông sẽ được hưởng lộc ở đời, được phước báo. Quả nhiên về sau con trai ông là Biện, cháu là Sanh Phương đều đăng đệ. Đăng đệ là nói thi đỗ học vị tiến sĩ, làm quan lớn, đây là quả báo con cháu quý hiển. Tu sửa đạo tràng tự viện và tạo tượng Phật có công đức rất lớn. Trong Đại Tạng Kinh, có một bộ kinh gọi là kinh Công Đức Tạo Tượng. Hiện nay, chúng ta thấy rất nhiều nơi tạo tượng Phật lớn, hiện tại Trung quốc đã hưng khởi, nước ngoài cũng vậy. Tôi ở Tân Thành, Malaysia, năm ngoái chùa Cực Lạc tạo một tôn tượng Quán Thế Âm Bồ-tát đứng, cao hơn 30 mét. Chúng ta muốn hỏi rốt cuộc tạo tượng có công đức không? Thấy trường hợp của Bao Bằng là biết, tạo tượng đích thực có công đức, nhưng công đức cần phải đầy đủ điều kiện. Nếu chỉ tạo hình tượng Phật, Bồ-tát, không hoằng pháp lợi sanh, thì người thông thường nhìn thấy tượng Phật dễ sanh ra mê tín. Vậy tạc bức tượng này chẳng những không có lợi ích, trái lại khiến rất nhiều chúng sanh tạo nghiệp, như vậy là sai rồi. Cho nên, hoằng pháp lợi sanh rất quan trọng! Một đạo tràng nhất định phải giảng kinh, nhất định phải tu hành; gọi là giải môn và hành môn, “giải hành tương ưng” mới quan trọng.
Ở Trung Quốc, giải môn có rất nhiều tông phái, đạo tràng thuộc tông phái nào nhất định phải y theo kinh điển của tông phái đó để tu hành. Những kinh điển này phải đọc tụng, phải nghiên cứu, phải giảng giải thấu triệt và thực hành vào trong cuộc sống của mình, như vậy mới đầy đủ công đức. Ở trước đã nói với chư vị, tượng Phật có ý nghĩa biểu pháp. Nhà Phật dùng phương thức này để thời thời khắc khắc nhắc nhở chúng ta. Đa phần quần chúng thấy tượng Quán Âm Bồ-tát là biết mình phải phát tâm từ bi, phải từ bi giống như Quán Thế Âm Bồ-tát, giúp tất cả chúng sanh khổ nạn trong thế gian, vậy thì công đức của tôn tượng này rất lớn. Nếu không hiểu đạo lý này thì xem tượng Phật giống như thần minh, đến đó đốt hương lễ lạy, cầu phước, cầu tuệ, cầu con cái, cầu thăng quan phát tài, đó gọi là mê tín, đó là sai lầm. Tôi nói đến đây, các vị đồng tu chắc có thể thể hội được, trong xã hội hiện nay của chúng ta nên học Phật như thế nào, như thế nào mới đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp? Trong hành môn, mỗi tông phái cũng khác nhau, như Thiên thai họ tu chỉ quán. Trong Thiền tông họ tham thoại đầu, hoặc dùng quán tâm. Trong Mật tông dùng phương pháp trì chú. Tịnh độ tông của chúng ta dùng phương pháp trì danh niệm Phật. Chọn một môn rồi thì công phu không được gián đoạn, đều có thể đạt được tâm thanh tịnh, đều có thể thành tựu giới định tuệ. Đây là công đức lợi ích thật sự của đạo tràng. Xem tiếp trường hợp thứ mười:
Huyện Gia Thiện có người tên Chi Lập.
Đây cũng là người Gia Thiện, tỉnh Triết Giang, ông họ Chi, tên là Lập. Phụ thân ông.
Giữ chức quản lý hồ sơ hình sự.
Ông quản lý án kiện hình sự trong nha môn.
Có tù nhân bị vu oan hãm hại phải chịu tội tử hình.
Ông biết có một phạm nhân thật sự bị oan khuất, bị phán trọng hình, có thể là bị phán tử hình.
Ông thấy vậy thương xót.
Trong lòng ông biết rõ, rất thông cảm với phạm nhân.
Muốn tìm cách cứu phạm nhân này.
Ông muốn giúp phạm nhân thoát tội. Người phạm nhân này biết được ý tốt của phụ thân Chi Lập muốn biện hộ thay ông.
Người tù nói với vợ rằng: “Chi tiên sinh có lòng tốt cứu giúp, ta thật hổ thẹn không biết lấy gì để báo đáp. Ngày mai nàng hãy mời ông ấy về quê, xin làm thiếp để hầu hạ, may ra ông ấy sẽ tận tâm giúp ta giải oan, vậy ta có thể giữ được mạng sống”.
Phạm nhân bàn bạc với vợ mình, ông nói Chi tiên sinh có ý giúp tôi thoát khỏi tội hình. Ông nói: Tôi rất hổ thẹn, không biết lấy gì để báo đáp, đây là ân cứu mạng. Ông nói ngày mai nàng có thể mời ông ấy về quê, có lẽ họ là người nông thôn. Rồi còn bàn với vợ, muốn vợ mình “xin làm thiếp để hầu hạ ông”. Ông nói: Có thể Chi tiên sinh càng dụng tâm hơn, như vậy tôi mới có thể thoát tội.
Vợ của phạm nhân rơi lệ mà vâng lời.
Người vợ này cũng vô cùng hiền lương, quả nhiên làm theo lời chồng.
Hôm sau, Chi tiên sinh đến nhà, người vợ tự ra mời rượu và nói rõ ý của chồng, Chi tiên sinh không đồng ý, nhưng ông vẫn tận tâm giải oan cho người tù này.
Vợ của phạm nhân này tự ra mời rượu, nói rõ ý của chồng mình với Chi tiên sinh, Chi tiên sinh nghe xong không đồng ý. Tuy không đồng ý nhưng vẫn toàn tâm toàn lực lật lại vụ án này.
Sau đó phạm nhân ra ngục, vợ chồng cùng đến nhà ông lạy tạ nói: Người nhân đức như ngài thời nay thật hiếm có.
Đây là một việc rất hiếm có, ông có thể làm được đại công vô tư, dùng tâm chân thành để lật lại vụ án oan. Khi vợ chồng người phạm nhân này đến lạy tạ, họ nói hiện tại ngài không có con trai, đã lớn tuổi nhưng vẫn chưa có con.

