QUÁN TRƯỞNG HÀN ANH
Chân dung Quán trưởng Hàn Anh
LÃO HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG NÓI VỀ QUÁN TRƯỞNG HÀN ANH
Công đức thỉnh pháp của Quán trưởng Hàn không thể nghĩ bàn
Chúng sanh trong chín pháp giới, tôi không nói là phàm phu trong lục đạo, có người có thể gặp được “Hoa Nghiêm”, đây là phước phần không thể nghĩ bàn, phước báo này quá lớn quá không dễ dàng rồi. Bộ kinh lớn như vậy, chú giải “Sớ Sao” do Đại sư Thanh Lương đời Đường làm, “Hợp Luận” do Lão cư sĩ Lý Thông Huyền làm, những vị đại đức này đích đích xác xác đã hội đủ viên mãn tín, giải, hành, chứng, các ngài khế nhập pháp giới để giảng giải cho chúng ta. Nhưng rốt cuộc là dung lượng quá lớn, ai chịu học?
Dựa theo tiến độ như hiện tại, bộ kinh này ít nhất cần bốn ngàn năm trăm đến năm ngàn giờ đồng hồ. Tôi nói với chư vị, năng lực của tôi rất mỏng manh, bộ kinh này giảng xuống, nếu không bị hạn chế thời gian, thời gian tôi dùng sẽ vượt qua một vạn giờ đồng hồ. Một vạn giờ đồng hồ thật sự quá dài rồi, người hiện tại chịu không nổi. Cho nên giảm đi một nửa, về sau tiến độ của tôi rất nhanh, không thể giảng chi tiết. Liền biết được gặp được bộ kinh này, đó là phước phần lớn biết bao! Bộ kinh này có thể nghe một lần từ đầu đến cuối, không thể nghĩ bàn, đây là đại phước báo đệ nhất đẳng thế gian!
Tôi có phát tâm đến học “Hoa Nghiêm”, nghiên cứu “Hoa Nghiêm”, giảng giải “Hoa Nghiêm” hay không? Tôi chưa từng phát tâm này. Ý niệm thì có, nhưng dung lượng quá lớn rồi. Cho nên thầy Lý đem bản hội tập của Hạ lão truyền cho tôi, tôi liền từ bỏ ý niệm học “Hoa Nghiêm”. “Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh” chính là Trung bản “Hoa Nghiêm”, tôi học “Vô Lượng Thọ Kinh” chính là học “Hoa Nghiêm Kinh”, đó là Tiểu bản của “Hoa Nghiêm Kinh”, cho nên liền không để tâm hạ công phu ở trên “Hoa Nghiêm” nữa.
“Vô Lượng Thọ Kinh” trước sau đã giảng qua mười một lần, vì sao lần này lại phải giảng lại một lần từ đầu? Công đức này là của Quán trưởng Hàn. Bà ấy tìm tôi! Trước lúc vãng sanh bà ấy yêu cầu tôi giảng lại “Hoa Nghiêm Kinh” một lần, lưu lại một bộ băng hình cho người đời sau làm tham khảo, tôi nhận lời bà ấy. Làm một bản “Dễ hiểu” cho “Vô Lượng Thọ Kinh”, việc này tôi cũng đã nhận lời bà ấy. Công tác làm bản “Dễ hiểu” này đã hoàn thành, hiện tại cũng đang lưu thông rồi. “Hoa Nghiêm Kinh” cũng phải làm bản dễ hiểu, bản dễ hiểu này hiện tại có các học sinh đang làm. Cho nên công đức của Quán trưởng Hàn, có thể nói ở thế kỷ này, trong vòng một trăm năm nay, bà ấy là người đệ nhất, không ai có thể vượt qua bà ấy.
Nếu không có người khải thỉnh, tôi không thể nào giảng bộ kinh này; người khải thỉnh khiến cho bộ kinh này có thể có một bộ băng hình hoàn chỉnh lưu thông, biết bao nhiêu chúng sanh được lợi ích, đây là công đức của việc khải thỉnh, không thể nghĩ bàn, không ai có thể sánh bằng.
Cho nên hiện tại dự định trong ba năm, mỗi ngày bốn giờ đồng hồ, mỗi một năm tôi nhất định phải giảng trọn ba trăm ngày, chính là một năm phải giảng một ngàn hai trăm giờ đồng hồ, ba ngàn sáu trăm giờ đồng hồ, cộng thêm hiện tại khoảng chừng có hơn một ngàn ba trăm giờ đồng hồ, gần năm ngàn giờ đồng hồ, cuối năm 2004 bộ kinh này phải giảng xong. Công đức thỉnh pháp của Quán trưởng Hàn không thể nghĩ bàn!
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Quán trưởng Hàn Anh
==============================
韓館長請法的功德不可思議
九法界的眾生,我不說是六道凡夫,有人能夠遇到《華嚴》,這是不可思議的福分,這福報太大太不容易了。如此大的經,唐朝清涼大師作的註解《疏鈔》,李通玄老居士作的《合論》,這些大德確確實實圓滿的具足了信解行證,他們契入法界來為我們講解。但是畢竟是分量太大,誰肯學?
依現在這樣的進度,這一部經至少需要四千五到五千個小時。我向諸位說,我的能力很薄弱,這一部經講下來,如果不要受時間限制,我用的時間會超過一萬個小時。一萬個小時實在太長了,現在人受不了。所以打對折,往後我的進度快速,不能細講。就知道遇到這一部經,那是多麼大的福分!這一部經能夠從頭到尾聽一遍,不可思議,這是世間第一等的大福報!
我有無發心來學《華嚴》、研究《華嚴》、講解《華嚴》?我未發此心。念頭是有,但是分量太大了。所以李老師把夏老的會集本傳給了我,我把學《華嚴》的念頭打消了。《大乘無量壽經》就是中本《華嚴》,我學《無量壽經》就是學《華嚴經》,那是《華嚴經》的小本,所以就無心在《華嚴》上下功夫。
《無量壽經》先後講過十一遍,為何此次又要從頭再講一遍?這功德是韓館長的。她找我的!她在往生之前要求我把《華嚴經》講一遍,留一套錄相帶給後人做參考,我答應她。把《無量壽經》做一個易解,這我也答應她了。《易解》這分工作已經完成,現在也在流通了。《華嚴經》也要做易解,這易解現在有學生們在做。所以韓館長的功德,可以說在這一世紀,這一百年當中,她是第一人,無人能超過她。
若無啟請的人,我不可能講這部經;啟請的人使這一部經能有一套完整的錄相流通,多少眾生得利益,此為啟請的功德,不可思議,無人能夠相比。
所以現在預定在三年中,每天四個小時,每一年我一定要講滿三百天,就是一年要講一千兩百個小時,三千六百個小時,加上現在大概有一千三百多個小時,將近五千個小時,二00四年年底此經要講完。韓館長請法的功德不可思議!
Tiên sinh Cao Quý Dân thu hồi lại thư viện là đúng
Có một số đồng học thường hay đi theo bên cạnh tôi, biết được sau khi Quán trưởng Hàn vãng sanh, tiên sinh Cao Quý Dân đã thu hồi thư viện lại rồi, chúng tôi đã rời khỏi Đài Loan. Ông ấy làm đúng, ông ấy không có lỗi lầm.
Vì sao ông ấy đem thư viện thu hồi lại, không cho chúng tôi tu hành ở nơi đó nữa? Chúng tôi làm chưa đủ tốt. Cho nên sau khi tôi rời khỏi thư viện, đến Singapore đã viết sáu điều, “Sống trong thế giới biết ơn”. Chúng ta phải nghiêm túc phản tỉnh, tìm ra lỗi lầm của chính mình, cải quá tự tân, Phật Bồ-tát không ruồng bỏ chúng ta.
Chúng tôi ở bên ngoài trong mấy năm nay, hoằng pháp lợi sanh mọi việc đều rất thuận lợi, Phật Bồ-tát gia hộ, Quán trưởng Hàn ở trong cõi vô hình vẫn luôn là hộ trì, chăm sóc chúng tôi. Cho nên chúng tôi đối với Quán trưởng Hàn cảm kích, chúng tôi đối với Cao Quý Dân cảm kích, không có mảy may ý niệm oán hận. Chúng ta tu hành như vậy, có công có đức. Nếu thật sự hiểu rõ đạo lý, tự nhiên sẽ giống như tôi. Nếu như không hiểu rõ đạo lý này, tình cảm bốc đồng, đương nhiên liền sẽ làm sai mà không như pháp.
Cho nên học Phật nói thật ra cũng không phải là việc dễ dàng, thật sự có thể y giáo phụng hành, thường hay kiểm điểm lỗi lầm của chính mình. Có thể phát hiện ra lỗi lầm của chính mình, liền giác ngộ rồi. Kinh Phật thường nói “thủy giác”, bắt đầu giác ngộ rồi, sau khi ngộ liền khởi tu, vừa giác ngộ lập tức phải sửa, tuyệt đối không thể qua loa đại ý, đem lỗi lầm đùn đẩy cho người khác, đây là lỗi lầm thật sự của chính chúng ta. Cho dù thật sự là lỗi lầm của người khác, trong lòng chúng ta cũng không thể có dấu vết này, có dấu vết là phiền não của chính mình khởi hiện hành. Nhất định phải có thể phản tỉnh kiểm điểm, “chính tôi làm vẫn chưa đủ tốt, làm chưa đủ viên dung”, người khác làm không sai, chính tôi làm chưa đủ tốt, phải từ chỗ này phản tỉnh, trách nhiệm tự mình gánh vác.
Người học Phật, bất luận ở trong bất kỳ cảnh giới nào, quan trọng nhất là định công, người bình thường gọi là đức hạnh. Tuyệt đối không phải là tâm xốc nổi nóng nảy; tâm xốc nổi nóng nảy làm hỏng việc, không thể làm nên việc. Tâm địa nhất định phải giữ vững “chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi”, bất luận vào bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi nào, thuận cảnh nghịch cảnh, thiện duyên ác duyên, như như bất động, tuyệt không bị ngoại cảnh làm cho dao động, không bị ngoại cảnh can nhiễu, điều này mới có thể thành tựu phước tuệ.
Lấy phước tuệ này hồi hướng, mới có thể cúng dường tất cả chư Phật Bồ-tát, tất cả đạo tràng cõi Phật, tất cả chúng sanh; trong mỗi niệm rộng kết thiện duyên, bất luận đến bất kỳ nơi nào, người khác đều hoan hỷ chúng ta, sẽ không ghét bỏ chúng ta; chúng ta muốn làm bất cứ việc gì, đều có rất nhiều người đến giúp đỡ chúng ta. Lúc kết duyên, chỉ cần có công đức chân thật, một niệm hồi hướng, pháp duyên của chúng ta tự nhiên thù thắng!
Lão Pháp sư Tịnh Không nói về Quán trưởng Hàn Anh
=====================
高貴民先生收回圖書館是對的
有些時常跟隨在我身邊的同學,知道韓館長往生後,高貴民先生把圖書館收回去了,我們離開了台灣。他做得對,他沒有過失。
他為何把圖書館收回去,不再讓我們在其處修行?我們做得不夠好。所以我離開圖書館之後,到新加坡寫了六條,「生活在感恩的世界裡」。我們要認真反省,找出自己的過失,改過自新,佛菩薩沒有捨棄我們。
我們在外面的這幾年,弘法利生凡事都很順利,佛菩薩保佑,韓館長在冥冥當中依然還是護持、照顧我們。所以我們對韓館長感激,我們對高貴民感激,無絲毫怨恨的念頭。我們如此修行,有功有德。如真正明白道理,自然與我相同。如果不了解此道理,感情衝動,當然就會做錯而不如法。
所以學佛實在講也不是容易的事,真正能夠依教奉行,時常檢點自己的過失。能夠發現自己的過失,就覺悟了。佛經常說「始覺」,開始覺悟了,悟後起修,一覺悟立即要改,絕不能夠粗心大意,把過失推給別人,這是我們自己真正的過失。即使真的是別人的過失,我們心裡也不能有此痕跡,有痕跡是自己的煩惱起現行。一定要能夠反省檢點,「我自己做得還不夠好,做得不夠圓融」,別人做得沒有錯,我自己做得不夠好,要由此反省,責任自己承擔。
學佛的人,無論在任何境界中,最重要的是定功,一般人稱為德行。絕對不是心浮氣燥;心浮氣燥壞事,不能成事。心地一定要守住「真誠、清淨、平等、正覺、慈悲」,不論在任何時候,任何處所,順境逆境、善緣惡緣,如如不動,絕不被外境所動搖,不被外境所干擾,這才能成就福慧。
以此福慧迴向,才能供養一切諸佛菩薩、一切佛剎道場、一切眾生;念念當中廣結善緣,無論到任何地方,別人歡喜我們,不會討厭我們;我們想做什麼事情,都有很多人來幫助我們。結緣的時候,只要有真實功德,一念迴向,我們的法緣自然殊勝!
Lời tựa cho Tuyển tập Tưởng niệm Quán trưởng
Sự hưng khởi của tất cả các pháp thế xuất thế gian, đều phải hội đủ nhân duyên. Cho dù có thiện nhân, nếu không được thiện duyên, cũng không thể kết quả, Phật pháp cũng không ngoại lệ. Đại pháp của Thế Tôn có thể lưu truyền xa rộng như vậy, đều là nhờ các bậc đế vương, đại thần, trưởng giả, cư sĩ thời xưa hết lòng hộ trì, làm tăng thượng duyên. Truyền đến thời cận đại, Phật pháp suy vi đến tột cùng, những người có hiểu biết thường than thở Phật giáo thiếu hụt nhân tài, nhưng việc bồi dưỡng nhân tài, lại bắt buộc phải có đủ nhiều điều kiện, trong đó “hộ pháp” là mấu chốt khẩn yếu nhất.
Chúng ta ở Đài Loan có thiện duyên có thể nghe được Phật pháp, đặc biệt là hiểu rõ pháp môn Tịnh độ, càng khó được hơn là gặp được bản hội tập “Kinh Vô Lượng Thọ” của Lão cư sĩ Hạ Liên Cư, khiến chúng ta đối với Tịnh tông dứt nghi sanh tín, phát tâm chuyên tu chuyên hoằng. Nhân duyên thù thắng như vậy có được không dễ, thật đúng như trong kinh đã nói, thực sự là thiện căn, phước đức, nhân duyên trong vô lượng kiếp thành tựu vào một thời khắc này.
Tịnh Không lúc mới học Phật, được tiên sinh Phương Đông Mỹ chỉ dẫn vào Phật môn, sau đó được Đại sư Chương Gia khai tâm, Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam bồi dưỡng, trước sau mười ba năm, mới có chút thành tựu. Ngay chính lúc này, gặp được cư sĩ Hàn Anh. Năm 1966, Pháp sư Huệ Nhẫn thành lập Pháp Tạng Liên Xã ở Câu Tử Khẩu, Đài Bắc, đây là một đạo tràng nhỏ. Lúc đó tôi đang khổ sở vì không có nơi an thân hành đạo, nhờ ngài thành khẩn mời mọc, tôi đã nhận lời. Mùa đông năm đó, từ Đài Trung chuyển đến treo đơn tại Pháp Tạng Liên Xã ở Đài Bắc. Mỗi tuần hai ngày thứ bảy, chủ nhật giảng kinh, lúc đầu thính chúng chỉ có hai, ba mươi người, mười tháng sau, thính chúng dần dần đông lên, ngoài sân giảng đường nhỏ đều ngồi kín người, pháp duyên dần dần hưng vượng. Lúc này Pháp sư Huệ Nhẫn yêu cầu tôi, bắt buộc trong ba tháng, phải đem những gì đã học mười năm ở Đài Trung truyền dạy cho ngài. Đây là ngài đưa cho tôi một bài toán rất khó, thực ra tôi không có năng lực đem sở học mười năm, trong vòng ba tháng truyền thụ cho người khác; cho dù có năng lực, người khác cũng chưa chắc có thể tiếp nhận. Đương nhiên, biểu hiện này, trong lòng tôi rất rõ ràng, ở đây đã không thể tiếp tục ở lại được nữa. Nhưng phải đi đâu đây? Lúc đó học Phật chưa lâu, người quen biết cũng không nhiều, gần như không có ai chịu giúp đỡ tôi, cho nên đã gặp phải hoàn cảnh khốn khó thực sự.
Pháp Tạng Liên Xã cách nhà cư sĩ Hàn Anh rất gần, Câu Tử Khẩu lúc đó là một vùng ruộng đồng, không có nhà cửa; nhà họ Hàn là một ngôi nhà lầu nhỏ độc lập, nằm giữa cánh đồng, đối diện đằng xa với Pháp Tạng Liên Xã. Lúc tôi giảng kinh ở Liên Xã, vợ chồng cư sĩ Hàn thường đến nghe kinh, bà ấy biết được khó khăn của tôi, hai vợ chồng đến tìm tôi, hy vọng tôi đến nhà họ tạm trú. Lần đầu tiên đến nhà bà ấy, bà ấy chủ động hỏi tôi rằng: “Pháp sư, ngài hiện tại có khó khăn, ngài muốn đi đâu?” Tôi nói tôi không biết phải đi đâu. Bà ấy nói: “Ngài có thể sống ở nhà chúng tôi không?” Nhà bà ấy là ngôi nhà lầu nhỏ hai tầng, cả nhà ở tầng dưới, tầng trên chỉ có cậu con trai út Cao Quý Vũ đang học trung học cơ sở ở một mình. Bà ấy nói: “Ngài ở chỗ này đọc sách, dụng công, chúng tôi tìm cách tìm địa điểm để ngài tiếp tục giảng kinh.” Tôi thấy hoàn cảnh ở đây không tồi, nghe xong cũng rất an ủi, trở về Đài Trung báo cáo chi tiết với thầy Lý, thầy Lý cũng đồng ý. Sau đó tôi cùng cư sĩ Hàn đến Đài Trung gặp thầy Lý, sau khi về Đài Bắc, liền dọn đến nhà bà ấy ở. Ở một mạch mười bảy năm, trong khoảng thời gian này, cả nhà họ toàn tâm toàn lực chăm sóc cuộc sống của tôi, chạy khắp nơi thuê mượn địa điểm, giúp tôi mỗi tuần giảng kinh, chưa từng gián đoạn, sự thành tựu của nhân duyên hoằng pháp chính là ở chỗ này.
Thầy Lý thường nói: “Quyền không rời tay, khúc không rời miệng.” Người đánh võ, ngày ngày phải luyện võ; người hát, ngày ngày phải luyện giọng; người giảng kinh, phải thường xuyên giảng. Cho dù trước đây bồi dưỡng có sâu dày đến đâu, nếu không có cơ hội luyện tập, ba tháng đến nửa năm không giảng, liền sẽ trở nên xa lạ, hứng thú cũng không thể khởi lên được nữa, đây là nguyên nhân khiến rất nhiều người học giảng kinh thoái chuyển — không có cơ hội thực tập. Cư sĩ Hàn cung cấp cho tôi cơ hội này, ba mươi năm như một ngày, không quản nhọc nhằn. Để có thể cho tôi giảng kinh, bất luận là ở trong nước hay nước ngoài, bà ấy đều đi tìm mối quan hệ, tìm địa điểm, tìm thính chúng; từ mỗi tuần giảng hai lần, ba lần, cho đến bảy lần. Tôi tuy xuất gia muộn, nhưng nếu tính theo số giờ lên bục giảng, đại khái rất hiếm có người vượt qua tôi, từng có hai, ba năm mỗi tuần giảng ba mươi giờ — sáng, chiều, tối đều giảng. Tôi vẫn còn thể lực này, chỉ cần có cơ hội, tôi rất vui lòng học tập.
Tịnh tông ngày nay có thể có sức ảnh hưởng như vậy trên toàn thế giới, bản hội tập “Kinh Vô Lượng Thọ” đã có hàng triệu bản lưu thông trên toàn cầu, chúng ta uống nước nhớ nguồn, đây là công đức hộ trì của Quán trưởng Hàn Anh, khiến chúng ta trọn đời cảm kích khôn nguôi! Mỗi một người nghe pháp, tiếp xúc với kinh giáo, đều đang đón nhận ân huệ hộ trì của bà ấy. Tịnh tông nếu có thể phục hưng trong thời đại của chúng ta, bà ấy chính là một vị đại hộ pháp trung thành của chư Phật Bồ-tát.
Năm 1979 thành lập Thư viện Phật giáo Hoa Tạng ở Cảnh Mỹ, Đài Bắc, chúng tôi mới coi như là ổn định, không còn phải sống cuộc sống lang bạt, có một đạo tràng cố định để giảng kinh hoằng pháp lâu dài. Lúc đạo tràng được thành lập, đúng lúc tôi đang giảng “Kinh Hoa Nghiêm” tại Chí Liên Tinh Xá, cho nên mới lấy tên là “Hoa Tạng Tinh Xá” có cơ sở trực thuộc là “Thư viện Hoa Tạng”, dùng danh nghĩa Thư viện Hoa Tạng để làm sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, cư sĩ Hàn Anh đảm nhiệm vị trí Quán trưởng. Cho nên đạo tràng này là do bà ấy sáng lập, là do một tay bà ấy kinh doanh, nhiều năm không ngừng mở rộng, mới có được cục diện như ngày nay; trong khoảng thời gian này cũng tiếp dẫn không ít đồng tu xuất gia, cộng tu tại đây, bồi dưỡng nhân tài kế thừa hoằng dương Tịnh tông, công đức vô lượng vô biên!
Tôi từng lấy ví dụ nói, pháp sư hoằng pháp giống như một cây Bồ-đề nhỏ. Cây non là tôi đây được giáo sư Phương chọn giống, Đại sư Chương Gia ươm mầm, Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam vun trồng, sau đó cấy ghép đến nơi này tiếp nhận sự chăm sóc ba mươi năm, tưới tẩm ba mươi năm của Quán trưởng Hàn, cây Bồ-đề này lớn lên, đơm hoa, kết trái rồi; công đức của bà ấy viên mãn, A Di Đà Phật liền đến tiếp dẫn bà ấy vãng sanh, đây là điều chúng tôi tận mắt nhìn thấy, từ chỗ này mới thực sự thể hội được công đức không thể nghĩ bàn của việc hộ trì chánh pháp. Nhân duyên không thể nghĩ bàn, mới có thành tựu thù thắng không thể nghĩ bàn.
Quán trưởng Hàn trọn đời làm người, đối đãi với cấp dưới yêu cầu rất nghiêm ngặt, nhưng tâm địa từ bi, yêu thương, chăm sóc vượt xa cả cha mẹ, không có tâm hại người, mỗi niệm chỉ muốn thành tựu đại chúng. Lúc bà ấy lâm bệnh, nhìn thấy ấn bản đặc biệt của lớp bồi dưỡng Singapore, vô cùng cảm động! Nói với tôi, công việc bồi dưỡng nhân tài kế thừa là vô cùng quan trọng, việc dạy học nhất định phải được tiếp nối, không thể gián đoạn. Yêu cầu tôi đem “Kinh Hoa Nghiêm” giảng lại một lần từ đầu đến cuối, lưu lại một bộ băng ghi âm cho hậu học làm tham khảo, tôi đều nhận lời bà ấy rồi.
Thoại tướng vãng sanh của bà ấy vô cùng hy hữu, lúc tiểu liệm, tắm rửa thân thể, thay quần áo, toàn thân mềm mại; đến lúc hỏa táng, trước khi đậy nắp quan tài, chúng tôi nhìn sắc mặt bà ấy hoàn toàn giống hệt như lúc còn sống, đầy mặt hồng hào, an tường tự tại như đang ngủ say. Bà ấy đã làm minh chứng cho chúng ta về việc niệm Phật vãng sanh, thật sự đã làm được đại nghiệp hộ trì chánh pháp, tiếp nối huệ mạng của Phật, có thể sánh ngang với Lão cư sĩ Dương Nhân Sơn thời cận đại. Cuối đời Thanh đầu thời Dân quốc, cư sĩ Dương Nhân Sơn đã cứu hộ Phật giáo; Quán trưởng Hàn ở đời nay, tại Đài Loan, cũng đã vãn hồi Tịnh tông, làm rạng rỡ chánh pháp, bà ấy là tấm gương sáng cho việc hoằng hộ chánh pháp thời đương đại, xứng đáng để người đời sau noi theo.
Thầy Ngộ Đức chủ trì biên tập cuốn sổ lưu niệm Quán trưởng Hàn, bảo tôi viết một bài tựa, đây là việc tôi nghĩa bất dung từ. Sau khi bà ấy sanh về Tây phương, chúng ta nhất định phải đem Tịnh tông phát dương quang đại, lưu truyền dài lâu, chúng ta mới không hổ thẹn với Quán trưởng, mới thực sự làm được “trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường”. “Tri ân báo ân”, bắt buộc phải có biểu hiện cụ thể, không phải chỉ nói suông ngoài miệng, cho nên tôi hy vọng có thể ở quê hương của bà ấy — thành phố Đại Liên, thành lập “Thư viện Hoa Tạng” để tưởng nhớ đại đức hộ trì Phật pháp ba mươi năm của bà ấy. Tương lai nếu có nhân duyên, tôi rất muốn ở Tế Nam, Sơn Đông xây dựng một “Thư viện Từ Quang”, để báo đáp ân vun trồng của thầy Lý. Tiên sinh Phương Đông Mỹ là người ban đầu chỉ dẫn đường đi nước bước, ngài ấy đem Phật pháp giới thiệu cho tôi, khiến tôi có nhận thức mới đối với Phật pháp, nhiệt thành nguyện ý theo đuổi, cho nên tôi thiết lập “Học bổng tiên sinh Phương Đông Mỹ” ở An Huy, hỗ trợ các học tử ngành văn triết ra nước ngoài học tập nâng cao, tưởng nhớ Lão nhân gia ngài, cũng là báo ân.
Chúng ta dốc lòng dốc sức, hoằng dương Phật pháp Đại thừa, pháp môn Tịnh tông, hy vọng có thể giúp đỡ thời đại này, giúp đỡ xã hội này, tịnh hóa nhân tâm, giác ngộ thế gian dẫn dắt mọi người, nhằm mong đạt được mục tiêu nhân loại cùng tồn tại cùng phồn vinh, hòa bình, an định, thịnh vượng, hạnh phúc. Đây mới là mục tiêu thực sự chúng ta tưởng nhớ Quán trưởng Hàn, thực sự làm được việc báo ân. Hôm nay nhân dịp cuốn sổ lưu niệm vừa xuất bản, lúc chúng ta mở xem những hình ảnh cảm động nhớ lại chuyện xưa, Quán trưởng Hàn tuy đã vãng sanh cõi Phật, nhưng thịnh đức hoằng hộ vẫn còn mãi trong lòng người, vẫn luôn luôn hộ niệm, lưu truyền mãi ngàn thu.
Chúng ta cùng phát đại tâm, noi gương Quán trưởng Hàn, hoằng hộ pháp môn Tịnh tông, tiếp nối huệ mạng của Phật, tu Bồ-tát hạnh, tự lợi lợi tha, đem công đức này hồi hướng Tây phương, cùng chứng Phật quả, Quán trưởng Hàn ở trong đài sen báu Thường Tịch Quang, hòa ái ngậm cười, điều này mới phù hợp với thực nghĩa vĩnh viễn tưởng nhớ của chúng ta! Xin làm lời tựa.
Nhân 100 ngày Đại sĩ Hàn Anh sanh Tây phương năm 1997.
Thích Tịnh Không tại Thư viện Hoa Tạng, Đài Bắc.
===================
館長紀念專輯之序文
世出世間一切法的興起,都要具足因緣。縱有善因,若不得善緣,也不能結果,佛法亦不例外。世尊大法能夠源遠流長的傳下來,皆是往昔帝王、大臣、長者、居士們極力護持,為作增上緣。傳到近代,佛法衰微至極,有識之士常嘆佛教缺乏人才,然人才之培育,又必須具備多項條件,其中「護法」是最緊要的關鍵。
我們在臺灣有善緣能聞到佛法,尤其是明了淨土法門,更難得的是遇到夏蓮居老居士的《無量壽經》會集本,使我們對於淨宗斷疑生信,發心專修專弘。如此殊勝的因緣得來不易,誠如經中所說,實為無量劫的善根、福德、因緣於此一時成就。
淨空初學佛時,由方東美先生指示佛門,然後得章嘉大師啟蒙,李炳南老居士栽培,前後十三年,始小有成。正當此時,遇到韓鍈居士。一九六六年,慧忍法師在台北溝子口建立法藏蓮社,這是一所小道場。當時我正苦於無處安身辦道,承蒙他誠懇邀請,我接受了。是年冬,由台中遷至台北法藏蓮社掛單。每週六、日兩天講經,初期聽眾只有二、三十人,十個月後,聽眾漸漸增多了,小佛堂外面庭院都坐滿了人,法緣逐漸興旺。此時慧忍法師要求我,必需在三個月內,將台中十年所學教給他。這是他給我一個很大的難題,其實我沒有能力將十年所學,在三個月內傳授與人;縱然有能力,他人也未必能接受。當然,這種表態,我心裡很清楚,這裡已不能再住了。但是要到那裡去?那時學佛不久,認識的人也不多,幾乎沒有人肯幫助我,所以遇到真正的困境。
法藏蓮社距離韓鍈居士住家很近,那時的溝子口是一片田地,沒有房屋;韓家是一棟獨立的小洋房,在田地當中,跟法藏蓮社遙遙相對。我在蓮社講經時,韓居士夫婦常來聽經,她知道了我的困難,夫婦倆來找我,希望我到他們家暫住。初次到她家時,她主動問我說:「法師,你現在有困難,你要往那裡去?」我說我不知道要去那裡。她說:「你可不可以住在我們家裡?」她家是兩層樓的小洋房,一家人住在樓下,樓上只有念初中的小兒子高貴宇一人。她說:「你在這裡讀書、用功,我們想辦法找地方讓你繼續講經。」我看這裡環境不錯,聽了也很安慰,回到台中向李老師詳細報告,李老師也同意。然後我就偕同韓居士往台中見李老師,返台北後,就搬到她家裡住了。一住就住了十七年,這一段期間,她們一家人全心全力照顧我的生活,到處租借場所,使我每週講經,從未中斷,弘法因緣的成就即在於此。
李老師常說:「拳不離手,曲不離口。」打拳的人,天天要練拳;唱歌的人,天天要吊嗓子;講經的人,要常常講。即使過去培植得再厚,若沒有機會練習,三個月至半年不講,就會生疏,興趣就再也提不起來了,這是許多學講經退轉的原因|沒有機會實習。韓居士提供我這個機會,三十年如一日,不辭辛勞。為能讓我講經,無論是在本省或國外,她都去找關係、找場所、找聽眾;從每週講兩次、三次,一直到七次。我出家雖晚,若論上講臺的時數計,大概很少有超過我的,曾經有二、三年每週講三十小時——上午、下午、晚上都講。我還有這個體力,只要有機會,我很樂意學習。
今日淨宗在全世界能有如此的影響力,《無量壽經》會集本已有數百萬冊在全球流通,我們飲水思源,這是韓鍈館長護持的功德,使我們終生感激不盡!每一位聞法、接觸經教的人,皆是在接受她的護持恩惠。淨宗若能在我們這一代復興,她是諸佛菩薩的一位忠誠大護法。
一九七九年於台北景美建立華藏佛教圖書館,我們才算是安定了,不再過流浪的生活,有一所固定的道場長期講經弘法。道場建立時,正是我在志蓮精舍講《華嚴經》,所以就立名為「華藏精舍」附設「華藏圖書館」,用華藏圖書館的名義來做弘法利生的事業,韓鍈居士任館長。所以這個道場是她創建的,是她一手經營的,歷年不斷的擴充,才有今日的局面;於此期間也接引不少同修在此出家、共修,培育弘揚淨宗繼起人才,功德無量無邊!
我曾作比喻說,弘法的法師像一棵小菩提樹。我這棵樹苗是經方教授選種,章嘉大師孕育,李炳南老居士栽培,然後移植此地接受韓館長三十年的照顧,三十年的灌溉,這棵菩提樹長成,開花、結果了;她的功德圓滿,阿彌陀佛就來接引她往生,這是我們親眼所見的,從這裡才真正體會到護持正法不可思議的功德。不可思議的因緣,才有不可思議的殊勝成就。
韓館長一生為人,對待部屬要求甚嚴,但心地慈悲,愛護、關照遠過父母,沒有害人之心,念念只想成就大眾。她在生病時,看到新加坡培訓班特刊的樣本,深受感動!告訴我,培養繼起人才的工作非常重要,教學一定要延續下去,不能中斷。要求我將《華嚴經》從頭到尾講一遍,留一套錄音帶給後學作參考,我都答應她了。
她往生的瑞相非常稀有,小殮時,洗身體、換衣服,全身柔軟;到火化時,在蓋棺之前,我們看她面色與生前完全一樣,滿面紅光、安詳自在於熟睡之中。她給我們做念佛往生的證明,真正做到了護持正法、續佛慧命的大業,可與晚近楊仁山老居士媲美。清末民初,楊仁山居士救護了佛教;韓館長在今世,在臺灣,也挽救了淨宗,光大正法,她是當代弘護正法的榜樣,值得後人效法。
悟德師主持編輯韓館長紀念冊,要我寫一篇序文,這是我義不容辭的。她生西之後,我們一定要把淨宗發揚光大,傳之久遠,我們才對得起館長,才真正做到「上報四恩,下濟三苦」。「知恩報恩」,必須有具體的表現,不是空口說說而已,所以我希望能在她的故鄉|大連市,建立「華藏圖書館」紀念她對佛法三十年護持的大德。將來若有因緣,我很想在山東濟南建一所「慈光圖書館」,以報答李老師栽培之恩。方東美先生是最初指示門路之人,他把佛法介紹給我,使我對佛法有新的認識,熱忱意願追求,所以我在安徽設立「東美先生獎學金」,協助文哲學子出國深造,紀念他老人家,也是報恩。
我們竭誠盡力,弘揚大乘佛法、淨宗法門,希望能夠幫助這個時代,幫助這個社會,淨化人心、覺世牖民,以期達到人類共存共榮、和平、安定、繁榮、幸福的目標。這才是我們真正紀念韓館長,真正做到報恩的目標。今日紀念冊出版伊始,當我們展讀感人憶舊的畫面,韓館長雖往生佛國,而弘護盛德仍在人心,依然始終護念,永垂不朽。
我們同發大心,效法韓館長,弘護淨宗法門、續佛慧命、修菩薩行、自他兩利,以此功德回向西方,同證佛果,韓館長在常寂光寶蓮之中,熙怡含笑,這才符合我們永懷紀念之實義!是為序。
一九九七年韓鍈大士生西百日 釋淨空於台北華藏圖書館
GIỚI THIỆU VỀ QUÁN TRƯỞNG HÀN ANH
Sơ lược tiểu sử Lão cư sĩ Hàn Anh
Trong cuộc sống luôn tràn ngập tinh thần lạc quan cầu tiến
Trong lời nói và hành động chứa đựng những bài học khải thị khơi gợi sự suy ngẫm sâu sắc
Trong mỗi ý niệm đều chất chứa lòng từ bi hỷ xả
Một vị Bồ-tát hộ pháp trăm năm khó gặp trong chốn thiền môn
Những năm đầu học Phật, Cư sĩ Hàn Anh rất thích rộng kết pháp duyên. Bà từng thân cận nhiều vị cao tăng đại đức, cho nên pháp danh cũng rất nhiều. Trong đó “Từ Bản” là pháp danh được dùng khi thọ Bồ-tát giới, hai chữ “Từ Bản” chính là pháp danh được ghi trong điệp giới. Từ Bản có nghĩa là bản hoài từ bi, thế nên từ bi tế thế đã trở thành phương châm đối nhân xử thế suốt cuộc đời bà.
Cư sĩ sinh ngày 13 tháng 3 năm Dân quốc thứ 11 (năm 1922) tại Sa Hà Khẩu, thành phố Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh. Đây là một bến cảng trù phú, sầm uất nằm ở bờ Tây bán đảo Liêu Đông, nơi mà thời bấy giờ có rất nhiều người Nhật từng đến đây khai phá, xây dựng. Bà là con gái cả trong gia đình. Ngay từ nhỏ, bà đã mang vẻ đẹp khôi ngô, rắn rỏi với dung mạo nữ trung hào kiệt, giọng nói dõng dạc, lại là cháu gái đích tôn trong dòng họ nên được các bậc trưởng bối xem như “cháu trai đích tôn”. Bà thường xuyên được hóa trang thành bé trai, hầu như trong các buổi tụ họp của gia tộc không bao giờ vắng mặt bà. Bà rất được lòng mọi người và được yêu thương hết mực.
Tổ tiên họ Hàn quê gốc ở Hoài Âm, Giang Tô, sau đó dời đến thành phố Đại Liên, vùng Đông Bắc. Cho đến hiện tại, em gái bà là bà Tú Anh cùng em trai là ông Hàn Quần vẫn sống tại quê nhà, nay đã con cháu đầy đàn, tận hưởng một cuộc sống bình an, hạnh phúc. Thân phụ bà, ông Tự Minh, là một thương nhân yêu nước và cũng là một đại hộ pháp trong cửa Phật, vô cùng thích làm việc thiện và bố thí. Năm xưa, chùa Tùng Sơn ở Đại Liên chính là đạo tràng do ông hộ trì. Theo ghi chép của gia phả họ Hàn, tổ tiên của bà là hậu duệ của Đại tướng Hàn Tín – thuộc hạ của Hán Cao Tổ Lưu Bang thời nhà Hán. Dòng họ từng nương náu nơi cửa Phật để tránh tai họa, nhờ chịu ơn Phật giáo mà từ đó một lòng trung thành hộ giáo. Thân mẫu bà là bà Hàn Cao Thị, xuất thân từ một gia đình trâm anh thế phiệt, mang đầy đủ công dung ngôn hạnh. Bà không những thích giúp đỡ người khác mà còn trường chay quanh năm, tính tình lương thiện, ôn hòa. Sau này, khi Đại lục đổi chủ, song thân bà lần lượt qua đời tại Đại Liên. Lúc bấy giờ, Cư sĩ Hàn Anh đã cùng phu quân là ông Cao Sĩ Trân chuyển đến Đài Loan, không thể đích thân về chịu tang. Mỗi dịp Thanh Minh, bà đều hướng về phương Bắc cúng bái từ xa, nhờ các pháp hội của Phật giáo để siêu độ song thân, nhằm vơi đi nỗi niềm thương nhớ.
Giai đoạn tuổi thơ cắp sách đến trường là những ngày tháng vất vả nhất trong cuộc đời bà. Kể từ năm Quang Tự thứ 21 của triều đại Mãn Thanh (năm 1895), sau khi thất bại trong cuộc Chiến tranh Trung – Nhật (Chiến tranh Giáp Ngọ), hai nước đã ký kết Hiệp ước Mã Quan, nhượng lại vùng đất phía nam Phụng Thiên (Bán đảo Liêu Đông) và Đài Loan cho Nhật Bản. Kể từ đó, người dân địa phương nói chung đều phải tiếp nhận nền giáo dục của Nhật. Tuy nhiên, những người mang dòng máu hậu duệ Trung Hoa phần lớn đều di cư sâu vào đất liền ở khu vực Hà Bắc, Sơn Đông… để tiếp nhận nền giáo dục truyền thống Trung Quốc. Cư sĩ Hàn Anh cũng không ngoại lệ, bà thường xuyên theo cha mẹ lưu trú, học tập tại Thiên Tân, Hà Bắc, Sơn Đông. Do thời bấy giờ, khu vực đại lục quanh năm chịu cảnh thù trong giặc ngoài nên việc học của bà thường xuyên bị gián đoạn. Cho đến khi bà tốt nghiệp khoa Gia chánh của Đại học Nam Khai ở Thiên Tân, đồng thời học thêm 4 năm môn Lễ nghi Nhật Bản, mọi việc học hành mới tạm kết thúc. Không lâu sau, bà theo chồng xa xứ, kết duyên cùng ông Cao Bảo Trinh (Sĩ Trân) – con trai thứ của Chủ tịch ngân hàng tỉnh An Đông. Hai vợ chồng vô cùng yêu thương nhau, sinh được một người con gái tên là Uyển Sanh và một người con trai tên là Quý Dân.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, quân Nhật bại trận và rút khỏi Trung Quốc. Cả nước ăn mừng, ai nấy đều mong đợi một nền hòa bình thiên hạ. Thế nhưng, kẻ thù bên ngoài vừa đi, thì nội chiến trong nước lại bùng lên dữ dội. Năm Dân quốc thứ 36 (năm 1947), quân đội của chính phủ Quốc dân không thể chống cự lại lực lượng của quân Giải phóng, buộc phải dần dần rút về phía Nam. Với tư cách là Tổng Giám đốc ngân hàng, ông Sĩ Trân vì công việc nên đã cùng toàn thể nhân viên một thân một mình rời khỏi quê hương, theo chân chính phủ Quốc dân tiến về phương Nam. Nào ngờ thời cuộc ngày càng tồi tệ, họ liên tục phải di dời về phía Nam.
Nhìn những dòng người chạy nạn đi khắp bốn phương trong bối cảnh loạn lạc, thời cuộc lúc bấy giờ thật sự rất tồi tệ. Khi ấy, bà Hàn Anh chỉ mới 28 tuổi, vâng lệnh mẹ chồng, dẫn theo các con từ An Đông chạy về Hải Nam để đoàn tụ cùng chồng. Quãng đường vạn dặm xa xôi, phải chuyển từ tàu hỏa sang tàu thủy, đi ngày đi đêm không mệt mỏi, cộng thêm hai đứa con nhỏ và chín kiện hành lý. Dọc đường, bà phải trải qua vô số cuộc xét hỏi gắt gao. Sự hiểm nguy và mệt mỏi mà bà phải chịu đựng có thể nói là không thể kể xiết. Từ xưa đến nay, trong chiến loạn thì kẻ cướp rất nhiều, nhưng theo lời kể của Cư sĩ Hàn Anh, trên đường đi bà thường xuyên gặp được quý nhân phù trợ, và bà cũng tùy duyên giúp đỡ người khác. Mọi ngọt bùi cay đắng thật khó có thể dùng lời để diễn tả. Vài ngày sau, gia đình bà cuối cùng cũng bình an đến được Hải Nam, gia đình đoàn tụ. Tất cả nhân sĩ trong giới ngân hàng ai nấy đều tấm tắc khen ngợi, khâm phục lòng dũng cảm phi thường và dũng khí hơn người của bà. Không lâu sau, cả gia đình bà chuyển đến sinh sống tại Hồng Kông.
Cuộc nội chiến này của Trung Quốc không một ai có thể dự đoán được kết quả. Bà Hàn Anh cùng chồng tạm cư tại Hồng Kông, hoàn toàn không có sự chuẩn bị cho việc di cư ra nước ngoài, mà chỉ một lòng một dạ chờ đợi chiến tranh kết thúc để trở về quê hương An Đông. Hồng Kông, mặc dù thuộc lãnh thổ Trung Quốc, nhưng khi đó là đất thuê của Anh, là một hòn đảo không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, có nền chính trị ổn định và kinh tế phồn vinh. Rất nhiều người dân trong nước đều khao khát đến Hồng Kông để mưu sinh. Vì vậy, số lượng người vượt biên, di cư nhiều vô số kể, khắp nơi tràn ngập bầu không khí vừa vui mừng vừa bi thương. Cả gia đình bà Hàn Anh được đoàn tụ vô cùng hạnh phúc. Nhìn thấy đồng bào đang chịu cảnh hoạn nạn, bà không khỏi sinh lòng trắc ẩn. Bà đã cố gắng hết sức để giúp đỡ đồng bào vượt qua khó khăn kinh tế, bố thí thuốc men, đỡ đẻ cho trẻ nhỏ, đứng ra bảo vệ công lý… dường như tinh thần từ bi hỷ xả đã trở thành bản tính của bà.
Ba năm trôi qua một cách chóng vánh, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc do tình thế bức bách đã rút về Đài Loan, biến nơi đây thành căn cứ để phản công Đại lục. Lúc này, vì lo nghĩ cho cuộc sống và việc học hành của các con, ông Sĩ Trân đã nhờ người nộp đơn xin giấy phép nhập cảnh vào Đài Loan. Đến năm Dân quốc thứ 40 (năm 1951), cả gia đình dọn đến Đài Loan (năm sau sinh thêm cậu con trai út Quý Vũ), chờ ngày được trở về quê hương. Nào ngờ, thấm thoắt đã sống ở đó suốt 46 năm, Đài Loan đã trở thành quê hương thứ hai của bà. Năm Dân quốc thứ 58 (năm 1969), khi bà đang kinh doanh nhà hàng chay Thiền Duyệt Trai ở Cao Hùng, có người hỏi bà quê quán ở đâu, bà luôn mỉm cười và trả lời bằng tiếng Đài Loan: “Tôi là người Đài Loan chính gốc đấy!“. Dù giọng điệu mang chút trào phúng, nhưng thực tế, một đời người được mấy chục năm? Hòn đảo ngọc Đài Loan đã nắm giữ những năm tháng thanh xuân rực rỡ và cả một sự nghiệp Phật giáo huy hoàng của bà. Vô số thử thách và rèn giũa, những dấu ấn cuộc đời của bà đều in sâu trên mảnh đất này, tạo nên một vị Bồ-tát kiên cường và vĩ đại.
Cư sĩ Hàn Anh không những có dung mạo đoan trang, phúc hậu, tính tình hào sảng, yêu thích sự sạch sẽ, mà bà còn là một người năng động, cởi mở, đa tài đa nghệ, sáng tạo và có một giọng hát tuyệt vời. Những ngành nghề kinh doanh hiện đại ở Đài Loan thời kỳ đầu, như kinh doanh đồ thể thao, nhà hàng ẩm thực… thậm chí là lĩnh vực xây dựng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, bà đều đã từng tham gia và quản lý một cách tận tâm, dường như không hề thua kém nam giới. Về sau, bà sáng lập Thư viện Phật giáo Hoa Tạng, với tôn chỉ đào tạo nhân tài hoằng pháp và phương thức lấy giảng dạy làm cốt lõi, đó cũng là do một tay bà tiên phong lãnh đạo.
Bà cho rằng, phong cách làm việc bảo thủ, lạc hậu của thời xưa không thể đào tạo được những nhân tài hoằng pháp phù hợp với thời đại ngày nay. Thời đại không ngừng đổi thay, người thời nay nên sử dụng cách sống và làm việc hiện đại để giảng dạy, để hòa nhập với cộng đồng. Giống như trong Kinh Vô Lượng Thọ có nói: “Làm người bạn không thỉnh của chúng sanh.” Đó mới là phong thái tinh thần của Đại thừa. Có thể thấy, bà không phải là một vị trưởng giả hộ pháp bảo thủ, mà là một vị đại Bồ-tát dám đối mặt với thực tế, dám sáng tạo sự nghiệp. Tuy nhiên, dù có sự nghiệp, bà vẫn có thể chu toàn việc giáo dục con cái, coi trọng thái độ làm người cũng như hàm dưỡng văn học của chúng. Một mặt, bà củng cố cho con cái những quan niệm về Phật pháp để tránh bị thiếu hụt về mặt tinh thần; mặt khác, bà không tiếc tiền bạc mời những người thầy giỏi đích thân đến hướng dẫn. Mặc dù vậy, hai vợ chồng chưa bao giờ hạn chế sự phát triển sở thích của các con, cho đến khi chúng hoàn thành bậc giáo dục đại học một cách thuận lợi. Hiện nay, Quý Dân đã trở thành trụ cột của xã hội, Quý Vũ phát triển sự nghiệp tại Mỹ, còn cô con gái Uyển Sanh (đã qua đời) để lại một trai một gái, cũng đều là những tinh anh của xã hội.
Ngay từ mùa hè năm Dân quốc thứ 55 (năm 1966), bà cùng chồng đến Pháp Tạng Liên Xã ở Mộc Sách để nghe Pháp sư Tịnh Không giảng Kinh Lăng Nghiêm, cảm thấy rất khế cơ, thế là bà quyết tâm bước vào con đường tu học Phật pháp, phát tâm hộ giáo. Các vị tiền bối cư sĩ cũng dành cho bà sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt. Năm xưa, khi nghe nói Pháp sư Tịnh Không đang gặp khó khăn trong việc hoằng pháp, bà lập tức nhận được sự đồng ý của chồng và các con, đón Pháp sư về nhà cúng dường. Không lâu sau, cả gia đình đều quy y cửa Phật. Điều này đúng với câu nói “Nhân duyên hội đủ, nước chảy thành sông”. Kể từ đó, bà bất ngờ kế thừa truyền thống của thân phụ, trở thành đại hộ pháp của Phật giáo. Vì một lòng một dạ muốn hộ trì Phật pháp, chồng bà cũng tham gia vào đội ngũ bảo vệ Phật pháp (ông từng viết bản thảo giảng giải Phẩm Nhân Vương Hộ Quốc là một minh chứng rõ ràng), cả gia đình xem đây là công việc thiêng liêng và lấy đó làm niềm tự hào. Pháp sư cư trú tại ngôi nhà ở Mộc Sách suốt 17 năm trời. Trong khoảng thời gian này, cả gia đình đã tận tâm tận lực sắp xếp, lo liệu địa điểm giảng kinh hoằng pháp, không từ gian khổ, cốt chỉ để công việc hoằng pháp của Pháp sư không bị gián đoạn. Nào ngờ, trong vòng 7 năm vào khoảng năm Dân quốc thứ 65 (năm 1976), Cư sĩ Cao Sĩ Trân và con gái là Cư sĩ Uyển Sanh không may lần lượt qua đời. Tuy nhiên, Cư sĩ Hàn Anh vẫn kiên định niềm tin, cùng với hai con trai Quý Dân và Quý Vũ, giữ trọn tâm nguyện ban đầu, bảo vệ Phật pháp đến cùng. Cho đến nay, sự hộ trì đó đã kéo dài suốt 30, 40 năm. Nghị lực của bà quả là điều người thường không thể sánh bằng, bà thật sự là một vị hộ pháp trăm năm hiếm có.
Trong cửa Phật, cúng dường pháp sư thì đơn giản, nhưng hộ trì Phật pháp thì không dễ; hộ trì Phật pháp đã khó, việc đối nhân xử thế lại càng khó hơn. Với vai trò là một vị trưởng giả hộ pháp, để xây dựng một đạo tràng như lý như pháp giữa cuộc đời đầy thực dụng này và duy trì một đạo phong thanh tịnh, thì ngoài sự ủng hộ của đại chúng, nếu người đứng đầu không dành trọn tâm huyết và cống hiến vô tư của cả cuộc đời, thì rất khó có thể làm nên chuyện. Cư sĩ Hàn Anh chính là người có được nghị lực tinh thần và tố chất ấy. Bà đầy ắp lòng kiên nhẫn và tình yêu thương, sáng suốt và dũng cảm, không sợ hãi trước hoàn cảnh khắc nghiệt hay gian khổ, kiên quyết tiến bước cho đến giây phút cuối cùng mà không hề bỏ cuộc.
Vượt qua bóng đêm, bình minh sẽ rạng rỡ. Trong kinh có câu: “Bồ-tát là do nương theo nguyện lực mà đến.” Cổ đức cũng từng nói: “Người có hạnh nguyện như người có đôi mắt sáng, nguyện lực như ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và đèn, nương theo ánh sáng soi rọi mà nhìn rõ đường đi, người tu hành mới có thể đạt đến bến bờ giác ngộ.” Không có nguyện lực, làm sao có thể dẫn dắt con thuyền từ bi trong cõi Ta-bà đầy tăm tối và đau khổ này?
Năm Dân quốc thứ 68 (năm 1979), từ khi bắt đầu sáng lập thư viện, bà lập tức khởi xướng phong trào tuyên dương các bộ kinh lớn và các luận điển quan trọng, bao gồm cả các tiểu bộ kinh. Đặc biệt, bộ Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh cũng tỏa sáng rực rỡ tại đây. Pháp môn Tịnh độ nhờ thế mà được thiết lập, và việc cộng tu niệm Phật cũng được duy trì liên tục không gián đoạn. Thật không ngờ, một giảng đường nhỏ bé lại có thể phát huy công đức lợi ích to lớn đến vậy, phổ độ đại chúng mười phương. Điều này không thể không quy công cho sự gia trì của chư Phật, sự ủng hộ mạnh mẽ của người hoằng pháp và tứ chúng, cùng với phúc đức sâu dày và trí tuệ viễn kiến đúng đắn của vị Quán trưởng. Không chỉ vậy, Cư sĩ Hàn Anh còn mang tâm nguyện đào tạo nhân tài cho Phật giáo. Bà thấu hiểu nhân tài hoằng pháp rất khó có được, vì vậy, bà đã chuyển tâm nguyện đó thành hành động thiết thực. Một lần nữa, bà tự tay sửa chữa các bài giảng, rèn luyện phong cách, oai nghi… cho các học tăng. Đại bi đại nguyện, kế thừa quá khứ, mở lối tương lai, bà chưa từng đánh mất phong thái của một vị Bồ-tát. Chính vì vậy, việc bà không ngừng tích công lũy đức, tạo phúc cho thế hệ sau, hoàn toàn xuất phát từ một tấm lòng bao la, vô tư vô ngã.
Chỉ trong một, hai năm ngắn ngủi, Phật pháp được hoằng dương rộng rãi, pháp môn Tịnh độ cũng đã cắm rễ vững chắc tại Thư viện. Quá trình phát triển nhanh chóng này, nên nói rằng, có được là nhờ căn lành của tứ chúng đã chín muồi và công việc hoằng pháp không ngừng tinh tấn, không gián đoạn, không xen tạp, một lòng chuyên niệm, cùng với niềm tin vững chắc của người hộ trì.
Từ bấy lâu nay, Cư sĩ Hàn Anh luôn đóng vai trò là một người lãnh đạo mẫu mực, được mọi người yêu mến. Bà đối nhân xử thế vô cùng khéo léo, tròn đầy, tính tình hài hước, văn phong lưu loát, tài ăn nói xuất chúng và lại vô cùng hào phóng, trọng nghĩa khí. Kể từ khi Tạp chí Hoa Tạng được xuất bản, những bài viết của bà với lối hành văn trôi chảy, thấu tình đạt lý đã giúp sự nghiệp hoằng pháp tiến thêm một bước dài, công lao của bà quả thực không thể phai mờ. Con người bà, thuận theo sự thay đổi của thời đại, càng trở nên thanh thoát, bao dung, tự tại. Được thấm đẫm bởi nhân sinh quan chín chắn và tinh hoa của Phật pháp, bà càng tỏa sáng rực rỡ phong thái rạng ngời, tung cánh bay cao trên con đường Bồ-tát đạo.
Bà luôn nhấn mạnh rằng tu hành nên đặt trọng tâm vào việc mở rộng tâm lượng, bởi lẽ các bậc Tổ sư đại đức tu đạo thành tựu từ xưa đến nay đều có một điểm chung: đó là tâm lượng rộng lớn vô biên. Tâm lượng càng rộng mở, càng dễ khai ngộ. Thường nghe bài kệ ca ngợi Đức Di Lặc: “Cười những kẻ đáng cười trong thiên hạ, Bao dung những việc khó bao dung ở đời.” Thỉnh thoảng bà lại ngâm nga: “Đỉnh đầu Tướng soái có thể cưỡi ngựa, Bụng tể tướng có thể chèo thuyền.” Mặc dù là một người phụ nữ, nhưng không khó để nhận ra bà mang trong mình tấm lòng rộng lớn của Bồ-tát Di Lặc. Trong nhà, bà cũng thờ phụng Tây Phương Tam Thánh và một tôn tượng Bồ-tát Quan Âm. Bà đặc biệt tôn sùng tinh thần từ bi của Bồ-tát Quan Thế Âm. Vì vậy, cách bà giải thích danh xưng “Quan Tự Tại” trong Tâm Kinhvô cùng được tán thưởng. Bà nói: “Quan Tự Tại chính là Quan Thế Âm, là ý nghĩa hai mặt của một thể thống nhất. Đối với bản thân thì quan sát tâm được tự tại, đối với bên ngoài thì lắng nghe tiếng than khổ của tất cả chúng sanh, tầm thanh cứu khổ, đó chính là pháp môn Quan Âm.” Tự tại, tùy duyên, từ bi, hỷ xả là hạnh nguyện tu hành suốt cả cuộc đời của một vị Bồ-tát. Về cơ bản, Cư sĩ Hàn Anh sống một cách chân thật, dụng tâm. Thông qua cuộc sống, bà trải nghiệm chân lý của Phật pháp. Bà chú trọng vào tính thiết thực chứ không mộng tưởng viễn vông, nói được làm được, khẩu Phật tâm Phật, lời nói luôn cẩn trọng. Bình thường gặp người gặp nạn, chỉ cần trong khả năng, bà nhất định sẽ dốc hết sức giúp đỡ, tuyệt đối không thoái thác. Nhưng nếu có những yêu cầu không đúng với lý lẽ, không hợp với Chánh pháp, bà kiên quyết từ chối. Bà luôn tin vào lời Phật dạy: “Từ bi sinh họa hại, phương tiện sinh hạ lưu.” Đối nhân xử thế không chỉ cần giữ nguyên tắc mà còn phải dùng trí tuệ.
Sống trên hòn đảo Đài Loan, bà chưa từng lãng phí thời gian. Kể từ năm Dân quốc thứ 48 (năm 1959), bà nhiều lần tham gia các hoạt động ủy lạo quân đội tại Kim Môn. Trên thương trường, bà đã nâng đỡ rất nhiều người; trên con đường tu hành, bà bồi dưỡng vô số hậu bối; trong các sự nghiệp công ích, bà thường xuyên tham gia từ thiện, cứu trợ thiên tai, du lịch, giảng dạy… không kể xiết. Sức sống tinh thần dồi dào ấy bắt nguồn từ sự phát tâm của Bồ-tát, không mệt mỏi, không chán nản, không bao giờ vì lợi ích riêng. Trước đây, khi chứng kiến những thanh niên học sinh đương thời không nhận được nền giáo dục cuộc sống tốt, bà vô cùng tiếc nuối. Thỉnh thoảng, bà viết vài bài báo kêu gọi các cơ quan chức năng, hoặc tham gia vào các hoạt động giáo dục, mời các pháp sư đến giảng dạy. Ví dụ như thời kỳ đầu có Tổ chức Tọa đàm sinh viên Phật giáo Trung Quốc và Lớp bồi dưỡng Nội Minh. Lúc bấy giờ, nhờ vào nghị lực phi thường và tài năng xuất chúng, bà đã nhận được sự tán thưởng của Pháp sư Đạo An, Hội trưởng Hội Pháp thí Hoa Tạng, và được bổ nhiệm làm giảng viên của lớp bồi dưỡng này. Trong thời gian đó, bà chăm sóc chu đáo cuộc sống và việc học tập của các học tăng, bất kể ngày đêm, toàn tâm toàn ý cống hiến. Kể từ khi Thư viện được thành lập, hằng năm bà tích cực hỗ trợ tổ chức các buổi tọa đàm Phật học dành cho sinh viên, đồng thời mời các giáo viên giỏi đảm nhiệm nhiều khóa học đa dạng như tiếng Nhật, tiếng Anh, Quốc học, Tán tụng (Phạm bồi), Thường lễ cử yếu, Oai nghi, Thuyết trình, Pháp khí, Nấu ăn… Thỉnh thoảng, bà còn tổ chức các hoạt động như dạy Thái cực quyền (do thầy Lưu Tích Hanh hướng dẫn), những chuyến dã ngoại phóng sinh, hay các chuyến đi thăm các vị trưởng lão ở các chùa, leo núi… Bắt đầu từ năm Dân quốc thứ 75 (năm 1986), bà mở rộng tổ chức các chuyến du lịch Hồng Kông, Thái Lan, tham quan đại lục, các chuyến du lịch tham gia Phật thất ở Mỹ, Úc, Singapore, phát học bổng tại đại lục… Mục đích chính là tạo cơ hội cho đồng tu tứ chúng được mở rộng tầm mắt, học hỏi nhiều điều mới lạ. Phương châm “kết hợp giáo dục trong vui chơi” đã tạo nên một phong cách hoàn toàn mới mẻ mà các đạo tràng trước đây chưa từng có.
Mặt khác, dù là một người phụ nữ truyền thống, bà luôn thể hiện sự nghiêm túc cực độ trong việc quan tâm đến thế hệ mai sau. Bà tin rằng nguyên lý “đàn ông lo việc ngoài, phụ nữ lo việc trong” là đạo lý hiển nhiên, con người không nên đi ngược lại quy luật của tự nhiên. Suy cho cùng, những nhân tài nòng cốt trong các tầng lớp xã hội đều do người mẹ sinh ra và nuôi dưỡng, và thiên chức của phụ nữ chính là đảm nhận vai trò nữ thần hộ mệnh của gia đình. Vì vậy, nam giới cần được giáo dục để cống hiến cho quốc gia và xã hội, thì nữ giới càng cần được giáo dục để dạy dỗ những thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước. Địa vị của họ là quan trọng ngang nhau. Chỉ khi làm được như vậy mới có thể xây dựng một xã hội lành mạnh, tốt đẹp. Nếu có một hệ thống giáo dục đúng đắn, sẽ không còn hiện tượng nữ giới lấn át nam giới, hay nam giới chèn ép nữ giới, mà thay vào đó là một xã hội biết tôn trọng, giúp đỡ, yêu thương và thông cảm lẫn nhau. Nếu có thể hiểu thêm về Phật pháp, thì cuộc sống sẽ càng trở nên hoàn mỹ hơn.
Kể từ thập niên 60, sau khi kinh tế Đài Loan cất cánh, thời đại cũng không ngừng biến đổi mạnh mẽ. Cư sĩ Hàn Anh, từ khi tiếp quản Thư viện vào năm Dân quốc thứ 68 (năm 1979), luôn giữ vững tinh thần đổi mới, cầu tiến, bắt kịp thời đại dựa trên tôn chỉ không thay đổi của mình. Bánh xe thời đại không ngừng quay, nếu tự thân không chịu chuyển mình thì chắc chắn sẽ đối mặt với số phận bị đào thải. Đặc biệt là trong thời đại mới, trình độ tri thức của nhân loại không ngừng được nâng cao, con người trở nên lý trí, năng động, cởi mở, sáng tạo, không còn khép kín, chật hẹp, nghiêm túc. Chỉ khi rũ bỏ được những thành kiến lạc hậu, cổ hủ để đón nhận luồng gió mới của thời đại, thì sự nghiệp Phật giáo mới có thể vươn mình mạnh mẽ, phô diễn một sức sống mới. Trong tương lai, càng cần phải mở rộng giao lưu đa chiều, thấu hiểu nhân tình thế thái, dẫn dắt thanh niên thế hệ mới, từ đó mới có thể bồi dưỡng những nhân tài hoằng pháp thuộc thế hệ trẻ mang đậm chánh kiến, năng động, độc lập, tiếp nối huệ mạng của Phật. Vị Quán trưởng này, giống như một vị Phật Đại Diệm Kiên, không lúc nào là không nhận thức được những khó khăn của thời đại, một lòng một dạ nỗ lực hết mình để hộ trì sự nghiệp của Như Lai.
Trong 15 năm trở lại đây, bà đã nỗ lực khai mở hai đạo tràng tại Hoa Kỳ và cuối cùng cũng gặt hái được chút thành quả:
Hội Phật giáo Dallas Texas, chuyên dùng cho việc tịnh tu của tứ chúng. (Dallas Buddhist Association L.T.D.)
Thư viện Phật giáo Hoa Tạng chi nhánh Mỹ tại Cupertino, California, chuyên dùng làm cơ sở bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp. (The Pure Land Learning Center)
Đây là một cột mốc mới của sự nghiệp hoằng pháp tiến vào châu Mỹ, mở ra con đường mới cho pháp môn Tịnh độ và đặt nền móng vững chắc cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, khi mới hoàn thành bước đầu quy mô của hai đạo tràng, Cư sĩ Hàn Anh đã kiệt sức, lao lực sinh bệnh, đành phải mang bệnh trở về Đài Loan dưỡng thương. Hôm đó là ngày 26 tháng 9 năm Dân quốc thứ 85 (năm 1996).
Trận ốm này đã khiến đồng tu tứ chúng vô cùng quan tâm. Mọi người đều mong ngóng bệnh tình của người cao tuổi mau chóng thuyên giảm, bởi thực sự còn quá nhiều công việc đang chờ bà chèo lái. Trong thời gian bà dưỡng bệnh, mọi người đều rất lạc quan, vì chúng tôi không hề thấy bà có biểu hiện bệnh tật, thậm chí sắc mặt hồng hào, giọng nói dõng dạc. Chỉ là có chút mệt mỏi, chán ăn, ho, ngoài ra mọi thứ đều bình thường. Hằng ngày, bà vẫn nói cười vui vẻ, đồng thời luôn quan tâm đến mọi công việc của đạo tràng. Lòng bi nguyện và tinh thần trách nhiệm như một người mẹ hiền chưa từng suy giảm, điều này không khỏi khiến người khác phải tán thán.
Trên giường bệnh, bà vẫn luôn dặn dò, nhắc nhở: việc bồi dưỡng nhân tài, sắp xếp công việc, quan tâm đến việc ăn uống, sinh hoạt của đại chúng… Mọi nơi đều thể hiện tình yêu thương, bà luôn không ngừng cảm ơn sự ủng hộ của các đồng tu. Bà hiểu rõ tình cảm quan tâm sâu sắc của mọi người, vì vậy, bà đã vô cùng dũng cảm đối mặt với căn bệnh này. Đầu năm Dân quốc thứ 86 (năm 1997), cơ thể bà vẫn duy trì trạng thái tốt, chỉ vì quá lâu không vận động nên chân không nghe lời, đến cuối tháng 2, bà được chuyển vào bệnh viện Tam Quân để điều trị. Chỉ trong hai tuần ngắn ngủi, bà đã kết thiện duyên với các nhân viên y tế và trở thành một bệnh nhân tốt. Trong bệnh viện có một câu châm ngôn: “Xem người bệnh như người thân“, phòng bệnh của bà luôn giữ được bầu không khí hòa bình, ấm áp.
Ngày 5 tháng 3, hôm đó bầu trời trong xanh vạn dặm, bệnh viện tĩnh lặng lạ thường, phảng phất như đang quay ngược thời gian trở về đường hầm thời gian của 30 năm trước. Không còn buồn phiền hay lo âu, chỉ thấy ánh mắt thân thiện của bác sĩ, dường như đang truyền đi một thông điệp bất thường. Sau này mới biết, chức năng phổi của bà đã suy kiệt.
Nhớ lại sáng hôm đó, sắc mặt bà vẫn hồng hào, nụ cười rạng rỡ, không hề có nét mặt của một người đang bệnh. Ánh mắt từ bi, hiền hòa, chan chứa lòng biết ơn của bà đã lướt qua mọi người có mặt. Đầu giờ chiều, bà nói lời tạm biệt cuối cùng: “Tôi muốn ngủ, đừng làm ồn tôi.” Kể từ đó, bà chìm vào giấc ngủ yên bình. Tiếng niệm Phật nhẹ nhàng đồng hành cùng vị đại Bồ-tát này, trải qua một ngày thanh tịnh. Cho đến 4 giờ 15 phút chiều, hai vị đại Cư sĩ Quý Dân và Quý Vũ thấy mẹ trút hơi thở cuối cùng, lập tức quỳ lạy, hô vang: “Cung tiễn mẫu thân vãng sinh Tây phương Cực Lạc thế giới.” Trong khoảnh khắc ấy, mọi người đều thành kính trang nghiêm.
Lòng hiếu thảo của hai Cư sĩ Quý Dân và Quý Vũ thật cảm động, trong suốt thời gian mẹ ốm, hai người luôn túc trực bên cạnh, chưa từng rời xa. Trong những ngày dưỡng bệnh, ngoài việc lắng nghe lời răn dạy cuối cùng của mẹ, điều khiến chúng tôi xúc động nhất là mẹ từng nói: “Mẹ muốn làm tròn trách nhiệm cuối cùng của một người mẹ.” Quả thật, Quán trưởng đã dành nửa phần đời cống hiện cho Phật môn, sự âm thầm đóng góp của Quý Dân và Quý Vũ cho Phật môn là điều không cần phải bàn cãi. Nay khi mẹ con phải chia xa, làm sao không khiến người ta cảm thấy vô cùng kính trọng và biết ơn sâu sắc. Tuy nhiên, trước lúc lâm chung, bà đã khẳng định với các con: “Đối với 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, tuyệt đối không được nghi ngờ.” Đồng thời, bà cũng căn dặn rõ ràng mọi việc nhân sự, đồ đạc. Điều này khiến Quý Dân và Quý Vũ càng thêm tôn kính mẹ. Bởi vì ba lần Đức Phật A Di Đà đích thân đến viếng thăm, cộng thêm việc tận mắt chứng kiến những điềm lành khi mẹ vãng sinh Tây phương, họ đã nhận được sự an ủi vô hạn. 14 giờ sau đó, họ đưa di hài của mẹ trở về Thư viện Phật giáo Hoa Tạng, hoàn thành tâm nguyện cuối cùng của bà. Nhìn khuôn mặt với nụ cười từ bi, an tường, mãn nguyện của bà, như một lời đáp trả chắc chắn cho tất cả: “Đừng lo lắng cho tôi, những gì đã làm, đã cống hiến trong đời này, không oán trách, không hối hận.“
Đây là cảnh giới cao nhất của nhân sinh. Bà đã sống trọn vẹn 76 năm cuộc đời một cách chân thật, không để lại bất kỳ sự hối tiếc nào, vui vẻ trở về quê hương Tây Phương, vẽ nên một dấu chấm hết viên mãn cho cuộc đời nơi trần thế này. Trong kinh có câu: “Sở tác giai biện, cụ chư Phật pháp” (Những việc cần làm đã làm xong, đầy đủ tất cả Phật pháp).
==================
韓鍈老居士事略
生命裡盪漾著樂觀進取言行中富有引人省思的啟示錄念念中蘊藏著慈悲喜捨佛門裡百年難見的護法菩薩
Cuộc đời Lão Cư sĩ Hàn Anh
Năm Dân quốc thứ 55 (1966): Vừa bước vào cửa Phật, liền theo Pháp sư Tịnh Không học Phật, thọ trì Tam quy y. Cả gia đình phát tâm hộ trì Pháp sư và thỉnh ngài đến nhà ở Mộc Sách để thường trú cúng dường. Đồng thời, bà bắt đầu hỗ trợ Pháp sư trong việc sắp xếp và liên hệ địa điểm giảng kinh. Các hoạt động giảng kinh được tổ chức khắp nơi như: Pháp Tạng Liên Xã, Chùa Pháp Hoa, Đoàn Niệm Phật Liên Hữu, Tinh xá Chí Liên, Dinh thự họ Lý ở phố Tín Dương, Đạo tràng của Cư sĩ Chu ở Tùng Sơn, Đệ Nhất Công Ty (Văn phòng của Lão Cư sĩ Khổng), Giảng đường Pháp Luân ở phố Tín Dương, Giảng đường Linh Sơn, Chùa Thiện Đạo, Hội Phật giáo…
Năm Dân quốc thứ 57 (1968): Tại chùa Thập Phương Đại Giác ở Cơ Long, nương theo Giới sư là Lão Hòa thượng Đạo Nguyên để thọ trì Bồ-tát Ưu-bà-di giới.
Năm Dân quốc thứ 58 (1969): Kinh doanh nhà hàng ẩm thực chay, Trưởng lão Đạo An và Trưởng lão Đạo Nguyên cùng nhiều vị khác đã quang lâm chúc mừng.
Từ 01/01 năm Dân quốc thứ 61 (1972) đến 31/07 năm Dân quốc thứ 62 (1973): Nhận lời mời của Viện trưởng Viện Học thuật Trung Hoa (nay là Đại học Văn hóa) Trương Kỳ Quân, đảm nhiệm vị trí Ủy viên Hội đồng quản trị Viện Nghiên cứu Phật học.
Tháng 5 năm Dân quốc thứ 64 (1975): Nhận lời mời của Hội trưởng Hội Pháp thí Hoa Tạng là Trưởng lão Đạo An, đảm nhiệm vị trí Giáo sư Lớp chuyên tu Nội Minh của hội.
Tháng 2 năm Dân quốc thứ 65 (1976): Đảm nhiệm vai trò Giảng viên của Tọa đàm Phật học Đại học – Cao đẳng (khóa 11) do Hội Phật giáo Trung Quốc tổ chức, với nội dung giảng dạy là “Kinh Phật Thuyết Bát Đại Nhân Giác”. Tọa đàm này do Trưởng lão Đạo An tổ chức, Pháp sư Tịnh Không là diễn giả chính giảng “Kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát-nhã”.
Năm Dân quốc thứ 67 (1978): Lên kế hoạch trù bị thành lập Thư viện Hoa Tạng và Tinh xá Hoa Tạng, cả hai cơ sở này đều bắt nguồn từ sự mở rộng của Hội Pháp thí Hoa Tạng.
Năm Dân quốc thứ 67 (1978): Nhận lời mời của Trụ trì chùa Viên Giác là Pháp sư Tĩnh Định, đảm nhiệm vị trí Ngoại đương gia của chùa.
Ngày 5 tháng 3 năm Dân quốc thứ 68 (1979): Chính thức tiếp nhận chức vụ Quán trưởng Thư viện Phật giáo Hoa Tạng. Đến tháng 5, Thư viện chính thức khai mạc và đi vào hoạt động với tôn chỉ bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp, đồng thời bắt đầu tiếp nhận chư tăng ni xuất gia đến tu học.
Ngày 8 tháng 4 năm Dân quốc thứ 69 (1980): Nhận lời mời của Pháp sư Thanh Độ, đảm nhiệm vị trí Chủ nhiệm Ủy ban Hoằng hóa Hội Phật giáo Thiện Lân Châu Á.
Tháng 6 năm Dân quốc thứ 69 (1980): Nhận lời mời của Chủ tịch Tổng hội Đạo đức Vạn quốc Doãn Tử Khoan, trở thành Ủy viên danh dự của hội.
Ngày 15 tháng 9 năm Dân quốc thứ 69 (1980): Được mời làm Chủ nhiệm Ủy ban trù bị xây dựng chùa Đại Báo Ân. Chùa do nhà sư Nhật Bản Thằng Dã Nguyên Ngô (Nawano Gengo) và Pháp sư Tịnh Không đồng sáng lập.
Ngày 20 tháng 9 năm Dân quốc thứ 69 (1980): Được mời làm Cố vấn Tổng hội Thế giới Hội Nghiên cứu Triết học Nhân sinh. Chủ tịch hội là Tiên sinh Khổng Đức Thành, Tổng thư ký là Tiên sinh Mục Siêu.
Tháng 3 năm Dân quốc thứ 70 (1981): Bắt tay nỗ lực trù bị xây dựng chùa Đại Báo Ân – một dự án hợp tác dân sự Trung – Nhật, với sự hỗ trợ của những người như Khổng Phục Nông.
Năm Dân quốc thứ 70 (1981): Đích thân đến thăm Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản, tháp tùng có hai vị La Văn Bình và Hứa Thư Gia. Sau khi trở về đã viết một bản báo cáo chuyến thăm và bản ghi chép ý tưởng xây dựng chùa Đại Báo Ân.
Ngày 27 tháng 9 năm Dân quốc thứ 70 (1981): Nhận lời mời của Hội Đạo đức Vạn quốc, tham dự Đại hội đại biểu Tôn giáo thế giới và các học giả danh tiếng thế giới lần thứ 3. Chủ đề thảo luận nhằm chấn chỉnh phong khí đạo đức thế giới hiện tại, hoằng dương luân lý đạo đức và tái thiết lập một cuộc sống lý trí.
Ngày 24 tháng 2 năm Dân quốc thứ 71 (1982): Theo lời mời của Chủ tịch Đoàn Niệm Phật Liên Hữu Đài Bắc Vương Thiên Minh, bà đã đến tuyên giảng “Kinh Phật Thuyết Bát Đại Nhân Giác” tại đây.
Tháng 5 năm Dân quốc thứ 71 (1982): Thỉnh mời Pháp sư Minh Thừa hướng dẫn đại chúng về tán tụng (Phạm bồi) và nghi quỹ Phật sự.
Tháng 6 năm Dân quốc thứ 71 (1982): Được mời làm Ủy viên Thường vụ Ủy ban trù bị Đại hội đại biểu thế giới lần thứ 3 của Hội Đạo đức Vạn quốc.
Tháng 10 năm Dân quốc thứ 71 (1982): Được mời làm Ủy viên hộ giới cho pháp hội Tam đàn Đại giới tại chùa Hải Minh, do Trưởng lão Ngộ Minh làm Trụ trì.
Tháng 3 năm Dân quốc thứ 72 (1983): Tháp tùng Pháp sư Tịnh Không đến Hồng Kông hoằng pháp, được chùa Long Hoa ở Cửu Long tiếp đón. Đồng thời, để thúc đẩy công việc hoằng pháp qua truyền hình, bà đã tặng Hiệp hội Thanh niên Thư viện Phật giáo Trung Hoa ở Cửu Long một bộ băng ghi hình/ghi âm, do Pháp sư Sướng Hoài đại diện tiếp nhận.
Tháng 4 năm Dân quốc thứ 72 (1983): Nhận lời mời của Lão Cư sĩ Thẩm Gia Trinh từ Hội Phật giáo Mỹ (BAUS), sang bờ Đông nước Mỹ dự pháp hội khai mạc Đài Sen Ngàn Cánh tại chùa Trang Nghiêm, với sự quy tụ của đông đảo chư sơn trưởng lão. Sau đó, bà tháp tùng Pháp sư Tịnh Không đi lưu diễn hoằng pháp tại Hoa Kỳ.
Tháng 12 năm Dân quốc thứ 72 (1983): Tổ chức chuyến dã ngoại phóng sinh tập thể tại công viên Khẩn Đinh.
Mùa đông năm Dân quốc thứ 72 (1983): Tổ chức pháp hội Phật thất Di Đà và cung thỉnh Pháp sư Minh Thừa thiết lễ Mông Sơn Thí Thực đại khoa.
Tháng 1 năm Dân quốc thứ 73 (1984): Tổ chức Tọa đàm Phật học sinh viên mùa đông và pháp hội Phật thất Quan Âm.
Tháng 2 năm Dân quốc thứ 73 (1984): Tặng Thư viện Trung Hoa tại Hồng Kông một bộ máy chiếu phát video để hỗ trợ Hiệp hội Thanh niên Học Phật Hồng Kông nghiên cứu Phật pháp, tạo nên tiếng vang lớn và khởi xướng phong trào học Phật của thanh niên tại đây.
Tháng 4 năm Dân quốc thứ 73 (1984): Tổ chức pháp hội Nhân Vương Hộ Quốc và các hoạt động phóng sinh.
Năm Dân quốc thứ 73 (1984): Thỉnh mời Đương gia của chùa Trúc Lâm là Pháp sư Đại Trí đến Thư viện hướng dẫn học tăng về tán tụng, mang lại hiệu quả rất tốt.
Tháng 10 năm Dân quốc thứ 74 (1985): Được mời làm Cố vấn Hội Phật giáo Dallas, Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 3 năm.
Tháng 2 năm Dân quốc thứ 75 (1986): Tổ chức Tọa đàm Phật học sinh viên mùa đông khóa 10.
Tháng 2 năm Dân quốc thứ 75 (1986): Tháp tùng Pháp sư Tịnh Không đến Đài Trung bái kiến Lão sư Lý Bỉnh Nam và dự buổi tiệc tất niên của Đài Trung Liên Xã. Một tháng sau, Tuyết Công vãng sanh Liên bang, bà lại dẫn dắt tứ chúng của Thư viện đến Đài Trung Liên Xã tế điếu và dự lễ cáo biệt.
Tháng 3 năm Dân quốc thứ 75 (1986): Tổ chức chuyến du lịch phóng sinh mùa xuân.
Tháng 4 năm Dân quốc thứ 75 (1986): Nhận thấy sự thiếu hụt nhân tài hoằng pháp, bà đã thành lập Nhóm Nghiên cứu Phật pháp Hoa Tạng nhằm mục đích bồi dưỡng nhân lực.
Tháng 7 năm Dân quốc thứ 75 (1986): Mở lớp thảo luận “Thường Lễ Cử Yếu”, đề xướng phong trào và ý thức về lễ nghi.
Tháng 5 năm Dân quốc thứ 76 (1987): Tổ chức Tọa đàm Phật học sinh viên khóa 12.
Tháng 7 năm Dân quốc thứ 76 (1987): Tham gia đội ngũ hộ pháp cho Tọa đàm Phật học mùa hè tại chùa Trang Nghiêm, New York.
Tháng 8 năm Dân quốc thứ 76 (1987): Dự lễ kỷ niệm 5 năm Hội Phật giáo bang Texas, Mỹ, do Cư sĩ Cát Quang Minh tiếp đón. Sau đó, bà tháp tùng Pháp sư Tịnh Không tham gia chuyến lưu diễn hoằng pháp tại Canada, được Cư sĩ Trần Đại Xuyên tiếp đón.
Tháng 11 năm Dân quốc thứ 76 (1987): Ngay ngày Đài Loan mở cửa chính sách với Đại lục, bà đã trở về Đại Liên thăm người thân và viếng mộ cha mẹ.
Tháng 5 năm Dân quốc thứ 77 (1988): Tổ chức Tọa đàm Phật học sinh viên mùa hè khóa 14.
Tháng 6 năm Dân quốc thứ 77 (1988): Tháp tùng Pháp sư Tịnh Không đến Bắc Kinh bái kiến vợ chồng Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc Triệu Phác Sơ và Lão Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ.
Năm Dân quốc thứ 77 (1988): Tổng thống Tưởng Kinh Quốc qua đời, cả nước quốc tang. Vào ngày an táng Tổng thống, Quán trưởng đã dẫn dắt tứ chúng đến Nhà tưởng niệm Trung Chính để tế lễ và xướng tán “Di Đà Đại Nguyện Vương”.
Tháng 2 năm Dân quốc thứ 78 (1989): Thành lập Tịnh Tông Học Hội Hoa Tạng, mời Pháp sư Tịnh Không làm Hội trưởng.
Tháng 4 năm Dân quốc thứ 78 (1989): Tổ chức chuyến du lịch phóng sinh tập thể mùa xuân.
Năm Dân quốc thứ 78 (1989): Tổ chức đoàn du lịch hoằng pháp tại Đại lục. Mở tuyến đường hoằng pháp qua đài phát thanh.
Tháng 3 năm Dân quốc thứ 79 (1990): Ngừng hoạt động mua sinh vật để phóng sinh, chuyển sang kêu gọi bảo tồn động vật hoang dã, thiết lập quan niệm phóng sinh đúng đắn.
Tháng 4 năm Dân quốc thứ 79 (1990): Tổ chức chuyến du lịch giao lưu mùa xuân.
Tháng 6 năm Dân quốc thứ 79 (1990): Được mời làm Cố vấn Hiệp hội Phúc lợi Người khuyết tật Hữu Ái thành phố Đài Bắc.
Tháng 10 năm Dân quốc thứ 79 (1990): Được mời làm Cố vấn Tịnh Tông Học Hội Bình Đông nhân dịp học hội thành lập.
Tháng 11 năm Dân quốc thứ 79 (1990): Hoàn thành và xuất bản cuốn “Di Đà Kinh Dễ Hiểu” để tiếp dẫn người mới học. Khởi xướng hoạt động giảng giải “Kinh Vô Lượng Thọ”.
Tháng 8 năm Dân quốc thứ 80 (1991): Thành lập Tịnh Tông Học Hội Hoa Tạng chi nhánh Đào Viên.
Tháng 10 năm Dân quốc thứ 80 (1991): Hưởng ứng hoạt động quyên góp cứu trợ thiên tai Đại lục của Hội Chữ thập đỏ, các đồng tu tham gia vô cùng sôi nổi.
Tháng 12 năm Dân quốc thứ 80 (1991): Trong lễ tế tổ tiết Đông chí, bà đã đề xướng việc cung tụng “Kinh Vô Lượng Thọ” thay thế cho “Kinh Địa Tạng”, và dùng nghi thức Tam thời hệ niệm làm Phật sự siêu độ.
Năm Dân quốc thứ 80 (1991): Được mời làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Hội Phật giáo Dallas với nhiệm kỳ 2 năm.
Tháng 1 năm Dân quốc thứ 81 (1992): Tổ chức Tọa đàm Phật học mùa đông.
Tháng 5 năm Dân quốc thứ 81 (1992): Được mời làm Cố vấn Tịnh Tông Học Hội Đài Nam.
Tháng 6 năm Dân quốc thứ 81 (1992): Tham dự lễ hoàn công và khai mạc đạo tràng mới của Hội Phật giáo Dallas.
Tháng 7 năm Dân quốc thứ 81 (1992): Tháp tùng Pháp sư Tịnh Không đến chùa Quang Hiếu ở Quảng Châu tổ chức tọa đàm, phổ thí cúng dường. Sau đó, bà tổ chức chuyến du lịch đoàn thể hoằng pháp tại Đại lục.
Tháng 10 năm Dân quốc thứ 81 (1992): Lần đầu tiên dẫn đoàn tham gia pháp hội Phật thất Dallas. Kể từ đó, mỗi năm Thư viện đều tổ chức đoàn sang Mỹ để dẫn dắt pháp hội.
Năm Dân quốc thứ 81 (1992): In tặng 2 vạn cuốn Đại Từ Điển Phật Học (chữ Hán giản thể) để cúng dường các tự viện và học viện Phật giáo tại Trung Quốc Đại lục sử dụng.
Tháng 2 năm Dân quốc thứ 82 (1993): Dẫn chúng đến thăm Đương gia của chùa Trúc Lâm là Pháp sư Đại Trí để thỉnh giáo về tán tụng, đại chúng được lợi ích rất lớn.
Tháng 3 năm Dân quốc thứ 82 (1993): Dẫn đoàn sang Đại lục trao phát học bổng, viếng thăm các bậc chư sơn trưởng lão và cúng dường trai tăng.
Tháng 5 năm Dân quốc thứ 82 (1993): Tiếp tục đảm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Hội Phật giáo Dallas. Tại Mỹ, bà đã hưởng ứng phong trào quyên góp cứu trợ thiên tai Đại lục và mua thêm một căn nhà cho Hội Phật giáo để cung cấp chỗ ở cho đại chúng.
Tháng 10 năm Dân quốc thứ 82 (1993): Mua thêm và tu sửa hoàn tất một phòng ở cho nam chúng tại Đài Loan.
Tháng 12 năm Dân quốc thứ 82 (1993): Tổ chức pháp hội Phật thất Di Đà.
Năm Dân quốc thứ 83 (1994): Lần đầu tiên dẫn đoàn nhận lời mời đến Cư sĩ Lâm Phật giáo Singapore đả Phật thất (sau này năm nào cũng tổ chức), pháp hội thành công viên mãn. Bà được vinh danh là Hội trưởng danh dự vĩnh viễn của Tịnh Tông Học Hội Singapore.
Năm Dân quốc thứ 83 (1994): Được mời làm Cố vấn cấp cao của Tập đoàn Thực nghiệp Công nghệ cao Tam Ưu Trung Quốc (Ưu sinh, Ưu dục, Ưu giáo). Trưởng đoàn là bà Hàn Viêm.
Năm Dân quốc thứ 84 (1995): Một lần nữa dẫn đoàn sang Đại lục trao phát học bổng.
Năm Dân quốc thứ 85 (1996): Sang Úc để hỗ trợ thành lập Tịnh Tông Học Hội Úc Châu. Biên soạn và xuất bản cuốn sách “Pháp Hải Nhất Trích”.
Năm Dân quốc thứ 85 (1996): Thành lập Thư viện Hoa Tạng chi nhánh San Jose.
Tháng 9 năm Dân quốc thứ 85 (1996): Do làm việc quá sức nên đổ bệnh, bà trở về Đài Loan dưỡng bệnh.
Tháng 2 năm Dân quốc thứ 86 (1997): Nhập viện điều trị tại Bệnh viện Tam Quân.
Ngày 5 tháng 3 năm Dân quốc thứ 86 (1997): An nhiên vãng sanh.
================
韓鍈老居士生平
‧民國五十五年,初入佛門,即隨淨上空下法師學佛,受持三皈戒,全家發心護持法師,並請其至木柵家中長住供養,同時開始協助法師講經場地之安排與接洽之工作。所到之處,分別在法藏蓮社、法華寺、蓮友念佛團、志蓮精舍、信陽街李公館、松山朱居士道場、第一公司(孔老居士辦公室)、信陽街法輪講堂、靈山講堂、善導寺、佛教會……等,舉辦講經活動。
‧民國五十七年,在基隆十方大覺寺,依戒師道源老和尚受持菩薩優婆夷戒。
‧民國五十八年,經營素食餐廳,道安長老及道源長老等人蒞臨道賀。
‧民國六十一年元月一日至六十二年七月卅一日止,應中華學術院(今文化大學)院長張其昀之請任聘為佛學研究所理事。
‧民國六十四年五月,應華藏法施會會長上道下安長老之請任聘為該會內明專修班教授。
‧民國六十五年二月,任中國佛教會(第十一屆)大專佛學講座之講師,講席內容為「佛說八大人覺經」,該講座乃總講座道安長老舉辦,淨空法師主講「仁王護國般若經」。
‧民國六十七年,籌建華藏圖書館之成立,以及華藏精舍兩機構,皆出自華藏法施會之延伸。
‧民國六十七年,受圓覺禪寺住持靜定法師之請,任該寺之外當家。
‧民國六十八年三月五日,正式接任華藏佛圖書館館長一職,五月本館開幕啟用。圖書館建立宗旨在培訓弘法人才,因此開始接收出家僧眾進來。
‧民國六十九年六月,應萬國道德會總會理事長尹子寬聘為該會名譽理事。
‧民國六十九年四月八日,受清度法師聘為亞細亞善鄰佛教會宏化部主任委員。
‧民國六十九年九月十五日,受聘為大報恩寺籌建委員會主任委員,該會創建人為日僧,繩野源吾及本館淨空法師。
‧民國六十九年九月廿日,受聘為人生哲學研究會世界總會顧問,該會理事長為孔德成先生,總幹事為穆超先生。
‧民國七十年,親自拜訪日本自由民主黨,由羅文平、許書家先生陪同赴日,返回著有訪日報告一篇及大報恩寺之構想記錄。
‧民國七十年三月十二日,自訪日以後,便著手籌備中日民間合建之大報恩寺事而努力,其間有孔服農等人協辦。
‧民國七十一年二月廿四日,應台北市蓮友念佛團董事長王天鳴邀請赴該團宣講「佛說八大人覺經」。
‧民國七十一年六月,受聘為萬國道德會第三次世界代表大會籌備委員會常務委員。
‧民國七十一年十月,受聘為海明禪寺,三壇大戒法會護戒委員,住持悟明長老。
‧民國七十一年五月,聘請上明下乘法師為住眾指導梵唄及佛事儀規。
‧民國七十年九月廿七日,應萬國道德會之邀,參加第三次世界各宗教及世界名流學者之代表大會,議題是針對匡正當前世界道德風氣進行討論,以及如何弘揚倫理道德,重建理性生活。
‧民國七十二年三月,陪同淨空法師赴港弘法,九龍龍華寺接待,一方面推廣電視弘法工作,贈送香港九龍中華佛教圖書館青年協會一套錄音影帶,由暢懷法師代表接受。
‧民國七十二年四月,應美佛會沈家楨老居士之邀,赴美東參加紐約莊嚴寺千蓮台開幕法會,屆時諸山長老雲集。隨後陪同淨空法師美國巡迴弘法。
‧民國七十二年十二月,舉辦團體懇丁公園放生郊遊。
‧民國七十二年冬,舉辦彌陀佛七,並請明乘法師施放大蒙山。
‧民國七十三年,聘請竹林寺當家大智法師至本館指導學僧梵唄,效果卓著。
‧民國七十三年二月,捐贈香港中華圖書館一套錄放影機,協助該館所組織的香港青年學佛協會作研習佛法之用,頗受熱烈回響,開起香港青年學佛之風氣。
‧民國七十三年一月,舉辦冬令大專佛學講座,觀音佛七。
‧民國七十三年四月,舉辦仁王護國法會及放生活動。
‧民國七十四年十月,任聘美國達拉斯佛教會顧問,為期三年。
‧民國七十五年二月,舉辦第十屆冬令大專講座。
‧民國七十五年二月,陪同淨空法師赴台中拜謁李炳南老師,並參加台中蓮社圍爐盛會,一個月後,雪公往生蓮邦,再率本館四眾前往台中蓮社祭吊並參加告別式。
‧民國七十五年三月,舉辦春季放生旅遊。
‧民國七十五年四月,鑒於弘法人才缺乏,故而成立華藏佛法研習小組,以培養弘法人才為目的。
‧民國七十五年七月,開啟「常禮舉要」研討課,提倡禮節運動及其風氣。
‧民國七十六年五月,舉辦第十二屆大專佛學講座。
‧民國七十六年七月,參加美東紐約莊嚴寺夏令佛學講座護法行列。
‧民國七十六年八月,參加美德州佛教會五週年紀念,負責人葛光明接待。隨後陪同淨空法師參加加拿大巡迴講演,由加拿大護法陳大川居士接待。
‧民國七十六年十一月,台灣大陸政策開放當日回大連省親,吊唁父母靈寢。
‧民國七十七年六月,陪同淨空法師赴北京拜中國佛教協會會長趙樸初夫婦,及黃念祖老居士。
‧民國七十七年,蔣經國總統逝世,舉國哀悼。總統先生安厝之日,館長帶領四眾赴中正紀念堂參加路祭,並引讚「彌陀大願王」。
‧民國七十七年五月,舉辦第十四屆夏令大專佛學講座。
‧民國七十八年二月,成立華藏淨宗學會,任聘淨空法師為會長。
‧民國七十八年四月,舉辦春季放生團體旅遊。
‧民國七十八年,舉辦團體赴大陸弘法旅遊。開闢電台弘法路線。
‧民國七十九年三月,停止購買生物放生活動,改為呼籲野生保育工作,建立放生之正確觀念。
‧民國七十九年四月,舉辦春季聯誼旅遊。
‧民國七十九年六月,受聘為北市友愛殘障福利協進會顧問。
‧民國七十九年十一月,著有「彌陀經易解」成冊,接引初機。啟建「無量壽經」講席活動。
‧民國七十九年十月,任聘為屏東淨宗學會顧問,屏東淨宗學會成立。
‧民國八十年,任聘為達拉斯佛教會董事長為期二年。
‧民國八十年十月,響應紅十字會大陸賬災募款活動,同修們參加極其踴躍。
‧民國八十年八月,成立華藏淨宗學會桃園分會。
‧民國八十年十二月,將舉行的冬至祭組,以恭誦「無量壽經」代替「地藏經」,並以三時繫念為超荐佛事。
‧民國八十一年元月,舉辦冬令佛學講座。
‧民國八十一年七月,陪同淨空法師赴廣州光孝寺講座,並普施供養,隨後舉辦大陸弘法團體旅遊。
‧民國八十一年,印贈佛學大辭典(簡體字)二萬冊,供養中國大陸各寺院佛學院使用。
‧民國八十一年十月,首度舉團參加達拉斯佛七法會,法會 為成立,此後本館 每年赴美,領導法會。
‧民國八十一年六月,參加達拉斯佛教會,新蓋道場501完工及開幕典禮。
‧民國八十一年五月,任聘為台南淨宗學會顧問。
‧民國八十二年五月,續任達拉斯佛教會董事長,並在美國響應大陸賬災募款濟貧,為佛教會增購420.307層房子,供眾住宿之用。
‧民國八十二年三月,舉團赴大陸發放獎學金,並拜會諸山長老及供齋活動。
‧民國八十二年二月,領住眾拜訪竹林寺當家大智法師,請教梵唄,大眾受益匪淺。
‧民國八十二年十月,在台增購一男眾寮房,亦予整修完畢。
‧民國八十二年十二月,舉行彌陀佛七。
‧民國八十三年,首度舉團應邀赴新加坡佛教居士林打佛七(每年如此),佛七圓滿成功。並榮聘為新加坡淨宗學會永遠名譽會長。
‧民國八十三年,受聘為中國三優科技實業集團(優生、優育、優教)之高級顧問。團長為韓炎女士。
‧民國八十四年,再度舉團赴大陸發放獎學金。
‧民國八十五年,赴澳洲淨宗學會,協助該會成立。著有「法海一滴」一書成冊。
‧民國八十五年,成立聖荷西華藏圖書館分館。
‧民國八十五年九月,因積勞成疾,返台養病。
‧民國八十六年二月,住院三軍。
‧民國八十六年三月五日,往生。









