LÃO CƯ SĨ HOÀNG NIỆM TỔ
Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ và Pháp sư Tịnh Không
LÃO HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG NÓI VỀ LÃO CƯ SĨ HOÀNG NIỆM TỔ
Hai việc lớn quan trọng nhất trong công việc những năm cuối đời của ngài, một là bồi dưỡng nhân tài, hai là viết sách
Tôi đã gần đến tuổi xế chiều, người xưa ở Trung Quốc thường nói “tuổi cổ lai hy”, những việc nên làm hầu như đều đã làm xong. Thời gian những năm cuối đời, trong Phật pháp không gì quan trọng hơn là giúp đỡ các vị pháp sư trẻ tuổi, khiến cho cửa Phật có người kế thừa, thật sự có người trẻ tuổi đến tiếp nối huệ mạng của Phật, đây là công việc quan trọng nhất trong những năm cuối đời.
Lúc Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ còn tại thế, đã nói với tôi rất nhiều lần, cũng thường hay viết thư nhắc nhở tôi, nói: “Pháp sư, ngài giảng kinh đã bao nhiêu năm nay, đủ rồi! Đừng giảng nữa, đừng chạy khắp nơi nữa, công việc quan trọng nhất trong những năm cuối đời của ngài có hai việc lớn, một là bồi dưỡng nhân tài, hai là viết sách.”
Tôi nói: “Tôi biết, tôi rất rõ ràng. Nhưng trong Phật pháp tất cả đều nói đến nhân duyên, duyên không hội đủ, muốn làm cũng làm không thành; duyên ở chỗ nào cũng không phải là điều chính chúng ta có thể nắm bắt được, việc này làm không được.”
Cư sĩ Lý Mộc Nguyên vào năm 95 (1995) đã phát khởi việc bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp, ông ấy đến nói với tôi. Tôi nói: “Ý tưởng này vô cùng tốt, là việc tốt! Ông muốn làm, tôi nhất định sẽ đến giúp đỡ”. Cho nên, ông ấy liền sáng lập “Lớp bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp Tịnh tông”, đối tượng bồi dưỡng đều là các vị pháp sư trẻ tuổi của Trung Quốc Đại lục. Năm nay là khóa thứ tư của lớp bồi dưỡng, những vị pháp sư trẻ tuổi này đều vô cùng xuất sắc, hiện tại ở trong nước đang đi khắp nơi giảng kinh hoằng pháp.
Chúng tôi thật sự không ngờ, tâm nguyện của Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ lại có thể được thực hiện ở Singapore. Trước đó tôi thường hay khởi vọng tưởng, hy vọng lý tưởng này có thể được thực hiện ở Trung Quốc, không ngờ Cư sĩ Lý Mộc Nguyên lại đi trước một bước. Tôi nhất định sẽ hỗ trợ ông ấy, giúp đỡ ông ấy đến giảng dạy.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ
==================
你晚年工作最重要的有兩樁大事,一個是培養人才,一個是寫書
我已近晚年,中國古人常說「古稀之年」,所應該做的差不多都做了。晚年的時間,在佛法中最重要的無過於幫助年輕的法師,使佛門後繼有人,真正有年輕人來續佛慧命,此為晚年最重要的工作。
黃念祖老居士在世的時候,告訴我很多次,也時常寫信提醒我,說:「法師,你講經講了這麼多年,夠了!不要再講了,不要到處跑了,你晚年最重要的工作有兩件大事,一個是培養人才,一個是寫書。」
我說:「我知道,我很清楚。可是佛法中一切都講因緣,緣不具足,想做也做不成;緣在何處也不是我們自己所能掌握的,這辦不到。」
李木源居士在九五年發起培養弘法人才,他來與我說。我說:「這個構想非常之好,好事情!你要做,我一定來幫助」。所以,他就創辦「淨宗弘法人才培訓班」,培訓的對象都是中國大陸年輕的法師。今年是培訓班的第四屆,這些年輕的法師都非常優秀,現在在國內到處講經弘法。
我們實在未料,黃念祖老居士的願望會在新加坡落實。之間我就時常打妄想,希望此理想能在中國落實,未料到李木源居士搶先一步。我一定協助他、幫助他來教學。
Các nhà khoa học phương Tây hiện nay xác thực chứng minh có mười một chiều không gian khác nhau tồn tại
Hiện nay các nhà khoa học đều đang nghiên cứu vũ trụ được hình thành như thế nào? Thế giới từ đâu mà đến? Những tinh hệ vô lượng vô biên này, có một số phàm phu chúng ta dùng sáu căn có thể nhận biết được. Mà những gì không nhận biết được, chính là không gian đa chiều. Mặc dù chúng ta không nhận biết được không gian đa chiều, nhưng các nhà khoa học dùng toán học, suy luận đã phát hiện xác thực có sự tồn tại của các chiều không gian khác nhau, là thế giới hoàn toàn không giống với cảm quan hiện tại của chúng ta. Về mặt lý luận mà nói, thế giới như vậy vô lượng vô biên.
Lão cư sĩ Hoàng là người học khoa học, ngài nói với tôi, căn cứ theo sự suy đoán của các nhà khoa học phương Tây, hiện tại xác thực chứng minh có mười một chiều không gian khác nhau tồn tại, trên lý luận là vô lượng vô biên. Rốt cuộc là vì sao? Chúng ta trong “Kinh Hoa Nghiêm” nhìn thấy các chiều không gian khác nhau, thật sự là vô lượng vô biên, vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta, thật sự là không thể nghĩ bàn. Những không gian này, nhà Phật gọi là hư không pháp giới chư Phật sát độ.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ
======================
西方科學家現在確實證明有十一種不同維次空間存在
現在科學家都在研究宇宙是如何形成的?世界是從哪裡來的?這些無量無邊的星系,有些是我們凡夫六根能覺察得到的。而覺察不到的,就是多維次的空間。雖然我們覺察不到多維次的空間,但是科學家用數學、推理發現確實有不同維次空間的存在,是與我們現在感官完全不一樣的世界。在理論上說,如此的世界無量無邊。
黃老居士是學科學的,他告訴我,根據西方科學家的推測,現在確實證明有十一種不同維次空間存在,理論上是無量無邊。究竟為何?我們在《華嚴經》上見到不同維次空間,真的是無量無邊,超過我們的想像,真的是不可思議。這些空間,在佛家講虛空法界諸佛剎土。
Một đơn vị thế giới là một dải Ngân Hà
“Thế” là chỉ thời gian, tam thế: quá khứ, hiện tại, vị lai. Người Trung Quốc lấy ba mươi năm làm một thế; quan sát cách viết chữ “thế” (世), cách viết của nó chính là ký hiệu, trong ký hiệu có ý nghĩa đại biểu của nó, nó có ba chữ thập (十), ba chữ thập là chỉ mười năm quá khứ, mười năm hiện tại, mười năm tương lai. Vì sao dùng số mười? Số mười đại biểu cho sự viên mãn, hàm nghĩa rất sâu. Quá khứ, hiện tại, vị lai gọi đó là “thế”. “Giới” là chỉ không gian. Không gian có nghĩa là giới hạn, đông tây nam bắc, bốn phương trên dưới, chúng ta gọi là mười phương. Thời gian và không gian hợp lại gọi là “thế giới”.
Thử nghĩ xem, vô lượng vô biên tinh cầu, tinh cầu chính là cõi nước mà trên kinh Phật nói, đây là y báo. Cõi nước mà kinh Phật nói, không phải chỉ một quốc gia nào trên trái đất, cũng không phải một tinh cầu, là chỉ tinh hệ, ví như “Hệ Mặt Trời”, đây ở trong Phật giáo là một cõi nước, cõi nước nhỏ; dải Ngân Hà là một cõi nước lớn, cõi nước mà trong kinh Phật nói là có ý nghĩa này. Là nói từ trên khu vực giáo hóa của một vị Phật.
Khu vực giáo hóa của một vị Phật, phạm vi rộng bao nhiêu? Phật ở trên kinh thường nói “tam thiên đại thiên thế giới”, tam thiên đại thiên thế giới rốt cuộc rộng lớn bao nhiêu? Điều này có rất nhiều loại cách nói. Phật ở trong “Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thế Giới An Lập” nói, thế giới này là lấy núi Tu-di làm trung tâm, mặt trời mặt trăng đều là xoay quanh núi Tu-di mà chuyển động. Nói đến mặt trời mặt trăng chúng ta liền biết có Hệ Mặt Trời, Hệ Mặt Trời là xoay quanh núi Tu-di mà chuyển động. Theo cách nói của Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ là một thế giới đơn vị, chính là cái mà chúng ta gọi là dải Ngân Hà. Cách giảng này hợp lý, mặt trời mặt trăng xác thực là xoay quanh dải Ngân Hà chuyển động, trung tâm của dải Ngân Hà chính là núi Tu-di mà trên kinh Phật nói. Ngài nói cũng rất có đạo lý. Bài viết này, chúng tôi đã đem nó in kèm ở phía sau chú giải “Kinh Vô Lượng Thọ”, chư vị có thể nhìn thấy.
Một dải Ngân Hà là một thế giới đơn vị, lấy thế giới đơn vị này để tính toán, một ngàn thế giới đơn vị liền gọi là một tiểu thiên thế giới, một tiểu thiên thế giới là một ngàn dải Ngân Hà. Sau đó lấy tiểu thiên thế giới làm đơn vị, lại có một ngàn tiểu thiên thế giới chính là một trung thiên thế giới, phạm vi của trung thiên thế giới liền lớn rồi; một ngàn nhân với một ngàn, lại lấy trung thiên thế giới làm đơn vị, một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới; một triệu lại nhân với một ngàn, một đại thiên thế giới là một tỷ dải Ngân Hà. Cho nên một đại thiên thế giới có bao nhiêu dải Ngân Hà? Một tỷ dải Ngân Hà. Vì sao gọi là tam thiên? Bởi vì có tiểu thiên, trung thiên, đại thiên, tam thiên là chỉ cơ cấu tổ chức của nó, trên thực tế là một đại thiên thế giới. Chư vị thử nghĩ xem, phạm vi này rộng bao nhiêu, đây gọi là một cõi Phật, một cõi nước, cõi nước mà trên kinh nói là lấy đây để làm đơn vị. Đây là khu vực giáo hóa của một vị Phật.
Phật Phật đạo đồng, trí tuệ, phước đức của tất cả chư Phật không có gì không giống; mặc dù đạo đồng, thế nhưng duyên của tất cả chư Phật không giống nhau. Nguyên nhân nằm ở chỗ lúc các ngài tu Bồ-tát hạnh, tâm nguyện đã phát không giống nhau. Có người nguyện đã phát rất lớn, đối với tất cả chúng sanh từ bi tiếp dẫn; có người nguyện lực chưa mạnh mẽ như vậy. Cho nên duyên của mỗi vị liền không giống nhau. Thế nhưng chỉ cần thành Phật rồi, phạm vi giáo hóa của các ngài nhỏ nhất là một tam thiên đại thiên thế giới.
Thế nhưng cũng có vị Phật có pháp duyên đặc biệt thù thắng, sau khi thành Phật, khu vực giáo hóa có hai đại thiên thế giới, thậm chí có ba, bốn, năm, mười, một trăm cái đều có. Nếu như khu vực giáo hóa của vị Phật này là một trăm đại thiên thế giới, cũng gọi là một cõi Phật, cũng gọi là một cõi nước. Chúng ta phải rõ ràng minh bạch ý nghĩa của danh từ thuật ngữ này trước.
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ
=================
一個單位世界是一個銀河系
「世」是指時間,三世:過去、現在、未來。中國人以三十年為一世;觀「世」字的寫法,其寫法就是符號,符號中有其代表意義,它有三個十,三個十是指過去十年、現在十年、未來十年。為何用十?十代表圓滿,含義很深。過去、現在、未來稱之為「世」。「界」是指空間。空間意為界限,東南西北、四維上下,我們講十方。時間跟空間合起來稱為「世界」。
試想,無量無邊的星球,星球就是佛經上說的國土,此為依報。佛經上說的國土,不是指地球上的哪個國家,也不是一個星球,是指星系,譬如「太陽系」,這在佛教是一個國土,小國土;銀河系是一個大的國土,佛經中說的國土是此意思。是從一尊佛教化的區域上說的。
一尊佛教化的區域,範圍有多大?佛在經上常說「三千大千世界」,三千大千世界究竟有多大?此有很多種的說法。佛在《華嚴經‧世界安立品》中說,此世界是以須彌山為中心,日月都是圍繞須彌山而轉的。講日月我們就知道有太陽系,太陽系是繞須彌山而轉的。以黃念祖老居士說法是一個單位世界,就是我們所謂的銀河系。此講說得通,日月確實是圍繞銀河系旋轉,銀河系的中心就是佛經上說的須彌山。他說得也挺有道理。這篇文章,我們已經將它附印在《無量壽經》註解的之後,諸位可以看到。
一個銀河系是一個單位世界,以此單位世界來計算,一千個單位世界就稱為一個小千世界,一個小千世界是一千個銀河系。然後以小千世界為單位,再有一千個小千世界就是一個中千世界,中千世界範圍就大了;一千乘一千,再以中千世界為單位,一千個中千世界是一個大千世界;百萬再乘一千,一個大千世界是十億個銀河系。所以一個大千世界有多少個銀河系?十億個銀河系。為何稱三千?因為有小千中千大千,三千是指其結構的組織,實際上是一個大千世界。諸位試想,這範圍多大,此稱一佛土,一個國土,經上說的國土是以此來作單位的。這是一尊佛的教化區。
佛佛道同,一切諸佛智慧、福德無有不同;雖然道同,但是一切諸佛的緣不相同。原因在於其修菩薩行的時候,發的心願不一樣。有些人發的願很大,對一切眾生慈悲接引;有些願力未如此強。所以各個緣就不一樣。但是只要成佛了,其教化的範圍最小是一個三千大千世界。
但是也有佛的法緣特別殊勝,成佛之後,教化區有兩個大千世界,甚至有三個、四個、五個、十個、百個的都有。如果這尊佛的教區是一百個大千世界,也稱一佛土,也稱一個國土。我們要先清楚明白名詞術語的意義。
TRƯỚC TÁC LIÊN QUAN ĐẾN LÃO CƯ SĨ HOÀNG NIỆM TỔ
(đang cập nhật)









