TỔNG CỘNG 80 TẬP (tách tập)
Đệ Tử Quy & Tu Học Phật Pháp – Tập 34B
Làm người, trong lời dạy bảo của Phu tử, trước tiên phải học làm một người quân tử, làm quân tử như thế nào? Nếu như dùng một quyển sách, một quyển kinh, vậy thì đó là Đệ Tử Quy dạy chúng ta làm quân tử; nếu như dùng một câu thì đó là câu mà Phu tử nhắc đến trong Luận Ngữ, “quân tử có chín điều suy tư”. Khi mỗi người có thể luôn quán chiếu lời nói, hành vi, khởi tâm động niệm của bản thân từ chín góc độ, vậy thì người đó đang tiến dần từng bước trên con đường quân tử.
Là “chín điều suy tư” nào? Chúng ta cùng xem, “Thị tư minh, thính tư thông, sắc tư ôn, mạo tư cung, ngôn tư trung, sự tư kính, nghi tư vấn, phẫn tư nan, kiến đắc tư nghĩa”. Hiện tại chúng ta dùng chín điều suy tư của quân tử để quán chiếu xem mình thực hành được bao nhiêu! Điều thứ nhất “thị tư minh”, tức là những điều chúng ta nhìn thấy, bạn đều có thể hiểu rõ ràng, là nguyên nhân gì tạo thành kết quả này, là đạo lý gì mới hiện ra sự tướng như vậy. Sư trưởng tham gia rất nhiều hội nghị của Liên Hợp Quốc, mà hội nghị của Liên Hợp Quốc cũng đã mở mấy mươi năm nay, khi sư trưởng hỏi họ: mọi người muốn giải quyết xung đột trên thế giới, xung đột giữa đất nước với đất nước, giữa đoàn thể với đoàn thể, xin hỏi nguyên nhân của những xung đột này là gì? Sư trưởng hỏi như vậy, những chuyên gia tham gia hội nghị có trả lời được không? Không trả lời được. Cũng giống như chúng ta hỏi phụ huynh: con trẻ tự tư tự lợi là kết quả, nguyên nhân là gì? Con trẻ không ham học là kết quả, nguyên nhân là gì? Cho nên chúng ta phải có thể “thị tư minh” thì mới không sống mơ mơ hồ hồ; cũng chỉ có thị tư minh thì cuộc đời mới có thể dùng thời gian, tinh lực vào chỗ quan trọng, biết cách chọn lựa.
Tiếp đó sư trưởng nói với họ, xung đột trong gia đình. Giữa vợ chồng có xung đột, từ nhỏ con cái lớn lên trong môi trường như vậy, làm sao có thể có được nhân cách lành mạnh được. Chắc chắc là tự tư tự lợi. Tiếp đó sư trưởng nói, gia đình vẫn chưa phải là căn bản thực sự, căn bản ở chỗ nào? Xung đột giữa tự tánh và tập tánh; nói theo đạo lý mà người bình thường có thể hiểu được, tức là xung đột giữa lợi mình và lợi người. Khi tâm của con người đều là tự tư tự lợi, tự nhiên hiển thị ra sẽ là cạnh tranh, đấu tranh và chiến tranh; khi con người có thể niệm niệm đều là tâm nhân ái, luôn suy nghĩ cho người khác, có tâm như vậy, tất cả những xung đột, chiến tranh này sẽ còn sanh ra sao? Sẽ không sanh ra nữa. Cho nên, chỉ có thể hạ thủ từ nhân địa mới có thể giải quyết vấn đề. Đây là “thị tư minh”.
Cục diện của thế giới như vậy, tình trạng của gia đình cũng như vậy. Khi chúng ta phát hiện ra con cái càng ngày càng xa cách chúng ta, chúng ta nhất định phải nghĩ tại sao lại có kết quả như vậy? Có phải là do mình quan tâm quá ít? Khi mối quan hệ với mọi người của chúng ta không tốt, trước tiên tuyệt đối không thể đẩy trách nhiệm cho người khác, nhất định phải quay đầu suy nghĩ lại: là do mình làm chưa tốt chỗ nào, mới tạo thành kết quả như vậy? Cho nên quý vị đồng tu, khi chúng ta luôn tìm ra nguyên nhân, chúng ta sẽ càng sống càng thấu suốt, mà học Phật phải làm người thấu suốt. Đây là “thị tư minh”.
Tiếp theo, “thính tư thông”. Khi chúng ta nghe được lời nói của người khác, có thể nghe ra nhu cầu của họ. Ví dụ như mẹ gọi điện thoại, mặc dù không hề nói muốn chúng ta về nhà, nhưng mà từ trong lời nói của mẹ có thể nghe ra được mẹ rất nhớ con, rất muốn nhìn thấy chúng ta. Lúc này chúng ta phải “thính tư thông”, nghe ra được ý ở ngoài lời, không đợi cha mẹ mở lời, phải mau chóng chủ động về nhà thăm [cha mẹ]. Tiếp theo, khi chúng ta nghe được trong đoàn thể xuất hiện rất nhiều chuyện thị phi, chúng ta không nên bị cuốn vào những chuyện như thế này. Thậm chí là trong lúc chúng ta giao lưu với người khác, có thể nghe ra được tư tưởng, quan niệm hiện tại của họ có những vướng mắc nào, ngay lập tức bạn liền biết hiện tại nên lấy ra Nhận Thức Phật Giáo, hay là Tam Quy Y, hay là Liễu Phàm Tứ Huấn, hay là Phổ Hiền Thập Đại Nguyện, điều này bạn cũng phải rèn luyện để nghe ra được; còn phải nghe xem có cần nên đọc Đệ Tử Quy hay không?
Chúng ta cũng phải nghe ra khó khăn nghi hoặc của người khác, hoặc là họ chấp trước vào điều gì? Chúng ta cũng từng có một thầy giáo tới đây, anh ấy nghe giảng xong cũng rất cảm động, anh ấy nói với tôi, anh ấy nói trước lúc nghe giảng, tư tưởng của anh vốn rất tiêu cực, còn có ý nghĩ muốn tự sát. Sau khi nghe giảng năm ngày, anh ấy cũng có chút lãnh hội cuộc đời, biết được phương hướng cuộc đời, anh ấy nói: thầy Thái à, phải giống như các thầy mới có thể làm những việc vì xã hội này, những người như chúng tôi không được. Có phải là không được không? Không phải. Cho nên nhận thức của con người thường có chút chấp trước của bản thân, thực ra anh ấy dạy học ở trường căn bản không hề khác với công việc của chúng tôi! Nếu như anh ấy dạy học mấy mươi năm, có thể dạy ra hai, ba người như Phạm Trọng Yêm, bốn, năm người như Tăng Quốc Phiên, vậy thì công đức của anh vô lượng vô biên! Cho nên con người đều gặp duyên khác nhau, chỉ cần tận tâm tận lực trong duyên [mà mình] gặp được, đều là công đức viên mãn, không phân cao thấp.
Cho nên, tiếp đó tôi nói với anh ấy: chúng ta giống như đối mặt với biển lớn, chỉ cần chúng ta nhỏ một giọt nước rơi vào biển lớn, vậy thì chúng ta không hề khác biệt với biển lớn; chúng ta đừng như giọt nước đứng bên cạnh nói: “anh thật lớn, tôi thật nhỏ”. A Di Đà Phật rất lớn, chúng ta dung nhập vào thì cũng là một thể với A Di Đà Phật, cho nên A Di Đà Phật rất có tiền, chúng ta cũng rất có tiền, đúng không? A Di Đà Phật, sau khi chúng ta vãng sanh đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Quý vị đồng tu, lúc nào có thể làm A Duy Việt Trí Bồ Tát? Sau khi vãng sanh sao? Vậy thì chẳng phải chúng ta đã dùng tâm phân biệt để tu Phật đó sao? Khi tâm vãng sanh của chúng ta thực sự chân thành phát ra, liền siêu vượt khỏi thời gian không gian, ngay lúc đó nguyện lực của Di Đà có thể gia trì trên người chúng ta! Nếu chúng ta có tâm đồng tâm đồng nguyện với A Di Đà Phật, ngay nơi này liền trở thành thế giới Cực Lạc; có tâm như vậy, không gian có thể đột phá. Khi chúng ta có cùng một tâm nguyện với chư Phật Bồ Tát, phước báo của các ngài chính là phước báo của chúng ta, mọi người có tin hay không?
Chúng ta thường dùng một số cách nghĩ để giải thích [vấn đề], tôi nghĩ đến, hôm nay chị ba tin tưởng tôi như vậy, nếu như tôi nói với chị ấy: chị ba, em cần 30.000 Đài tệ. Chị chắc chắn không hỏi lời nào liền đưa tiền cho tôi, cũng sẽ không hỏi tôi muốn làm gì? Tại sao vậy? Vì chị tin tưởng tôi, cho nên phước báo của chị ấy cũng là phước báo của tôi, đương nhiên tôi cũng không tiêu lung tung tiền của chị ấy. Cũng giống như vậy, nếu như hôm nay tâm của chúng ta tương ưng với A Di Đà Phật, chúng ta đưa tâm cho Phật xem, Phật tin tưởng chúng ta như vậy, ngài sẽ đưa tiền cho chúng ta tiêu hay không? Sẽ đưa! Chúng ta làm thuê cho A Di Đà Phật mà, cho nên phước báo của A Di Đà Phật cũng là phước báo của chúng ta, như vậy có lo lắng hay không? Không cần lo lắng nữa! Đây là “thính tư thông”. Nghe được sự phân biệt của người khác, chúng ta có thể dẫn dắt họ buông xuống phân biệt, dung nhập vào một mảng chân thành, từ bi, thanh tịnh của cả thế giới này.
Điều thứ ba, “sắc tư ôn”. Chữ “sắc” này là chỉ vẻ mặt của chúng ta, biểu cảm trên nét mặt của chúng ta, người hiện nay gọi là ấn tượng đối với người khác. Nếu như ấn tượng đầu tiên, nhìn sắc mặt có vẻ rất nhăn nhó thì sẽ lưu lại ấn tượng không hay trong lòng người khác. Cho nên nghe nói người nào có khóe miệng cong lên thường khá có tiền, khóe miệng cong xuống thường không có tiền, tại sao vậy? Bởi vì chúng ta nhấn mạnh tướng mặt, tiền rơi xuống liền có thể đón lấy; nếu như thế này thì tiền rơi xuống sẽ trượt mất. Cho nên người ta nói, nhìn tướng mặt của người khác liền cảm thấy họ sắp có phước báo, hay là sắp có tai họa, liệu có khuynh hướng như vậy không? Có! Nghiệp chướng vốn do người chiêu cảm, bạn chiêu cảm tới thiện nghiệp, hay là chiêu cảm tới ác nghiệp? Vẫn do tâm của bạn. Tục ngữ có câu “họa vô đơn chí”, vì sao vậy? Sau khi chúng ta gặp họa, tâm càng ngày càng tiêu cực, đương nhiên ác duyên đều tới. Cho nên xoay chuyển ý niệm rất quan trọng, tướng do tâm sanh, khi chúng ta đối xử với người khác đều cảm thấy họ là “cha mẹ đời trước, chư Phật vị lai”, khi chúng ta đọc bài kệ hồi hướng, “hết một báo thân này, đồng sanh cõi Cực Lạc”, bạn thấy mỗi người đều cảm thấy sau này họ sẽ cùng sanh cõi Cực Lạc, như vậy chúng ta có thể “sắc tư ôn”.
Trong kinh điển cũng nói “vẻ mặt không sân là cúng dường”, chúng ta phải “thị tư minh”, bởi vì tôi nhìn ra được có đồng tu ngồi dưới nghe xong câu này của tôi đã thể hiện ánh mắt hoài nghi, biểu thị câu này họ nghe chưa hiểu. “Vẻ mặt không sân là cúng dường”, chúng ta luôn vui vẻ đối xử với người khác, như vậy là đang rộng tu cúng dường, bạn đang bố thí vô úy, không khiến người khác sanh khởi phiền não. Cho nên “diện duyệt thường đức”, vẻ mặt của một người thường vui vẻ, hoan hỷ, đó là hiển lộ của đức hạnh. Cho nên chúng ta bước vào cửa chùa, đầu tiên phải học điều gì? Di Lặc Bồ Tát thường luôn mỉm cười, cho nên “sắc tư ôn”. Đương nhiên từ hôm nay trở đi bạn cũng đừng nhìn thấy ai cũng cười mãi, phải cẩn thận giữa thái quá và bất cập. “Sắc tư ôn” cũng phải phù hợp với trung đạo, không thể quá mức, tức là không thể quá hài hước, cũng không thể quá nghiêm túc.
Trong Luận Ngữ có nhắc tới, học trò cảm thấy phu tử “vọng chi nghiễm nhiên, tức chi dã ôn”, tức là nhìn từ xa thì rất uy nghiêm, nhưng khi thân cận lại cảm thấy phu tử rất dễ chung sống, đây là làm được “sắc tư ôn”. Trong đó chừng mực như thế nào thì trong cuộc sống chúng ta hãy trải sự luyện tâm. Khi bạn bè của bạn, có một số người bạn mới tới nói với bạn, “tôi nhìn thế nào cũng cảm thấy bạn rất thân thiết”, như vậy thì bạn đã làm khá tốt “sắc tư ôn”. Nếu như một số người bạn mới đều nói với bạn của bạn rằng, “nhìn giống như mình đang nợ tiền bạn ấy vậy”, lúc này phải sửa đổi một chút, bởi vì trước khi lời nói có sự giao lưu qua lại, trên thực tế đã đang giao lưu rồi.
Chỗ này cũng làm tôi đột nhiên nhớ đến một chuyện, đó là năm đầu tiên tôi dạy học, tới dạy học ở làng Khách Gia. Tôi không biết tiếng Khách Gia, cho nên sợ có cảm giác khoảng cách đối với phụ huynh ở đó. Đồng nghiệp của tôi có vài người đã kết hôn sanh con, buổi sáng còn phải tới dẫn dắt, đưa học sinh vào trường nên họ khá bận rộn. Chúng ta muốn rộng tu cúng dường, phải thực hành bố thí, giúp đồng tu thuận tiện hơn, vừa cho mình cơ hội bố thí cho chúng sanh, vừa kéo gần khoảng cách, bạn thấy đó một công đôi việc, sao lại không vui vẻ mà làm? Bởi vì khi đó tôi ở tại trường học, thứ bảy chủ nhật mới về nhà, cho nên tôi vui vẻ giúp đỡ họ dẫn học sinh vào trường.
Chúng tôi đứng ở trước cổng trường, bắt đầu tu bố thí, tu trì giới, tu nhẫn nhục. Xe chạy tới, chúng tôi chủ động giúp học sinh mở cửa. Sau khi mở cửa, rất nhiều học sinh còn chưa đeo cặp sách đàng hoàng, chúng tôi tiện tay giúp chúng chỉnh lại, giúp chúng đeo đàng hoàng: nào, mau vào trường đi. Mặc dù về mặt ngôn ngữ tôi vẫn chưa giao lưu với phụ huynh được lưu loát, nhưng mà phụ huynh nhìn thấy cảnh này sẽ có cảm nhận như thế nào? Khoảng cách bắt đầu thu ngắn lại. Cho nên có một số phụ huynh ngày đầu tiên chạy xe máy tới, học sinh xuống xe, mặt họ không biểu cảm. Khi họ chở con tới ngày thứ ba, ngày thứ tư, chúng tôi vẫn chưa nói “chào buổi sáng”, họ đã như thế nào? Chào thầy! Cho nên giữa người với người, chúng ta phải biết đưa cánh tay hữu nghị ra.
Có một hôm, một học sinh của tôi đến nói, thưa thầy, em kể cho thầy nghe một chuyện, thầy đừng tức giận nha. Tôi nói: chuyện gì vậy, em nói đi? Em ấy nói: mẹ em cảm thấy thầy rất giống đang tìm người để bầu chọn, giống đang lôi kéo mọi người bỏ phiếu, “xin chào, xin chào”. Đây là “sắc tư ôn”, nét mặt của chúng ta là bước đầu tiên trong quan hệ với người khác.
Tiếp đó, “mạo tư cung”. Chữ “mạo” này là chỉ ngôn ngữ cơ thể của chúng ta, thể hiện ra khiến người khác cảm thấy rất cung kính, không được thô lỗ, không được gấp gáp, như vậy sẽ mang lại áp lực cho người khác. Trong lời dạy của nhà Nho có câu “ba ngàn oai nghi”, trong nhà Phật của chúng ta cũng có rất nhiều giới luật như vậy, đều là giúp chúng ta có thể “mạo tư cung”. Làm thế nào để cử chỉ, động tác của chúng ta đều là khiêm cung, thận trọng, làm sao làm được? Bắt đầu từ chỗ nào? Mỗi ngày giúp mẹ bưng trà có được không? Được! Sao lại không được? Có một người bạn của tôi chia sẻ, sau khi anh ấy học được, chỉ cần là ly trà nóng đầu tiên, nhất định sẽ bưng tới mời mẹ uống. Sau đó bạn học của anh cũng thường tới nhà làm khách, sau cùng, có lúc anh ấy đi tới bên cạnh, bạn anh cầm bình rót trà, ly trà đầu tiên bạn anh cũng đưa cho ai? Cũng mời mẹ anh uống. Cho nên sự cảm hóa của đức hạnh là âm thầm lặng lẽ, ở trong gia đình chúng ta không ngừng rèn luyện sự cung kính khiêm tốn đối với trưởng bối, đối với người khác.
Mà lời nói đi đôi với việc làm, khi tâm của chúng ta luôn chân thành, luôn thanh tịnh, luôn từ bi, thì hành vi cũng tương ưng theo tâm. Khi chúng ta luôn đề khởi câu Phật hiệu thì ngôn ngữ, động tác của bạn trong vô hình sẽ càng ngày càng nhẹ nhàng, càng ngày càng điềm đạm; nếu như chúng ta niệm Phật mà càng ngày càng thô bạo, vậy thì người bạn đời có thể sẽ chịu không nổi nữa. Cho nên đích thực phải bắt đầu từ tâm, đây là “mạo tư cung”.
Tiếp theo “ngôn tư trung”, lời nói nhất định phải đúng trọng tâm. Chữ “trung” này là chữ hội ý, gồm một chữ tâm và một chữ trung ở giữa, biểu thị tâm không thể thiên vị, nghiêng lệch. Khi lời nói của chúng ta thiên vị, nghiêng lệch, bạn bè người thân nghe được sẽ không dám tùy tiện đồng tình, cho nên lời nói phải chí công vô tư, nhất định phải nói lời công chánh, công bằng mới được. Chỉ cần lời nói có thiên vị, hành vi có thiên vị, sau cùng nhất định sẽ có đối lập, sẽ sanh ra oán hận. Cho nên chúng ta cũng phải trung thành trong lời nói.
Tiếp theo, “sự tư kính”, chữ “kính” và chữ “cung” đều là biểu lý, “kính” là ở trong lòng, “cung” là biểu thị ra ngoài hành vi. Đối với chuyện chúng ta nên làm, chuyện đã hứa với người khác, nhất định phải vô cùng cung kính hoàn thành, cho nên “nhận sự ủy thác của người, phải làm tròn bổn phận”, đây thuộc về phải làm người có tín nghĩa. Trong suốt quá trình này, trong lúc giảng tôi từng nhắc tới, chuyện chúng ta hứa với người khác sợ quên mất, thì nhất định phải như thế nào, nhất định phải ghi lại, như vậy mới có thể thể hiện thái độ cẩn thận của chúng ta đối với mọi việc. Tín nghĩa này ngoài việc lời nói phải giữ chữ tín ra, hết thảy bổn phận ngũ luân của chúng ta, đạo nghĩa, ân nghĩa của ngũ luân, không đợi đối phương yêu cầu, chúng ta cũng phải tận tâm tận lực mà làm, đây mới là “sự tư kính”. Được rồi, tiết học hôm nay giao lưu tới đây thôi, xin cảm ơn mọi người!
