Liễu Phàm Tứ Huấn – Tập 19A
Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Mời xem Liễu Phàm Tứ Huấn, chương thứ tư: “Hiệu quả đức khiêm”. Ở trước đều nói đến sửa lỗi tích thiện, có thể sửa lỗi tích thiện đương nhiên là rất tốt, nhưng người sống trong xã hội không thể không quan hệ qua lại với đại chúng, do đó làm người quan trọng nhất là khiêm tốn. Nếu có tâm ngạo mạn thì rất khó làm được. Cho nên tiên sinh Liễu Phàm đem “đức khiêm” đặt ở phần sau cùng trong bốn bài văn, giống như phần lưu thông trong kinh Phật vậy, ý nghĩa rất quan trọng. Mời xem nguyên văn:
Kinh Dịch dạy: “Đạo của trời là hao tổn kẻ tự mãn mà lợi ích người khiêm hạ, đạo của đất là trở ngại kẻ tự mãn mà trợ giúp người khiêm hạ. Quỷ thần thường gây họa kẻ ngạo mạn mà ban phước người khiêm tốn; con người thường chán ghét kẻ ngạo mạn mà ưa thích người khiêm tốn”.
Đây là những câu trong Kinh Dịch.
Do vậy chỉ có quẻ khiêm là sáu hào đều cát tường.
Chúng ta xem, 64 quẻ trong Kinh Dịch, mỗi hào đều cát tường tốt đẹp mà không có tướng xấu thì chỉ duy nhất quẻ khiêm, chỉ có quẻ này.
Kinh Thư nói: “Ngạo mạn sẽ bị tổn hại, còn khiêm tốn sẽ được lợi ích”.
Hai câu này được nói trong Kinh Thư.
Nhiều lần tôi cùng bạn học đi thi, mỗi lần gặp những thư sinh nghèo sắp đỗ đạt, đều thấy họ nhất định có dáng vẻ khiêm hạ lộ rõ.
Ở sau tiên sinh Liễu Phàm nói, rất nhiều lần ông cùng các bạn học tham gia các kỳ thi, thường gặp các học trò nghèo khó. Lúc sắp phát đạt, cũng chính là lúc họ sắp thi đỗ, trước đó họ có điềm báo, nhất định là họ rất khiêm tốn. Cho nên, xử sự đối nhân tiếp vật, quan trọng nhất là phải hết mực khiêm tốn. Có thể tiếp nhận người khác, có thể thành tựu người khác.
Bốn câu này trong Kinh Dịch, chúng ta nói sơ lược một chút. “Khuy” là tổn thất, “doanh” là ngạo mạn, “thiên đạo” cũng chính là đạo lý tự nhiên. Phàm là người tự mãn thì luôn gặp một số chuyện tổn thất, chuyện thiếu hụt. Người có thể khiêm tốn thì nhất định đạt được lợi ích, đây là thiên đạo. “Đạo của đất là trở ngại kẻ tự mãn mà trợ giúp người khiêm hạ”. “Địa” là rộng lớn, “biến” là biến động, “lưu” nghĩa là tụ tập tại một nơi. Giống như dòng nước, nước thường chảy đến nơi trũng thấp, không chảy đến nơi cao. Cho nên “trở ngại kẻ tự mãn mà trợ giúp người khiêm hạ”. Như nước, chỗ cao là đầy, tự mãn, cống cao ngã mạn thì không đạt được lợi ích, không được thấm nhuần, được thấm nhuần luôn là chỗ thấp. “Quỷ thần thường gây họa kẻ ngạo mạn”, đối với người tự mãn, người ngạo mạn, quỷ thần luôn gây phiền phức cho họ, trêu đùa họ. Còn đối với người khiêm tốn thì quỷ thần tôn kính, quỷ thần giúp đỡ, cõi người làm sao có thể ngoại lệ được! “Con người thường chán ghét kẻ ngạo mạn mà ưa thích người khiêm tốn”. Đối với người tự mãn, người tự đại, người kiêu ngạo thì mọi người thường chán ghét họ, đối với người khiêm tốn thì thường yêu thích họ. Cho nên quẻ khiêm này, chỉ có kiết tường, thuận lợi mà không có hung dữ. Đây là nguyên tắc làm người quan trọng. Bên dưới, tiên sinh Liễu Phàm đưa ra 5 người làm thí dụ, chúng ta quan sát từ chỗ này, cách nhìn của ông quả thực không sai, quan sát rất chuẩn xác. Thí dụ thứ nhất:
Vào năm Tân Mùi, trong số cử nhân về kinh đô dự thi, thì nhóm đồng hương Gia Thiện chúng tôi có 10 người. Đinh Kính Vũ là người nhỏ tuổi nhất, tính tình hết sức khiêm hạ. Tôi nói với Phí Cẩm Pha rằng: “Anh này năm nay nhất định sẽ thi đỗ”. Họ Phí hỏi lại: “Làm sao biết được?” Tôi nói: “Chỉ có người khiêm tốn mới được phước. Anh xem trong số 10 người chúng ta, có ai thành thật trung thực, không dám vượt trước người như Kính Vũ không? Có ai cung kính thuận theo, thận trọng khiêm hạ như Kính Vũ không? Có ai bị sỉ nhục mà không đáp trả, bị hủy báng mà không biện bạch như Kính Vũ không? Người như vậy ắt được trời đất quỷ thần thường trợ giúp, làm gì có đạo lý không phát đạt cho được?” Đến khi yết bảng, quả nhiên Kính Vũ trúng tuyển.
Năm đó tiên sinh Liễu Phàm 37 tuổi, ông đi thi tiến sĩ cùng với mười người bạn, huyện Gia Thiện tất cả có 10 người. Trong 10 người này ông nhận ra Đinh Kính Vũ, Kính Vũ là tự của ông, tên của ông là Đinh Tân. Trong số 10 người thì người này trẻ tuổi nhất, “nhỏ tuổi nhất”, vô cùng khiêm tốn. Liễu Phàm nói với một người bạn khác là Phí Cẩm Pha cũng tham gia kỳ thi lần này; nói với ông, Liễu Phàm nói Đinh Kính Vũ năm nay nhất định sẽ thi đỗ, thi đỗ tiến sĩ. Họ Phí nói: “Làm sao ông biết?” Tiên sinh Liễu Phàm nói: “Chỉ có người khiêm tốn mới được phước”, câu này là định luận từ trong Kinh Dịch. “Anh xem trong số 10 người”, anh xem trong số 10 người chúng ta có ai khiêm tốn như Đinh Kinh Vũ không? “Tuần tuần khoản khoản” là nói giữ chữ tín, trung hậu, thành thật. “Không dám vượt trước người”, luôn đứng sau người khác. Điều này rất hiếm có, không dám đứng trước người khác. “Cung kính thuận theo, thận trọng khiêm hạ”, đối với mỗi người đều có thể cung kính thuận theo. Hay nói cách khác, trong đại chúng ông không cố chấp thành kiến của riêng mình, có thể tùy thuận người khác, rất khó được! “Bị sỉ nhục mà không đáp trả”, ông bị người khác sỉ nhục cũng không nói câu nào, nghe người khác hủy báng ông cũng không biện bạch. Đinh Kính Vũ đều làm được, bản thân ông như vậy nên trời đất quỷ thần đều sẽ giúp đỡ ông, làm gì có chuyện không thi đỗ cho được? Khi yết bảng, ông quả nhiên trúng tuyển, tiên sinh Liễu Phàm không đỗ. Liễu Phàm thi tiến sĩ ba lần, hai lần trước đều không đỗ, đây là lần đầu tiên, năm 37 tuổi ông đi thi, không thi đỗ. Vị thứ hai, ông đưa ra là Phùng Khai Chi, năm đó tiên sinh Liễu Phàm 43 tuổi.
Năm Đinh Sửu tôi ở kinh thành.
Năm Đinh sửu là công nguyên năm 1577. Chúng ta dùng công nguyên để tính thì chúng ta sẽ dễ tưởng tượng hơn. Năm đó ông lại đi thi tiến sĩ, đây là lần thứ hai đi thi. Lần thứ nhất là năm 37 tuổi, lần thứ hai là năm 43 tuổi, đây là lần thứ hai đi thi.
Ở cùng một nơi với Phùng Khai Chi.
Phùng Khai Chi cùng đi thi với ông, cũng là người Triết Giang, là đồng hương với nhau.
Thấy ông này hết sức khiêm hạ, nét mặt nghiêm trang, những tập khí hồi nhỏ hoàn toàn không còn.
Tập khí của ông khi còn trẻ hoàn toàn không còn nữa, lần này Phùng Khai Chi đi thi đã đỗ trạng nguyên, đây là bậc cao nhất của tiến sĩ.
Lý Tế Nham là người bạn tốt, tính tình thẳng thắn, thường phê bình lỗi lầm ngay trước ông Phùng, nhưng chỉ thấy ông bình thản tiếp nhận, chưa từng có một lời biện bạch.
Lúc đó có một người tên là Lý Tế Nham, đây là người bạn rất thẳng thắn, thấy người khác có lỗi lầm ông liền phê bình ngay trước mặt. Ông thấy Phùng Khai Chi, cũng phê bình không hề khách sáo, nhưng Phùng Khai Chi “bình thản tiếp nhận”, ông nghe xong trong lòng rất bình tĩnh, hoàn toàn tiếp thu “chưa từng có một lời biện bạch”. “Tương báo” chính là biện bạch, không hề biện bạch một câu, hoàn toàn tiếp thu những gì người khác chỉ trích.
Tôi nói với ông Phùng rằng.
Ông nói với Phùng tiên sinh.
Phước có điềm báo của phước, họa có điềm báo của họa.
Họa phước đều có điềm báo, “thỉ” và “tiên” là nói dự báo.
Tâm ông khiêm hạ như vậy.
Ông khiêm tốn không phải giả, là thật, xuất phát từ tâm chân thành. Người khiêm tốn như thế:
Trời nhất định sẽ giúp đỡ ông.
“Tương” là tương trợ, ông trời cũng sẽ giúp đỡ ông.
Năm nay ông nhất định sẽ thi đỗ.
Ông phán đoán, năm nay người này chắc chắn thi đỗ.
Không lâu sau quả nhiên ông đã trúng cử.
Không những ông thi đỗ, mà còn đứng đầu bảng. Về sau làm quan đến chức Biên tu của Viện hàn lâm. Đây là lần thứ hai tiên sinh Liễu Phàm tham gia thi tiến sĩ, gặp người đồng hương là Phùng tiên sinh. Trường hợp thứ ba:
Ông Triệu Dụ Phong, tên Quang Viễn, người huyện Quán, tỉnh Sơn Đông, chưa đầy 20 tuổi mà đã thi đỗ cử nhân trong kỳ thi Hương, nhưng sau thi Hội nhiều lần chẳng đỗ.
“Đồng niên” là chưa đầy 20 tuổi, 20 tuổi gọi là “nhược quan”, 19 tuổi trở xuống gọi là đồng niên, cho thấy người này rất thông minh. Tuổi còn trẻ mà ông đã thi đỗ cử nhân, thi đỗ cử nhân, về sau thi tiến sĩ thì mãi không đỗ, thi rất nhiều lần đều không đỗ.
Cha ông được bổ chức Tam doãn ở huyện Gia Thiện.
Phụ thân ông làm Tam doãn của huyện Gia Thiện, địa vị của Tam doãn là đứng thứ ba trong huyện. Thông thường chúng ta gọi “đại doãn” là huyện trưởng; theo cách nói hiện nay thì “nhị doãn” tương đương Bí thư trưởng/Chánh thư ký, còn “tam doãn” đại khái tương đương Trưởng phòng trong cơ cấu chính quyền cấp huyện.
Ông theo cha đi nhậm chức.
Ông theo cha mình đến Gia Thiện để nhận chức; cha ông tương đương Trưởng phòng trong chính quyền cấp huyện.
Vì ngưỡng mộ [học vấn] của Tiền Minh Ngô.
Tiền Minh Ngô là một vị học giả đương thời, là một lão tiên sinh rất có học vấn và đức hạnh.
Nên ông đem bài văn của mình đến thỉnh giáo Tiền tiên sinh.
Ông tự viết văn, đem bài văn của mình viết cho Tiền tiên sinh xem.
Minh Ngô xem xong, thảy đều gạch bỏ bài văn của ông.
Tiền tiên sinh phê bình, chỉnh sửa gần hết bài văn của ông, rất nhiều chỗ đều bị gạch bỏ.
Họ Triệu chẳng những không giận mà còn hết lòng khâm phục, nhanh chóng sửa đổi.
Thông thường tập khí của văn nhân là luôn thấy văn của mình hay. Người khác sửa văn chương của mình thì trong lòng luôn thấy không phục. Nhưng Triệu Dụ Phong không như vậy, Tiền tiên sinh sửa văn của ông, chẳng những ông không hề tỏ vẻ nổi giận mà trong tâm còn thật sự bội phục, tâm phục khẩu phục, đích thực có thể sửa đổi.
Năm sau ông đã thi đỗ tiến sĩ.
Sang năm sau, ông lại tham gia thi tiến sĩ, ông đã thi đỗ. Khiêm tốn rất quan trọng! Vị thứ tư là Hạ Kiến Sở.
Năm Nhâm Thìn, tôi vào kinh thành triều kiến, gặp Hạ Kiến Sở.
Năm đó tiên sinh Liễu Phàm 58 tuổi, “triều kiến” là gặp hoàng đế, ở kinh thành gặp được Hạ Kiến Sở.
Thấy người này khoan thư nhún nhường, nét mặt lộ rõ vẻ khiêm hạ.
Rất khiêm tốn, thật sự làm được hạ mình mà tôn người.
Trở về nhà tôi nói với bạn bè rằng.
Ông trở về nói với những người bạn của mình.
Hễ trời sắp giúp người nào hưng khởi, khi chưa được phước báo thì trước tiên sẽ khai mở trí tuệ cho họ. Khi trí tuệ được khai mở thì người hư dối tự nhiên sẽ trở nên chân thành, người phóng túng tự nhiên sẽ biết kiềm chế. Hạ Kiến Sở ôn hòa, hiền lành như vậy, ấy là được trời khai mở. Đến khi yết bảng, quả nhiên ông thi đỗ tiến sĩ.
Năm Nhâm thìn ông gặp Hạ Kiến Sở, ông quan sát rất chính xác. “Hễ trời sắp giúp người nào hưng khởi”, câu này nghĩa là nói, người này trước khi sắp phát đạt, phước báo vẫn chưa xuất hiện nhưng trí tuệ đã hiển lộ. Sau khi trí tuệ hiển lộ “thì người hư dối tự nhiên sẽ trở nên chân thành”, “phù” là tùy tiện, tự nhiên họ rất chân thật, tính phóng túng của họ tự nhiên biến mất. “Hạ Kiến Sở ôn hòa, hiền lành như vậy, ấy là được trời khai mở”, đây là ông trời khai mở cho ông, trí tuệ của ông được khai mở rồi. Khi treo bảng kỳ thi lần này, quả nhiên ông đã đỗ. Vị thứ năm là Trương Úy Nham, đây là một trường hợp ngược lại.
Trương Úy Nham người Giang Âm, học thức uyên bác, có danh tiếng trong giới văn chương.
Ông học giỏi, viết văn hay, nói như hiện nay là ông rất có danh tiếng trong giới học thuật, mọi người đều rất tán thán ông.
Năm Giáp Ngọ, ông về Nam Kinh thi Hương.
“Thi Hương” là thi cử nhân, Trương Úy Nham là một vị tú tài đi thi cử nhân.
Ở trọ trong một ngôi chùa.
Ông ở trong một ngôi chùa nọ.
Đến khi yết bảng không thấy tên mình trúng tuyển, ông lớn tiếng chửi mắng quan chủ khảo là có mắt không tròng.
Sau khi thi xong, khi công bố kết quả ông không đỗ. Thi không đỗ nên ông mắng quan chủ khảo, tôi viết văn hay như thế, vì sao không được chọn? Trong lòng rất bất bình.
Lúc đó, có một vị đạo trưởng ở bên cạnh bật cười.
“Đạo giả” là một vị đạo trưởng. Vị đạo trưởng ở bên cạnh, nghe ông chửi mắng quan chủ khảo, trong tâm bất bình, oán hận! Vị đạo trưởng này ở bên cạnh bật cười.
Họ Trương liền quay sang nổi giận với đạo trưởng.
Trương Úy Nham mắng quan chủ khảo, đạo trưởng ở bên cạnh cười nhạo, ông liền quay sang mắng vị đạo trưởng này.
Đạo trưởng nói: “Văn của ông chắc chắn không hay rồi”.
Đạo trưởng bảo: Tiên sinh, văn của ông chắc chắn không hay!
Họ Trương càng giận dữ hơn nói.
Trương càng nổi giận hơn.
Ông chưa từng đọc văn của tôi, làm sao biết không hay.
Ông không thấy văn tôi viết, làm sao ông biết không hay?
Đạo trưởng nói: “Tôi nghe nói khi viết văn, quý ở chỗ tâm bình khí hòa. Nay nghe ông chửi mắng, tâm hết sức bất bình như thế, vậy thì văn làm sao hay được?”
Vị đạo trưởng này nói rất có đạo lý, viết văn nhất định phải tâm bình khí hòa, tâm bình khí hòa mới có thể viết văn hay. Bây giờ nghe ông mắng quan chủ khảo, tâm ông rất bất bình, như vậy làm sao viết văn hay được. Trương Úy Nham cũng là một người rất khó được, ông nghe đạo trưởng nói rất có đạo lý.
Họ Trương nghe xong đột nhiên khâm phục, bèn thỉnh giáo đạo trưởng.
Ông không giận dữ nữa, ngược lại còn thỉnh giáo đạo trưởng. Hành động này rất hiếm có, thật không đơn giản!
Đạo trưởng nói: “Thi đỗ hay không đều do số mạng. Nếu số mạng không thi đỗ thì dù văn hay cũng chẳng ích gì. Phải tự thay đổi chính mình mới được”.
Vị đạo trưởng này nói với Trương Úy Nham, thi có đỗ hay không đó là số mệnh, nếu số mệnh không thi đỗ, thì văn của ông viết hay đến đâu cũng vô ích. Cho nên thời xưa thi cử, không ai không xem trọng âm đức. Trên là tổ tông tích đức, dưới là bản thân phải có âm đức. Tích âm đức, làm những việc thiện không để người khác biết, vậy quỷ thần sẽ luôn âm thầm gia hộ, bạn tham gia thi cử cơ hội sẽ đỗ rất cao. Cho nên đạo trưởng nói với ông, bản thân ông phải tự làm một sự chuyển biến, giống như tiên sinh Liễu Phàm gặp thiền sư Vân Cốc vậy.
