Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 2A


Video Thumbnail

LIỄU PHÀM TỨ HUẤN GIẢNG GIẢI

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng ngày: 16-20/4/2001
Giảng tại: Đài Truyền Hình Phượng Hoàng – Thâm Quyến – Trung Quốc
Tổng cộng 20 Tập.

Chuyển ngữ: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Mã AMTB: 19-016-0001 đến 19-016-0020

Liễu Phàm Tứ Huấn –  Tập 2A

Chư vị đồng học, xin chào mọi người!

Phần trước đã nói đến tiên sinh Liễu Phàm đi tham bái thiền sư Vân Cốc, hai người đối diện ba ngày ba đêm trong thiền đường không khởi một ý niệm nào. Thiền sư Vấn Cốc rất hiếu kỳ, hỏi ông: Nguyên nhân tại sao? Tiên sinh Liễu Phàm nói vận mệnh của mình đã được Khổng tiên sinh đoán chắc rồi, suốt 20 năm qua không hề sai lệch chút nào, ông khởi tâm động niệm cũng đều là vô ích, do đó tâm rất an định. Nghe xong thiền sư Vân Cốc nói với Liễu Phàm, đời này ông bị vận mệnh trói buộc bởi vì ông còn có vọng niệm, đây không thể xem là công phu, chỉ có thể nói là một phàm phu tiêu chuẩn. Tiên sinh Liễu Phàm sau khi nghe xong, liền thỉnh giáo lại Thiền sư:

 Tôi liền hỏi: Vậy số mạng có thể tránh được sao? Thiền sư Vân Cốc nói: Mệnh do ta tạo, phước tự mình cầu. Trong hết thảy kinh sách đều nói đạo lý này, quả thực là lời giáo huấn rất hay. Trong kinh Phật của chúng ta nói: Cầu phú quý được phú quý, cầu con trai con gái được con trai con gái, cầu trường thọ được trường thọ. Vọng ngữ là giới cấm quan trọng trong nhà Phật, lẽ nào chư Phật Bồ-tát lại dối gạt người sao?

Trong đoạn này có ý nghĩa rất thâm sâu, tiên sinh Liễu Phàm hỏi: Con người có vận mệnh, vậy có thể tránh được vận mệnh không? Ông đưa ra câu hỏi như thế. Thiền sư nói: “Mệnh do ta tạo, phước tự mình cầu”. Trong hai câu này có học vấn rất lớn. Trước tiên chúng ta phải hiểu, phàm phu trong lục đạo đều không thoát khỏi số mệnh, số mệnh từ đâu mà có? Cổ thánh tiên hiền, chư Phật Bồ-tát, các ngài là người tái lai, nên hiểu chân tướng sự thật này rất thấu triệt, không chút sai lầm, chúng ta phải tin tưởng điều này. Nếu dùng cách nói của các nhà khoa học hiện nay thì chính là tầng không gian có vô hạn chiều. Giống như họ nói không gian ba chiều, không gian bốn chiều, không gian năm chiều. Về mặt lý luận mà nói, số chiều của không gian là vô hạn. Chúng ta sanh vào cõi người, chỉ sống trong không gian ba chiều. Chúng sanh sống trong tầng không gian bốn chiều trở lên thì chúng ta không biết được.

Ngày nay, các nhà khoa học nói với chúng ta, đích thực có không gian mười một chiều tồn tại. Nhưng làm sao để đột phá các tầng không gian, thì hiện tại các nhà khoa học đang nghiên cứu. Đột phá được tầng không gian rồi, tức là thông thường chúng ta nói, bạn sẽ biết được quá khứ, vị lai. Quá khứ tạo nhân gì thì bây giờ nhận quả báo đó. Đời này tạo nhân gì thì đời sau sẽ nhận quả báo như thế, chẳng phải đều rõ ràng rồi sao? Đây không phải là suy đoán, cao siêu hơn Khổng tiên sinh nhiều. Khổng tiên sinh là đoán từ toán học, Kinh Dịch là một bộ toán học, suy đoán từ trên lý luận của toán học, suy đoán khá chính xác, nhưng không dám nói là hoàn toàn chính xác. Vì suy đoán, chỉ cần có chút sai lầm thì kết quả sẽ hoàn toàn khác nhau. Nhưng nếu có thể đột phá được chiều không gian, như vậy thì sẽ chính xác tuyệt đối, không có chút sai lầm nào. Vì sao vậy? Vì quá khứ, hiện tại, vị lai là do bạn tận mắt nhìn thấy.

Thực tế mà nói những chuyện này không khó, đạo Bà-la-môn thời Ấn Độ cổ, các đại sư Du-già, Số Luận đều có năng lực này. Vì thế cách nói về lục đạo luân hồi không phải của Phật giáo, mà là của đạo Bà-la-môn cổ xưa, hiện nay chúng ta gọi là Ấn Độ giáo. Hiện nay, lịch sử của họ được thế giới công nhận, có lịch sử 8.500 năm, sớm hơn Phật giáo rất nhiều. Những người này đều tu thiền định, trong kinh Phật thường gọi là “tứ thiền bát định”. Do đó, các chiều không gian trong lục đạo, họ hầu như đột phá hoàn toàn. Vì thế đối với tình hình trong lục đạo họ nói rất rõ ràng. Nhưng họ chỉ biết nó như vậy, chứ không biết tại sao nó lại như vậy, lục đạo từ đâu đến, vì sao có hiện tượng này, vì sao có những biến hóa này thì họ không biết được. Vì vậy, đức Phật Thích-ca Mâu-ni xuất hiện ở thế gian này là vì điều gì? Vì những người có năng lực quan sát được những cảnh giới này, nhưng đối với những cảnh giới này họ còn có rất nhiều nghi hoặc không thể lý giải được. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni xuất hiện ở thế gian chính là vì việc này. Đó là chúng sanh có cảm thì Phật Bồ-tát liền có ứng. Điều này đã cảm ứng đức Phật Thích-ca Mâu-ni đến thế gian, nói rõ cho chúng ta về nguồn gốc của những hiện tượng này. Trong kinh điển Đại thừa, đức Phật đã nói rất nhiều, đặc biệt là trong kinh Hoa Nghiêm. Không chỉ là lục đạo, ngoài lục đạo còn có tứ thánh pháp giới, còn có nhất nhân pháp giới, đây đều là quy nạp lại để nói. Nếu nói tường tận thì ngôn ngữ không thể nói hết được. Như các nhà khoa học nói, tầng không gian là vô hạn, hoàn toàn tương ưng với những gì đức Phật nói trong kinh điển.

Nhiều tầng khác nhau như thế, vậy không gian sanh ra như thế nào? Đức Phật nói, đều là từ trong vọng tưởng, phân biệt, chấp trước biến hiện ra. Chúng ta bình tĩnh mà tư duy, quan sát thì biết vọng tưởng của chúng sanh là vô lượng vô biên, niệm trước diệt thì niệm sau liền sanh. Một ngày không biết khởi bao nhiêu vọng niệm, không biết có bao nhiêu phân biệt chấp trước, do vậy đã tạo thành các tầng không gian khác nhau, tạo thành các hiện tượng khác nhau. Trong kinh đức Phật thường nói, mười pháp giới y chánh trang nghiêm, nói như hiện nay thì hiện tượng vũ trụ nhân sinh là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Giống như trên màn hình hiện nay vậy, tướng hiện ra trên màn hình, đây là tâm, tâm hiện. Tướng này có thể hoạt động, nó đang ở đó sanh khởi biến hóa, sự biến hóa này là thức biến. Thức tức là phân biệt, vọng tưởng, chấp trước, những thứ này có thể thay đổi hiện tượng, thay đổi rất phức tạp. Câu nói này của đức Phật đã nói rõ cho chúng ta biết về nguồn gốc của hiện tượng vũ trụ nhân sinh.

Cho nên thiền sư Vân Cốc mới nói “mạng do ta tạo”, không phải do người khác tạo ra, không hề liên quan đến người khác. Cảnh giới ngoài thân là một huyễn cảnh, trong kinh Kim Cang nói rất hay: “Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt bóng”, không phải chân thật. Hiện tượng này đức Phật nói cho chúng ta biết, không thể nói nó có, cũng không thể nói nó không, nó giống như một giấc mộng vậy. Quý vị không thể nói không có cảnh giới trong mộng, cảnh giới trong mộng đích thực tồn tại, nhưng không thể nói nó có, vì sao vậy? Vì nó là hư huyễn, quả thật là không thể có được. Nếu chúng ta tư duy quan sát tỉ mỉ thì sẽ biết được, hiện nay chúng ta sống ở thế gian này đích thực là một giấc mộng. Buổi tối chúng ta ngủ say, người ta khiêng thân thể bạn đi, bạn cũng không hay biết, do đây có thể biết thân không phải là ta.

Các nhà triết học phương Tây rất thông minh, họ biết thân này không phải là ta, do đó họ đưa ra một lý luận: “Tôi tư duy, nên tôi tồn tại”. Họ thừa nhận điều gì? Thân thể vật chất không phải ta, mà là hư huyễn, nhưng thứ có thể tư duy, có thể tưởng tượng, đây là ta, họ cao hơn những người thông thường một bậc. Có phải là chân tướng hay không? Không phải. Tôi tư duy là vọng tưởng, không phải chân tướng sự thật, cho nên cảnh giới của Phật pháp cao hơn họ, ngay đến “tôi tư duy” cũng buông bỏ, thấu triệt ngọn nguồn các pháp, khôi phục được chân tâm, khôi phục được bản tánh, sau đó mới thấy được chân tướng của vũ trụ nhân sinh. Chân tướng này trong Phật giáo có một danh từ gọi là nhất chân pháp giới, hoặc gọi là chân như, hay gọi là đệ nhất nghĩa đế, đức Phật dùng rất nhiều danh từ thuật ngữ. Trong lúc dạy học, vì sao đức Phật dùng nhiều danh từ như vậy? Ngài có dụng ý, chính là dạy chúng ta hiểu rõ chân tướng sự thật, đừng chấp vào danh từ. Chấp vào danh từ lại sanh khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Điều này thuộc về phương pháp dạy học, nghệ thuật dạy học.

Chúng ta đã khởi vọng tưởng phân biệt chấp trước, ngày nay muốn đoạn dứt vọng tưởng phân biệt chấp trước, trong lòng nghĩ “tôi cũng rất muốn”. Vấn đề là gì? Không đoạn được, vẫn là vọng niệm này nối tiếp vọng niệm kia, đây chính là nguyên nhân công phu của chúng ta không thể thành tựu. Tuy thông qua kinh giáo chúng ta đã hiểu, tin sâu không nghi. Điều này trong Phật pháp nói, chúng ta chỉ là giải ngộ, chứ chúng ta chưa chứng đắc, chưa khế nhập cảnh giới chân thật. Phải chứng ngộ mới hữu dụng, giải ngộ không có lợi ích, không thể giải quyết vấn đề. Vì vậy, sau khi giải ngộ phải tu hành, phải đem những lý luận và phương pháp này thực hành trong đời sống của mình, dần dần nâng cao cảnh giới của mình, như vậy mới giải quyết được vấn đề. Do đó mới nói chúng sanh trong lục đạo, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước rất nặng nề.

“Mệnh do ta tạo”, đời này chúng ta nghèo khổ hay giàu có, đây là số mệnh, mệnh này có định số, định số từ đâu đến? Chính mình tạo ra! Nhà Phật nói nhân quả thông ba đời, con người nhất định có đời quá khứ, có đời vị lai. Đức Phật nói đến chỗ cứu cánh, ngài nói thời gian là sát-na, sát-na là thời gian vô cùng ngắn. Ngày nay chúng ta dùng đơn vị thời gian nhỏ nhất là giây, nhà Phật nói sát-na, sát-na tính như thế nào vậy? Phật dùng khảy ngón tay, một khảy ngón tay có 60 sát-na, một khảy ngón tay chưa đầy một giây. Nếu chúng ta khảy nhanh, một giây tôi có thể khảy được 4 lần. Một khảy ngón tay là 1/4 của một giây, một khảy ngón tay có 60 sát-na, chính là 1/60 của 1/4 giây mới gọi là một sát-na. Trong một sát-na có 900 lần sanh diệt, tức là ý niệm, một ý niệm sanh, một ý niệm diệt. Trong một sát-na có 900 ý niệm sanh diệt, nó vô cùng vi tế, người thường chúng ta không phát hiện được, chúng ta thường gọi là sơ ý qua loa. Ai có thể quan sát được? Nhập định, định chính là tâm thanh tịnh, chế phục tất cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chính mình. Trình độ thiền định khá thâm sâu có thể thấy được hiện tượng sanh diệt này, đó là đại công phu, e là thiền sư Vân Cốc vẫn chưa nhìn thấy. Trong Phật pháp Đại thừa nói, có thể thấy được số sát-na sanh diệt phải là Bát địa Bồ-tát trong Viên giáo Đại thừa. Bát địa là Bất động địa, rất gần với quả vị của Như Lai. Trên Bát địa là Cửu địa, Thập địa, Đẳng giác, đó là quả vị Phật, rất gần. Cảnh giới này mới thật sự hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sinh.

Ngày nay chúng ta nói ý niệm là niệm thô, ý niệm rất thô. Chúng ta khởi một thiện niệm, lợi ích người khác, lợi ích xã hội, lợi ích chúng sanh, quả báo là phước. Nếu chúng ta  khởi một ác niệm, ác niệm là lợi ích bản thân, gọi là tổn người lợi mình, ý niệm này trong Phật pháp gọi là ác niệm. Quả báo của ác niệm là hung, quả báo là tai họa. Do đó lành dữ họa phước trong đời của một người, là quả báo từ khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác của chúng ta, cũng có thể nói hiện tượng của ngôn ngữ tạo tác, đây chính là nói “mệnh do ta tạo”. Người thật sự thấu hiểu, thông đạt sẽ khẳng định cách nói này, khẳng định sự thật này. Trong đời này, bất luận họ gặp phải hoàn cảnh tàn bạo, bất thiện đến đâu đi nữa, họ cũng tuyệt đối không oán trời, tuyệt đối không trách người, họ sẽ không trách người khác, mà trái lại sẽ tự trách chính mình. Bản thân ta tạo nghiệp bất thiện cho nên mới chịu khổ báo này. Khi đã hiểu rõ, thì phước phải tự mình cầu, cầu bằng cách nào? Sửa sai hướng thiện.

Trước đây, lúc tôi còn trẻ, cha tôi qua đời rất sớm, cha tôi qua đời khi tôi 21 tuổi. Chúng tôi sống đúng vào thời gian chiến tranh Trung – Nhật, chịu đựng 8 năm đau khổ của chiến tranh, học hành dang dở. Thời gian đó, chúng tôi là học sinh lưu vong, hoàn toàn rời khỏi gia đình. Quốc gia đối với chúng tôi cũng không tệ, thành lập rất nhiều trường trung học quốc gia, thu nạp đám học sinh lưu vong chúng tôi. Trường học là nhà chúng tôi, thầy giáo là cha mẹ chúng tôi, bạn học là anh chị em của chúng tôi. Lúc đó sự thương yêu, gần gũi của chúng tôi đối với trường lớp, đối với bạn học, đối với thầy cô là chân thành, người bây giờ không cách gì tưởng tượng được. Chúng tôi là những người bạn trong đời sống hoạn nạn, hai bên quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống vô cùng khó khăn.

Lúc cha tôi mất, trong gia đình không có gì cả; tôi lưu lạc đến Đài Loan, làm việc ở Đài Loan 7, 8 năm, thấy bản thân không có tiền đồ. Thầy tôi là đại sư Chương Gia, chọn cho tôi con đường tu hành này. Đại sư khuyên tôi xuất gia, khuyên tôi hoằng dương Phật pháp. Tôi suy nghĩ rất lâu, chỉ thị của đại sư rất chính xác, tôi liền nghe theo lời dạy của thầy, chọn đi theo con đường này. Tôi theo ngài 3 năm, ngài đặt cho tôi nền tảng vững chắc. Về sau tôi từ bỏ công việc, đến Đài Trung theo học giáo với cư sĩ Lý Bỉnh Nam, ở Đài Trung suốt 10 năm. Về phương diện Phật pháp, tôi tiếp thu giáo huấn của hai vị thầy suốt 13 năm, nhưng về trình độ học vấn của thế gian thì tôi chỉ tốt nghiệp cấp 2. Cuộc đời về sau, phước tự mình cầu. Tôi đã hiểu, đã giác ngộ, cho nên từ năm 26 tuổi, sau khi học Phật tôi rất cẩn thận, thận trọng, y giáo phụng hành.