Đức Thích-ca Mâu-ni Phật
Thích-ca Mâu-ni Phật là danh hiệu của bậc Đạo sư cõi Ta-bà, đồng thời cũng là tôn chỉ dạy học của Ngài đối với chúng sinh ở thế giới này. Khi chúng ta xưng niệm Phật hiệu, tự nhiên sẽ nhớ đến những lời giáo huấn ân cần của Phật đối với chúng sinh.
Chúng sinh trong thế gian này phiền não trong tâm rất nặng, lại thiếu tình thương yêu quan tâm đối với những chúng sinh khác, vì vậy nên Phật hiệu gọi là “Thích-ca Mâu-ni”. “Thích-ca” có nghĩa là “năng nhân 能仁”, nghĩa là từ bi, ý là đối đãi với chúng sinh phải nhân từ; “Mâu-ni” nghĩa là “tịch mặc 寂默”, nghĩa là thanh tịnh, ý là đối với chính mình phải biết tu tập tâm tịch mặc thanh tịnh. Đây là dạy chúng ta luôn giữ tâm nhân ái, lấy lòng từ bi mà đối đãi mọi người.
Cách đây ba ngàn năm, Đức Thế Tôn giáng sinh tại một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ (thuộc khu vực Nepal ngày nay). Năm mười chín tuổi, Ngài xuất gia với thân phận thái tử. Năm ba mươi tuổi, Ngài thành đạo (minh tâm kiến tính), rồi suốt đời chuyên tâm thực hiện sự nghiệp giáo dục đa nguyên văn hoá, hướng đến chí thiện viên mãn. Ngài giảng kinh thuyết pháp trong 49 năm, mở lớp giảng khoảng hơn 300 hội. Đến 80 tuổi, Ngài thị hiện nhập Niết-bàn.
◎釋迦牟尼佛
釋迦牟尼佛,是娑婆世界導師的名號,也是他對這個世界眾生教學的宗旨。讓當我們稱呼佛名號時,自然而然想起佛對眾生的諄諄教誨。
這個世界的眾生,內心煩惱很重,對其他眾生缺乏愛護關懷,故佛名稱「釋迦牟尼」。「釋迦」是能仁、慈悲之義,意為對待眾生要仁慈;「牟尼」義為寂默、清淨;意為對自己須知修習寂默清淨心。這是教我們對要常存仁愛之心,以慈悲待人。
三千年前,釋尊降生在北印度的小國(位於今日尼泊爾)。十九歲時,以王子身分出家。三十歲成道(明心見性)後,畢生從事於多元文化至善圓滿的教學工作。講經教學四十九年,辦班約有三百餘會。八十歲示現入滅。

