Đệ Tử Quy & Tu Học Phật Pháp –  Tập 22B

Video Thumbnail

Giám định: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Chủ giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc
Giảng ngày 06/3 đến 13/3 năm 2005 Tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Tổng cộng 80 Tập (tách tập)

Cẩn dịch: Ban biên dịch Tịnh Không Pháp Ngữ
Giám định biên dịch: Vọng Tây Cư Sĩ

Mã AMTB: 51-118-0001 đến 51-118-0040

Đệ Tử Quy & Tu Học Phật Pháp –  Tập 22B

Có một đức hạnh rất quan trọng đối với người làm nhân viên, đó là liêm khiết. Liêm khiết là cái gốc của chính trị, chính trị có thể an định, có thể lâu dài hay không, chỉ cần nhìn vào lãnh đạo đứng đầu và quan viên của đất nước có liêm khiết hay không? Tương tự như vậy, một công ty có thể duy trì tốt, phát triển tốt, cũng có liên quan mật thiết đến tâm của nhân viên có liêm khiết hay không. Làm sao để bồi dưỡng sự liêm khiết? Dục vọng đã sanh ra rồi mới bồi dưỡng có còn kịp không? Rất khó khăn. Cho nên sau này con cái của chúng ta muốn có thành tựu thì phải bồi dưỡng tâm hiếu thảo của chúng, tâm liêm khiết của chúng, như vậy chúng sẽ có được sự yên mến và tin tưởng của trưởng bối.

Thời nhà Minh có một vị trung thần tên là Hải Thụy, bởi vì tôi làm việc ở Hải Khẩu, một trong những trung thần nổi tiếng nhất Hải Khẩu chính là Hải Thụy, có một vở kịch nổi tiếng nhất nói về ông đó là “Hải Thụy từ quan”. Ông làm quan rất liêm khiết, nơi nào ông tới, còn chưa tới nơi thì cường hào, tham quan ô lại liền bỏ chạy, bởi vì họ biết một khi Hải Thụy đến nhất định sẽ xử lý họ. Nơi nào ông trị vì, nhân dân đều vô cùng yêu mến ông. Lúc tôi đi tham quan mộ của Hải Thụy, vừa bước vào, nhìn thấy một hàng chữ mang lại ấn tượng sâu sắc cho tôi, Hải Thụy viết rằng “thịt nát xương tan không màng đến, chỉ mong trong sạch giữa nhân gian”. Các vị Thánh Hiền luôn để đức hạnh ở trong lòng, hi vọng tạo phước cho nhân dân, hi vọng lưu lại tấm gương cho hậu thế, như vậy mới xứng đáng với sự dạy bảo của Thánh Hiền.

Tiếp đó tôi lại đi tham quan về cuộc đời của Hải Thụy, đều được vẽ trong một bức tranh, bức tranh này vẽ cảnh tượng gia đình ông. Vừa bước vào nhà ông sẽ thấy treo một bức tranh chữ, trên đó viết “ở triều đình trên cao, tất lo cho dân; ở sông nước ngoài xa, tất lo cho vua”, mọi người có biết câu nói này là của vị nào không? Phạm Trọng Yêm. Phạm Trọng Yêm luôn nghĩ rằng, khi ta ở trên triều đình, lúc nào cũng không quên làm sao mang lại phước báo cho nhân dân; khi bị đày đi xa, vẫn luôn không quên vua, không quên vận mệnh của đất nước. Phạm Trọng Yêm mặc dù đã qua đời nhưng tinh thần của ông không chỉ ảnh hưởng đến người nhà của ông, còn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ của người đọc sách về sau. Chúng ta đọc lời dạy bảo của Thánh Hiền thì nên có cái tâm giống như trong Trung Dung nói, “Cử chỉ có thể đời đời làm đạo cho thiên hạ, hành vi có thể đời đời làm khuôn phép cho thiên hạ, nói năng có thể đời đời làm chuẩn mực cho thiên hạ”. Phải cẩn thận trong lời nói cử chỉ, để cho từng cử chỉ hành vi của chúng ta có thể tạo phước cho gia đình, tạo phước cho xã hội đất nước. Nếu chúng ta có cái tâm như vậy liền giống với tâm của các vị Thánh Hiền, mà với cái tâm như vậy, mỗi lần mở kinh điển ra sẽ cảm thấy vô cùng tương ưng. Cho nên học tập văn hóa truyền thống không ở chỗ thời gian dài ngắn, mà ở chỗ khoảng cách giữa tâm của chúng ta với tâm của Thánh Hiền gần hay xa? Điều này càng quan trọng hơn.

Sau đó triều đình biết được sự trung thành của Hải Thụy, mặc dù ông đã rất lớn tuổi những vẫn phái ông tới làm quan ở Nam Kinh, sau này ông mất ở Nam Kinh. Lúc ông qua đời, thời xưa phải lá rụng về cội nên đưa thi thể của ông về Hải Nam. Trong quá trình vận chuyển, tất cả người dân ở Nam Kinh đều đổ ra đường, vô cùng đau thương, giống như cha mẹ qua đời vậy, đều ra đưa tiễn Hải Thụy. Từ câu chuyện của Hải Thụy mà chúng ta thể hội được, chỉ cần thực sự dụng tâm yêu thương nhân dân, nhất định sẽ được nhân dân yêu mến. Mà văn hóa truyền thống dạy chúng ta phải lập thân bằng đạo đức, phải cảm hóa người khác bằng đạo đức.

Văn hóa truyền thống tốt như vậy, tại sao hơn một trăm năm nay lại bị lơ là, thậm chí là bị phá hoại? Mọi người cảm thấy là tại sao? Nguyên nhân là gì? Thứ nhất là do chưa hiểu văn hóa truyền thống. Rất nhiều bạn đồng tu nói, nếu như văn hóa truyền thống tốt như vậy, tại sao cuối thời nhà Thanh lại hủ bại như vậy? Cách nói này tưởng đúng mà sai; chúng ta chỉ nhìn vào một chuyện thì không thể suy diễn ra được, nhất định phải nhìn tổng thể. Từ mấy trăm năm mà xem, chúng ta cũng thấy được thời nhà Thanh có thịnh vượng có lụn bại, mà sự thịnh vượng của nó cũng duy trì khá lâu, hơn một trăm năm, là thời vua Khang Hy, Ung Chính, Càn Long, giai đoạn này là thịnh thế. Mà khoảng thời gian này tại sao lại thịnh vượng? Nguyên nhân là gì? Bắt đầu từ thời vua Khang Hy, mỗi ngày trong cung đều giảng kinh điển, mỗi ngày đều giảng “Vô Lượng Thọ Kinh”, giảng lời dạy bảo của Thánh Hiền, cho nên tất cả đại thần đều được huân tập, đều biết cách làm việc, biết bổn phận của người làm quan, “Thấy biết giải bày cho nhau hiểu; ý kiến cùng hòa cùng vui; lời nói hòa hợp không tranh cãi”. Bởi vì họ là học trò của Thánh Hiền, học trò của chư Phật – Bồ Tát cho nên đất nước hưng thịnh, cũng viết nên một bộ sách có ảnh hưởng khá sâu xa tới văn hóa truyền thống, đó là bộ “Tứ Khố Toàn Thư”, được sinh ra trong thời thịnh thế đó.

Cho nên sự thịnh vượng của thời nhà Thanh là do coi trọng văn hóa truyền thống, mà sự lụn bại của thời nhà Thanh là bởi vì không xem trọng văn hóa truyền thống. Thời nhà Thanh từ đầu đến cuối chưa từng xuất hiện hôn quân, nhưng mà lại xuất hiện một người phụ nữ khiến cho nhà Thanh sụp đổ, đó là Từ Hi thái hậu. Có thể là khi Từ Hi thái hậu nghe giảng kinh, trong lòng cảm thấy “sao thầy lại toàn nói mình như vậy”, càng nghe càng cảm thấy không thoải mái nên nói: đừng giảng nữa, tất cả đều lui đi. Sau đó trong cung không giảng kinh nữa, con người không được huân tập thì phiền não hiện tiền, danh văn lợi dưỡng, tham sân si mạn đều sanh ra, vận mệnh của đất nước liền suy bại. Chúng ta phải hiểu được là do không coi trọng văn hóa truyền thống cho nên đất nước dân tộc mới suy bại.

Chúng ta tiếp tục suy ngẫm xem, văn ngôn văn, người muốn phế bỏ văn ngôn văn có từng đọc qua văn ngôn văn không? Có. Từ chỗ này mà chúng ta hiểu được, đọc nhiều chưa chắc có tác dụng, nếu như không có đức hạnh nhưng lại có tài năng thì sẽ gây ra tai họa càng lớn, cho nên họ phế bỏ văn ngôn văn. Họ có phải là đầu sỏ gây tội không? Không phải, họ là mồi lửa. Họ không coi trọng văn hóa truyền thống, sau đó vừa kêu gọi thì tất cả mọi người đều hưởng ứng, tại sao mọi người lại hưởng ứng? Nếu như cảnh này xảy ra ở thời Hải Thụy triều Minh thì sao, mọi người có phế bỏ văn ngôn văn không? Chắc chắn không thể nào. Những vị quan tốt đều đọc sách Thánh Hiền mới có thể cần cù chăm chỉ, yêu dân như con, họ bảo vệ văn hóa truyền thống còn không kịp, làm gì có chuyện phế bỏ.

Cho nên người đề xướng phế bỏ văn ngôn văn, họ chỉ là duyên, chỉ là mồi lửa mà thôi, chúng ta không thể đổ hết trách nhiệm cho họ. Thông thường mọi người chỉ nhìn vào mồi lửa mà thôi, nguyên nhân thực sự là gì? Trong một thời gian dài, lời nói và hành vi của người đọc sách không đồng nhất. Cho nên người dân thông thường dần dần còn tôn trọng người đọc sách hay không? Không tôn trọng, oán hận tích lũy đến một mức độ nhất định, nghe người khác hô hào phế bỏ văn ngôn văn, mới trở nên kết cục không thể vãn hồi được. Văn ngôn văn bị phế bỏ, người đọc sách phải chịu trách nhiệm lớn nhất, “làm không được thì quay lại xét mình”. Hiện nay chúng ta may mắn được tiếp xúc với giáo dục của Thánh Hiền, chúng ta nên bắt đầu làm tốt tu thân, để cho mọi người nhận thức lại văn hóa truyền thống, giáo dục kinh điển. Tôi tin tưởng rằng nếu chúng ta có cái tâm này, cũng có thể là thời cơ để khiến cho tình thế tồi tệ hiện nay trở thành thời kì thịnh vượng. Đây là vua tôi có đạo nghĩa.

Tiếp theo là vợ chồng có khác biệt, khác biệt ở đây là bổn phận chức trách. Đương nhiên giữa vợ chồng với nhau phải giữ chữ tín, không được thề non hẹn biển rồi muốn thay đổi là thay đổi, như vậy thì không giữ chữ tín. Ngoài giữ chữ tín ra, còn phải tin tưởng lẫn nhau mới được. Hiện nay giữa vợ chồng có sự tin tưởng lẫn nhau không? Vốn là có chút tin tưởng, người vợ đi nói chuyện với ba bốn người bạn, mỗi người đều nhắc nhở “chị phải canh chừng cẩn thận chồng mình, nếu không có thể sẽ thế này thế kia”. Vốn là không lo lắng nhưng sau đó càng nghe càng lo lắng, sau cùng thì nghi này nghi nọ, như vậy sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ của đôi bên.

Mẹ tôi không quản lý ba tôi quá chặt, thậm chí là tiền lương mẹ tôi kiếm được đều đưa cho ba tôi, sau đó thì không hỏi han gì tới nữa. Ba tôi nghĩ, vợ mình tin tưởng như vậy, mình nên làm tốt hơn. Mẹ tôi thường nói, “mẹ không biết gì hết”, kết quả là tất cả mọi người đều phải lo cho mẹ tôi, không quản lý tiền rất nhàn hạ; mẹ tôi lại không biết lái xe, đi đâu chồng cũng phải chở. Bởi vì vợ chồng tin tưởng nhau như vậy, quan hệ đôi bên càng ngày càng tốt. Khi chúng ta nói chuyện với bạn bè, chúng ta nên thường nhắc nhở đạo nghĩa vợ chồng cho họ nghe, chứ không phải nói những lời hoài nghi, nghi kị, như vậy thì sẽ khiến lòng người bất an. Phương pháp quan trọng để quản lý một gia đình đó là không có bí mật; nếu như trong gia đình có bí mật, mỗi ngày phải che che giấu giấu, đối phương có biết hay không? Làm như vậy là lừa mình lừa người, cuộc sống như vậy có vui vẻ không? Mặc dù giấu đi một số tiền, nhưng mà có khi lại tiềm tàng bệnh ung thư cũng không chừng, bởi vì thân tâm không thoải mái, người tính không bằng trời tính, chúng ta vẫn nên thuận theo đạo lý mà làm.

Thời xưa có một câu chuyện rất cảm động, cũng thể hiện đạo nghĩa của vợ chồng trong đó. Quang Vũ Đế thời Đông Hán có một vị đại thần tên là Tống Hoằng, Tống Hoằng rất có đức hạnh, làm tới chức Tư Không, là một chức quan rất lớn. Đúng lúc phò mã của công chúa Hồ Dương qua đời, công chúa là chị gái của Quang Vũ Đế, công chúa thành quả phụ, trong lúc nói chuyện với Quang Vũ Đế, công chúa có ý muốn gả mình cho Tống Hoằng, bởi vì cảm thấy Tống Hoằng rất có đức hạnh. Thông thường người trong hoàng tộc gả cho quan lại thì vị quan đó ngay lập tức sẽ trở thành hoàng thân quốc thích, hơn nữa đây còn là anh rể của hoàng đế. Quang Vũ Đế mới thử dò hỏi Tống Hoằng, xem ông có muốn bỏ người vợ cả để cưới chị gái hoàng đế không. Người thông thường đều mong muốn có được mối quan hệ như vậy, nhưng mà Tống Hoằng nghe xong thì nói với Quang Vũ Đế, “bạn nghèo thuở trước chớ quên, vợ cùng kham khổ chẳng nên phụ tình”. Người vợ tào khang là chỉ người vợ cả, người vợ cùng ta chăm chỉ vất vả gây dựng nên gia đình này.

Tống Hoằng nói ra câu này cũng rất có chừng mực, nếu như hoàng đế nói: khanh có muốn cưới chị gái của ta không? Tống Hoằng ngay lập tức trả lời rằng: “người vợ tào khang không thể bỏ”, hoàng đế sẽ cảm thấy như thế nào? Không giữ thể diện cho ta chút nào! Vì thế mà Tống Hoằng nói: “khởi bẩm hoàng thượng, bạn nghèo thuở trước chớ quên”. Hoàng đế nghe xong cũng sanh ra tâm đạo nghĩa, tiếp đó mới nói “người vợ tào khang không thể bỏ”. Nói như vậy hoàng đế sẽ cảm thấy có chút ngượng ngùng, cũng không ép ông nữa. Mặc dù Tống Hoằng chỉ là từ chối hôn sự của ông, nhưng mà tầm ảnh hưởng của ông có lớn không? Rất lớn. Bởi vì ông làm quan lớn trong triều, nếu như ông cưới chị gái của hoàng đế sẽ tạo thành phong khí không tốt trong triều đình. Mà ông có đạo nghĩa như vậy, cũng điều chỉnh phong khí nhớ tới tình nghĩa trong triều đình. Tin tưởng rằng trong khoảng thời gian này, tất cả quan lại nhất định không dám bỏ vợ, nếu như bỏ vợ nhất định sẽ bị dư luận công kích. Cho nên mỗi một việc mà người đọc sách làm đều phải có trách nhiệm với xã hội, với đất nước, không chỉ là xã hội đất nước thời đó, mà còn cả xã hội đất nước sau này. Phong phạm đó là vô lượng công đức, bởi vì nếu như Tống Hoằng không làm ra tấm gương tốt như vậy, chúng ta cũng không có mỹ đức để noi theo. Cho nên mọi người không thể chỉ để người thời xưa làm ra tấm gương, từ hôm nay trở đi chúng ta cũng phải trở thành tấm gương tốt.

Tiếp đó là giữa anh chị em cũng phải giữ chữ tín, anh chị em phải dìu dắt chăm sóc cho nhau. Thời nhà Minh có một người đọc sách tên là Trần Tuệ, con gái của ông không để lại tên trong sử sách, cho nên trong sử sách gọi bà là con gái của Trần Tuệ. Bởi vì cha mẹ bà qua đời sớm, để lại hai người em trai, một đứa năm tuổi, một đứa sáu tuổi, mà bà lại tới tuổi gả chồng. Người thân bạn bè biết được tình hình của gia đình bà, đều nhìn chằm chằm vào tài sản của gia đình bà. Người làm chị như bà hiểu được tuyệt đối không thể rời khỏi em trai mình, nhất định phải nuôi các em trưởng thành, cho nên bà hạ quyết tâm lúc đó không lấy chồng. Bà cũng rất có trí tuệ, biết được người thân bạn bè đang nhìn chằm chằm vào. Có một hôm bà nấu rất nhiều món ăn ngon, sau đó đốt nến, đốt đuốc ở trước cửa, người thân nhìn thấy liền tới trước cửa nhà bà xem xem, bà rất phóng khoáng mời họ vào: mời vào mời vào, không cần khách sáo, mau vào ăn. Khi bà càng khách sáo với người thân của mình thì họ càng cảm thấy hổ thẹn, người thân vốn là tới xem có kiếm chác được gì không, không ngờ bà lại nhiệt tình tiếp đón như vậy. Người thân của bà nói, tiện đường đi ngang mà nến bị tắt cho nên mới ghé vào nhờ đốt nến, không có chuyện gì khác.

Bà phương tiện thiện xảo, dùng thái độ vẹn toàn hóa giải nguy cơ này, từ đó người thân không đến làm phiền gia đình bà nữa, mà họ cũng cảm nhận được rằng người chị này đã quyết tâm nuôi hai người em trai trưởng thành. Sau đó hai người em trai trưởng thành, cưới vợ xây dựng sự nghiệp, lúc đó bà mới xuất giá, khi ấy bà đã bốn năm mươi tuổi, cả đời không có con cái, em trai đón bà về phụng dưỡng tới già. Ông trời nhất định sẽ yêu thương người nào thực sự có đạo nghĩa, Lão tử nói rằng “Đạo Trời không thân với ai, mà thường ở chỗ người Thiện”, chúng ta phải có lòng tin, hiểu được đạo lý thì tâm mới an ổn.

Giữa bạn bè với nhau cũng phải giữ chữ tín, giữa bạn bè cũng có đạo nghĩa khi chung sống với nhau. Thời nhà Hán có một người đọc sách tên là Trương Thiệu, khi đi học ở trường Thái học ông quen một người bạn tên là Phạm Thức, hai người cùng nhau học tập, cùng nhau trưởng thành. Sau đó khi rời khỏi trường Thái học, họ hẹn nhau một ngày nào đó vào hai năm sau sẽ gặp mặt. Hai năm sau đến ngày hẹn. Trương Thiệu nói với mẹ mình rằng, hai năm trước chúng con đã hẹn nhau, hôm nay huynh ấy nhất định sẽ đến, Phạm Thức nhất định sẽ đến. Bởi vì hai gia đình cách xa nhau mấy trăm dặm, cho nên mẹ của Trương Thiệu không tin, có điều Trương Thiệu rất tự tin, ông nói Phạm Thức là người coi trọng lời hứa, nhất định sẽ đến. Quả nhiên ngày hôm đó Phạm Thức tới. Bạn bè đôi bên rất tin tưởng nhau, cho nên bạn bè cũng phải giữ chữ tín. Được rồi, tiết học hôm nay tới đây thôi, cảm ơn mọi người.