Sức Mạnh Của Giáo Dục Nhân Quả

Tinh Hoa Khai Thị | Khuyên Tin Sâu Nhân Quả

Sức Mạnh Của Giáo Dục Nhân Quả

Do đó, người hiểu sâu nhân quả, chẳng dám làm chuyện phi pháp. Không chỉ chẳng dám làm, mà nghĩ cũng chẳng dám nghĩ! Vì vậy, đối với đạo hạnh và tu dưỡng của một cá nhân, nhân quả có sức mạnh vượt xa luân lý, đạo đức. Người tu dưỡng đạo đức khá, nhưng gặp phải những thứ gọi là “danh cao, lợi trọng”, vẫn chẳng thể chống nổi sự dụ dỗ, mê hoặc, vẫn có thể phạm lỗi! Chỉ có người tin sâu nhân quả, tuy thấy những thứ đó, tâm vừa động, nhưng nghĩ đến quả báo trong tương lai sẽ là như thế nào, bèn chẳng dám làm!

Trung Quốc từ xưa tới nay, xã hội ổn định vững bền mấy ngàn năm dựa vào gì? Điều chủ yếu nhất là dựa vào giáo dục nhân quả; ba nhà Nho, Thích, Đạo đều có giáo dục nhân quả. Trong xã hội, giảng nhân quả nhiều nhất, nói thật ra, Đạo gia còn giảng nhiều hơn Phật. Nhà Phật cũng giảng không ít, nhưng thường là khi giảng kinh chẳng chuyên nói về nhân quả, chỉ nói kèm theo. Do đó, giáo dục nhân quả phổ cập thì Đạo gia xếp hàng đầu. Quý vị thấy Đạo gia có Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn, và Tâm Kinh của Lữ Tổ[1], những thứ ấy đều là của Đạo gia, lưu thông phổ biến trong xã hội. Tốt lắm! Chư vị đã đọc Liễu Phàm Tứ Huấn, thiền sư Vân Cốc trao cho tiên sinh Liễu Phàm sách Công Quá Cách[2], đó là [tác phẩm được biên soạn dựa theo những giáo huấn trong] Cảm Ứng Thiên. Vì thế, tam giáo, tức tam giáo Nho, Thích, Đạo tại Trung Quốc, suốt mấy ngàn năm đã giúp đỡ quốc gia, giúp đỡ xã hội, xác thực là làm rất nhiều chuyện tốt đẹp, giúp cho xã hội an định và hòa hài. Nay chúng ta nếu muốn thành tựu đạo nghiệp của chính mình, ba căn bản ấy trọng yếu hơn bất cứ gì khác. Đệ Tử Quy, Cảm Ứng Thiên và Thập Thiện Nghiệp. Chúng ta phải nghĩ, phải nhớ Ấn Quang đại sư lão nhân gia suốt đời đề xướng giáo dục nhân quả. Trong những kinh luận và thiện thư do Hoằng Hóa Xã[3] lưu thông, số lượng lớn nhất là Liễu Phàm Tứ Huấn, Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, và An Sĩ Toàn Thư. Thuở Ấn Quang đại sư sinh tiền, trong hoàn cảnh thuở ấy, kỹ thuật ấn loát chưa phát triển cho lắm, mà Ngài có thể in ba loại sách ấy nhiều hơn một trăm vạn bản, chẳng phải là chuyện dễ dàng! Vì sao Ngài phải làm như vậy? Nay chúng ta hiểu rõ, nhìn vào xã hội động loạn, thấy tai ương trên địa cầu nhiều ngần ấy, chúng ta mới nhớ tới Ấn Quang đại sư suốt đời cực lực tuyên dương giáo dục nhân quả, chúng ta mới hiểu rõ đạo lý ấy! Nay chúng ta muốn cứu chính mình, trong đại kiếp nạn như thế, tránh né bằng cách nào? Tin sâu nhân quả, quý vị có thể tránh khỏi tai nạn này. Tin sâu nhân quả, chẳng có mảy may hoài nghi, điều này rất trọng yếu!

Cung kính trích từ: Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa – Tập 133. 04/09/2010. Mã số: 02-039-0133


[1] Đây là một bài kinh giảng về cái Tâm được coi là do Lữ Thuần Dương (Lữ Động Tân) giáng cơ trong đàn cầu tiên của Đạo gia, không phải là tác phẩm chú giải Tâm Kinh (mạo danh Lữ Tổ) với nội dung xuyên tạc Tâm Kinh để đề cao phép luyện đan của bọn đạo sĩ. Bài Tâm Kinh này khá ngắn, xin trích một đoạn như sau: “Thiên sanh vạn vật, duy nhân tối linh. Phỉ nhân năng linh, thật tâm thị linh. Tâm vi chủ tể, nhất thân chi quân, dịch sử bách hài khu xứ, quần tình; vật vô kỳ vật, hình vô kỳ hình, bẩm thụ ư thiên, lương tri, lương năng, khí câu dục tế, nhật thất kỳ chân. Thử tâm tức thất, thử thân diệc khuynh. Dục thiện kỳ thân, tiên trị kỳ tâm. Trị tâm như hà, tức tâm trị tâm. Dĩ lão lão tâm, trị bất hiếu tâm. Dĩ trưởng trưởng tâm, trị bất đễ tâm. Dĩ ủy trí tâm, trị bất trung tâm. Dĩ thành khác tâm, trị bất tín tâm. Dĩ cung kính tâm, trị vô lý tâm…” (trời sanh vạn vật, chỉ có con người là linh thông nhất. Chẳng phải là con người có thể linh thông, mà thật sự là do cái tâm linh thông. Tâm làm chúa tể, là vua của thân, sai khiến cái thân gồm hình hài xác thịt và các mối tình cảm. Tâm dường như là vật, nhưng chẳng phải là vật, tâm dường như có hình dáng, nhưng chẳng có hình dáng, được bẩm thụ từ trời, nên có lương tri và lương năng. Do bị dục vọng huân tập, che lấp, nên dần dần đánh mất tánh thiên chân. Cái tâm này đã mất, cái thân cũng lệch lạc theo. Muốn cho cái thân tốt lành, trước hết phải trị cái tâm. Trị tâm như thế nào? Hãy dùng tâm để trị tâm. Dùng cái tâm tôn kính người già của kẻ khác như người già của chính mình để trị cái tâm bất hiếu. Dùng cái tâm coi người bề trên của kẻ khác như bề trên của chính mình để trị cái tâm chẳng cung kính tôn trưởng. Dùng cái tâm tận tụy để trị cái tâm bất trung. Dùng cái tâm thành khẩn để trị cái tâm bất tín. Dùng cái tâm cung kính để trị cái tâm vô lý…)

[2] Công Quá Cách do đạo sĩ Tịnh Minh Đạo biên soạn vào đời Tống, với nội dung phân loại những điều ác và điều thiện để tự xét nhằm chấm điểm hành vi của chính mình hằng ngày. Nội dung các hạng mục dựa theo quan điểm tích thiện của Đạo giáo, luân lý Nho gia, cũng như thuyết nhân quả báo ứng của Phật giáo, nhưng các hạng mục chủ yếu đều lấy những điều đã được nêu trong Âm Chất Văn làm chuẩn.

[3] Hoằng Hóa Xã là một cơ sở lưu thông kinh sách Phật giáo. Thuở đầu, vào năm 1930, do Ấn Quang đại sư đề xướng, Giác Viên Tịnh Nghiệp Xã được thành lập tại Thượng Hải, pháp sư Minh Đạo thuộc chùa Thái Bình chịu trách nhiệm điều hành. Trước tiên, Tịnh Nghiệp Xã chỉ lưu thông những kinh sách do các nơi đã in. Sau đó, dưới sự giúp sức của các cư sĩ Hoàng Hàm Chi, Vương Nhất Đình, Quan Quýnh Chi v.v…, một tiểu tổ của Tịnh Nghiệp Xã đặc trách ấn hành kinh sách mang tên là Hoằng Hóa Xã được thành lập để tự ấn loát kinh sách. Tổ Ấn Quang chịu trách nhiệm giảo duyệt, tu đính, trình bày, pháp sư Minh Đạo và các vị cư sĩ nói trên chịu trách nhiệm quyên góp, liên lạc với xưởng in, ấn định giá thành, phân phối sách… Về sau, mọi người chỉ biết đến Hoằng Hóa Xã, không còn danh xưng Tịnh Nghiệp Xã nữa. Năm 1931, Hoằng Hóa Xã dời về chùa Báo Quốc ở Tô Châu là nơi Ấn Quang đại sư bế quan. Năm 1935, pháp sư Minh Đạo qua đời, không có người giao phó, tổ Ấn Quang phải đích thân trông nom Hoằng Hóa Xã mãi cho đến khi Tổ viên tịch. Sau khi Tổ vãng sanh vào năm 1940, Hoằng Hóa Xã lại chuyển từ Tô Châu về chùa Giác Viên ở Thượng Hải (trong giai đoạn này, Hoằng Hóa Xã do pháp sư Đức Sâm đảm nhiệm. Sau khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thành lập, pháp sư Diệu Chân tiếp tục chủ trì, nhưng chỉ được phép hoạt động cầm chừng). Trong giai đoạn đầu sau khi tổ Ấn Quang mất, Hoằng Hóa Xã dốc sức tái bản các bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Chánh Biên, Tục Biên, Gia Ngôn Lục, Tinh Hoa, và xuất bản tờ Hoằng Hóa Nguyệt San (tờ báo này thoạt đầu do ông Chung Cát Ninh chủ biên, về sau do Du Hữu Duy chủ trì và Vương Vĩnh Nguyên làm tổng biên tập) cho đến khi Mao Trạch Đông chiếm lãnh toàn bộ Hoa Lục, các hoạt động ấn loát và lưu thông kinh sách Phật giáo của các chùa bị cấm ngặt, nội dung báo chí Phật giáo hoàn toàn bị cán bộ văn hóa chỉ đạo. Năm 1956, Hoằng Hóa Xã được lệnh kết hợp với Thượng Hải Phật Học Thư Cục và Đại Pháp Luân Thư Cục, đổi tên thành Thượng Hải Phật Giáo Thư Điếm (tiệm sách Phật giáo Thượng Hải, do nhà nước quản lý); Hoằng Hóa Xã biến mất. Mãi cho đến thập niên 1990, khi chùa Báo Quốc ở Tô Châu được chính quyền Hoa Lục cho mở cửa lại, tăng chúng bèn tái lập Hoằng Hóa Xã trong khuôn viên viện bảo tàng Phật Giáo Tô Châu.

因果教育的力量

所以深明因果的人,不敢做非法的事情,不但不敢做,想都不敢想。所以因果對一個人的道行、修養,這種力量遠遠超過倫理道德。道德上有相當好的修養,可是遇到所謂高名重利,那個誘惑他還是守不住,還會犯,唯有深信因果,他雖然看到這個,心一動,想想將來果報怎麼辦,他就不敢了。

中國自古以來,社會幾千年長治久安靠什麼?最主要的是靠因果教育,儒釋道三家都有因果教育。在社會上對因果講得最多的,實在講,道比佛講得還多,佛家講的也不少,但是一般講經的時候他不專講因果,只附帶在裡面。所以因果教育的普及,道放在第一。你看道家的《太上感應篇》、《文昌帝君陰騭文》、呂祖的《心經》,這都是屬於道家的,普遍在社會上流通,好!諸位讀過《了凡四訓》,雲谷禪師給了凡先生的功過格,那就是《感應篇》。所以三教,儒釋道三教,在中國這幾千年來,幫助國家、幫助社會,確實做了很多好事,幫助社會安定,幫助社會和諧。我們今天要想自己道業成就,這三個根就比什麼都重要,《弟子規》、《感應篇》、《十善業》。我們要想想、要記住,印光大師他老人家一生提倡因果教育,弘化社流通的這些經論善書,分量最大的是《了凡四訓》、《感應篇彙編》、《安士全書》。印光大師當年在世,在那個環境裡面,印刷術不是很發達,他能把這三種書流通數量超過百萬冊,不是容易事情。為什麼要這樣做?我們現在明白了,現在看到社會動亂,看到這個地球災變這麼多,我們才想起印光大師一生極力宣揚因果教育,那個道理我們才明白。我們今天想救自己,大劫難裡面如何能夠迴避?深信因果,你就能夠避免這個災難。深信因果,絲毫不懷疑,這個重要!

文摘恭錄—淨土大經解演義(第一三三集)2010/9/4 檔名:02-039-0133