Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 13A
Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Chúng tôi xin tiếp tục giới thiệu về nhà họ Lâm ở Bồ Điền, đây là trường hợp thứ tư về quả báo hiếu thiện tích đức. Gia đình họ Lâm ở Bồ Điền, trước đây có một bà cụ thích hành thiện thích bố thí, thường làm bánh bố thí cho người nghèo. Quanh năm suốt tháng nhưng bà không hề chán mỏi, hoan hỷ giúp đỡ những người nghèo khổ.
Có một vị tiên hóa thành Đạo sĩ.
Tiên nhân hóa thành đạo sĩ. Chúng ta không cần suy đoán về ông, chúng ta chỉ biết là có một đạo sĩ nghèo.
Mỗi ngày ông đều đến đây xin sáu, bảy cái bánh.
Ngày nào ông cũng đến.
Bà lão ngày nào cũng cho ông.
Ông xin rất nhiều, người khác chỉ xin một hai cái, nhưng ông mỗi ngày lấy sáu, bảy cái.
Ba năm như một ngày, tiên nhân biết bà làm thiện bằng tấm lòng chân thành.
Ông ngày nào cũng xin như vậy, xin suốt ba năm, bà cụ này đều hoan hỷ cho ông. Từ đây biết được bà cụ bố thí cứu người là xuất phát từ lòng chân thành.
Do đó Đạo sĩ nói với bà lão rằng.
Hôm đó đạo trưởng nói với bà cụ rằng:
Tôi ăn bánh của bà suốt ba năm, biết lấy gì để báo đáp đây?
Tôi ăn bánh của bà suốt ba năm, mỗi ngày ăn sáu, bảy cái, ăn hết ba năm, tôi lấy gì để báo đáp bà đây?
Sau nhà bà có một mảnh đất, nếu an táng ở nơi đó.
Nhà bà có một mảnh đất quý, ông nói sau này bà mất hãy mai táng ở đó.
Tương lai con cháu của bà được làm quan nhiều như số hạt mè trong một thăng vậy.
Tương lai số con cháu của bà được làm quan nhiều như một thăng hạt mè vậy. Đây là nhờ thành tâm cứu người!
Con trai bà mai táng mẹ ở chỗ đạo sĩ chỉ điểm, ngay đời đầu tiên đã có 9 người thi đậu tiến sĩ, đời đời quan tước cực thịnh, ở Phúc Kiến có câu: “Khoa bảng đề danh nhất định có người nhà họ Lâm”.
Lời nói này là thật, trước đây tôi từng sáu năm ở Kiến Âu, Phúc Kiến; cho đến thời kỳ kháng chiến, gia đình họ đời đời vẫn có hiền nhân. Con cháu của bà nghe theo lời chỉ điểm của đạo trưởng, đem mai táng bà ở đó. Quả nhiên sau khi mai táng, đời thứ nhất con cháu của bà có chín người thi đậu tiến sĩ, cho nên ở Phúc Kiến có câu: “Khoa bảng đề danh nhất định có người nhà họ Lâm”. Mỗi lần có khoa cử, thi đậu cử nhân, đậu tiến sĩ, người nhà họ Lâm chiếm đa số. Đây là tổ tông của họ, bà cụ này thành tâm bố thí cứu người, quanh năm không thấy mỏi mệt.“Lũy đại” là đời này qua đời khác,“trâm anh” là nói cái mũ thời xưa người làm quan thường đội. Cái đai trên mũ gọi là “anh”, sợi dây để thắt mũ gọi là anh, trâm cài ở hai bên gọi là “trâm”. Điều này chứng tỏ họ làm quan rất lớn, gia tộc này vô cùng hưng thịnh, tất cả đều nhờ tổ tông tích đức. Con cháu cũng không ngừng hành thiện tích đức, duy trì gia phong, đời đời không suy yếu.
Trong lịch sử có rất nhiều trường hợp như vậy, nổi tiếng nhất là Phạm Trọng Yêm. Trong văn cổ chúng ta đọc Nghĩa Điền Ký, biết Phạm Trọng Yêm từ nhỏ đã có chí lớn cứu người cứu đời, suốt đời tích lũy công đức không biết mệt mỏi. Đầu năm dân quốc, đại sư Ấn Quang khen ngợi, tổ tông tích được đức lớn ở Trung Quốc có ba người, con cháu đời đời đều được hưởng âm phước của họ. Có ba người, thứ nhất là Khổng tử, hơn 2.500 năm gia đạo không suy, đế vương các triều đại đều tôn kính Khổng Phu tử. Ngày nay vào thời đại Dân Quốc, hậu duệ của Khổng tử ở nước ngoài đều được người nước ngoài tôn kính, đây là dư phước của Khổng tử. Vị thứ hai là Phạm Trọng Yêm, đến đầu năm Dân Quốc, 800 năm không suy yếu, ông là người thời nhà Tống. Vị thứ ba là Diệp Trạng nguyên, từ đầu nhà Thanh cho đến cuối nhà Thanh, 300 năm không suy yếu. Đại sư Ấn Quang lấy trường hợp của ba người này, tổ tông tích đức sâu dày. Xem tiếp người thứ năm:
Cha của Thái sử Phùng Trác Am, lúc làm tú tài học ở trường huyện.
“Ấp” là huyện, tại trường huyện, “tường” là trường học, cũng coi như trường công lập. Khi làm học sinh trường huyện, “tường sanh” thông thường gọi là tú tài.
Vào một buổi sáng mùa đông rét buốt, dậy sớm đến trường học.
Vào mùa đông ông dậy sớm đến học đường.
Trên đường gặp một người bị ngã nằm trong tuyết, sờ thử thì đã lạnh cóng gần chết rồi.
Ông thấy trên đường có một người té ngã nằm trong đống tuyết, ông đến sờ xem thấy chưa chết, nhưng cũng sắp đông cứng rồi.
Ông liền cởi áo khoác của mình ra đắp cho người đó.
Trên người ông đang mặc áo bông hoặc áo da, ông lập tức cởi áo khoác ngoài ra đắp cho người này.
Rồi đưa về nhà cứu sống.
Ông dìu người này về nhà cứu sống, đây là cứu một mạng người. Nhà Phật thường nói: “Cứu một mạng người hơn xây tháp bảy tầng”. Ý câu này rất thâm sâu. người thông thường chỉ biết xây chùa miếu, “phù đồ” là bảo tháp, “thất cấp” là bảo tháp bảy tầng, xây tháp bảy tầng công đức rất lớn. Hiện nay lại thịnh hành việc tạo tượng Phật lớn, đại khái tạc tượng Phật lớn công đức lớn hơn xây bảo tháp. Tôi suy nghĩ mãi câu nói này của cổ nhân, cứu một mạng người còn hơn tạo tượng Phật, Bồ-tát 100 mét, không chỉ là bảo tháp bảy tầng. Quý vị tạo tượng Phật, Bồ-tát lớn như vậy có tác dụng gì? Thế gian hiện nay người khổ nạn quá nhiều, biết bao nhiêu người đang chịu đói khát. Không có cái ăn, không có cái mặc, bệnh không có thuốc men, đáng thương biết bao! Đắp một tượng Phật lớn, xây một bảo tháp phải cần bao nhiêu tiền. Nếu bạn đem số tiền này đi cứu tế nhân dân gặp khó khăn, những người đang chịu đói khát này, tôi tin rằng công đức này là vô lượng vô biên. Cứu một mạng người quả báo không thể nghĩ bàn, được phước báo rất lớn. Nếu bạn có thể cứu ngàn vạn sinh mạng, tôi tin rằng con cháu của bạn đều làm quan rất nhiều, như ở trước vị đạo trưởng nói, số người cũng nhiều như một thăng hạt mè vậy, vì sao không làm? Chúng ta phải tư duy thật nhiều, thế nào là công đức chân thật, thế nào là công đức giả. Trong này có một tiêu chuẩn, phàm là thật sự khiến cho tất cả chúng sanh khổ nạn có được chỗ tốt, đạt được lợi ích, thì công đức này là thật. Nếu khiến tất cả chúng sanh không đạt được lợi ích thực sự thì công đức này là giả.
Cho nên, tôi không tán thành việc tạo tượng Phật lớn, có người nói tượng Phật lớn này ngồi ở nơi đó thì người ở đây đều được bình an. Chưa chắc, đây là thuộc về mê tín. Vừa được phước, vừa bình an thì phải dựa vào điều gì? Dựa vào việc giáo hóa, dựa vào việc thay đổi nhân tâm. Nhân tâm trong thế gian hiện nay, toàn thế giới hầu như đều không ngoại lệ, tự tư tự lợi ngày càng tăng trưởng, tham sân si mạn ngày càng tăng trưởng, đây là căn nguyên của thiên tai. Tạc một tượng Phật lớn có thể trấn áp được thiên tai, làm gì có đạo lý này! Có thể hóa giải kiếp nạn, phải đề xướng giáo dục, giáo dục Phật giáo. Giáo dục Phật giáo là giáo dục của trí tuệ, là giáo dục của từ bi, là giáo dục của lòng yêu thương. Dạy mọi người buông bỏ tự tư tự lợi, buông bỏ danh văn lợi dưỡng, tham sân si mạn, hy sinh phụng hiến vô điều kiện, giúp đỡ xã hội này, giúp đỡ tất cả nhân dân khổ nạn, đức Phật dạy chúng ta như vậy. Chúng ta hiểu rõ, thật sự chịu y giáo phụng hành thì bản thân chúng ta được độ, cũng thật sự có thể tạo phước cho xã hội, tạo phước cho nhân dân, đây là lời dạy bảo của Phật.
Giả như nói xây bảo tháp, tạo tượng Phật công đức lớn như vậy. Vậy năm xưa khi đức Phật Thích-ca Mâu-ni còn tại thế, vì sao không tạo tượng Phật lớn? Vì sao không xây đại bảo tháp? Chúng ta xem truyện ký của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, lúc ngài tại thế, cả đời giảng kinh thuyết pháp suốt 49 năm. Ngoài giảng kinh thuyết pháp, dạy học ra, ngài không làm việc gì khác. Ngài cũng chưa từng tổ chức những pháp hội thủy lục gì hết, cũng chưa từng bái sám. Thậm chí bây giờ nói tổ chức Phật thất, tổ chức thiền thất, trong kinh điển chúng ta đều không tìm thấy. Toàn là do người đời sau làm ra, Phật, Bồ-tát không làm những việc này. Chúng ta học Phật nhất định phải học theo Phật, Bồ-tát. Phật, Bồ-tát ở đâu? Ở trong kinh điển, chúng ta nhất định phải tu hành theo lý luận và phương pháp trong kinh điển. Noi theo chư Phật, Bồ-tát, học theo chư Phật, Bồ-tát, đây mới là học trò chân thật của Thích-ca Mâu-ni Phật. Ở đây chúng ta thấy Phùng Trác Am cứu một mạng người, ông đạt được cảm ứng:
Mộng thấy có vị thần nói với ông rằng.
Đây là buổi tối nằm mộng, thấy một vị thiên thần đến nói với ông.
Ông đã dùng tâm chí thành để cứu một mạng người, nay ta sẽ sai Hàn Kỳ đến làm con trai của ông.
Đây là nói về luân hồi. “Hàn Kỳ” là người thời nhà Tống, thời vua Anh Tông và Thần Tông. Ông từng làm Tể tướng 10 năm, cũng từng làm nguyên soái, là một vĩ nhân tài giỏi, văn võ song toàn. Chúng ta đọc lịch sử thấy được, ông rất được người đương thời và hậu thế tôn kính. Thời đó ông và Phạm Trọng Yêm nổi tiếng như nhau, cả hai người đều là văn võ song toàn. Phụ thân của Phùng Trác Am làm việc tốt này, thần nhân nói: “Ta phái Hàn Kỳ làm con trai ông”.
Sau đó sanh ra Trác Am, bèn đặt tên là Kỳ.
Trác Am là tự của ông, tên gọi là Phùng Kỳ. Phụ thân ông lấy tên này, chính là do mộng thấy sự việc như vậy. Quả nhiên ông làm quan đến Thái sử, Thái sử chính là Hàn lâm thời xưa. Xem tiếp ví dụ thứ sáu:
Quan Thượng thư họ Ứng người Đài Châu.
Ở Đài Châu, tỉnh Triết Giang có một quan Thượng thư tên là Ứng Đại Do. “Thượng thư” chính là Bộ trưởng hiện nay, ông làm quan đến chức Bộ trưởng.
Thuở còn trẻ học tập ở trên núi.
“Tập nghiệp” là đi học, học tập ở trên núi. Ngày xưa, người đọc sách đa phần đều sống nhờ ở trong chùa, tự viện quả thật cung cấp môi trường học tập tốt nhất cho người đọc sách. Thời xưa không có nhiều trường học, thông thường một huyện chỉ có một trường, gọi là học huyện, cho nên rất khó tìm môi trường đọc sách. Ngoài chùa ra thì chỉ có những nhà giàu có, trong các gia đình giàu có cất giữ một số kinh sách, mời thầy giáo đến nhà dạy cho con cháu mình, đây gọi là tư thục. Số lượng kinh sách họ cất giữ không nhiều lắm, cho nên tàng thư có quy mô lớn đều ở Tàng Kinh Các trong các tự viện, Tàng Kinh Các giống như thư viện ngày nay vậy. Tàng Kinh Các của tự viện không chỉ cất giữ kinh Phật. Ở Trung Quốc, các điển tịch của nhà Nho, nhà Đạo, Bách Gia Chư Tử hầu như toàn bộ đều được cất giữ ở đây. Người xuất gia thật sự có học vấn, thật sự tu dưỡng thân tâm và đức hạnh của mình, cho nên họ đều là những người thầy rất tuyệt vời. Người đọc sách, tú tài thời xưa thông thường đều thích đến chùa thân cận người xuất gia. Tự viện có kinh sách phong phú, nếu có điều gì không hiểu đều có thể thỉnh giáo người xuất gia, mà người xuất gia hướng dẫn họ đều là nghĩa vụ. Đây là tu tích công đức, tích lũy thiện hạnh trong nhà Phật. Nhưng tự viện Phật giáo hiện nay đã biến chất rồi, hoàn toàn khác với thời xưa. Ngày xưa tự viện là nơi dạy học, hiện nay biến thành nơi tổ chức kinh sám Phật sự, nơi giao lưu với ma quỷ rồi, chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng. Ông học tập ở trên núi, trên núi nhất định là ở trong tự viện.
Ban đêm có rất nhiều ma quỷ tụ tập kêu gào.
Những nơi này buổi tối có rất nhiều ma.
Thường làm người khác kinh sợ, nhưng riêng ông không sợ sệt chút nào.
Nơi hoang dã thật sự có yêu ma, người nhát gan đều không dám ở. Ưng tiên sinh rất gan dạ, tâm địa chánh trực không sợ tà ma quỷ quái. Cho nên ông không sợ, vẫn đọc sách ở trên núi.
Một buổi tối ông nghe thấy quỷ nói.
Có một buổi tối nghe quỷ nói chuyện, nói nhà nào đó.
Có một phụ nữ, chồng đi xa đã lâu chưa về, cha mẹ chồng [cho rằng con trai đã chết] nên ép con dâu tái giá, nhưng con dâu không chịu, nên đêm mai sẽ treo cổ tự vẫn ở đây. Vậy là ta có người thế thân rồi.
Đây là quỷ đang nói chuyện, họ nói có một người, người phụ nữ này vì chồng của cô rời quê hương đã rất lâu mà chưa về. Cha mẹ chồng cô cho rằng con trai mình đã chết, nên ép người con dâu này cải giá. Con dâu không bằng lòng cho nên khởi lên ý niệm ngày mai đến đây thắt cổ tự tự. Chúng ta biết, con quỷ này là do thắt cổ chết, quỷ thắt cổ muốn tìm thế thân, nếu họ không tìm được thế thân thì không thể đầu thai. Điều này trong Phật pháp nói không nhiều, nhưng trong Đạo giáo nói đến rất nhiều, nói rất nhiều về vấn đề này. Phàm những người đột tử, tự sát đều phải tìm thế thân. Bởi vậy tự sát rất thống khổ, tuyệt đối không được làm điều này! Đạo giáo nói với chúng ta, người tự sát cứ bảy ngày họ phải diễn lại một lần, cho nên khổ vô cùng. Thắt cổ tự tử, cứ bảy ngày họ phải thắt cổ một lần như vậy, khi nào tìm được thế thân thì họ mới được thoát khỏi. Nhảy lầu chết, bảy ngày họ phải nhảy một lần, quý vị nói như vậy có đáng thương hay không? Cho nên, con người dù bất đắc dĩ đến đâu cũng không được có ý niệm tự sát, đây chắc chắn là hành vi sai lầm, tuyệt đối không được! Đến khi bạn tìm được người thế thân, bạn đi đầu thai thì vẫn là tùy nghiệp lưu chuyển, khổ không thể tả! Con quỷ thắt cổ chết này cũng rất khó được, ngày mai có người đến thắt cổ, họ có thể tìm được người thế thân, có thể đi đầu thai rồi. “Vậy là ta có người thế thân rồi”, họ có người thay thế rồi.
