LÝ NIỆM QUAN TRỌNG MÀ LÃO PHÁP SƯ GIẢNG
Tinh Yếu Thập Niệm Pháp
Kính cẩn đề nghị dùng Giản Yếu Tất Sinh Thập Niệm Pháp (Pháp Mười Niệm Tất Sinh Đơn Giản) mà Pháp sư Tịnh Không tuyên thuyết để làm thường quy cho cá nhân tự tu và cộng tu thông thường từ nay về sau của người học Tịnh Tông. Thuyết minh cụ thể như sau:
ĐỐI VỚI TỰ TU
Mỗi ngày chín lần niệm mười câu Phật hiệu:
- Một lần khi thức dậy vào sáng sớm
- Một lần trước khi đi ngủ
- Ba lần trong Ba bữa ăn mỗi ngày
- Hai lần trước và sau khi làm việc buổi sáng
- Hai lần trước và sau khi làm việc buổi chiều
Tổng cộng là Chín lần, mỗi lần xưng niệm 10 câu danh hiệu Di Đà (4 chữ hoặc 6 chữ). Các định khóa thường ngày vốn có vẫn có thể tiến hành như bình thường.
ĐỐI VỚI CỘNG TU
Phàm là những buổi như giảng kinh, hội họp, ăn cơm, v.v… không có nghi thức đặc biệt thì trước khi bắt đầu, đại chúng cùng nhau thực hành pháp mười niệm này. Cũng tức là đại chúng cùng nhau chắp tay, đồng thanh xưng niệm mười câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, sau đó bắt đầu tiến hành các hoạt động giảng kinh, hội họp, dùng cơm, v.v…
LỢI ÍCH CỦA PHÁP MƯỜI NIỆM
Theo pháp mười niệm này, áp dụng cho cả tự tu và cộng tu, đều có những lợi ích đặc thù của nó. Chẳng hạn như:
- Pháp này đơn giản dễ hành, dùng thời gian ít mà thu hiệu quả lớn, xác thực là thiết yếu, có thể dùng về lâu về dài.
- Phương pháp này có hiệu quả cụ thể đối với “Phật hóa gia đình”. Ví dụ: khi thực hiện vào trong ba bữa ăn trong gia đình, các thành viên trong gia đình dù tin Phật hay không tin Phật đều được nhiếp trì không sót.
- Pháp này có đại lợi ích trong việc Phật hóa người thân xóm giềng, phổ cập xã hội.
- Pháp này đơn giản dễ hành, một ngày chín lần, từ sáng đến tối, bầu không khí Phật pháp không gián đoạn. Sinh hoạt trong một ngày, tiếng Phật hiệu tiếp nối, ngày này qua ngày khác. Cứ lâu ngày như thế, ắt khí chất tâm tính của người hành trì dần dần được thanh tịnh, sinh ra tín tâm và pháp lạc, phước lớn không cùng tận.
Nếu có thể tùy thuận tự nhiên với tâm thái hòa nhã, xưng niệm mười tiếng Phật hiệu, sẽ có công năng trừ khử tạp nhiễm, lọc sạch tâm niệm, lắng đọng tinh thần, chuyên tâm lo đạo, cho đến việc làm dễ thành, gặp được cát tường, được Phật gia hộ không thể nghĩ bàn, v.v..
Tự tu và cộng tu, hỗ trợ và dung hợp lẫn nhau, cùng góp nhặt tư lương, cá nhân thì nắm được phần vãng sinh, mà Bồ Đề đại nghiệp của cộng đồng cũng thành tựu.
Pháp này có thể có hai cách đặt tên:
Một là, “Tịnh Nghiệp Gia Hành Thập Niệm Pháp” (Pháp mười niệm hành thêm cho người tu Tịnh Nghiệp), là nói với người có thời khóa cố định, vì pháp này là hành thêm vào các thời khóa vốn có.
Hai là, “Giản Yếu Tất Sinh Thập Niệm Pháp” (Pháp mười niệm tất sinh đơn giản), là nói với người không có thời khóa cố định, vì xã hội hiện nay thay đổi, vội vàng bận rộn, gò bó chướng ngại nhiều khó khăn. Pháp này dễ góp nhặt tư lương tín nguyện hạnh, đơn giản dễ dàng nhưng trọn đủ, mà đối với tiêu chuẩn “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” thì cũng vô cùng phù hợp không khuyết.
Vì thời gian mỗi lần niệm Phật ngắn, dễ nhiếp tâm và không giải đãi, lại dùng công phu chín lần niệm Phật, phân bố đều đặn trong suốt cả ngày, cho nên cả ngày thân tâm đều được Phật hóa, tức là cả ngày sinh hoạt trong niệm Phật, niệm Phật trong sinh hoạt.
Tóm lại mà nói, pháp này đơn giản nhẹ nhàng, không hề có chút khó khăn gian khổ nào, nếu pháp này được thúc đẩy rộng rãi thì người tu học Tịnh nghiệp may mắn biết mấy! Tương lai chúng sinh may mắn biết mấy! Chư Phật hoan hỉ. Nam Mô A Di Đà Phật!
Năm 1994 – ngày Chư Phật Hoan Hỉ.
Tứ chúng đồng tu Tịnh Tông Học Hội Hoa Kỳ kính khuyên.
Xem bài viết gốc: Tại đây
Pháp Mười Niệm Nhiếp Tâm Trừ Vọng
“Kinh Vô Lượng Thọ Khởi Tín Luận” nói: “Cần biết một pháp trì danh này, là đơn giản thiết yếu nhất. Khi hành giả mới phát tâm, quý ở chỗ có thời khóa cố định. Mỗi ngày hoặc một ngàn tiếng, hoặc mười vạn tiếng. Từ ít đến nhiều, từ tán loạn đi vào định. Tùy theo sức niệm của mình, đều có thể vãng sanh.”
“Trì” là giữ gìn, không thể gián đoạn; “danh” là danh hiệu của A Di Đà Phật, phương pháp này “đơn giản thiết yếu nhất”, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, ổn thỏa nhất, đáng tin cậy nhất, hơn nữa thành tựu lại cao nhất, không thể nghĩ bàn!
“Hành giả” là người niệm Phật. “Khi mới phát tâm, quý ở chỗ có thời khóa cố định”, người bình thường đều là căn tánh trung hạ, không phải hạng thượng căn lợi trí, căn tánh trung hạ quan trọng nhất là thật thà, cho nên phải có thời khóa cố định, mỗi ngày định ra một ngàn tiếng, hoặc một vạn tiếng, hoặc mười vạn tiếng, tốt nhất là “từ ít đến nhiều, từ tán loạn đi vào định”. Lúc bắt đầu đừng định quá nhiều, mỗi ngày khóa sáng niệm một bộ “Kinh Di Đà”, niệm một ngàn tiếng Phật hiệu; khóa tối cũng giống như vậy. Quý ở chỗ kiên trì, ngày ngày không dứt. Niệm hai, ba năm, công phu đắc lực rồi, lại tăng thêm số lượng niệm Phật, tuyệt đối không trèo cao ngóng xa. Ngoài thời khóa cố định ra, còn có khóa tán loạn. Khóa tán loạn chính là nhớ đến thì niệm, bất luận ở vào lúc nào nơi nào, đều nên niệm Phật. Nơi đông người, tự mình niệm thầm trong tâm, đừng phát ra tiếng, thì không làm phiền người khác.
Nhiếp tâm rất khó, nhiếp tâm là công phu chân thật. Ấn Quang Đại sư là Bồ-tát Đại Thế Chí của thế giới Tây Phương Cực Lạc tái lai, phương pháp ngài dạy chúng ta chính là phương pháp mà người hiện đại có thể thực hành được. Ngài dạy bảo chúng ta “Pháp mười niệm”, niệm bốn chữ, sáu chữ thánh hiệu đều được, niệm cho rõ ràng. Bốn chữ “A, Di, Đà, Phật”, từng chữ từng chữ mà niệm, trong miệng niệm từng chữ rõ ràng, trong tai nghe rõ ràng, trong tâm nhớ rõ ràng. Pháp mười niệm không dùng chuỗi hạt, dùng chuỗi hạt sẽ phân tâm, phân thần, tâm lực rất khó tập trung. Hoàn toàn dùng tâm để nhớ, chỉ nhớ mười con số, từ câu thứ nhất đến câu thứ mười, biết rất rõ ràng câu này là câu thứ mấy trong mười câu. Mười câu niệm xong rồi, lại từ một đến mười, một đến mười…, cứ niệm tiếp như vậy, dễ dàng nhiếp tâm, tạp niệm không khởi. Nếu khởi tạp niệm, bạn sẽ nhớ không rõ, nhớ không rõ thì không tính, phải lại bắt đầu niệm từ số một, nhất định phải nhớ rõ ràng rành mạch thì mới tính.
Người mới học mười câu quả thật rất khó, niệm đến câu thứ sáu, thứ bảy là loạn rồi. Lão pháp sư nói với chúng ta, có thể chia làm hai đoạn, câu thứ nhất đến câu thứ năm. Có người hỏi tôi, niệm đến câu thứ năm rồi lại từ câu thứ nhất đến câu thứ năm, có được không? Không được. Từ câu thứ nhất đến câu thứ năm, năm câu thứ hai là câu thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, thứ chín, thứ mười, phải nhớ theo cách này. Cho đến dùng cách chia “ba ba bốn” đều được, câu thứ nhất, thứ hai, thứ ba; thứ tư, thứ năm, thứ sáu; thứ bảy, thứ tám, thứ chín, thứ mười, nhớ như vậy mới có thể nhiếp tâm.
Cư sĩ Hồ Tiểu Lâm dùng phương pháp này, niệm bốn tháng, rất có sự thọ dụng! Ông ấy nói trước đây niệm Phật tạp niệm quá nhiều, sau khi huấn luyện bốn tháng này, tạp niệm ít đi rồi, hoan hỉ vô lượng, niệm mấy tiếng đồng hồ không biết mệt mỏi, niệm ba, bốn tiếng đồng hồ giống như mấy phút vậy, có loại cảm giác này.
Niệm Phật có thể tiêu hết thảy tội nghiệp, tội nghiệp từ vô lượng kiếp đến nay, chỉ cần bạn chân thật biết niệm Phật thì có thể tiêu trừ. Dùng phương pháp của Ấn Quang Đại sư tiêu nhanh nhất, có hiệu quả nhất, tự mình có thể cảm nhận được. Vì sao vậy? Lúc niệm Phật không có tạp niệm, chính là tiêu nghiệp chướng; vẫn còn tạp niệm, đây là nghiệp chướng chưa tiêu trừ, để bạn cảnh giác được mình có nghiệp chướng. Cho nên “tịnh niệm tiếp nối”, thứ nhất là không hoài nghi, thứ hai là không có vọng niệm xen tạp ở trong đó. Phải niệm đến mức một vọng niệm cũng không có, tâm địa rất thanh tịnh, niệm Phật liền thật sự có công phu, đây chính là tướng của việc tiêu tội nghiệp.
Trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, công phu này phải luôn luôn đề khởi lên được, bạn gặp phải việc vừa ý, sanh tâm hoan hỉ, sanh tâm tham niệm, đó cũng là phiền não, phải lập tức niệm Phật để đè phục nó lại. Gặp phải việc không như ý, sanh oán hận, sanh bực bội, cũng phải đề khởi công phu niệm Phật lên, thì cơn giận tiêu tan mất, oán hận được hóa giải rồi. Đây chính là điều người xưa đã giảng: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”, niệm khởi không sợ, Phật hiệu đề khởi lên chính là giác, Phật hiệu quên đi thì là mê rồi. Mê rồi, bạn sẽ thuận theo phiền não, thì rất khổ rồi; giác rồi, không thuận theo phiền não, lập tức đè phục phiền não xuống, đây gọi là công phu, đây gọi là biết niệm, đây gọi là chân thật niệm Phật.
Vì vậy, chân thật niệm Phật không để tâm một ngày niệm bao nhiêu tiếng, phương pháp niệm Phật đè phục phiền não này của Ấn tổ, vô cùng có hiệu quả!
Xem bài viết gốc: Tại đây
Minh Sư Có Thể Gặp Nhưng Không Thể Cầu
Tôi đến Đài Loan năm hai mươi hai tuổi, tại Đài Loan tôi gặp được ba vị thầy tốt, thật đúng là “có thể gặp nhưng không thể cầu”. Vì sao thầy lại chịu dạy tôi? Tôi có điểm mạnh gì mà được thầy xem trọng? Các ngài đối với tôi vô cùng yêu thương bảo vệ, đặc biệt chăm sóc. Hơn nữa tình cảnh cuộc sống lúc bấy giờ của tôi vô cùng nghèo khổ, đối với thầy không có một đồng một cắc nào để cúng dường, cũng không phải bậc thượng căn lợi trí, nói thật ra thì chẳng có lấy một điểm mạnh. Nguyên nhân gì mà có thể nhận được sự chăm sóc đặc biệt của thầy? Điều tôi có thể làm được chính là 100% y giáo phụng hành, điều thầy xem trọng chính là cái thái độ chân thành (nghe lời) của tôi khi làm học trò, chỉ có một chút điểm tốt như vậy, cho nên mới được thầy xem trọng, đây là một điều kiện rất quan trọng. Điều kiện thứ hai, tôi rất may mắn là chưa bị ô nhiễm, là một tờ giấy trắng.
Một vị thầy tốt, một bậc thiện tri thức chân thật, trong suốt cuộc đời dạy học, học trò tuyệt đối không chỉ một, hai người, có những người mà đồ chúng nhiều đến hàng ngàn hàng vạn, thế nhưng trong hàng ngàn hàng vạn học trò này, có được mấy người chân thật đạt được lợi ích? Chỉ có một, hai người, cũng có thể hoàn toàn không có ai. Về sau mới thể hội được, thâm ý của câu “có thể gặp nhưng không thể cầu” này. Thiện tri thức chân thật và học trò tốt chân thật, nhìn từ chỗ nào vậy? Từ trong thái độ truyền thụ và tiếp nhận giữa thầy và trò là có thể nhìn thấy được. Người làm thầy dùng tâm chân thành để truyền thụ, dốc hết ra cả, tuyệt đối không keo kiệt Phật pháp; còn người làm học trò thì trăm phần trăm thuận tùng theo thầy, tiếp nhận trọn vẹn, quyết định không có sự chọn lựa, không có sự hoài nghi. Thầy, trò như vậy đi đâu để tìm? Cho nên nói là vô cùng vô cùng khó được!
Tổ sư Đạt-ma đến Trung Quốc truyền dương pháp môn Thiền tông, vì sao lại bế quan chín năm tại chùa Thiếu Lâm? Chính là vì chưa gặp được pháp khí chân thật, học trò tốt có thể truyền pháp cho, nên chỉ có cách bế quan nhập định, đợi người truyền pháp. Đợi rất nhiều năm, mới có Huệ Khả đến cầu pháp với ngài, tâm địa kiền thành, đối với thầy rất cung kính. Cho nên một điều kiện quan trọng nhất của người truyền thừa, chính là tôn sư trọng đạo, bạn đối với thầy không tôn trọng, đối với pháp được học không tôn trọng, dẫu cho Phật Bồ-tát có đến dạy bạn cũng chẳng có tác dụng gì, bạn không có cách nào tiếp nhận. Tuyệt đối không phải thầy hy vọng bạn phải tôn trọng ngài, giống y như Ấn Quang Đại sư đã giảng, “một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”, bạn có mười phần tâm thành kính, thầy quyết sẽ không rời bỏ bạn.
Khi tôi hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi, đối với triết học có hứng thú rất đậm sâu, có nguyện vọng học tập mãnh liệt, tôi viết một bức thư gửi cho thầy Phương Đông Mỹ, hy vọng được đến trường dự thính. Thầy Phương xem xong, viết thư trả lời tôi, hẹn tôi đến nhà ngài gặp mặt. Sau khi nói chuyện trực tiếp, thầy hỏi tôi: “Có từng đọc qua sách triết học chưa?” Tôi nói: “Chưa từng đọc qua.” “Có từng nghe qua các buổi diễn giảng của học giả chưa?” “Chưa nghe qua!” Tôi cái gì cũng không biết, tôi chỉ là muốn học, cái gì cũng chưa từng tiếp xúc qua, là một tờ giấy trắng.
Ngài nói: “Bài văn anh viết, sinh viên Đại học Quốc gia Đài Loan viết không ra.” Cho nên ngài nghi ngờ học lịch của tôi. Tôi nói: “Tôi tuy không có cơ hội đến trường, nhưng tôi chưa từng rời xa sách vở, không ngày nào là không đọc sách.” Thầy nói: “Trong trường học hiện nay, thầy không ra thầy, trò không ra trò, anh muốn đến trường để dự thính, sẽ vô cùng thất vọng.” Tôi nghe xong như bị dội gáo nước lạnh, vẻ mặt rất uể oải. Thầy dừng lại mấy phút rồi nói với tôi: “Mỗi chủ nhật anh đến nhà tôi, tôi dạy anh hai tiếng đồng hồ.” Cho nên giờ học của tôi là ở trên chiếc bàn tròn nhỏ trong phòng khách nhà ngài, học trò chỉ có mình tôi, tôi theo ngài học triết học là học ra như vậy đó.
Mãi đến sau khi học Phật, đối với tâm khổ của thầy, tôi mới bỗng nhiên đại ngộ. Một vị thầy cả đời không có mong cầu gì khác, chính là hy vọng gặp được một người học trò tốt có thể truyền lại cái đạo của mình, cổ nhân có câu “bất hiếu có ba, không có người nối dõi là lớn nhất”, người nối dõi của thầy chính là người truyền pháp, người truyền thừa có thể gặp chứ không thể cầu. Hiếu học lại nhiệt tâm, lại là một tờ giấy trắng, thầy xem trọng tôi ở điểm này, xem tôi như bảo bối, đặc biệt dành ra thời gian để dạy tôi. Bởi vì đến trường dự thính, nhất định sẽ tiếp xúc với rất nhiều bạn học, thầy giáo, giáo sư, rất nhiều tà tri tà kiến, đầu óc bị ô nhiễm rồi, vậy thì hết cách dạy. Thầy là vì để bảo vệ tâm thanh tịnh của tôi, cho nên mới gọi tôi đến nhà, dạy học một kèm một, chỉ cho phép tiếp nhận lời của một nhà, đi theo nhất định một vị thầy, đây chính là “sư thừa” mà thời cổ nhân nói đến, ba vị thầy của tôi đều dùng phương pháp cổ xưa này để dạy tôi, chỉ có cách dạy này mới có thể thành công.
Đơn nguyên cuối cùng trong môn triết học nói đến “Triết học kinh Phật”, thầy Phương nói với tôi rằng: Triết học kinh Phật là đỉnh cao nhất của triết học trên toàn thế giới, là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh. Hai câu nói này đã làm chấn động tâm tôi, tôi bị hai câu nói này dẫn dắt vào cửa Phật. Trước kia tôi xem thường Phật giáo, cho rằng Phật giáo là mê tín, nghe thầy Phương giới thiệu như vậy, mới biết trong Phật giáo chân thật có đồ tốt, sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh đương nhiên phải cầu, mới đi tìm kinh Phật để đọc.
Tôi tiếp xúc Phật pháp đại khái khoảng một tháng, thì quen biết một vị Thân vương Mông Cổ thời nhà Thanh (nhà ở rất gần tôi), ông ấy là tín đồ Phật giáo, nghe nói tôi đọc kinh Phật, liền đến thăm tôi. Hỏi tôi: “Cậu học Phật rồi à?” Tôi nói: “Vừa mới bắt đầu!” “Học Phật có khó khăn gì không?” Tôi nói: “Khó khăn rất nhiều!” Ông ấy nói: “Có cần thầy chỉ đạo không?” Tôi nói: “Tìm ai?” Ông ấy nói: “Tôi có quen biết Đại sư Chương Gia, ngài là pháp sư của Mật tông Tạng truyền.”
Đạt-lai, Ban-thiền, Chương Gia, Triết-bố-tôn-đan-ba, bốn người họ là sư huynh đệ, đều là đồ đệ của Đại sư Tông-khách-ba. Bốn người này giáo hóa bốn phương, Đạt-lai là Tiền Tạng, Ban-thiền là Hậu Tạng, Chương Gia là Nội Mông, Triết-bố-tôn-đan-ba là Ngoại Mông, họ đều là Quốc sư của triều Thanh. Cho nên tôi rất may mắn, được thân cận Đại sư Chương Gia.
Lần đầu tiên tôi gặp Đại sư Chương Gia, liền thỉnh giáo ngài: “Mỗi người chúng ta đều biết Phật pháp tốt, nhưng bắt đầu từ chỗ nào?” Lão nhân gia ngài dạy tôi sáu chữ: “Nhìn được thấu, buông được xuống.” Tôi lại thỉnh giáo ngài: “Bắt tay vào từ đâu?” Ngài nói với tôi: “Bố thí!” Buông được xuống chính là bố thí, nhìn được thấu chính là trí tuệ Bát-nhã. Trí tuệ từ đâu mà mở? Ắt phải buông xả, trí tuệ mới mở. Trí tuệ mở rồi, thì bạn chân thật chịu buông xả rồi, điều này là bổ trợ cho nhau. Càng chịu buông xả, trí tuệ càng tăng trưởng; trí tuệ càng tăng trưởng, buông xả càng triệt để.
Đại sư Chương Gia là bậc đại thiện tri thức chân thật, đối với tôi vô cùng yêu thương bảo vệ, tôi xem kinh sách có nghi vấn đều đến thỉnh giáo ngài. Ngài ước hẹn với tôi mỗi tuần một lần, mỗi lần hai tiếng đồng hồ, ở trong phòng khách nhỏ của ngài, dạy học một kèm một, chân thật là khó được! Đại sư Chương Gia lúc bấy giờ nhiếp thọ tôi, nói thật ra là vô cùng từ tường. Nếu tôi lười biếng, tuần này không muốn đi, ngày hôm sau lão nhân gia ngài liền gọi điện thoại đến, sao anh không đến? Có phải trong người không khỏe không? Rất quan tâm. Quan tâm như vậy, tôi không thể không đi. Tôi theo ngài học tập ba năm, nền móng Phật học là do Đại sư Chương Gia đặt định cho tôi. Tôi học triết học theo một người thầy, Phật pháp cũng là một người thầy.
Một năm sau khi Đại sư Chương Gia viên tịch, tôi từ chức đến Đài Trung thân cận Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, lão nhân gia ngài lúc đó đã hơn bảy mươi tuổi. Tôi theo Lão Lý mười năm, Đại sư Chương Gia dạy tôi ba năm, tiếp nhận giáo dục Phật học tổng cộng là mười ba năm. Tôi học Phật có hai người thầy, triết học là một người thầy, cho nên tôi học tập rất đơn thuần, tình huống như vậy vô cùng hiếm, rất khó gặp được.
Tôi gặp được ba người thầy này là cảm ứng, ba người thầy thiếu đi một người, tôi đều không thể thành tựu. Tôi theo thầy Phương học triết học, ngài giới thiệu Phật pháp cho tôi, hóa giải những hiểu lầm nhiều năm của tôi đối với Phật pháp, và sanh khởi tâm tôn trọng, kính ngưỡng. Đại sư Chương Gia đặt định nền tảng cho tôi, dùng nền tảng này, tôi thân cận thầy Lý, mới chân thật tiếp nhận được sự dạy dỗ của ngài. Nếu không có hai vị thầy phía trước đặt định nền tảng cho tôi, những gì thầy Lý giảng, tôi chưa chắc đã phục ngài! Do sự kính phục đối với thầy, những gì thầy nói, tôi sẽ nghiêm túc suy nghĩ.
Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam thông Nho, thông Phật, ngài vừa ở Đài Trung là ba mươi tám năm, mãi cho đến khi viên tịch. Cả đời ngài chính là một đạo tràng, cũng làm ra một tấm gương rất tốt cho chúng ta. Điều này nói rõ đạo sư tư là rất không dễ dàng. Năm xưa tôi đến Đài Trung theo thầy Lý học Phật, tham gia lớp kinh học của thầy Lý, bái ngài làm thầy, ngài đưa ra ba điều kiện: Điều kiện thứ nhất, chỉ cho phép nghe ngài giảng kinh thuyết pháp, ngoài ngài ra, bất cứ ai giảng kinh thuyết pháp đều không được nghe. Điều kiện thứ hai, những sách tôi đọc, nhất định phải qua sự đồng ý của ngài, ngài không đồng ý thì không được phép đọc. Điều kiện thứ ba, những gì tôi học từ trước đến nay đồng loạt hủy bỏ, ngài không thừa nhận, phải bắt đầu học lại từ đầu. Ba điều kiện này, dường như thầy chuyên chế độc đoán không nói đạo lý, về sau mới biết tâm khổ của thầy, trong đây có đạo lý rất sâu xa, là người làm thầy có trách nhiệm đối với học trò. Nếu bạn nghe nhiều đọc nhiều, tâm liền loạn, ngài liền không có cách nào chỉ đạo bạn. Điều này là đến về sau, sau khi tôi thâm nhập đối với Phật pháp mới hiểu được, đây chính là điều mà thời cổ đại gọi là sư thừa.
Cửa Phật nói “năm năm học giới”, năm năm học giới chính là tuân theo những nguyên tắc giáo giới, chỉ đạo của thầy, năm năm phải theo một người thầy để học. Vì sao vậy? Bạn đối với pháp thế xuất thế gian nhận thức chưa rõ ràng, không có năng lực phân biệt đúng sai tà chánh, nhất định phải nương tựa vào thầy. Sau năm năm, bạn có năng lực phân biệt đúng sai tà chánh, thì có thể xuất sư, có thể tham học, thứ gì cũng có thể nghe, có thể xem, có thể tiếp xúc. Đây là sư thừa được truyền từ đời này sang đời khác của chúng ta từ xưa đến nay.
Tôi chấp nhận ba điều kiện của thầy Lý, ba tháng sau, thì liền có hiệu quả, tâm thanh tịnh, vọng niệm ít đi rồi; tâm thanh tịnh, trí tuệ liền tăng trưởng. Trước kia nghe không hiểu, bây giờ có thể nghe hiểu, cho nên tôi rất hoan hỉ chấp nhận điều kiện này. Năm năm mãn rồi, tôi báo cáo với thầy, tôi nói: “Thưa thầy, phương pháp này con rất được thọ dụng, con tự động kéo dài thêm năm năm nữa.” Ngài mỉm cười!
Đây là tôn sư trọng đạo, vì sao tôn sư? Là trọng đạo; đối với sư trưởng khinh mạn, bạn sẽ không học được thứ gì cả. Không phải sư trưởng bắt chúng ta phải tôn kính, hiếu kính là tánh đức, bất hiếu bất kính là mê hoặc điên đảo. Ngày nay chúng ta muốn khai phát tánh đức, minh tâm kiến tánh, dùng phương pháp gì? Hiếu kính. Cho nên đem tâm hiếu thân, mở rộng đến có thể hiếu thuận hết thảy chúng sanh; tâm kính ngưỡng sư trưởng, mở rộng đến kính ngưỡng hết thảy chúng sanh, từ phân biệt cứ tu đến vô phân biệt, tôi hiếu thân tôn sư là có phân biệt, sau khi mở rộng ra thì không có phân biệt, không có phân biệt chính là tánh đức thấu lộ, minh tâm kiến tánh. Đây là ắt phải hạ công phu, nghiêm túc đi làm, bắt đầu từ bản thân mình, rồi ảnh hưởng đến người thân bạn bè của mình.
Tôi tuân thủ ba điều giao ước này của thầy Lý mười năm, đây là căn bản. Mười năm sau, tôi mới rời khỏi ngài. Đại đức xưa tu học, thường thường theo một vị thầy mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm là chuyện rất bình thường, vì sao lại lâu như vậy? Chưa đạt được năng lực phân biệt đúng sai, thật giả, tà vọng này. Đạt được năng lực này, thầy nhất định khuyên người đó rời đi, có thể ra ngoài tham học, thành tựu trí tuệ viên mãn. Cho dù là tà sư thuyết pháp, bạn cũng được lợi ích, tuyệt đối không bị người đó làm hại. Tâm khổ của người làm thầy trong việc dạy học chính là ở chỗ này. Chúng ta nhìn thấy trong “Cao Tăng Truyện”, có rất nhiều người mười năm, hai mươi năm, thậm chí là cả đời cảm niệm ân đức của thầy, không rời xa thầy. Sau khi thầy qua đời, mới đi ra ngoài giáo hóa một phương, truyền lại cái đạo của thầy.
Mãi cho đến ngày nay, sự tôn trọng, kính ngưỡng của tôi đối với thầy không hề giảm sút chút nào, sự dạy bảo của thầy trăm phần trăm tuân theo, không dám vi phạm. Trong giảng đường của chúng tôi treo ảnh của thầy, trong phim trường cũng treo ảnh của thầy, thầy luôn luôn ở trước mặt chúng tôi, chúng tôi chưa từng rời xa thầy nửa bước, đây là tôn sư trọng đạo, đây là giáo dục! Dạy người niệm niệm không quên ân đức của thầy, ắt phải báo ân thầy.
Con cái phản bội cha mẹ, đây là ngỗ nghịch vô đạo; học trò phản bội thầy, đây gọi là phản thầy bội đạo, quả báo của nó là ở địa ngục A-tỳ. Nhưng người hiện đại không sợ địa ngục A-tỳ, địa ngục A-tỳ chẳng dọa được họ. Thế nhưng cổ đức nói rất hay, đến lúc lâm chung, lúc tướng địa ngục hiện tiền, thì hối hận không kịp nữa rồi. Con người nếu bất hiếu cha mẹ, phản thầy bội đạo, ở ngoài xã hội, người chánh nhân quân tử sẽ không kết bạn với bạn. Vì sao vậy? Người ta biết bạn không phải là người hiền thiện, bạn có thể phản bội cha mẹ, thầy giáo, tôi kết bạn với bạn, tương lai bạn nhất định sẽ phản bội tôi, bán đứng bạn bè. Cho nên người chân thật có trí tuệ, có đức hạnh, đối với bạn sẽ kính nhi viễn chi (kính trọng nhưng tránh xa).
Đạo tràng nhỏ của chúng tôi ở Toowoomba, chỉ có ba gian phòng, trong đó có một “Hàn Anh đường”, để kỷ niệm Quán trưởng Hàn, gian phòng lớn nhất là “Gia Nam đường”, Gia là Đại sư Chương Gia, Nam là thầy Lý Bỉnh Nam. Một tòa nhà mới xây, có mười phòng học, lấy tên là “Đông Nguyên đường”, Đông là thầy Phương Đông Mỹ, Nguyên là Cư sĩ Lý Mộc Nguyên. Chúng tôi niệm niệm không quên ơn của thầy, của hộ pháp, đây là đạo nghĩa, đây toàn bộ đều là dạy học, để đại chúng xã hội, đặc biệt là để người trẻ tuổi biết được hiếu thân, tôn sư, đối với những người từng giúp đỡ chúng ta luôn luôn cảm ân, chúng ta nên làm theo cách này.
Người hiện nay vong ân phụ nghĩa, những gì chúng ta làm là tri ân báo ân, đối với hết thảy mọi người chúng ta giảng đạo nghĩa, trọng đạo nghĩa, hành đạo nghĩa; tự hành chính là dạy họ, dạy họ chính là tự hành.
Thiện tri thức, quả thật là có thể gặp nhưng không thể cầu, muốn cầu thầy tốt, đi đâu để cầu? Cầu không được, luôn luôn là trong đời quá khứ có thiện căn mới có thể gặp được thầy; người làm thầy gặp được học trò tốt giống như bắt được vật báu. Vì sao vậy? Bậc làm thầy đều hy vọng đem cái đạo của mình truyền lại. Giống như người thế gian, vì sao người ta lại muốn sanh con đẻ cái? Hy vọng được truyền từ đời này sang đời khác, không đến nỗi đời mình thì cắt đứt việc cúng tế, đây là sự tiếc nuối rất lớn ở nhân gian. Bậc làm thầy, nếu đạo không truyền lại được, sự tiếc nuối càng lớn hơn. Phật pháp được truyền từ đời này sang đời khác từ Thích-ca Mâu-ni Phật cho đến tôi, phía sau không có người kế thừa, bản thân thấy đau lòng, thật sự là có lỗi với Phật, có lỗi với các bậc Tổ sư Đại đức truyền thừa qua các đời. Cho nên gặp được một học trò tốt, đó chân thật là bảo bối, giống như nhà người ta có đứa con một vậy, vô cùng quý giá!
Thế nhưng người truyền thừa không phải ai cũng có thể truyền, ắt phải có đủ một vài điều kiện mới được. Trong những điều kiện này, tôi nói cho quý vị biết, nếu quý vị chịu học, tương lai liền có thể thân cận được minh sư. Điều kiện thứ nhất là tôn sư trọng đạo. Bạn không tôn kính thầy, thầy truyền cho bạn, bạn cũng không có cách nào tiếp nhận. Trước kia có người hỏi Ấn Quang Đại sư, cầu Phật pháp có bí quyết gì không, Ấn Quang Đại sư trả lời rằng: “Có!” Lão nhân gia ngài nói ra hai chữ ── “thành kính”. Chí thành cung kính, đây là bí quyết của cửa Phật, một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích.
Thầy đang dạy học, rất nhiều học trò đang nghe, những gì mỗi người nhận được không giống nhau. Vì sao vậy? Người đối với thầy có mười phần thành kính, họ được mười phần; học trò kia chỉ có một phần thành kính, cũng cùng nghe giảng, họ chỉ được một phần; không có sự thành kính, thì một phần cũng không nhận được. Thầy dạy giống nhau, nhưng tâm thành kính không giống nhau, cái học trò nhận được liền không giống nhau. Có thể thấy được, không phải thầy yêu cầu bạn phải thành kính, thầy vừa nhìn thấy bạn thành kính, liền biết đồ của tôi bạn có thể tiếp nhận; vừa nhìn thấy bạn không có sự thành kính, tôi đem cả bàn tặng cho bạn, bạn cũng không tiếp nhận nổi. Cho nên điều kiện thứ nhất là thành kính.
Điều kiện thứ hai, tốt nhất là vừa mới phát tâm học Phật, chưa từng nghe qua kinh, cũng chưa từng thân cận bất kỳ đại đức nào. Thầy gặp được người học trò này thực sự là báu vật trong các báu vật, quyết định không chịu từ bỏ. Vì sao vậy? Đầu óc của người đó là một tờ giấy trắng, truyền thụ cho người đó, người đó hoàn toàn tiếp nhận. Nếu như quá khứ người đó từng thân cận rất nhiều đại đức, đọc qua rất nhiều sách, trong đầu tràn ngập tri kiến, thầy truyền thụ cho người đó, người đó sẽ bài xích, bởi vì có sự tiên nhập vi chủ. Thầy giảng không giống với những gì tôi nghe ngày trước, người đó sẽ hoài nghi, đặt dấu chấm hỏi, phản bác, muốn biện luận với thầy, thì thầy khó dạy rồi.
Cho nên, nếu quý vị gặp được thiện tri thức chân thật, ngài ấy sẽ hỏi quý vị, vì sao phát tâm học Phật? Trước kia có từng tụng qua kinh không? Có từng nghe qua kinh không? Quý vị nói tôi nghe qua rất nhiều kinh, xem qua rất nhiều sách. Thầy gật gật đầu, rất không tệ, rất có thiện căn, khách sáo, ca ngợi quý vị vài câu, quý vị đi đi! Vì sao vậy? Ngài ấy không dám dạy quý vị. Có thể thấy được gặp thiện tri thức thật không dễ, sự thật là như vậy.
Lúc tôi giảng kinh ở Hồng Kông, gặp một số vị lão pháp sư, các ngài mời tôi ăn cơm, lúc ăn cơm liền bàn đến chuyện nhận đồ đệ, các ngài nói: Có một năm lão hòa thượng Diễn Bồi ở Hồng Kông, hy vọng người bên Hồng Kông giới thiệu cho ngài một đồ đệ xuất gia, hơn nữa điều kiện chỉ cần tốt nghiệp trung học cơ sở. Các ngài nghe xong thấy rất kỳ lạ, người bình thường nhận đồ đệ đều đòi hỏi tốt nghiệp đại học, tiến sĩ, lão nhân gia ngài vì sao lại nhận người tốt nghiệp trung học cơ sở? Ngài nói: Năm xưa tôi chính là kẻ ngốc nghếch, một tờ giấy trắng, sư phụ tôi mới nhận tôi. Điều này rất có đạo lý, tốt nghiệp đại học, tốt nghiệp viện nghiên cứu, thành kiến rất sâu sắc, trong đầu tràn ngập khoa học, không dễ dàng tiếp nhận chánh pháp. Thiện tri thức chân thật, điều kiện chọn học trò của ngài ấy chính là “chân thành, thật thà”, tốt nhất là kẻ ngốc nghếch, loại người này tương lai quyết định thành Phật, vì sao vậy? Người đó không có vọng tưởng, phân biệt chấp trước không nặng, đây là chân thật có thiện căn. Điều này nói rõ, học trò mà thiện tri thức hy vọng là đầu óc đơn giản, không phức tạp, học trò như vậy dễ dạy. Cho nên chúng ta ắt phải nhận thức thiện tri thức.
Có rất nhiều người nói: “Thưa pháp sư, mạng của thầy tốt, vận khí không tệ, gặp được thầy tốt, chúng tôi không gặp được thì phải làm sao?” Cổ nhân có ví dụ, không gặp được thì tìm cổ nhân. Từ thời Mạnh tử, Mạnh tử đã làm cho chúng ta một tấm gương tốt. Ông ấy muốn học Khổng tử, lúc bấy giờ Khổng tử đã qua đời rồi, nhưng trứ tác của Khổng tử vẫn còn lưu lại thế gian, ông ấy mỗi ngày đọc sách của Khổng tử, có sự hoài nghi, có vấn đề, liền đi thỉnh giáo học trò của Khổng tử, ông ấy đã học thành công rồi. Bí quyết thành công của ông ấy chính là “huân tập thành tánh”, hơn nữa thành tựu vượt xa những học trò khác của Khổng tử, người đời sau gọi Khổng tử là Chí Thánh, gọi Mạnh tử là Á Thánh. Đây chính là cái gọi là đệ tử tư thục, điều này đã mở ra một tấm gương tốt cho người đời sau.
Trong cửa Phật, quý vị đều biết Ngẫu Ích Đại sư rất liễu giải, thầy của Ngẫu Ích Đại sư là ai? Đại sư Liên Trì. Nhưng khi Ngẫu Ích Đại sư học Phật, Đại sư Liên Trì đã vãng sanh rồi. Ngài ấy liền y theo sách của Đại sư Liên Trì, chuyên đọc lời của một nhà, học tập với Đại sư Liên Trì, ngài ấy học rất giống; Đại sư Liên Trì là Tổ sư đời thứ tám của Tịnh độ tông, ngài ấy là Tổ sư đời thứ chín. Vì vậy, bí quyết học tập chính là một môn thâm nhập, huân tu thời gian dài, thân cận một người thầy, không thể theo nhiều người, nhiều thì hỏng rồi. Thế nhưng đối với tất cả các vị thầy ắt phải tôn kính.
Con đường tôi đi cả đời này, là do thầy chỉ dẫn; ngành nghề này, là do Đại sư Chương Gia lựa chọn thay tôi. Sau khi tôi chấp nhận rồi, tôi thật sự làm! Tôi ở Đài Trung mười năm, nhờ sự dạy bảo của thầy Lý, giúp đỡ tôi bài trừ hết thảy chướng ngại. Ở dưới tòa của thầy Lý, tôi chân thật biết được con đường này phải đi như thế nào. Cả đời này của tôi, trong ngoài như một, sự thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi của tôi là học từ nơi thầy, cái gốc của bản thân tôi chính là chân thành, trong ngoài là một, cả đời không lừa gạt người. Tôi có thể đảm đương nỗi thống khổ của người khác, còn có một chút lòng từ bi này, tôi học tập không vì mình, vì chánh pháp, vì chúng sanh. Tôi nếu vì mình, thật thà niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ, thì đã vãng sanh từ lâu rồi, hơn nữa còn có phần nắm chắc, đây tuyệt đối không phải là lời nói dối.
Nhìn thấy thế gian động loạn, chúng sanh quá khổ, tôi vẫn còn một chút sức ảnh hưởng, có thể giúp đỡ mọi người, tôi đáng nên tận tâm tận lực. Ở thêm vài năm, rốt cuộc ở mấy năm? Tùy duyên, tôi tuyệt đối không thêm một chút ý nghĩ nào vào. Đại sư Chương Gia dạy tôi, cả đời không cầu người, cầu người thì có khổ não, cầu Phật Bồ-tát, trong cửa Phật, có cầu ắt ứng. Lời dạy bảo này, tôi đã dùng hơn năm mươi năm, chân thật là có cầu ắt ứng, chứng minh những gì Phật nói không sai, những gì Đại sư nói không sai. Cầu không thể dùng tâm vị kỷ, không thể cầu danh văn lợi dưỡng, cầu danh văn lợi dưỡng thì không linh nghiệm nữa. Cầu tiêu nghiệp chướng, cầu tăng trí tuệ, cầu có duyên phận để giúp đỡ chúng sanh khổ nạn, điều tôi cầu là điều này.
Thầy nói với tôi học Phật là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh, năm mươi hai năm nay tôi đã chứng minh được rồi, thầy không lừa gạt tôi, thầy nói với tôi lời nói thật, tôi cảm kích thầy. Mỗi một tiết học trước khi lên lớp, tôi đều hướng về thầy mà hành lễ, sau khi tan học tôi cũng hướng về thầy mà hành lễ, niệm niệm không quên ơn thầy. Khi nghe giảng bài thì toàn bộ tinh thần đều tập trung, không khởi vọng tưởng. Tôi chỉ có một chút thành ý như vậy, mà nhận được sự quan tâm, tài bồi của thầy. Sự hiếu kính của tôi đối với thầy là một mảnh chân thành, quyết định không dối gạt thầy, dẫu cho làm sai chuyện gì, cũng thản nhiên bày tỏ trước mặt thầy. Thầy giúp đỡ tôi thành tựu tôi, là cha mẹ pháp thân, ân đức lớn hơn rất nhiều so với cha mẹ sanh thân. Ai biết được? Người y giáo phụng hành biết, người khế nhập cảnh giới biết. Nếu bạn không nhập vào cảnh giới Phật, bạn sẽ không biết; bạn không nhập vào cảnh giới Phật, bạn căn bản sẽ không hiểu cái gì gọi là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh.
Những gì thầy dạy tôi, tôi thường xuyên dạy lại mọi người. Bạn gặp chuyện còn xúc động nữa hay không? Vì sao lại xúc động? Thậm chí còn nói, vì sao làm không được? Đó là nghiệp chướng của bạn rất nặng. Bạn thực sự là nghe không hiểu. Nếu chân thật nghe hiểu thì làm gì có đạo lý không y giáo phụng hành! Cả đời này của tôi, những gì thầy dạy bảo, tôi nghiêm túc nỗ lực làm ra thành tích để báo đáp thầy, lấy việc thực tiễn lời răn dạy của thầy để báo đáp ân tình của thầy, vĩnh viễn không quên lời dạy của thầy, cả đời y giáo phụng hành, làm một học trò tốt, truyền lại pháp của thầy, truyền lại đạo của thầy. Cho nên thầy trò như cha con, như vậy mới có thể truyền đạo.
Từ đây có thể biết, sư đạo đích thực là khó. Sư đạo được thiết lập trên nền tảng của hiếu đạo. Con người biết hiếu thân, rồi mới biết tôn sư. Không nói đến hiếu đạo, thì sư đạo không có cách nào để nói. Cho nên nền giáo dục chí thiện viên mãn vẫn là phải cắm rễ từ việc hiếu thân tôn sư, quyết định không thể nói quan niệm này quá lạc hậu, quan niệm này đã lỗi thời rồi, đó là chính chúng ta đã nhìn lầm. Một người có thể vứt bỏ cả cha mẹ thầy giáo của mình, không cần cả hai, thì người đó ở trên thế gian này chuyện gì cũng dám làm. Nếu người người đều làm mọi chuyện bất chấp, thì thế giới này há chẳng phải là cái thời đại đại loạn hay sao. Cho nên muốn thế giới hòa bình an định, muốn mọi người trải qua cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn, thì chỉ có hiếu đạo của Khổng Mạnh, Phật pháp Đại thừa mới đích thực có thể trị dứt cái căn bệnh này. Hy vọng mọi người nghiêm túc học tập!
Xem bài viết gốc: Tại đây
Cương Yếu Tu Học Tịnh Tông
TRI ÂN BÁO ÂN
Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường
HỌC VI NHÂN SƯ, HÀNH VI THẾ PHẠM
Học làm thầy người, hành làm mẫu mực cho đời
“Tri ân báo ân”, “Học làm thầy người, hành làm mẫu mực cho đời”, đây là tinh thần của Phật pháp Đại thừa.
“Thầy”, là người người làm thầy; “Mẫu mực”, là chỉ cho tư tưởng, ý niệm, ngôn hạnh tạo tác của bạn, không có gì là không phải mẫu mực cho chúng sanh. Cứu vãn thế đạo nhân tâm, nhất định phải bắt đầu làm từ chính bản thân chúng ta. Phải triệt để sửa đổi những thói hư tật xấu từ vô thủy kiếp đến nay của chính mình, chúng ta mới có đường cứu. Tự cứu mới có thể cứu người khác.
I. CHỖ NƯƠNG TỰA GIÁO LÝ
(1) Tổng quát nương tựa năm kinh một luận của Tịnh tông
Kinh điển mà pháp môn Tịnh độ nương vào là “Ngũ kinh nhất luận” (5 kinh 1 luận): “Kinh A Di Đà”, “Kinh Vô Lượng Thọ”, “Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật”, “Phẩm Phổ Hiền Bồ-tát Hạnh Nguyện”, “Đại Thế Chí Bồ-tát Niệm Phật Viên Thông Chương” và “Vãng Sanh Luận”. Tùy chọn một bộ, chuyên tinh thâm nhập, chỉ cần chân thật như giáo tu hành, quyết định có thành tựu.
(2) Chuyên nương tựa bản hội tập Kinh Vô Lượng Thọ của cư sĩ Hạ Liên Cư; Kinh Phật Thuyết A Di Đà Yếu Giải của Đại sư Ngẫu Ích Phẩm Phổ Hiền; Hạnh Nguyện Sớ Sao của Đại sư Thanh Lương
Tại Trung Quốc, kinh Nhất thừa được mọi người công nhận có ba bộ: “Kinh Hoa Nghiêm”, “Kinh Pháp Hoa”, “Kinh Phạm Võng”. Nhưng có ai biết rằng “Kinh Vô Lượng Thọ” mới là Nhất thừa của Nhất thừa, bởi vì “Hoa Nghiêm”, “Pháp Hoa” cuối cùng đều dẫn về Cực Lạc.
Vào thời Tùy Đường, các bậc Tổ sư Đại đức đã đưa ra một câu hỏi: “Trong tất cả các kinh mà Thích-ca Mâu-ni Phật đã giảng suốt bốn mươi chín năm, bộ kinh nào có đủ khả năng đại diện cho toàn bộ Phật pháp?” Mọi người nhất trí công nhận, Hoa Nghiêm là số một. “Kinh Hoa Nghiêm” được xưng là pháp môn căn bản, tất cả kinh điển còn lại là cành lá, hoa quả. Nếu đem “Kinh Hoa Nghiêm” so sánh với “Kinh Vô Lượng Thọ”, thì “Kinh Vô Lượng Thọ” là số một.
Vì sao “Kinh Vô Lượng Thọ” là số một? “Kinh Hoa Nghiêm” cuối cùng có mười đại nguyện vương của Bồ-tát Phổ Hiền dẫn về Cực Lạc, Hoa Nghiêm mới viên mãn. Nếu không có Bồ-tát Phổ Hiền khuyên bảo mọi người vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, Hoa Nghiêm chỉ có thể đạt đến quả vị Đẳng giác. Cho nên “Kinh Vô Lượng Thọ” là nơi quy kết của “Kinh Hoa Nghiêm”, điều này đã nói lên rõ ràng rằng “Kinh Vô Lượng Thọ” là số một trong những số một. Đây là kinh điển quan trọng làm căn cứ tu học của chúng ta.
“Di Đà Kinh Yếu Giải”, là một trứ tác vô cùng vĩ đại, Ấn Quang Đại sư đối với “Yếu Giải” vô cùng đề cao. Ngài nói: “Cho dù là A Di Đà Phật tái lai, làm một bộ chú giải cho ‘Kinh Di Đà’, cũng không thể vượt qua bộ này được”, đây là tán thán đến chỗ tột cùng. Từ đây có thể biết, “Yếu Giải” đối với người tu học Tịnh độ chúng ta mà nói là vô cùng quan trọng.
“Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Sớ” do Thanh Lương Đại sư làm, Sao do Tông Mật Đại sư làm. Cuốn “Sớ Sao” này, không những là tinh hoa của “Tứ Thập Hoa Nghiêm”, mà cũng là tinh hoa của toàn bộ “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh”. “Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện”, là quyển cuối cùng trong bốn mươi quyển của “Kinh Hoa Nghiêm”. Trong kinh hiển thị rộng rãi cảnh giới sự lý viên dung, sự sự vô ngại. Phật trên đại kinh nói: Bồ-tát nếu không tu hạnh Phổ Hiền, thì không thể thành Phật, đây là thật. Hạnh Phổ Hiền rốt cuộc là tu ở đâu? Chúng ta đọc “Kinh Vô Lượng Thọ” xong mới bỗng nhiên đại ngộ, hóa ra hạnh Phổ Hiền là tu ở thế giới Tây Phương Cực Lạc. Từ đây có thể biết, phàm là người vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, ai nấy đều tu hạnh Phổ Hiền.
(3) Ngữ lục của Tổ sư Tịnh tông: Văn Sao của Đại sư Ấn Quang
Ngữ lục của Tổ sư Tịnh tông, đặc biệt là “Ấn Quang Đại sư Văn Sao”, đây là sách giáo khoa làm nương tựa trong việc dạy học của chúng ta. Ấn Quang Pháp sư lúc bấy giờ đã nhìn thấy được hiện tượng hỗn loạn của xã hội hiện tiền, muốn hóa giải tai nạn, cứu vãn trái đất, thì chỉ có nhân quả. Người người tin sâu nhân quả, thiên hạ đại trị, trên trái đất tai nạn không khởi. Cho nên, Văn Sao của Ấn tổ vào thời kỳ mạt pháp, lại càng trở nên quan trọng hơn.
II. CHỖ NƯƠNG TỰA ĐẠO LÝ
(1) Niềm tin nương vào: Lục Tín (sáu niềm tin) của Yếu Giải, thọ trì pháp tạng thậm thâm của Như Lai, hộ trì chủng tánh Phật, thường làm cho không dứt.
Kiến lập tín tâm phải nương vào “Lục tín” của “Yếu Giải”: Tin mình, tin lời dạy của Phật, tin nhân, tin quả, tin sự, tin lý.
“Tin tự”, con người không có lòng tự tin, thì chẳng cần phải nói đến chuyện gì nữa. Sự thành tựu lớn hay nhỏ của một người, hoàn toàn tỷ lệ thuận với sự lớn nhỏ, kiên định của lòng tự tin. Thế pháp là như vậy, Phật pháp cũng như vậy, chính là phải tin chính mình. Điều quan trọng nhất trong ba tư lương chính là kiến lập sự tự tin, tin tưởng chính mình, tin tưởng mê ngộ vốn không, tin tưởng bản giác vốn có, tin tưởng bạn trong đời này quyết định thành tựu. Người như vậy trong cửa Phật mới gọi là pháp khí, người này trong đời này quyết định có thành tựu.
“Thọ trì pháp tạng thậm thâm của Như Lai, bảo hộ chủng tánh của Phật, thường khiến chẳng dứt đứt”, đều từ trong tín tâm mà đạt được
(2) Mười pháp giới và pháp giới Nhất Chân, pháp thế gian và xuất thế gian, chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến, quán các pháp như huyễn hóa, tam muội thường vắng lặng, thông suốt tự tánh các pháp, thấu đạt tướng chúng sanh.
Mười pháp giới, pháp giới Nhất Chân; pháp thế gian, pháp xuất thế gian, “chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”. Hai câu này nếu bạn chân thật thể hội được, bạn mới chân thật khẳng định, tận hư không khắp pháp giới là một chính mình. “Quán pháp như huyễn hóa, tam muội thường tịch”, “pháp” là tất cả pháp thế xuất thế gian; “hóa” là biến hóa, huyễn hóa, các pháp là không có thật mà hiện ra có giả, đây là chân tướng sự thật. Những hiện tượng trước mắt này, giống y hệt như đang nằm mộng vậy, khi bạn đi vào giấc mộng, thì vạn pháp này đều ở trước mặt bạn. Bản thân bạn không biết đang nằm mộng, hoàn toàn coi nó là thật, hễ coi là thật này, thì khẳng định sẽ tạo nghiệp; khởi nghiệp nhất định sẽ dẫn đến quả báo. Bởi vì bản thân không biết chân tướng sự thật, chịu khổ hưởng vui ở trong quả báo, đâu biết rằng chịu khổ là giả, hưởng vui cũng là giả, đợi mộng tỉnh rồi mới biết hoàn toàn là giả. Khi nào thì giấc mộng lục đạo luân hồi này của chúng ta tỉnh lại, cũng tức là nói nếu chúng ta quả thật đã buông bỏ được chấp trước, phân biệt nhạt đi rồi, thì giấc mộng sắp tỉnh rồi; sau khi tỉnh lại mới biết, lục đạo luân hồi là một cơn ác mộng.
Phật, Bồ-tát biết rõ lục đạo, mười pháp giới đều là ở trong mộng. Trong mộng không chỉ tất cả những sự vật bên ngoài này bạn không đạt được, mà ngay cả thân thể cũng không đạt được, hiện tượng vật chất là giả, hiện tượng tinh thần cũng là giả, hiện tượng tự nhiên vẫn là giả, không có thứ gì là thật. Thấu hiểu chân tướng sự thật, đối với thân tâm thế giới ngày càng buông xả, không có một tơ hào chấp trước, tất cả pháp tùy vận tùy duyên, như vậy thì tự tại!
“Tam muội thường tịch”, không khởi tâm, không động niệm chính là thường; không phân biệt, không chấp trước chính là tịch. Cho nên chư Phật Bồ-tát thị hiện ở trong lục đạo, các ngài đích đích xác xác là quán pháp như huyễn hóa, tam muội thường tịch. Đây là bổn sự của các ngài.
“Thông đạt các pháp tánh, thấu rõ chúng sanh tướng”, đối với thế xuất thế gian, tất cả sự biến hóa của người, sự, vật, hoàn toàn thông đạt rõ ràng, lý sự vô ngại, sự sự vô ngại. Việc tu học của chúng ta là căn cứ vào đạo lý này, hy vọng đem đạo lý này biến thành đời sống sinh hoạt của chúng ta.
(3) An trụ trong trí tuệ chân thật, khai hóa hiển thị bến bờ chân thật, ban cho lợi ích chân thật, đối với các chúng sanh, xem như chính mình, mỗi niệm đều phổ lợi quần sanh, từng tâm niệm đều chảy vào biển giác.
“Trí tuệ chân thật, bến bời chân thật, lợi ích chân thật”, ba cái chân thật này đại diện cho nội dung thực tế của “Kinh Vô Lượng Thọ”, cũng biểu đạt cho lý luận làm căn cứ của bổn kinh. “Trụ trí tuệ chân thật”, trụ là tâm an trụ. Bạn tin tưởng kinh điển này, đọc tụng kinh điển này, thật thà niệm câu danh hiệu A Di Đà Phật này, đem tâm an trụ vào trên A Di Đà Phật, tuyệt đối có thể minh tâm kiến tánh, đây là trí tuệ chân thật.
“Khai hóa hiển thị bến bờ chân thật”, khai là khai thị, khai mở; hóa là chúng sanh biến hóa. “Bến bờ chân thật”, chính là chân như bản tánh, Bồ-tát giáo hóa chúng sanh, mục đích là muốn mỗi chúng sanh minh tâm kiến tánh.
“Mang đến lợi ích chân thật”, Phật ban cho hết thảy chúng sanh lợi ích chân thật nhất, lợi ích này là gì? Chính là bộ “Kinh Vô Lượng Thọ” này, câu “A Di Đà Phật” này, đây là lợi ích chân thật nhất. Cái chân thật của nó nằm ở chỗ nó độ khắp ba căn, thâu nhiếp cả lợi lẫn độn, trên đến Bồ-tát Đẳng giác, dưới đến chúng sanh địa ngục, nương theo pháp môn này mà tu học, không một ai là không thành tựu. Thành tựu là bình đẳng, là thù thắng, cho nên đây là lợi ích chân thật.
“đối với các chúng sanh, xem như chính mình, mỗi niệm đều phổ lợi quần sanh, từng tâm niệm đều chảy vào biển giác. ” Niệm niệm phải làm lợi ích cho chúng sanh, làm lợi ích cho xã hội.
(4) Dùng tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi, dùng hành động nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, phá trừ mọi vọng tưởng chấp trước.
Tổng cương lĩnh tu học của Phật pháp, tôi viết nó thành: chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi; nhìn thấu, buông xả, tự tại, tùy duyên, niệm Phật, hai mươi chữ này đã bao hàm toàn bộ Phật pháp. Lời dạy dỗ của Phật đối với hết thảy chúng sanh, không ngoài việc: một là dạy bạn nên tồn tâm thế nào, hai là dạy bạn nên sinh hoạt thế nào. Nó là nền giáo dục sinh hoạt vô cùng thiết thực, tuyệt đối không bàn huyền nói diệu. Phật giáo chúng ta phải dùng “tâm chân thành”, chân thành thì quyết định không có hư ngụy, không tự dối mình, không lừa người; dùng “tâm thanh tịnh”, thanh tịnh thì quyết định không có sự ô nhiễm, không có tự tư tự lợi, thị phi nhân ngã, danh văn lợi dưỡng, tham sân si mạn, tâm bạn mới thanh tịnh; “tâm bình đẳng”, quyết định không có cao thấp, cống cao ngã mạn; “tâm chánh giác”, quyết định không mê. Sau đó mới có thể khởi đại từ đại bi, đại từ đại bi chính là vô điều kiện quan tâm đến hết thảy chúng sanh, toàn tâm toàn lực giúp đỡ hết thảy chúng sanh, đây là tâm Bồ-tát. Bạn có tâm Bồ-tát, mới có thể hành đạo Bồ-tát. Hai mươi chữ này là tánh đức của chúng ta, là trí tuệ chân thật của Như Lai.
(5) Phát tâm Bồ-đề, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, quyết định một đời vãng sanh không thoái chuyển thành Phật.
Nếu đời này không thể vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, chúng ta tu học, có nhân không quả. Thế Tôn trên kinh điển Đại thừa nói: Phật pháp Tam thừa, có nhân không quả; chỉ có pháp Nhất thừa, có nhân có quả. Pháp môn niệm Phật là pháp Nhất thừa, vãng sanh chính là chứng quả, quan trọng hơn bất cứ thứ gì.
III. CHỖ NƯƠNG TỰA HÀNH TRÌ
Hành, lúc Tịnh Tông Học Hội mới thành lập, tôi đã đề ra năm điều cương lĩnh: “Tam phước, lục hòa, tam học, lục độ, mười nguyện Phổ Hiền”. Đây là điều mà chúng ta trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, nhất định phải tuân thủ.
(1) Tam phước trong Quán Kinh: Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, tâm từ không giết hại, tu mười nghiệp thiện. Hai là thọ trì Tam quy, trọn vẹn các giới, không phạm oai nghi. Ba là phát tâm Bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại thừa, khuyến tấn người tu.
Tịnh nghiệp tam phước, không những là nguyên tắc chỉ đạo tối cao của Tịnh tông, mà còn là nguyên tắc chỉ đạo của toàn bộ Phật pháp.
Điều thứ nhất “hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, tâm từ không giết hại, tu mười nghiệp thiện”. Đây là điều kiện cơ bản để học Phật, nếu không có đủ điều kiện này, thì không có tư cách bước vào cửa Phật. Bốn câu này chính là ba cái gốc của Nho Thích Đạo. Hiếu thân tôn sư thực tiễn ở “Đệ Tử Quy”, tâm từ không giết hại thực tiễn ở “Cảm Ứng Thiên”. Bạn có thể chân thật làm được “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp”, thì bạn chính là thiện nam tử thiện nữ nhân tiêu chuẩn, có đủ điều kiện này mới có thể bước vào cửa Phật thọ tam quy ngũ giới.
Phước thứ hai, “thọ trì tam quy, đầy đủ các giới, không phạm oai nghi”. Thọ là tiếp nhận, trì là giữ gìn, tam quy là giác không mê, chánh không tà, tịnh không nhiễm, phải chân thật làm được. “Đầy đủ các giới”, người tại gia, giữ tốt ngũ giới là được rồi. “Không phạm oai nghi”, oai nghi là lễ tiết, nghi biểu, chúng ta phải giữ lễ tiết.
Phước thứ ba, “phát tâm Bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại thừa, khuyên người tu hành”. Chúng ta niệm câu Phật hiệu này, không xen tạp, không gián đoạn, không hoài nghi, nhất tâm trì danh chính là phát tâm Bồ-đề. Ngẫu Ích Đại sư trong “Di Đà Kinh Yếu Giải” đã giảng: “Phát tâm chân thành cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, cái tâm này chính là tâm vô thượng Bồ-đề”.
“Tin sâu nhân quả”, từ ý nghĩa sâu hơn mà nói, thì đó chính là điều mà Phật trên kinh thường xuyên nói với chúng ta “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”. Hiện tại thế gian này, lòng người nghĩ sai lệch, ngày ngày đang nghĩ về chiến tranh thế giới thứ ba, đang nghĩ về tai nạn, cho nên chiến tranh, tai nạn đều đến rồi. Hy vọng chúng ta bắt đầu từ ngày hôm nay chuyển đổi ý niệm lại, cứu chính mình, cứu xã hội, cứu chúng sanh khổ nạn trên thế giới, cứu vãn kiếp nạn này. Chúng ta từ nay về sau, không nghĩ về chiến tranh, không nghĩ về tai nạn, ngày ngày nghĩ về Phật Bồ-tát, ngày ngày nghĩ về mười nghiệp thiện, ngày ngày nghĩ về thanh tịnh, nghĩ về giác chánh tịnh. Bạn chỉ cần chuyển đổi ý niệm này lại, thì hoàn cảnh đó liền sẽ chuyển đổi, cảnh tùy tâm chuyển, điều này quan trọng hơn bất cứ thứ gì.
“Khuyên người tu hành” là khuyên mọi người phát tâm tự hành hóa tha, đây là pháp Bồ-tát. Tịnh độ Tây Phương là Phật pháp Đại thừa, Phật pháp Đại thừa được thiết lập trên cơ sở của tâm Bồ-đề, không phát tâm Bồ-đề thì không tương ưng với Tịnh độ Tây Phương.
(2) Lục hòa kính:
* Kiến hòa đồng giải (Thấy biết hòa – cùng hiểu)
* Giới hòa đồng tu (Giới luật hòa – cùng tu)
* Thân hòa đồng trụ (Thân hòa – cùng ở)
* Khẩu hòa vô tránh (Miệng hòa – không tranh cãi)
* Ý hòa đồng duyệt (Ý hòa – cùng vui)
* Lợ hòa đồng quân (Lợi hòa – cùng chia đều).
Tam phước thực tiễn vào trong cuộc sống, công việc, đối nhân xử thế tiếp vật chính là lục hòa. Việc tu học Phật pháp từ chỗ nào để xem thành tích của bạn? Chính là ở lục hòa kính. “Hòa”, chung sống hòa mục; “Kính”, tôn kính lẫn nhau. Trong hòa nếu như không có kính, thì chỉ có hình thức, không có thực chất; nếu có thực chất của sự kính, mà không có cái hòa bên ngoài, thì cũng không thể viên mãn. Hòa và kính trong ngoài nhất trí, đây là điều mà Thánh nhân đã dạy dỗ chúng ta. Hòa, kính, nói thật ra chính là sự thấu lộ của tánh đức, sự khác biệt giữa phàm phu và Phật chính là ở chỗ này. Chúng ta học Phật, chính là phải học hòa, học kính.
“Kiến hòa đồng giải”, “kiến” là tư tưởng, kiến giải, những điều này giống nhau thì mới có thể ở chung; tư tưởng, kiến giải không giống nhau, ở cùng nhau tất nhiên sẽ có tranh chấp, ý kiến không hợp liền sinh ra tranh chấp. Làm thế nào mới có thể kiến giải giống nhau? Tuyệt đối không phải nói “anh phải chấp nhận ý kiến của tôi, anh phải tuân theo ý kiến của tôi”, mà bắt buộc là mỗi người chúng ta đều buông bỏ thành kiến của chính mình, đây là phương pháp vi diệu nhất, thù thắng nhất của Phật pháp. Phật không phải kêu ai phục tùng ai, Phật pháp bình đẳng, mỗi người đều từ bỏ thành kiến, kiến giải của chính mình, tâm của mỗi người đều thanh tịnh bình đẳng, kiến giải như vậy thì hòa hợp rồi.
“Giới hòa đồng tu”, “giới” là quy phạm của đời sống sinh hoạt, mọi người cùng chung sống nhất định phải có trật tự, quy củ, đoàn thể mới không đến nỗi hỗn loạn. Người người đều giữ lễ tuân thủ pháp luật, thế giới này há chẳng phải là hài hòa rồi sao?
(3) Ba môn học vô lậu: Khởi tâm động niệm, xa lìa ba thứ phiền não ác độc, tất nhiên tương ưng với thanh tịnh (giới), bình đẳng (định), chánh giác (tuệ).
Ba môn học vô lậu chính là giới học, định học, tuệ học, ba môn học này là đại cương nội dung giảng dạy cả đời của Thích-ca Mâu-ni Phật. Kinh điển tuy nhiều, sau khi truyền đến Trung Quốc, biên tập phân loại, chia làm ba loại lớn: Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng; Kinh tạng là giảng về định, Luật tạng là giảng về giới, Luận tạng là giảng về tuệ. Cho nên, chúng ta gọi kinh điển là kinh điển Tam tạng. Bất luận là Phật pháp Đại thừa, Phật pháp Tiểu thừa, tóm lại không rời khỏi ba môn học giới, định, tuệ, mục đích cứu cánh của Phật pháp là ở trí tuệ. “Do giới được định, do định mở tuệ”, không có định là quyết định không có trí tuệ. Tâm địa càng thanh tịnh, trí tuệ càng có thể hiện tiền, duy chỉ có trí tuệ mới có thể giải quyết được tất cả các vấn đề thế xuất thế gian.
“Ba món độc”, tức là tham, sân, si. Tu giới không tham, tu định không sân khuể, tu tuệ thì không ngu si, tu giới định tuệ thì rời xa ba đường ác.
(4) Lục độ của Bồ-tát: Thường dùng các hạnh lục độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ để giáo hóa chúng sanh, an trụ vào đạo vô thượng chân chánh.
“Thường”, thường là hằng thường, là điều thường xuyên phải làm, là sáu nguyên tắc mà Phật dạy chúng ta sống thế nào, làm việc thế nào, đối nhân xử thế tiếp vật thế nào, bạn có thể tuân thủ mà không vi phạm, trong Phật pháp liền gọi đó là “Bồ-tát”. Sáu điều này là hạnh Bồ-tát.
Bố thí là hy sinh phụng hiến vô điều kiện, phục vụ cho tất cả chúng sanh, đây gọi là bố thí Ba-la-mật. “Trì giới” là tuân thủ pháp luật, tuân thủ pháp luật, tuân thủ giáo giới của thầy, còn phải tuân thủ phong tục tập quán, nhân tình thế cố của mỗi một địa phương, quyết định không có sự mâu thuẫn, như vậy mới có thể chung sống hòa mục với mọi người.
“Nhẫn nhục” có nghĩa là “kiên nhẫn”. Tất cả pháp thế xuất thế gian, muốn thành tựu đều phải dựa vào sự kiên nhẫn, càng là việc lớn, càng phải có sự kiên nhẫn.
Bồ-tát tu học viên mãn rồi, vẫn còn phải học tập, học tập quyết định không thể đình chỉ, vĩnh viễn phải tinh tấn tiến về phía trước, phải đạt đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đây gọi là “an trụ vào đạo chân chánh vô thượng”.
“Hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, sáu độ, giáo hóa chúng sanh”. Chúng ta nghiêm túc đi làm, làm ra tấm gương tốt cho chúng sanh, thay đổi ngấm ngầm, chính là giáo hóa chúng sanh.
(5) Mười nguyện của Phổ Hiền: Thảy đều cùng tu theo đức của đại sĩ Phổ Hiền, một là lễ kính chư Phật, hai là xưng tán Như Lai, ba là rộng tu cúng dường, bốn là sám hối nghiệp chướng, năm là tùy hỷ công đức, sáu là thỉnh chuyển pháp luân, bảy là thỉnh Phật trụ thế, tám là thường theo Phật học, chín là hằng thuận chúng sanh, mười là phổ giai hồi hướng. Học tập Bồ-tát, tu đại nguyện này, không có cùng tận, niệm niệm tiếp nối, không có gián đoạn, ba nghiệp thân ngữ ý, không mệt không chán.
“Kinh Vô Lượng Thọ” vừa mở đầu liền nói: “Đều cùng tuân tu đức của Bồ-tát Phổ Hiền”. Cho nên thế giới Tây Phương Cực Lạc, “đều là Bồ-tát Phổ Hiền”.
Tu học Phật pháp, nơi bắt tay vào, chính là nguyện thứ nhất “lễ kính chư Phật” của mười nguyện Phổ Hiền, lễ kính là tu cái gì? Chiết phục ngã mạn của chính mình. Người chân thật tu hành trên Bồ-đề đạo, người học Phật chỉ có một mình bản thân mình, ngoài bản thân ra, mỗi người đều là thầy của tôi, đều là thiện tri thức của tôi.
“Xưng tán Như Lai”, cổ nhân Trung Quốc dạy chúng ta giấu ác dương thiện, nhìn thấy mặt tốt của chúng sanh, phải tán thán họ, khích lệ họ; nhìn thấy mặt ác của họ, không nói họ, để họ tự mình đi phản tỉnh sám hối. Đây là nuôi dưỡng sự đôn hậu của chính chúng ta.
“Rộng tu cúng dường”, trong sáu độ của Bồ-tát gọi là bố thí, sự bố thí của Bồ-tát Phổ Hiền không gọi là “bố thí” mà gọi là “cúng dường”, vì sao vậy? Bởi vì cái tâm bố thí của Bồ-tát Phổ Hiền là chân thành, thanh tịnh, quảng đại, bình đẳng, dùng tâm như vậy để tu bố thí thì gọi là “cúng dường”, không có cái tâm này thì gọi là “bố thí”. Phước báo của bố thí nhỏ, phước báo của cúng dường lớn. Bởi vì tâm lượng của bố thí nhỏ, tâm lượng của cúng dường lớn, phước báo là tỷ lệ thuận với tâm lượng, tâm lớn thì phước báo lớn.
“Sám trừ nghiệp chướng”, nghiệp chướng làm sao để sám trừ? Thứ nhất phải biết được lỗi lầm trong khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác của chính mình, phải có thể phát hiện, giác sát, sau khi giác sát rồi phải chân thật triệt để sửa đổi nó đi, thì nghiệp chướng liền tiêu trừ rồi.
IV. QUẢ MONG CẦU
(1) Thực tiễn bốn điều tốt, giữ tâm tốt, nói lời tốt, làm việc tốt, làm người tốt, thành tựu bản thân, trang nghiêm các hạnh, oai nghi mẫu mực trọn vẹn.
“Các hạnh”, “hạnh” là hành vi. Sự tạo tác của thân, ngôn ngữ của miệng, khởi tâm động niệm ở trong tâm, đây gọi là “chúng hạnh”. “Trang nghiêm” chính là như pháp, như lời Phật dạy, Phật dạy chúng ta làm thì chúng ta nghiêm túc làm, Phật dạy chúng ta không làm thì chúng ta quyết định không làm; tư tưởng hành vi của bạn tràn ngập trí tuệ, tràn ngập đức hạnh, đây là sự trang nghiêm chân thật. “Oai nghi mẫu mực đầy đủ”, “oai nghi” là quỹ đạo, “mẫu mực” là khuôn mẫu, chư Phật Bồ-tát là tấm gương, mẫu mực của hết thảy chúng sanh. Phật không những dùng ngôn ngữ dạy dỗ chúng ta, mà thời thời khắc khắc trong đời sống sinh hoạt hằng ngày làm ra cho chúng ta xem, đây gọi là “oai nghi mẫu mực đầy đủ”.
(2) Noi theo 53 thiện hữu trong kinh Hoa Nghiêm, thề làm mẫu mực tốt cho chúng sanh thế gian, gia đình, công việc, đoàn thể.
“Năm mươi ba thiện hữu”, đó là tấm gương tốt của chúng ta. Đồng tử Thiện Tài trên “Kinh Hoa Nghiêm” tu pháp môn Tịnh độ, ngài ấy niệm Phật niệm đến lý nhất tâm bất loạn, lúc này mới đi ra ngoài tham học. Năm mươi ba lần tham học, gặp gỡ đủ loại nhân vật, nghe đủ loại pháp môn khác nhau, ngài ấy ở trong cảnh giới này dùng công phu gì? Ngài ấy là “nghe mà không nghe, thấy mà không thấy”. Thấy hết thảy nhân vật, nghe hết thảy pháp môn, tăng trưởng trí tuệ, ở trong tất cả cảnh giới, như như bất động, vẫn là thật thà niệm A Di Đà Phật, hoàn toàn không hề thay đổi, định tuệ đồng thời tu học. Không tiếp xúc dị đoan, thì không thấy được công phu của chính mình, tiếp xúc học thuyết dị đoan mà không động tâm, thì nhất tâm bất loạn thành tựu rồi. Lại có thể thấu hiểu các loại dị đoan, trí tuệ thành tựu rồi. Chúng sanh có những loại phiền não, tà kiến gì, đều hoàn toàn biết rõ rồi, bạn giáo hóa chúng sanh mới có thể khế cơ! Đồng tử Thiện Tài năm mươi ba lần tham học, chính là hiển thị sự thù thắng của pháp môn niệm Phật, thành tựu ngay trong đời này. Đặc biệt ở xã hội mở cửa hiện đại, tư tưởng ngôn luận tự do, không có cách nào cấm đoán, nếu bạn không học đồng tử Thiện Tài, thì không có cách nào thành tựu. Nếu bạn thấu hiểu pháp môn niệm Phật, biết được bộ thủ đoạn cao minh này của đồng tử Thiện Tài, chúng ta đời này quyết định thành tựu lý nhất tâm bất loạn; dẫu cho lý nhất tâm không đạt được, thì sự nhất tâm là vững vững vàng vàng có thể thành tựu.
“Thề làm chúng sanh thế gian”, chúng ta làm người phải làm tấm gương tốt của người, gia đình phải làm tấm gương tốt của tất cả các gia đình, công việc phải làm tấm gương tốt của tất cả công việc; đoàn thể phải làm mẫu mực tốt của đoàn thể, chân thật đem việc “học làm thầy người, hành làm mẫu mực cho đời”, làm được viên mãn.
(3) Hòa thuận với các dân tộc, tôn giáo, văn hóa, tồn dị cầu đồng, cùng tồn tại cùng vinh quang.
Hiện nay do giao thông thuận tiện, thông tin phát triển, khiến trái đất bị thu nhỏ lại, mối quan hệ giữa các quốc gia thực sự giống như hàng xóm vậy. Muốn đạt được hòa bình thế giới chân thật, chúng ta nhất định phải cùng với những tôn giáo khác nhau, văn hóa khác nhau, “tìm điểm chung gác lại bất đồng”, kiến lập nhận thức chung, xóa bỏ tất cả sự ngăn cách, hy vọng đạt được “cùng tồn tại cùng phồn vinh”, giúp đỡ hợp tác lẫn nhau, chung sống hòa mục. Nếu không kiến lập nhận thức chung từ trên giao lưu văn hóa, thì sự hỗn loạn của thế giới này, nỗi khổ của chúng sanh quyết định không thể tránh khỏi.
(4) Ổn định xã hội, chuộng đức hưng nhân, tương trợ hợp tác, mọi người đều giàu có sung túc an vui hạnh phúc mỹ mãn, khuyên dạy sách tấn thế giới hòa bình vĩnh cửu.
Không những đời sống vật chất phải giàu có, mà đời sống tinh thần càng phải phong phú. “An vui hạnh phúc mỹ mãn, khuyên bảo thúc đẩy tiến lên, thế giới hòa bình vĩnh cửu”, chúng ta phải theo đuổi mục tiêu này. Đây là con người của toàn thế giới, chủng tộc khác nhau, văn hóa khác nhau, tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, chúng ta đưa ra lý tưởng này, không ai là không tán thành.
Làm thế nào để đạt được mục tiêu này? Tất cả pháp quyết định phải bắt đầu làm từ chính mình, tôi tự mình làm có thể tạo ra ảnh hưởng hay không? Chỉ hỏi cày cấy không hỏi thu hoạch. Không những đối với tất cả con người ở các chủng tộc khác nhau, con người ở quốc gia khác nhau, con người ở tôn giáo khác nhau, thậm chí đối với tất cả động vật, tất cả thực vật, cho đến núi sông đại địa, cỏ cây, vi trần, chúng ta đều đối xử bình đẳng, chung sống hòa mục, tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, giúp đỡ hợp tác lẫn nhau!
Người giác ngộ ở thế gian, chỉ có phó thác phụng hiến, tuyệt đối không cầu quyền lợi, có phước mọi người cùng hưởng, có tội báo một mình chịu đựng. Như vậy thì thế giới hòa bình vĩnh cửu, xã hội an định hưng vượng, nhân dân hạnh phúc an lạc, mới có thể chân thật thực tiễn.
(5) Tin sâu nhân quả, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ, cùng các bậc thượng thiện, đồng quy hội vào biển nguyện Nhất thừa của A Di Đà Phật.
Chúng ta phải hỏi, vì sao phải vãng sanh thế giới Cực Lạc? Thế giới Tây Phương Cực Lạc “không có các nỗi khổ, chỉ thọ nhận các sự vui”, đây là duyên thế giới Tây Phương đặc biệt thù thắng. Nơi đó không có ba đường ác và sáu đường, đời sống sinh hoạt hằng ngày chính là giảng kinh thuyết pháp, nghiên cứu thảo luận, đến mười phương thế giới trên cúng dường chư Phật, dưới hóa độ chúng sanh, không có những việc khác. Vĩnh viễn rời khỏi các nỗi khổ, tâm thanh tịnh đến tột cùng, sự thọ dụng cùng với A Di Đà Phật không có gì khác biệt.
Thế giới Ta-bà chúng ta cư trú, tràn ngập khổ nạn, chỉ có khổ không có vui, tất cả mọi niềm vui đều là hoại khổ, cái khổ ngẫu nhiên bị đứt đoạn thì liền cảm thấy rất vui. Kỳ thực đó không phải là vui, mà là cái khổ tạm dừng lại, bạn liền cảm thấy vui, đây là mê hoặc điên đảo, không tìm hiểu rõ ràng chân tướng sự thật. Phật trên kinh hình dung nỗi khổ của cái chết, sự thống khổ khi thần thức rời khỏi thân thể, giống y như rùa sống lột mai vậy, cho nên lúc lâm mạng chung vô cùng thống khổ. Nhưng người niệm Phật vãng sanh thì không chết, người đó là còn sống nhìn thấy A Di Đà Phật đến, hoan hoan hỷ hỷ đi theo A Di Đà Phật, thân thể này không cần nữa. Sanh lão bệnh tử là nỗi khổ bên trong, trên đến đế vương, dưới đến kẻ ăn mày, người người đều không tránh khỏi.
Vì vậy, lợi ích vãng sanh không thể nghĩ bàn, nếu bạn không vãng sanh, đời sau lại phải luân hồi trong sáu đường rồi.
Lời kết
Công đức bậc nhất thế gian, thiện hạnh bậc nhất, chuyện tốt bậc nhất, chính là giúp đỡ người khác giác ngộ. Những gì Thích-ca Mâu-ni Phật làm trong cả cuộc đời chính là công tác giác ngộ chúng sanh, chúng ta phải theo bước Thích-ca Mâu-ni Phật, bỏ mình vì người, hy sinh phụng hiến, cuộc đời này trôi qua có ý nghĩa, có giá trị, thật sự là hạnh phúc mỹ mãn.
Xem bài viết gốc: Tại đây
Thái Độ Cần Có Khi Đối Mặt Với Tai Nạn Dịch Bệnh
- Người học Phật nên biết, hết thảy chúng sanh vốn không có sanh tử, chỉ là sự chuyển đổi giữa các không gian đa chiều khác nhau. Nhất thiết phải giữ tâm tốt, nói lời tốt, làm việc tốt, làm người tốt.
- Buông xả mọi oán hận bất bình, đối với vạn vật trong thiên địa, hết thảy người và việc thường giữ lòng cảm ân, sám hối. Kẻ vong ân phụ nghĩa, dễ bị vạn vật trong thiên địa báo oán.
- Đối mặt với tai nạn, tuyệt đối chớ kinh hoảng, sợ hãi, chỉ nên nhất tâm niệm Phật. Nếu còn giữ tơ hào kinh hoảng sợ hãi, thì cực kỳ dễ đọa vào ba đường.
- Hết thảy tai nạn dịch bệnh, đều do tâm hạnh bất thiện của chúng sanh chiêu cảm nên. Quả thật có thể chân thành sám hối, đoạn ác tu thiện, trì giới niệm Phật, kiêng giết ăn chay, buông xả tự tư tự lợi, danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần, tham sân si mạn, thì đây thực sự là con đường căn bản để tiêu tai khỏi nạn.
- Dùng tâm chí thành làm Tam thời hệ niệm, vì hết thảy chúng sanh, cầu nguyện hóa giải tai nạn, thì đó thuộc về phương pháp trị ngọn.
- Cố gắng ít ra khỏi cửa, chỉ dùng tâm thanh tịnh niệm Phật đọc kinh, tu thiện tích đức. Dẫu cho thọ mạng đã hết, cũng hoan hoan hỷ hỷ, an tường tự tại, lại có được nơi đến tốt đẹp hơn.
Cung kính trích lục từ pháp ngữ của Lão pháp sư Tịnh Không
Xem bài viết gốc: Tại đây
Tham Sân Si Mạn Nghi Là Nguyên Nhân Của Bệnh Tật Và Tai Nạn
Phật ở trong kinh nói: Thế giới này đều là do những ý niệm cực kỳ vi tế tập hợp thành tựu nên, giống như điện ảnh hiện tại vậy, điện ảnh là từng tấm phim nhựa nối tiếp nhau phát sóng, nhìn vào rất chân thật. Vậy thì, toàn bộ hiện tượng vũ trụ cùng với điều này rất giống nhau, là một tướng hư ảo, không thể nói nó là giả, cũng không thể nói nó là thật. Nói nó là thật, nó niệm niệm không tồn tại, niệm trước không phải là niệm sau, loại tướng này là tướng tương tự tiếp nối, tướng phía trước cùng với tướng phía sau tuyệt đối không giống nhau, nhưng rất gần gũi, rất tương tự.
Hiện tượng của vũ trụ, tốc độ hiển hiện nhanh tới mức nào? Bồ-tát Di Lặc nói với chúng ta, một giây đồng hồ có một ngàn hai trăm tám mươi ngàn tỷ lần sanh diệt. Biến hóa với tốc độ như vậy, một ý niệm chính là một hiện tượng, niệm trước diệt rồi, niệm sau tiếp tục lại sanh ra, đây là tướng tương tự tiếp nối, không phải là sự tiếp nối thật sự. Mà chúa tể của sự biến hóa này, Phật ở trên kinh nói: “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, là tâm tưởng đang làm chúa tể. Ý niệm càng thanh tịnh, biên độ biến hóa của tướng càng nhỏ; tâm nông nổi xốc nổi, tập khí phiền não rất nặng, sự biến hóa của tướng sẽ rất lớn. Tâm tưởng thiện, hiện tượng là thiện; tâm tưởng ác, hiện tượng là ác, tất cả pháp từ tâm tưởng sanh.
Chúng ta trong các loại sách của phương Tây nhìn thấy một ví dụ, ví dụ này khoa học có đưa tin, có một người phụ nữ bị ung thư (khối u), khối u tương đối lớn, chừng khoảng hai, ba cen-ti-mét, rất nghiêm trọng rồi. Ba vị bác sĩ cầu nguyện cho cô ấy (cầu nguyện thực tế chính là thay đổi quan niệm), khi cầu nguyện thì tâm địa chân thành, nhìn vào khối u này, chỉ cho phép có một ý niệm, khối u này “đi đi, đi đi”, chỉ một ý niệm này, chỉ một câu nói này như vậy, dùng mất hai phút bốn mươi giây, khối u này thật sự đã biến mất. Khoa học giải thích như thế nào? Đây thuộc về ý thức tập thể.
Trước đây từ góc độ của khoa học không cách nào giải thích, nhưng lượng tử lực học hiện tại có thể giải thích, nhà khoa học chứng thực ý niệm làm chúa tể tất cả, ý niệm có thể thay đổi hoàn cảnh vật chất. Có một vị khoa học gia chuyên môn nghiên cứu nguyên tử, ông ấy đạt được một kết luận, vô cùng khẳng định mà nói rằng, trên thế giới căn bản không có vật chất tồn tại, vật chất chỉ là hiện tượng tích tụ, liên tục của photon, đều là hiện tượng chấn động. Tần số chấn động chậm thì biến thành thể rắn (đá, núi sông đại địa); tốc độ nhanh một chút, thì biến thành thực vật; nhanh thêm một chút, biến thành động vật; nhanh nhất, chính là sóng ánh sáng, sóng điện từ. Toàn bộ là hiện tượng chấn động, rời khỏi hiện tượng chấn động thì không có gì cả, điều này hoàn toàn giống với những gì kinh Phật đã giảng.
Bệnh tật của cơ thể cũng là do tâm phiền não dấy lên. Tham sân si mạn nghi (nghi là sự hoài nghi đối với Thánh nhân, hoài nghi đối với tổ tông, hoài nghi đối với thầy giáo) là nguyên nhân của mọi bệnh tật, nội tâm có năm thứ độc tham sân si mạn nghi, cảnh giới vừa hiện tiền, thì phản ứng ra oán hận não nộ phiền, oán hận não nộ phiền là bệnh duyên; duyên có sự phân biệt trong ngoài, oán hận não nộ phiền là nội duyên, tài sắc danh thực thùy là ngoại duyên. Con người nếu như bất nhân, bất nghĩa, vô lễ, vô trí, vô tín, thì nhân và duyên ấy vừa tụ hợp, lục phủ ngũ tạng của cơ thể liền mất điều hòa, tế bào bình thường của cơ thể lập tức liền biến thành tế bào mang trạng thái bệnh, liền sẽ hiện ra cảnh giới tai nạn không tốt, liền có thống khổ, liền sẽ sinh ra bệnh quả. Cho nên bệnh khổ, đoản mạng, đây là báo ứng, nhân duyên quả báo.
Trái đất hiện nay tai nạn tự nhiên rất nhiều, nguyên nhân thực sự nằm ở chỗ những ý niệm bất thiện, đã cảm ứng núi sông đại địa thành đủ loại tai biến. Cho nên sự tốt xấu của hoàn cảnh cư trú có liên quan với đạo đức, ý niệm thiện ác của chúng ta.
Người Trung Quốc giảng đạo đức, ngũ luân là đạo, ngũ thường là đức, thuận theo cái đạo của đại tự nhiên mà sinh hoạt, suy nghĩ, ngôn hạnh phù hợp với đại tự nhiên, thì đó chính là đức, tổng kết lại “nhân nghĩa lễ trí tín”. Nhân là yêu người; nghĩa là tư tưởng ngôn hạnh hợp tình, hợp lý, hợp pháp; lễ, “Đệ Tử Quy” là lễ, “Thập Thiện Nghiệp Đạo” là lễ; trí là trí tuệ, đối diện với trí tuệ là ngu si; tín là thành tín. Năm chữ này, trong Phật pháp giảng, chính là “Thập Thiện Nghiệp Đạo”, “Thập Thiện Nghiệp Đạo” có thể làm cho tốt, sống lâu trăm tuổi, bách bệnh bất sanh. Nếu như cư dân trên trái đất người người đều nghĩ “Thập Thiện Nghiệp Đạo”, trái đất cùng với thế giới Cực Lạc liền không có hai dạng. Thế giới Cực Lạc sở dĩ tốt đẹp, đều là do những bậc thượng thiện cùng hội tụ ở một chỗ.
Lời dạy bảo của Thánh Hiền, là tinh hoa của chân lý, cho nên quyết định không thể xem thường. Nếu chân thật có thể đem “Đệ Tử Quy” làm cho được, thì nhân nghĩa lễ trí tín đều nằm trong đó rồi. Nếu như tâm thái của chúng ta rất chân chánh, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác không vi phạm quy luật của đại tự nhiên, xã hội rất nhanh khôi phục sự an định, tai nạn trên thế giới sẽ dần dần giảm thiểu; nếu như vi phạm rồi, ý niệm đồng thời đồng xứ đầy đủ tương ưng, núi sông đại địa liền có cảm ứng, liền biến thành xấu đi, thế thì xã hội làm sao có thể không loạn! Phật ở trong kinh điển nói với chúng ta, thủy tai là từ tham lam mà ra; hỏa tai (nhiệt độ trái đất hiện nay tăng lên, thuộc về hỏa), từ đâu mà ra? sân khuể; phong tai từ đâu mà ra? Ngu si. Cho nên, năm thứ độc tham sân si mạn nghi là nguyên nhân của mọi bệnh tật, “nhân nghĩa lễ trí tín” là thuốc.
Hiểu được đạo lý này, chúng ta có thể từ trên tâm thái, khống chế cơ thể của chính mình không sanh bệnh, nếu có bệnh rồi, tự mình đem tâm địa thả cho thanh tịnh, nghĩ về điều chính diện, đem ý niệm chuyển thành thiện, niệm Phật, bảo trì tâm bình khí hòa, dẫu cho chịu thiệt thòi lớn, hoặc là gặp phải nghịch cảnh, cũng không oán hận người, không phát tỳ khí; thuận cảnh, cũng không hoan hỷ. Vĩnh viễn đặt cái tâm của mình vào sự bình thường, thanh tịnh, bệnh độc trong cơ thể sẽ tự tự nhiên nhiên khôi phục trạng thái bình thường, cơ thể liền không suy yếu không già yếu. Thí nghiệm nước của Tiến sĩ người Nhật Giang Bản (Masaru Emoto) đã nói rõ điểm này, tâm thái chỉ cần tốt, tất cả những tế bào không bình thường đều khôi phục sự bình thường. Khôi phục sự bình thường, chính là khỏe mạnh nhất. Điều này có sự chứng minh của khoa học, không phải là giả. Cho nên nếu có oán khí, phiền não, phát tỳ khí, khẳng định sẽ sanh bệnh. Nếu hy vọng tướng mạo của chính mình được tốt đẹp, thân thể khỏe mạnh, thường suy nghĩ “chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi”, lấy “nhân nghĩa lễ trí tín” làm tiêu chuẩn tư tưởng hành vi của chính mình, thì có thể trị khỏi bệnh.
Y học Trung Quốc nói y dược đối với hiệu quả chữa bệnh cao nhất chỉ chiếm ba phần, bảy phần là tâm thái. Tâm thái hễ chuyển biến, y dược không cần nữa, bệnh cũng có thể khỏi. Điều này không có gì lạ lùng, có căn cứ lý luận, quyết định không có sự thần bí, đây là tâm lý ảnh hưởng đến sinh lý. Vì vậy, tâm lý khỏe mạnh thì sinh lý nhất định khỏe mạnh, tâm lý không khỏe mạnh thì muốn thân thể khỏe mạnh sẽ vô cùng khó khăn. Dù có vận động, bồi bổ như thế nào cũng không đạt được hiệu quả.
Phật pháp giảng đạo lý cho chúng ta, “hoặc, mê, si, tình, sự đồng danh dị” (sự việc là một nhưng tên gọi khác nhau), là một sự việc, nhưng có sự nông sâu khác nhau. Một niệm bất giác là hoặc; hoặc nếu như sâu rồi, thì biến thành mê, mê so với hoặc sâu hơn, hoặc cạn mê sâu; mê càng sâu hơn thì là ngu si; sự si nghiêm trọng chính là tình chấp. Có đủ hoặc, mê, si, tình là phàm phu. Phàm phu ba đường ác thì si tình nặng, người, trời thì mê hoặc nặng; nếu như đến pháp giới bốn bậc Thánh, chỉ có “hoặc”, mê, si, tình đều không có. Hoặc như thế nào? Rất cạn. Cái hoặc này vừa phá, thì thoát ly mười pháp giới, minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ, thành Phật rồi. Cho nên, buông xả thất tình ngũ dục, thân tâm khỏe mạnh, trí tuệ hiện tiền. Phật ở trên kinh nói với chúng ta, đoạn kiến tư phiền não, thành chánh giác, chính là A-la-hán; đoạn trần sa, thành Chánh đẳng Chánh giác, chính là Bồ-tát; không khởi tâm, không động niệm, chính là hoặc không còn nữa, thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì thành Phật rồi. Cho nên nếu như xem thường Phật Bồ-tát, xem thường kinh giáo, lời dạy bảo của Thánh nhân, thì khoảng cách với tai nạn không còn xa nữa. Đối với thân thể của chính mình mà nói, khoảng cách với bệnh khổ liền gần rồi; đối với hoàn cảnh mình cư trú mà nói, khoảng cách với tai nạn rất gần rồi.
Muốn thân thể không có mao bệnh, hoàn cảnh cư trú tốt đẹp, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, Phật dạy chúng ta: “Siêng tu giới định tuệ, dứt sạch tham sân si”, từ nội tâm đem bệnh độc hóa giải đi, mầm bệnh nhổ bỏ đi, thì có thể ứng phó hữu hiệu với tất cả mọi tai nạn, cá nhân thân tâm khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc, sự nghiệp thuận lợi, xã hội an định, thế giới hòa bình. Người chân thật thông đạt rõ ràng, bệnh tật của thân tâm không còn nữa, vui vẻ biết bao! Nơi cư trú, núi sông đại địa sẽ không có tai nạn, khí hậu bình thường, phong tai, thủy tai, hỏa tai đều không có. Vì sao vậy? Cảnh tùy tâm chuyển, tâm thái bình thường, núi sông đại địa, cảnh giới bên ngoài cũng đều bình thường; tâm không bình thường, hoàn cảnh bên ngoài liền không bình thường. Cho nên thay đổi tai biến dị thường của trái đất, cần phải bắt đầu sửa đổi từ tâm địa, tâm sửa rồi, tai nạn liền không còn nữa, đây là đạo lý lớn! Vấn đề mà khoa học không thể giải quyết, trong Phật pháp toàn bộ đều giải quyết được rồi.
Học Phật học chính là sự khai mở trí tuệ, trí tuệ cùng với tri thức là hai chuyện hoàn toàn khác nhau, dùng đệ lục ý thức đi học, thứ học được là tri thức, buông xả phân biệt chấp trước, trí tuệ liền có thể hiện tiền, trí tuệ hiện tiền có thể giải quyết được hết thảy vấn đề, hơn nữa, không có di chứng. Học mở trí tuệ nhất định phải trì giới, “do giới được định, do định mở tuệ”. Chư Phật Như Lai, Tổ sư Đại đức đều xem trọng giới luật, không có giới luật không mở được trí tuệ. Đạo lý này, thực sự là thấy rõ ràng thấu hiểu rồi, thật sự đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện; tu hết thảy thiện không dính mắc tướng, thì sẽ được định, được tam muội, sẽ khai ngộ chứng quả. Nếu dính mắc tướng thì đó là thiện pháp của cõi người cõi trời, quả báo ở cõi người cõi trời, không thoát khỏi lục đạo luân hồi.
Sự thực tiễn của “siêng tu giới định tuệ, dứt sạch tham sân si” cần phải dựa vào sự dạy học. Thích-ca Mâu-ni Phật bốn mươi chín năm ngày ngày dạy học, chính là dạy chúng ta siêng tu giới định tuệ, dứt sạch tham sân si. Phật pháp không có gì khác, chính là dạy học. Chúng ta học Phật liền phải hướng đến Thích-ca Mâu-ni Phật học tập, phải làm ra tấm gương tốt cho hết thảy chúng sanh, để đại chúng xã hội nhìn thấy Phật giáo chân thật — nền giáo dục Phật đà.
Học bắt đầu từ đâu? Bốn cái gốc — “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp”, “Sa-di Luật Nghi”, ngày ngày giảng, ngày ngày học, phải thật sự làm. Bốn môn này là học đức hạnh, việc giảng dạy của Nho, Phật đều đem đức hạnh đặt ở vị trí thứ nhất, đây là căn bản, giáo dục từ nơi này mà bám rễ. Không có đức hạnh, đó là nền giáo dục không có gốc rễ, tương lai phiền phức sẽ lớn rồi! Phiền phức này chính là xã hội động loạn, tâm tình bất an. Đối với bản thân mà nói, tâm nông nổi xốc nổi, trong đời này không có phương hướng, mục tiêu, khổ không thốt nên lời, cả đời này cứ như vậy mà trôi qua trong tạo nghiệp, tạo nghiệp thì luôn luôn phải chịu báo, nghiệp thiện, thì có quả thiện; nghiệp ác, nhất định có ác báo. Cho nên bốn cái gốc này quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Ngạn ngữ Trung Quốc có nói “không nghe lời người già, chịu thiệt thòi trước mắt”, người già là ai? Thánh Hiền, Phật Bồ-tát. Không nghe lời người già, thân thể, có bệnh khổ; đủ loại tai nạn tự nhiên của môi trường đều xuất hiện rồi.
Trên thế giới hiện tại tai nạn nhiều như vậy, chúng ta nhất định phải đem Phật giáo làm cho hưng vượng lên, cứu thế cứu người. Bất luận tại gia, xuất gia, ắt phải bắt đầu làm từ chính bản thân mình, tuân thủ giáo pháp của tổ tông, Phật Bồ-tát, nghiêm túc nỗ lực học tập, đem bốn cái gốc này cắm xuống, sau đó một môn thâm nhập. Làm thành công rồi, đây là phước của một phương, cũng là phước của toàn thế giới. Chúng ta mọi người nhất định phải phát tâm, gánh vác trách nhiệm này, tiền đồ quang minh vô lượng!
Xem bài viết gốc: Tại đây
Sám Trừ Nghiệp Chướng Như Thế Nào?
Dứt sạch nghiệp chướng phước tuệ hiện tiền
Năm xưa, khi tôi mới bắt đầu học Phật, Đại sư Chương Gia dạy tôi: “Trong cửa Phật, có cầu ắt ứng”. Lời này nói rất khẳng định, không có tơ hào nghi hoặc nào. Nhưng có người cầu thì có cảm ứng, có người cầu lại không có cảm ứng, nguyên nhân là vì sao? Đại sư nói với tôi, bởi vì người đó có nghiệp chướng; nghiệp chướng sám trừ rồi, nhất định có cảm ứng. Chúng ta đọc “Liễu Phàm Tứ Huấn”, từ đoạn đối thoại giữa Thiền sư Vân Cốc và tiên sinh Liễu Phàm liền có thể hiểu rõ, tiên sinh Liễu Phàm cho rằng trong mạng có thì cầu được, trong mạng không có thì cầu không được. Thiền sư Vân Cốc khai thị: “Cầu phú quý được phú quý, cầu con cái được con cái, cầu trường thọ được trường thọ.” Cầu thành Phật đều có thể làm Phật, có cầu ắt ứng, không có gì là không cầu được, điều này quá thù thắng rồi, vô cùng thu hút người khác. Vì sao có thể cầu được? Bởi vì tự tánh vốn viên mãn đầy đủ tất cả, chỉ cần tiêu trừ nghiệp chướng, thì có cầu ắt ứng.
Sám hối nghiệp chướng, bất luận là tông phái, pháp môn nào, đều liệt nó vào pháp môn tu học quan trọng lúc ban đầu, bởi vì có nghiệp chướng thì không thể tiến bộ, không những không thể tiến bộ, mà ngay cả cửa của Phật pháp Đại thừa cũng không vào được. “Sám hối”, Sám là tiếng Phạn, Hối là tiếng Trung, danh từ này là sự kết hợp giữa Phạn và Hoa. Sám là trần lộ tiên tội (trần thuật, phát lồ). Những tội nghiệp đã tạo từ trước, tơ hào cũng không thể giấu giếm; Hối là sau không làm lại, sửa đổi lỗi lầm quá khứ mà tu dưỡng cho tương lai. Chúng ta học Phật, phải hướng về Phật Bồ-tát, hướng về đại chúng mà cầu sám hối, tội nghiệp có nặng đến đâu cũng không cần phải sợ, chỉ cần chịu sám hối, vừa hối liền tiêu sạch hết.
Nghiệp là tạo tác, nghiệp có thiện, có ác, có vô ký. Không thiện không ác, gọi là vô ký. Nghiệp có nhiễm có tịnh, trong mười pháp giới, lục đạo là nhiễm, bốn pháp giới bậc Thánh là tịnh. Trong nhiễm nghiệp có thiện có ác, thiện ác có tầng thứ không cao, nghiệp thiện sanh vào ba đường thiện, nghiệp ác thì sanh vào ba đường ác. Học Phật, chuyện lớn nhất chính là khai ngộ chứng quả, mà thiện và ác đều là chướng ngại cho việc tu hành chứng quả. Chỉ có tịnh nghiệp không có thiện ác, chúng ta gọi là thuần thiện thuần tịnh, hai bên thiện ác đều không còn nữa thì mới là thuần thiện, mới là tịnh nghiệp.
Trong lục đạo, tiêu chuẩn của nghiệp thiện chính là “Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo”, chúng ta nhất định phải tuân thủ lời Phật dạy, bắt đầu học từ nơi này. Mục nhỏ của mười nghiệp thiện là “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, người người đều học “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, chính là học “Thập Thiện Nghiệp Đạo”. Học Phật trước tiên phải học làm người, làm người còn chưa làm tốt, thì làm sao có thể học Phật?
Phật dạy chúng ta làm, chúng ta thật thà mà làm; Phật dạy chúng ta không thể làm, quyết định không vi phạm, như vậy mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng của chúng ta. Nghiệp ác ít đi rồi, phiền não ít đi rồi, trí tuệ liền tăng trưởng, phước báo cũng tăng trưởng, thực sự là không cầu cũng đến. Thiện ác giống như sáng tối vậy, tối tiêu trừ rồi, ánh sáng nhất định hiện tiền; sáng tiêu trừ rồi, bóng tối nhất định hiện tiền. Thiện ác là hai mặt của âm dương, chỉ cần tiêu trừ nghiệp ác, nghiệp thiện tự nhiên hiện tiền; nỗ lực tu thiện, nghiệp ác tự nhiên sẽ tiêu mất.
Tôi thường miễn lệ các bạn đồng học, trước tiên phải tiêu trừ chướng ngại căn bản trong nội tâm của chính mình, điều này gọi là chân chính sám hối. Thế nào là chướng ngại căn bản? Thế Tôn đem nghiệp chướng của tất cả chúng sanh nói đến chỗ rốt ráo, tổng kết lại thành ba món độc phiền não “tham sân si”, tham sân si có thể sanh ra mọi nghiệp ác. Ngược lại, “không tham, không sân, không si”, gọi là ba thiện căn, tất cả mọi thiện pháp trên thế gian đều từ đây mà sanh ra, đây là tìm được cái căn bản rồi.
Tập khí bệnh tật của chúng ta, luôn luôn có một ý niệm sai lầm đối với tất cả người, sự, vật ── khống chế; từ khống chế lại tăng trưởng thành chiếm hữu. Ý niệm này từ đâu mà ra? Từ tham sân si. Đối với tất cả pháp thế xuất thế gian, quyết định không có ý niệm khống chế, chiếm hữu, thì có thể tâm khai ý giải, sám hối nghiệp chướng liền có thể tu thành công. Rõ ràng biết khống chế, chiếm hữu là sai lầm, vì sao vẫn buông không xuống? Không biết chân tướng sự thật. Cho nên thầy dạy chúng ta nhìn thấu, buông xả. Vì sao buông không xuống? Chưa nhìn thấu, cho rằng tất cả mọi hiện tượng là thật, thật sự có, cho nên mới khởi ý niệm tham sân si, khống chế chiếm hữu. “Bát-nhã Kinh” nói “Tất cả pháp không có sở hữu, rốt ráo là không, không thể đạt được”, chân thật biết “tất cả pháp không có sở hữu, rốt ráo là không, không thể đạt được”, bạn còn có ý niệm chiếm hữu, khống chế nữa không? Không còn nữa. Bao gồm cả thân thể của chính mình, chúng ta đều không thể khống chế chiếm hữu, huống hồ là vật ngoài thân?
Cổ đại đức nói rất hay: “Tùy duyên tiêu cựu nghiệp, mạc cánh tạo tân ương” (Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, đừng tạo thêm tai họa mới), tân ương chính là nghiệp chướng, tùy duyên mới có thể tiêu nghiệp chướng, không tùy duyên chính là chế tạo nghiệp chướng, làm sao có thể tiêu trừ được? Niệm niệm ở chánh đạo, hành hành ở chánh đạo, trí tuệ đức tướng vốn có của tự tánh sẽ tự nhiên hiện tiền. Con người ở thế giới Cực Lạc, thế giới Hoa Tạng tùy duyên, không có cái tâm phan duyên, nên được đại tự tại. Bạn có cái tâm phan duyên, dẫu cho đạt được rồi cũng không tự tại. Ví dụ cầu tài, tiền tài đạt được rồi, tự tại không? Không tự tại, lo được lo mất, khổ không thốt nên lời. Cái gì cũng không có, cái gì cũng không thiếu thốn, tháng ngày này tự tại vui vẻ biết bao! Có thì tốt, không có cũng tốt, chuyện gì cũng không để ở trong lòng, thì sẽ tiếp cận với tự tánh rồi.
Quay về với tự tánh, tự tánh là viên mãn rốt ráo không có mảy may khiếm khuyết nào. Đây chính là mục tiêu cuối cùng của chư Phật Bồ-tát, tất cả Thánh Hiền tu học, nhà Phật gọi là “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”, đó thật sự gọi là được đại tự tại. Điều tiên sinh Phương Đông Mỹ đã nói là “Sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh”, người người mong cầu nhưng lại cầu không được. Nói thật ra không phải là cầu không được, mà là họ không chịu buông bỏ nghiệp chướng, chỉ cần có thể buông bỏ nghiệp chướng, thì người người đều cầu được. Vì sao vậy? “Kinh Hoa Nghiêm” nói: “Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng của Như Lai.” Trí tuệ đức tướng là thứ vốn có trong tự tánh của chúng ta, thứ vốn có vì sao không thể thọ dụng? Bởi vì có nghiệp chướng. Tuy có nghiệp chướng, nhưng tánh đức vẫn viên viên mãn mãn, hoàn toàn không hề tổn giảm, chỉ là bị chướng ngại không thể thấu lộ ra mà thôi. Cái chướng ngại này giống như mây che mất mặt trời vậy, cho nên chỉ cần chúng ta chịu buông bỏ vọng tưởng phân biệt chấp trước, thì nghiệp chướng liền được sám trừ rồi.
Làm thế nào để sám hối? Sám hối chân chính không phải là hối hận, hối hận không giúp được việc gì, mà là biết sai có thể sửa, sau không làm lại. Cổ nhân nói rất hay, “nhân phi Thánh Hiền, thục năng vô quá” (con người không phải Thánh Hiền, ai mà không có lỗi lầm), phàm phu đều có lỗi lầm, biết được lỗi lầm thì phải đem nó sửa đổi lại, về sau không thể tái phạm nữa. Nhan Hồi là người chân chính đang tu pháp sám hối, Khổng tử đối với ông ấy vô cùng tán thán, nói ông ấy “không lặp lại lỗi lầm”, lỗi lầm của ông ấy chỉ có một lần, lỗi lầm tương tự tuyệt đối sẽ không phạm lại nữa, đây gọi là chân sám hối. Tuyệt đối không phải là làm sai chuyện gì, ở trước mặt Phật Bồ-tát cầu xin tha thứ, ngày mai lại làm tiếp, làm rồi lại đi cầu nguyện, cái này không có tác dụng gì, đây là giả, không phải chân tu hành. Chân tu hành, về mặt hình thức ở trước mặt Phật Bồ-tát phát lồ cầu sám hối, sau khi sám hối rồi, tuyệt không tái phạm. Chân thật dụng công, phải ngày ngày phát hiện ra lỗi lầm của chính mình, bỏ ác theo thiện, sửa đổi lỗi lầm quá khứ mà tu dưỡng cho tương lai.
Sám hối phải bắt tay vào từ nơi thô trọng nhất, thô trọng nhất không gì qua được chấp trước. Trước tiên phải tìm ra cái mao bệnh nghiêm trọng nhất của chính mình, ví dụ như tâm tham của tôi nặng, trong tâm tham có tham tài, tham danh, tham lợi, tham sắc, tập khí phiền não nào nặng nhất, thì trước tiên đem cái đó sám trừ, cái tương đối nhẹ thì liền dễ dàng rồi, sân khuể cũng là như vậy. Chỉ cần chúng ta đối với người, đối với sự, đối với vật, đối với pháp thế gian, đối với Phật pháp đều không chấp trước, thì có thể bước vào cửa Phật, bước vào cửa Phật chính là bước vào cánh cửa của sự giác ngộ. Nếu như bạn không chịu buông xả, tuy học Phật, cũng không thể bước vào cửa Phật, vì sao vậy? Không giác ngộ, vẫn là mê hoặc điên đảo. Cho nên, sám hối không thể không có trí tuệ, trí tuệ mới có thể tiêu nghiệp chướng.
Trí tuệ từ đâu mà ra? Phương tiện nhất chính là nghe kinh học giáo. Nghe kinh nhiều, đọc tụng nhiều, trường kỳ tiếp nhận sự huân tập của kinh giáo, thời gian lâu rồi liền khởi tác dụng của định, định mới có thể mở tuệ. Cho nên chúng ta giảng tu hành, đặc biệt là người mới học, tu cái gì? Chính là tu sám hối, chân chính tu sám hối chính là sửa lỗi. Mỗi ngày phát hiện lỗi lầm của bản thân, đây gọi là khai ngộ; phát hiện lỗi lầm và đem lỗi lầm đó sửa đổi đi, đây gọi là tu hành. Hành là hành vi sai lầm, tu là tu sửa, sửa chữa lại những hành vi sai lầm thì xưng là tu hành. Tập khí tật xấu sai lầm mà không chịu sửa đổi, thì không phải là tu hành. Đặc biệt là giới luật, chú trọng vào hành, người xuất gia tốt nhất là dùng “Sa-di Luật Nghi”, đây là bổn phận của người xuất gia; đồng học tại gia thì dùng “Đệ Tử Quy”. Nếu người xuất gia cảm thấy việc tu hành có khó khăn, tập khí quá nặng, cũng bắt đầu học từ “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”.Hai môn này tu tốt rồi, lại học “Sa-di Luật Nghi” thì một chút cũng không khó, bởi vì đã có cái gốc rồi.
Sám hối nghiệp chướng, ngày trước bất luận là tại gia hay xuất gia, đều dùng “Công Quá Cách”, phương pháp này rất thô kệch, nhưng đối với người mới học, người có căn tánh trung hạ lại vô cùng hữu hiệu. “Hôm nay, tôi đã làm những việc tốt nào, những việc sai nào?” Ghi chép lại, việc thiện phải tăng cường, phải mở rộng; lỗi lầm, phải sửa đổi, sau không tái phạm.
Người chân chính dùng Công Quá Cách, người nghiêm túc tu hành, ba năm không thành Thánh nhân, thì cũng là bậc hiền nhân quân tử, là người tốt chân chính ở thế gian. Cho nên người tu hành không thể một ngày không biết lỗi, một ngày không biết lỗi, thì ngày này liền luống qua rồi, phải biết lỗi sửa lỗi, công phu mới có thể đắc lực. Người chân chính muốn tu học, không thể không tự ái, không tự ái làm sao có thể yêu người? Lại làm sao có thể nhận được sự yêu quý của người khác? Tự ái là gì? Bản tánh vốn thiện, tâm hành bất thiện chính là không tự ái. Người học Phật nhất định phải nặn bản thân mình thành một vị Phật, đây là chân chính tự ái. Quay về với tự tánh, quay về với vị Phật vốn có, tất cả pháp thế xuất thế gian đều không nhiễm trước, đây là chân sám hối.
Chúng ta học “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh”, mục tiêu chính là sám hối nghiệp chướng. Trong đời sống sinh hoạt hằng ngày phải học chịu thiệt thòi, cổ nhân Trung Quốc thường nói “chịu thiệt thòi là phước”, đừng sợ chịu thiệt thòi mắc lừa, càng không thể có ý niệm chiếm tiện nghi; niệm niệm muốn chiếm tiện nghi của người khác, thì đó là sai lầm rồi. Có thể hoan hỷ tiếp nhận sự phê bình của người khác, bất luận họ là thiện ý, ác ý, phỉ báng cũng được, lăng nhục cũng được, thậm chí là hãm hại, chúng ta từ trong đó học cái tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, không có oán hận, không có sân khuể, quyết định không có ý niệm báo thù. Phải tâm bình khí hòa, nghiệp chướng liền được sám trừ rồi; nếu tâm vẫn còn không bình tĩnh, vẫn còn oán hận, thì chính là tạo nghiệp.
Nếu người khác lăng nhục tôi, hãm hại tôi, chúng ta phải cảm kích họ, vì sao vậy? Nếu không nhờ họ đối xử với tôi như vậy, trong tâm tôi vẫn còn nhiều phiền não tập khí như thế này, tôi đã không phát hiện ra. May nhờ họ dùng phương thức này để đối xử với tôi, khơi gợi phiền não tập khí của tôi ra, tôi cảm kích họ, nếu không thì tôi làm sao sám hối nghiệp chướng? Nếu chịu một chút uỷ khuất nhỏ bé liền rất khó chịu, phải phát tỳ khí, phải trả thù, đây là kẻ tiểu nhân, không phải người quân tử, làm sao có thể có thành tựu?
Ngạn ngữ Trung Quốc thường nói “lượng đại phước đại”, tâm lượng quá nhỏ, lấy đâu ra phước báo? Không có phước, lấy đâu ra trí tuệ? Cổ nhân nói là “phước chí tâm linh” (phước đến tâm sáng), người có phước lớn, trí tuệ liền hiện tiền. Phước và tuệ thường có mối quan hệ liên đới, trong phước báo chân chính có trí tuệ, sức chứa lớn có thể bao dung, thứ gì cũng có thể dung nạp được. Con người phải sống trong một thế giới cảm ân, thí nghiệm nước của Tiến sĩ Masaru Emoto nói với chúng ta, “tình yêu, cảm ân” là hạt nhân của vũ trụ. Ông đã trải qua hàng chục vạn lần thí nghiệm, chính là bức hình kết tinh nước của tình yêu và cảm ân là đẹp nhất. Con người là có tâm mà cảm, nước không có tâm mà hiện mà ứng.
Vì vậy, phải học bao dung nhẫn nại, phải học tập trong bất kỳ trường hợp nào cũng không phát tỳ khí. Phát tỳ khí mắng đối phương, đối phương bị hại ba phần, chính mình bị hại bảy phần. “Một niệm tâm sân khởi, trăm vạn cửa chướng mở”, phát tỳ khí đối với bản thân là tổn thất lớn nhất, y học hiện nay cũng nói phát tỳ khí tiêu hao năng lượng lớn nhất. Cho nên, người thích phát tỳ khí là kẻ ngu muội, không phải người có trí tuệ, chúng ta nhất định phải tự ái, nhất định phải đoạn trừ phiền não tập khí. Sinh hoạt phải thanh đạm, thuận cảnh không sanh tham luyến, nghịch cảnh không sanh sân khuể, đây là chân chính yêu thương bản thân, thân thể nhất định khỏe mạnh sống lâu.
Bồ-tát Phổ Hiền dạy chúng ta lễ kính chư Phật, đối với bất kỳ một người nào cũng phải tôn kính, đối với bất kỳ ai tâm địa cũng phải thanh tịnh, bình đẳng. Người khác có khó khăn, chúng ta tận tâm tận lực giúp đỡ, bởi vì tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật, làm sao có thể không tôn kính? Hiện tại họ nghiệp chướng quá nặng, tỏ ra rất ngu si, nói không chừng họ vừa sám hối giác ngộ, nghiệp chướng buông xuống rồi, thành tựu của họ còn cao hơn tôi, điều này rất khó nói, cho nên đối với người nhất định phải tôn trọng. Bản thân làm như vậy, dạy người khác cũng là làm như vậy. Chúng ta có cái tâm sám hối như vậy, liền có thể đem những sự đối lập, mâu thuẫn đối với tất cả người, sự, vật trong nội tâm chúng ta sám trừ hóa giải đi.
Vũ trụ là một thể, hài hòa không có đối lập. Giữa người với người vốn dĩ cũng không có đối lập, sự đối lập là sanh ra từ tự tư tự lợi, tham sân si, cái gốc vẫn là ở tham sân si. Không có tham sân si, không có tự tư tự lợi, thì lấy đâu ra đối lập? Như vậy bạn mới biết tất cả Thánh Hiền thế xuất thế gian, không có cái ý niệm đối lập.
Đọc kinh nghe giáo là sám hối nghiệp chướng, là phương pháp tốt nhất giúp đỡ khai ngộ, buông xả, tôi nếu không phải là trong bao nhiêu năm nay ngày ngày đọc kinh, ngày ngày buông xả, thì làm gì có thành tựu? Đại sám hối đại ngộ, đại buông xả đại thành tựu, triệt để sám trừ nghiệp chướng liền thành Phật rồi, vẫn chưa triệt để buông xả, chính là nghiệp chướng chưa sám trừ sạch sẽ.
Tổng cương lĩnh của tu hành nằm ở đâu? Kỳ thực những cương lĩnh, nguyên lý nguyên tắc này, Phật đều đã giảng cho chúng ta nghe rồi, chính là thay đổi tư tưởng sai lầm, không tái phạm những lỗi lầm tương tự nữa. Thầy Lý Bỉnh Nam trước đây thường nhắc nhở chúng ta “cải tâm”, cải tâm chính là cải chánh những ý niệm sai lầm. Quan trọng nhất, phải đem những ý niệm tự tư tự lợi sửa đổi lại, khởi tâm động niệm vì chúng sanh trong pháp giới, vì chư Phật Bồ-tát, đây là trên cầu dưới hóa, cầu chư Phật Bồ-tát gia trì, giúp đỡ tất cả chúng sanh chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành Thánh, đây là cương lĩnh chân chính. Chúng ta phải niệm niệm có cái tâm này, niệm niệm có cái nguyện này, đây là chân chính sám hối.
Sám trừ nghiệp chướng, thân tâm khỏe mạnh
【Nhược dục sám trừ nghiệp chướng, tức đương tức tự niệm vô lượng kiếp trung, do tham sân si mạn nghi, khởi phiền não oán hận nộ, tạo tác chư ác nghiệp, chướng tế chân tánh. Kim đương thanh tịnh tam nghiệp, ư chư Phật Bồ-tát đại chúng tiền, thành tâm sám hối, bất cảm phú tàng.】
(Nếu muốn sám trừ nghiệp chướng, thì nên tự nghĩ trong vô lượng kiếp, do tham sân si mạn nghi, khởi phiền não oán hận nộ, tạo tác các nghiệp ác, che lấp chân tánh. Nay nên thanh tịnh ba nghiệp, ở trước chư Phật Bồ-tát và đại chúng, thành tâm sám hối, không dám che giấu.)
“Tự nghĩ trong vô lượng kiếp”, không chỉ là đời này, chúng ta có đời quá khứ, đời quá khứ vẫn còn đời quá khứ. Từ khi chúng ta đọa lạc vào trong lục đạo, không biết đã sinh tử bao nhiêu lần rồi, từ vô lượng kiếp đến nay, do tham sân si mạn nghi, khởi phiền não oán hận nộ, tạo tác các loại nghiệp ác. Tham sân si mạn nghi, đây là căn bản phiền não, là cội nguồn của tất cả tội nghiệp. Đây không phải đời này học được, mà là phiền não sinh ra đã có, là thứ mang theo từ đời này sang đời khác. Hơn nữa, mỗi lần luân hồi sẽ gia trọng thêm một chút, cho nên cái nghiệp nhân này rất nghiêm trọng, cũng vô cùng phiền phức.
Nhân nếu không có duyên, nó sẽ không kết quả. Duyên là gì? Duyên chính là ── khởi phiền não oán hận nộ. “Phiền não oán hận nộ”, không phải sinh ra đã có, có tham sân si mạn nghi thì sẽ khơi dậy phiền não oán hận nộ, tạo tác các nghiệp ác. Nghiệp ác che lấp chân tánh, khiến chúng ta không thể minh tâm kiến tánh. Không những che lấp chân tánh, nghiêm trọng hơn còn khiến bạn sinh ra một thân đầy những bệnh kỳ quái.
Phiền tổn thương thận, mắc bệnh thận; não tổn thương phổi mắc bệnh ung thư phổi, lao phổi. Oán tổn thương tỳ; hận tổn thương tim; nộ tổn thương gan. Đây là nói về nguyên nhân sinh bệnh của bạn. Ba món độc phiền não tham sân si, không những chướng ngại tự tánh, chướng ngại trí tuệ của bạn, chướng ngại bạn kiến tánh, đồng thời cũng mang đến bệnh tật cho bạn.
Phật dạy người ta vừa bước vào cửa Phật phải trì ngũ giới, có đạo lý! Ngũ giới có thể trị bệnh, vì sao vậy? Không sát sanh, tâm địa từ bi, tâm từ bi dưỡng gan, không mắc bệnh gan, đây là chỗ tốt của việc không sát sanh; không dâm dục, dưỡng tim; không vọng ngữ, dưỡng tỳ; không trộm cắp, dưỡng phổi; không uống rượu, dưỡng thận. Cho nên, ngũ giới thập thiện đối với sức khỏe thân tâm của con người có rất nhiều chỗ tốt.
Hiện tại chúng ta phải sám trừ nghiệp chướng, trước tiên phải thanh tịnh ba nghiệp, ở trước chư Phật Bồ-tát và đại chúng, quan trọng nhất là đại chúng, ở trước đồng tu đạo hữu, thành tâm sám hối, không dám che giấu.
Chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác, trước tiên nghĩ xem có thẹn với cha mẹ hay không, thẹn với cha mẹ là bất hiếu. Lại suy rộng ra xa hơn, có thẹn với tổ tông hay không, điều này đều thuộc về hiếu đạo. Thẹn với tổ tông, thẹn với cha mẹ, trên đầu bạn sẽ mọc bệnh. Đó là người bề trên của chúng ta!
Phải phản tỉnh nhiều hơn, ở trong gia đình, người chồng có xứng đáng với vợ hay không? Có xứng đáng với con cái hay không? Làm con cái, có xứng đáng với anh chị em cùng trang lứa hay không? Xứng đáng với bậc trưởng bối trong nhà hay không? Ở trường học có thể nghe lời dạy bảo của thầy cô, nghiêm túc học tập hay không? Đây là chỉ phương diện làm người.
Đối với sự việc, làm lợi cho bản thân mình là chuyện nhỏ, làm lợi cho đại chúng chính là chuyện tốt. Nếu như việc này có lợi ích đối với quốc gia dân tộc, xã hội an định hòa bình, thì chính là việc tốt lớn hơn nữa. Chúng ta nên giúp đỡ họ, khởi tâm động niệm vì người khác, không vì chính mình.
Vì người khác mới chân chính là vì chính mình, vì chính mình không ai là không tạo nghiệp. Nghiệp là tạo ra như thế nào? Tội là từ đâu mà đến? Bệnh khổ là từ đâu mà đến? Quả báo ba đường từ đâu mà ra? Đều là che giấu, che đậy tội lỗi của chính mình, rồi tích lũy thành nghiệp báo.
Tạo tác việc ác không dám nói cho người khác biết, giấu lâu rồi cơ thể liền mắc bệnh. Bệnh là hoa báo, hoa báo là hiện thế báo, quả báo ở ba đường, tương lai biến thành súc sanh, biến thành ngạ quỷ, đọa địa ngục, cho nên nhân quả là thật không phải giả. Chúng ta niệm Phật niệm cái gì? Đem tâm thanh tịnh niệm ra, quyết định không thể ghi nhớ lỗi lầm của người khác, thấy người này không phải, thấy người kia không phải, trong tâm bạn rất dơ bẩn, hoàn toàn là bị ô nhiễm. Tâm của chúng ta vốn dĩ là tốt, là lương tâm, chúng ta lấy lương tâm làm thùng rác của người khác, đây là ngu si không có trí tuệ, cho nên quyết định không chứa đựng cái sai của người khác, phải chứa đựng công đức của người khác, ghi nhớ chỗ tốt của người khác, không ghi nhớ lỗi lầm của người khác. Đem lỗi lầm của người khác ghi nhớ trong tâm chúng ta, tâm chúng ta liền bị ô nhiễm rồi, thì chính là lỗi lầm của bản thân mình. Học cách thường nhìn chỗ tốt của người khác, đừng nhìn chỗ xấu của người khác, “lễ kính chư Phật, rộng tu cúng dường”, thì mới có thể làm được. Thường nhìn chỗ tốt của người khác, không nhìn chỗ xấu của người khác, tâm sám hối mới có thể hiện tiền, công phu tu học mới có thể đắc lực.
Chúng ta phải biết sửa lỗi, sửa lỗi trước, mới có thể tu thiện. Nếu lỗi không sửa, tu thiện cũng là giả, không phải thật. Cho nên thứ nhất phải đem thân tâm của mình rửa cho sạch sẽ.
Tất cả chúng sanh, bên trong có phiền não oán hận nộ, bên ngoài có sự mê hoặc của người, sự, vật, có thể ở trong môi trường này, không động tâm, đây gọi là chân công phu. Chân công phu dựa vào đâu? Dựa vào sự tin sâu nhân quả. Tôi bản thân khổ, chết đói sẽ không đọa địa ngục. Tôi nếu như không cam tâm chết đói, đi cướp đoạt của người khác, thì phải vào địa ngục. Bạn nói cái nào đúng? Chết đói, tôi không chiếm tiện nghi của người khác một chút nào, đức hạnh đầy đủ rồi, không làm hại người khác, sau khi chết sanh lên cõi trời. Nếu như khởi tâm động niệm, tổn người lợi mình, không ai là không đọa vào ba đường, chuyện này có thể làm sao? Cho nên chết đói là chuyện nhỏ, phá giới là chuyện lớn.
Phật ở trong kinh nói với chúng ta “cảnh tùy tâm chuyển”. Tâm mình phải thiện, ngôn hạnh thiện, thân thể sẽ tốt, bệnh gì cũng không có. Tâm không thiện, hành vi không thiện, thì tật xấu sẽ rất nhiều. Bạn muốn thân thể vĩnh viễn không sanh bệnh, bạn hãy vĩnh viễn đừng sanh ác niệm, bạn sẽ vĩnh viễn không sanh bệnh. Hiện nay bệnh của cơ thể rất nhiều, phải đem ý niệm ác, ý niệm bất thiện buông xuống, ý niệm thiện khơi gợi ra, thì bệnh liền khỏi. Thân thể cùng với ý niệm của chúng ta có mối quan hệ mật thiết, môi trường chúng ta cư trú cùng với ý niệm cũng có mối quan hệ.
【Phú húy quá thất, vị chư chúng sanh, sở tác ác hành, húy kỵ nhân tri, bất tự phát lộ, vô hối cải tâm, thị dĩ lưu chuyển sinh tử dã.】
(Che giấu lỗi lầm, nghĩa là các chúng sanh, đối với hành vi ác đã làm, kiêng kỵ người khác biết, không tự phát lồ, không có tâm hối cải, vì vậy mà lưu chuyển trong sinh tử vậy.)
Đây chính là không biết sám hối, đem lỗi lầm của mình che đậy lại, cố gắng đừng để người ta biết. Người ta tuy không biết, nhưng bản thân bạn sẽ bị lương tâm cắn rứt, đây cũng là một chuyện thống khổ. Ác tập này càng tích lũy càng lâu, sẽ biến thành bệnh độc, loại bệnh độc này cũng sẽ khiến bạn mất đi mạng sống. Mạng sống mất đi không quan trọng, đời sau ắt đọa vào ba đường ác, cái phiền phức đó lớn rồi, thực sự là chết rồi thì không xong đâu, hối hận không kịp nữa! Cho nên chân chính hiểu được đạo lý này, nhất định phải biết phát lồ sám hối, lợi ích vô lượng vô biên!
Xem bài viết gốc: Tại đây
8000 Người Dùng Công Đức Chân Thật Cứu Vãn Kiếp Nạn
Trái đất cùng với chúng ta là một khối cùng chung sinh mạng, ý niệm của chúng ta có thể ảnh hưởng đến cơ thể của chính mình, có thể ảnh hưởng đến trái đất mà chúng ta đang cư trú, bởi vì tất cả pháp “chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”, thức chính là ý niệm, ý niệm có thể sinh ra sự biến hóa. “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, cơ thể của chúng ta là từ tâm tưởng sanh, gia đình, xã hội, quốc gia cũng là từ tâm tưởng sanh, thế giới, trái đất, hệ mặt trời, dải Ngân Hà của chúng ta, toàn bộ đều là từ tâm tưởng sanh. Ý niệm có thể làm chúa tể tất cả! Ý niệm chánh rồi, cũng tức là năm chữ tham sân si mạn nghi (tham sân si mạn nghi là nguyên nhân gây bệnh) không còn nữa, cơ thể liền khỏe mạnh, không cần y dược; ý niệm chánh rồi, hoàn cảnh chúng ta cư trú cũng khỏe mạnh, sẽ không xảy ra những tai nạn như hạn hán, lũ lụt, bão tố, động đất. Tuân thủ lời dạy bảo của cổ Thánh tiên Hiền, tùy thuận tánh đức, thân tâm khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc, sự nghiệp thuận lợi, xã hội hài hòa, thế giới đại đồng, tất cả tai nạn đều sẽ không phát sinh. Cho nên người có chánh tri chánh kiến càng nhiều càng tốt, sức mạnh hóa giải tai nạn liền càng lớn. Một khu vực nếu có được mười mấy, hai mươi người có chánh tri chánh kiến, thì trong vòng bán kính hai, ba trăm dặm đại khái sẽ không có tai nạn. Nếu như ở Đài Loan có năm, sáu mươi người có chánh tri chánh kiến, không nhất định sống cùng một chỗ, mà sống rải rác ở khắp nơi tại Đài Loan, thì khu vực này sẽ vĩnh viễn không có tai nạn.
Hiện tại trên trái đất tai nạn nhiều như vậy, làm sao để cứu vãn? Phải có chánh tri chánh kiến. Vậy phải bao nhiêu người mới có thể cứu được trái đất? Các nhà khoa học cung cấp một con số, dùng căn bậc hai của một phần trăm tổng dân số trái đất (khoảng 6,5 tỷ đến 7 tỷ) để tính toán, ước chừng là tám ngàn người. Trên trái đất nếu có được tám ngàn người giống như ông Braden đã nói, chuyển đổi ý niệm lại, bỏ ác dương thiện, cải tà quy chánh, đoan chánh tâm niệm, chuyển mê thành ngộ, có chánh tri chánh kiến của Phật pháp, chính là đoạn kiến tư phiền não. Kiến tư phiền não có năm loại kiến hoặc (thân kiến, biên kiến, giới thủ kiến, kiến thủ kiến, tà kiến), năm loại tư hoặc (tham sân si mạn nghi), đem năm loại kiến hoặc, năm loại tư hoặc này buông xuống rồi, tai nạn trên trái đất liền không còn nữa. Dẫu cho không thể đoạn tuyệt hoàn toàn, tai nạn cũng sẽ giảm nhẹ đi trên diện rộng, không đến nỗi có tai hại nghiêm trọng.
Tám ngàn người này ắt phải có công đức chân thật, mới có thể cứu vãn kiếp nạn từ căn bản. Thế nào là công đức chân thật? Chính là đoạn kiến tư phiền não. Tiêu chuẩn của yêu cầu này không tính là quá cao, đây là điều chúng ta có thể làm được, làm được tương ưng với Sơ quả Tu-đà-hoàn là được. Bốn quả bốn hướng của Tiểu thừa, chúng ta làm được bước đầu tiên, hướng về cái phương hướng Sơ quả này, tuy chưa chứng được Sơ quả, nhưng liền có thể sinh ra sức mạnh to lớn như vậy. Nếu thật sự có tám ngàn người chứng được Sơ quả, tai nạn trên trái đất liền không còn nữa. Vì sao vậy? Tám ngàn người này là người có phước, người có phước ở đất phước, đất phước người có phước ở, những người tạo tác tội nghiệp nhờ ánh sáng của những người có phước này, thơm lây, hưởng cái phước của họ.
Tám ngàn người này tu như thế nào? Chính mình cũng trở thành một trong tám ngàn người đó, có làm được không? Đây không phải là do tâm tưởng, ắt phải có sự thật. Chúng ta nghĩ xem thế giới Cực Lạc mà Thích-ca Mâu-ni Phật trên kinh giới thiệu cho chúng ta, A Di Đà Phật vì lục đạo chúng sanh trong tất cả cõi nước của chư Phật khắp pháp giới hư không giới, đã kiến lập nên thế giới Tây Phương Cực Lạc, là dựa vào nền tảng tự thân ngài đã tích công lũy đức từ vô lượng kiếp đến nay mà xây dựng nên. Ngài từng tích công lũy đức vô lượng kiếp, phát bốn mươi tám nguyện, đồng thời dùng thời gian năm kiếp đem bốn mươi tám nguyện, nguyện nguyện đều thực hiện thành công một cách viên mãn. Cho nên thế giới Cực Lạc là sự thành tựu từ công đức tu hành trong năm kiếp để phát ra bốn mươi tám nguyện của Tỳ-kheo Pháp Tạng, không có công đức làm sao có thể thành tựu?
Hôm nay chúng ta học Phật, thành tựu công đức như thế nào? Do giới được định, do định mở tuệ, đây là công đức. Giúp đỡ chúng sanh khổ nạn lìa khổ được vui, phá mê khai ngộ, vãng sanh Tịnh độ, thân cận Phật Di Đà, không thối thành Phật, đây là công đức. Công đức từ đâu mà có? Phải y giáo tu hành. Ngày nay tai nạn đã ở ngay trước mắt, những pháp môn khác đã không còn kịp để tu nữa rồi. Chuyên tu chuyên hoằng “Kinh Vô Lượng Thọ”, chỉ bộ kinh này, chỉ một phương pháp này, nhất tâm chuyên niệm A Di Đà Phật; đừng có ý niệm của chính mình nữa, đem bản thân buông xuống thì thành công rồi. Biểu hiện trong đời sống sinh hoạt, công việc, đối nhân xử thế tiếp vật hằng ngày, không có chính mình, chỉ nghĩ đến làm thế nào để giúp đỡ chúng sanh khổ nạn, chỉ nghĩ đến chánh pháp trụ lâu dài, những thứ khác đều buông xả. Những người như vậy nếu có được tám ngàn vị, thì có thể cứu vãn trái đất rồi.
Cho nên chúng ta đề xướng việc tu học lục hòa kính, phải đem lý niệm này mở rộng ra. Trên toàn thế giới ước chừng có hai trăm Tịnh Tông Học Hội, hy vọng Tịnh Tông Học Hội sẽ là người tiên phong hưởng ứng, nếu mỗi một Tịnh Tông Học Hội có thể có sáu mươi người tu lục hòa kính, phát tâm đoạn ác tu thiện, sửa lỗi đổi mới, chuyển mê thành ngộ, nghiêm túc học tập kinh điển, cắm vững ba cái gốc, sau đó một môn thâm nhập vào trong kinh giáo, huân tu thời gian dài, chân thật phát tâm tu học như vậy. Một Tịnh Tông Học Hội có sáu mươi người, hai trăm Học Hội liền có một vạn hai ngàn người, vượt qua tám ngàn người rồi. Chúng ta đem công đức này hồi hướng cho toàn nhân loại, hồi hướng cho trái đất, khẳng định sẽ có hiệu quả vô cùng tốt đẹp.
Phật pháp nói niệm lực sáng tạo ra thế giới, vũ trụ, ngày nay đã được các nhà khoa học lượng tử chứng minh rồi. Chúng ta chân thật hiểu được dọc ngang vạn pháp là một duyên khởi lớn, mười phương cõi nước, vi trần pháp giới cùng với chúng ta là một thể, mỗi ngày chúng ta niệm Phật hồi hướng cho mười phương cõi nước, vi trần pháp giới, hy vọng đại tai nạn trên trái đất hóa thành tai nạn nhỏ, tai nạn nhỏ hóa thành không có tai nạn. Đây là cơ duyên hy hữu khó gặp, chúng ta đã gặp được rồi, hy vọng mọi người phát tâm.
Cung kính trích lục từ Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa tập 461
Cứu Độ Chúng Sanh Khổ Nạn
◎ Nguyên do phát sóng các buổi diễn giảng Phật học
Lão pháp sư Tịnh Không nói: Chúng sanh trong hư không pháp giới vốn dĩ chính là một thể. Nay đệ tử Phật có duyên may lắng nghe Phật pháp, cũng nên chăm sóc chúng sanh trong hư không pháp giới, đặc biệt là oán thân trái chủ nhiều kiếp của chính mình.
Con người đến lúc lâm mạng chung, họ thường thường biến hóa thành những người thân đã qua đời của nhà mình đến để tiếp dẫn bạn, báo thù bạn, thanh toán bạn, đấu tranh bạn, chướng ngại bạn không được vãng sanh nơi chốn tốt lành, việc oan oan tương báo như vậy, nhiều kiếp không dứt không dứt, đau đớn không thốt nên lời, nay may mắn giác ngộ thấu rõ, thì nên dùng tâm chí thành, hóa giải hết thảy mâu thuẫn oán thù, cầu chư Phật Bồ-tát gia trì. Để họ cũng có cơ duyên nghe ngóng Phật pháp, hóa giải oán thù, hóa thù thành bạn, hóa oán thành thân, từ nay về sau, vĩnh viễn làm bạn pháp trên đường Bồ-đề, cùng học Phật đạo, cùng độ chúng sanh.
Phàm là người học Phật chúng ta, chỉ bằng một cái nhấc tay, liền có thể khiến hết thảy chúng sanh trong pháp giới nghe pháp được ích lợi, cớ sao không cùng nhau chung sức làm việc lớn, phát sóng các buổi diễn giảng Phật học vào ban đêm? Từ đó khắp khiến chúng sanh khổ nạn cũng có được cơ duyên nghe kinh nghe pháp, đạt được con đường lìa khổ được vui, cuối cùng có thể phát nguyện cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, liễu thoát nỗi khổ luân hồi trong sáu đường. Xin kính cẩn cung cấp nghi thức khải thỉnh phát sóng như sau:
◎ Nghi thức khải thỉnh:
- Hướng về thánh tượng của A Di Đà Phật lạy Phật ba lạy, thỉnh A Di Đà Phật, chư Phật Bồ-tát, Long Thiên hộ pháp hộ trì đạo tràng giảng kinh ở trong nhà này.Trong tâm niệm thầm: Nguyện ánh sáng từ bi của Phật chiếu rọi đạo tràng này, nguyện Long Thiên hộ pháp có thể ủng hộ đạo tràng này. Khắp nguyện tất cả chúng sanh tham dự đều có thể chuyên tâm tín thọ, lắng nghe bộ kinh do Lão pháp sư Tịnh Không giảng giải. Nguyện dưới sự gia trì oai thần bằng sức của Phật, tất cả những ai nghe kinh nghe pháp, đều có thể hoan hỷ tín thọ, phát nguyện cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, vĩnh viễn thoát khỏi lục đạo luân hồi. Đồng thời nguyện chúng ta có thể khích lệ lẫn nhau, dũng mãnh tinh tấn, sớm ngày lìa khổ được vui.Cuối cùng quán tưởng: Đạo tràng này là nằm trong hư không pháp giới chứ không phải ở trong nhà, ví dụ có thể quán tưởng: chiếc tivi trong nhà biến thành vô cùng lớn, ghế sô pha trước tivi xếp thành vô số vòng, chúng sanh đến nghe kinh toàn bộ đều có thể nhìn thấy, nghe thấy, có chỗ ngồi để ngồi.
(Phần trên là để cầu sức Phật gia bị)
- Hướng ra ngoài cửa sổ hoặc ngoài cửa chính, lễ thỉnh ba lạy, thỉnh pháp giới chúng sanh cùng oán thân trái chủ nhiều kiếp của chính mình và toàn thể người nhà quang lâm đến đạo tràng này để nghe kinh nghe pháp.Trong tâm cầu nguyện: Nguyện tất cả chúng sanh trong hư không pháp giới, nếu không ghét bỏ, mạt học (hoặc đệ tử) kính cẩn cung thỉnh chư vị đều đến nơi đây lắng nghe bộ kinh do Lão hòa thượng Tịnh Không tuyên giảng, chúc phúc chư vị, đều có thể được sức Phật gia bị, mỗi người đều có thể nghe hiểu nghĩa lý, hoan hỷ tín thọ, đồng thời có thể phát nguyện niệm Phật cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc.Chúc phúc các vị sớm ngày thấy Phật liễu sanh tử, như Phật độ hết thảy, đoạn phiền não vô biên, tu pháp môn vô lượng, thề nguyện độ chúng sanh, thảy nguyện thành Phật đạo, thẳng chứng A-bệ-bạt-trí, viên mãn vô thượng Bồ-đề.
- Nếu trong nhà thuận tiện, có các loại thực phẩm như điểm tâm nhỏ, trái cây, có thể thỉnh pháp giới chúng sanh dùng. Theo lẽ qua lại nhân tình, vốn dĩ trọng lễ tiết, đối với pháp giới chúng sanh cũng nên tôn trọng. Tin tưởng sâu sắc rằng, xuất phát từ sự chân thành trong nội tâm, ắt có thể làm họ cảm động, cái gọi là chí thành cảm thông chính là đạo lý này. Các chúng như pháp giới chúng sanh oán thân trái chủ, ắt đạt được lợi ích thù thắng.
◎ Thứ tự phát kinh
- “Kinh Địa Tạng” (Lão pháp sư Tịnh Không giảng giải)
- “Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm” (Lão pháp sư Tịnh Không giảng giải)
- “Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo” (Lão pháp sư Tịnh Không giảng giải)
- “Kinh Vô Lượng Thọ” (Lão pháp sư Tịnh Không giảng giải)
Dùng Tâm Chân Thành Cứu Thế Gian
Duyên khởi
Giúp đỡ đại chúng bước qua kiếp nạn, chỉ có tâm lương thiện, tâm chân thành mới có thể làm được!
Kể từ sau sự kiện 11 tháng 9, toàn cầu bao trùm trong bầu không khí khủng bố, đủ loại chiến tranh, thiên tai, mỗi ngày đều thường có nghe thấy, con người trên toàn thế giới suốt ngày sống trong sự hoang mang bất an. E rằng sẽ có kiếp nạn to lớn ngập trời, bất cứ lúc nào cũng ập đến với thế sét đánh không kịp bưng tai.
Muốn cứu vãn thế giới này, ngày nay điều duy nhất chúng ta có thể làm chỉ có lấy tình yêu thương chân thành, thanh tịnh, bình đẳng cùng nhau vì hòa bình vĩnh cửu của thế giới mà niệm Phật cầu nguyện, cái gọi là “chí thành đạt đến, vàng đá cũng nứt”. Chúng ta có tín niệm và tình yêu thương kiên định, tin tưởng sâu sắc có thể đạt được sự cảm ứng của chư Phật Bồ-tát, Long Thiên thiện thần để hóa giải hạo kiếp do tất cả sự thù hận, đối lập và xung đột trên thế gian gây ra.
Lão pháp sư Tịnh Không nói:
Tin nhân quả, tin ông trời chọn giống lưu giữ hạt tốt!
Phản tỉnh: Khởi tâm động niệm của chính mình, có phải chân thật vì hạnh phúc của chúng sanh, chân thật vì Thánh giáo trụ ở thế gian hay không, tâm hạnh của tôi có hiền lương hay không?
Đời người khổ ngắn, trong chớp mắt, như mộng huyễn bào ảnh; trong mấy chục năm, thịt hóa thành gió mát xương hóa thành bùn đất, hà tất phải làm ác!
Người trước sáng nghiệp, người sau thu, vẫn còn người thu ở phía sau. Ruộng đất ngàn năm tám trăm người chủ, đạo trời vần xoay báo ứng, được mất có chủ, nhân quả báo ứng, tơ hào không sai lệch.
Cho nên phương pháp hữu hiệu nhất, nhanh chóng nhất trước mắt của người học tịnh nghiệp, không gì qua được việc dùng tâm chí thành niệm Phật, dùng ý niệm chí chân chí thiện này để thay thế hết thảy niệm ác, mọi người cùng nhau hướng về hư không vũ trụ phát ra tín hiệu chân nhất, thiện nhất, mỹ nhất này, kỳ cầu tiêu tai khỏi nạn, thế giới hòa bình vĩnh cửu.
Phương pháp
Vì vậy chúng tôi quyết định liên hợp tất cả người học tịnh nghiệp, bắt đầu từ ngày 14 tháng 9, mỗi ngày thứ bảy hoặc chủ nhật:
Giờ Úc: Sáng 10:00-12:00 ngày 14 tháng 9 (Chủ nhật)
Giờ Đại lục (Bắc Kinh, Thượng Hải), Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan: Sáng 8:00-10:00 ngày 14 tháng 9 (Chủ nhật)
Giờ New Zealand: Chiều 12:00-2:00 ngày 14 tháng 9 (Chủ nhật)
Giờ Bờ Tây nước Mỹ: Chiều 5:00-7:00 ngày 13 tháng 9 (Thứ bảy)
Giờ miền Trung nước Mỹ (Dallas): Tối 7:00-9:00 ngày 13 tháng 9 (Thứ bảy)
Giờ Bờ Đông nước Mỹ: Tối 8:00-10:00 ngày 13 tháng 9 (Thứ bảy)
Giờ Hawaii: Chiều 2:00-4:00 ngày 13 tháng 9 (Thứ bảy)
Giờ Đức, Pháp, Ý: Rạng sáng 1:00-3:00 ngày 14 tháng 9 (Chủ nhật)
Giờ Anh Quốc: Rạng sáng 0:00-2:00 ngày 14 tháng 9 (Chủ nhật)
Giờ Nhật Bản, Hàn Quốc: Sáng 9:00-11:00 ngày 14 tháng 9 (Chủ nhật)
Mọi người trong 2 giờ đồng hồ này tập trung tâm lực cùng nhau niệm Phật, chúng ta tin tưởng sâu sắc sự cảm ứng không thể nghĩ bàn của việc đại chúng cùng nhau niệm Phật cầu nguyện, điều này có thể từ trong thí nghiệm của nhà khoa học Nhật Bản, đạt được sự thực chứng.
Thực chứng
Những năm gần đây, việc nghiên cứu “Sự kết tinh của nước” của các nhà khoa học Nhật Bản như Masaru Emoto v.v. chứng minh “ý thức nhân loại có thể làm thay đổi sự kết tinh của nước”, đồng lý ấy có thể biết được, ý thức của nhân loại là có thể thay đổi được tất cả hoàn cảnh. Tiến sĩ Emoto vào đầu tháng 8 năm nay đã đến thăm Tịnh Tông Học Viện Úc Châu, và lần lượt thực hiện một buổi diễn giảng báo cáo thí nghiệm “Sự kết tinh của nước” tại Tịnh Tông Học Viện, Đại học Nam Queensland, Đại học Griffith, nhận được sự đồng cảm sâu sắc của đại chúng. Ông đã đưa ra ví dụ thực tế dưới đây:
2 giờ chiều ngày 2 tháng 2 năm 1997, Tiến sĩ Emoto đặt một ly nước máy của khu Shinagawa, Tokyo trên bàn văn phòng của ông, thỉnh 500 vị giảng viên ba động, ở những nơi khác nhau, đồng thời quán tưởng, hướng về ly nước này phát ra thông điệp. Sau khi tiến hành, chụp lại kết tinh của ly nước tiếp nhận “Khí của tình yêu thương và linh hồn ngôn ngữ” được truyền đến từ các nơi trên toàn Nhật Bản này, đã hiển thị ra đồ án vô cùng mỹ lệ. Thí nghiệm này, đã chứng minh năng lượng tư tưởng của nhân loại, không chịu sự ảnh hưởng của khoảng cách mà sinh ra sự thay đổi.
Từ thí nghiệm của khoa học, đã chứng minh điều mà kinh Phật đã nói “các pháp sinh ra, đều do tâm (linh tri) hiện. Hết thảy nhân quả, thế giới vi trần, do tâm (linh tri) thành thể. Nếu các thế giới, tất cả những gì có mặt, thảy đều có thể tánh (linh tri)”. Đây chính là nguyên lý của việc hết thảy chúng sanh, thành tâm cầu nguyện, nhất định có thể sinh ra sự cảm ứng đạo giao không thể nghĩ bàn.
Khẩn thỉnh
Vì vậy tại đây khẩn thỉnh tất cả người học tịnh nghiệp bất luận bạn đang ở nơi nào, xin hãy vào ngày này, khoảng thời gian này tạm thời buông xuống công việc trên tay, ngay tại nơi bạn đang ở hiện tại buông xuống muôn duyên dùng tâm chân thành niệm Phật, ngoài Phật ra, không có ý niệm nào khác. Hy vọng lấy tâm niệm lớn mạnh thuần tịnh thuần thiện của chúng ta hóa giải tất cả tham niệm, sự thù hận đối lập cùng đủ loại niệm bất thiện.
Sức mạnh cá nhân tuy nhỏ bé, nhưng hợp sức của mọi người lại thì không thể nghĩ bàn. Cái gọi là “Hết thảy quả khổ, đều có nhân khổ. Nghiệp do tâm tạo, nghiệp do tâm chuyển. Nên biết hư không chẳng lớn, tâm vương mới lớn. Kim cang chẳng kiên cố, nguyện lực kiên cố nhất. Đại khái cái yếu diệu của cộng tu, hoàn toàn ở chỗ thời gian hợp nhất nguyện giống nhau, pháp phổ cập người đông đảo. Ví như một trượng phu gọi lớn, âm thanh vượt xa chục trượng, muôn người cùng cất tiếng, vang dội xa mấy dặm. Ánh sáng của một ngọn nến, chỉ chiếu sáng cửa phòng, ánh sáng của ngọn đuốc lớn, xa soi tận mây trời. Cần biết nghiệp lực của chúng sanh vốn không thể nghĩ bàn, mà nguyện lực cũng không thể nghĩ bàn. Hạo kiếp trước mắt đã thuộc về cộng nghiệp chiêu cảm đến, thì ách vận ngập trời, nhất định dựa vào đại nguyện mới tiêu trừ được.” Nguyện cùng mọi người cùng nhau nỗ lực, dùng tâm chân thành cứu thế giới!
Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
10/09/2003
Tâm Thành Kính Là Mấu Chốt Của Sự Thành Tựu Tu Học
Thời kỳ mạt pháp, Phật giáo đã đến thời khắc sống còn. Thế gian này, con người mê quá sâu, thiên tà quá mức, nếu không quay đầu, có thể văn hóa truyền thống và Phật pháp Đại thừa sẽ bị đứt đoạn trong thời đại này. Phật pháp bị tiêu diệt rồi, văn hóa truyền thống mất rồi, thì con người càng khổ hơn.
Tôi thường nói: phải đặt A Di Đà Phật ở trong tâm, nhưng rất ít người thực sự đem A Di Đà Phật đặt ở trong tâm, trong tâm vẫn là vọng niệm lăng xăng, không có chánh niệm. Vì sao vậy? Nghe kinh không đủ, không có ngộ. Vì sao không ngộ? Tâm chân thành cung kính không đủ. Ấn tổ thường nói “một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”, nhưng chúng ta ngay cả một phần thành kính cũng chưa làm được. Có một phần thành kính, là chánh tín; có hai phần thành kính, là chánh giải (chân lý giải); ba phần trở lên là chân thật làm, quyết định vãng sanh.
Vì vậy, công phu tu hành không phải là mỗi ngày niệm bao nhiêu câu Phật, tụng bao nhiêu quyển kinh, lạy bao nhiêu lạy, công phu ở chỗ buông xả. Sau khi buông xả rồi, dùng tâm chân thành niệm Phật, câu Phật hiệu liền vô cùng hữu dụng, một câu Phật hiệu liền kết nối được với A Di Đà Phật. Người chưa buông xả, niệm thế nào cũng không kết nối được, giống như viễn thông bị gián đoạn, luôn luôn không kết nối được. Ấn tổ nói “một phần thành kính”, chính là một phần kết nối, “mười phần thành kính” đó là kết nối viên mãn. Buông xuống thì tâm chân thành mới hiện tiền; buông không xuống, tâm chân thành không thể hiện tiền; chúng ta phải biết được đạo lý này, đem nó ứng dụng vào trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của chúng ta, công phu liền đắc lực, tai nạn như thế nào cũng không màng, bạn sẽ được đại tự tại.
“Kinh Di Đà” nói, “Không thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhân duyên, mà được sanh cõi kia.” Thiện căn là do tu học tích lũy nhiều đời nhiều kiếp mà có, thiện căn chỉ cho cái gì? Có thể tin, có thể hiểu. Có thiện căn còn phải có phước đức, trong phước đức điều đầu tiên chính là cung kính. Cho nên, cung kính đối với tất cả người, sự, vật là không chịu thiệt thòi, là tu phước, người không có tâm cung kính thì phước mỏng, khổ nạn sẽ nhiều.
Đạo tràng chân chính, bất luận là tại gia, xuất gia, nam chúng, nữ chúng, tâm địa thanh tịnh không có vọng niệm, khởi tâm động niệm đều đang nghĩ về đạo. Không nghĩ về đạo thì nghĩ về Phật, “Nhớ Phật niệm Phật, hiện tiền tương lai nhất định thấy Phật”, không xen tạp, không hoài nghi. Chúng ta dùng tinh thần, tâm hạnh này để tiếp nhận sự cúng dường của mười phương, thì liền có thể tiêu hóa được, người cúng dường Tam bảo cũng có thể được phước. Khởi tâm động niệm nghĩ về đạo, mở miệng ngậm miệng niệm Phật, đây là đang đi trên đạo Bồ-tát, đang đi trên chánh pháp. Chỉ cần đạo tràng có một người, hai người như giáo tu hành, đạo tràng này chính là đạo tràng chánh pháp.
Người hiện nay học Phật khó, vì sao vậy? Tâm khí bao chao. Đừng nói là một phần tâm thành kính, một phần trăm của tâm thành kính cũng không có, Phật pháp có thù thắng đến mấy, thì làm sao có thể được lợi ích? Bất luận ở nơi nào, hoàn cảnh nào, chỉ cần bản thân có đủ sự chân thành cung kính, đọc kinh cũng được, nghe kinh cũng được, bao gồm nghe kinh trên mạng, trên truyền hình vệ tinh, không có ai là không được lợi ích. Mười nguyện Phổ Hiền, nguyện đầu tiên chính là “lễ kính chư Phật”, cung kính đối với tất cả, không những đối với tất cả người, tất cả chúng sanh, bao gồm cả chúng sanh vô tình, hoa cỏ cây cối, núi sông đại địa, đối với tất cả pháp không có gì là không cung kính.
Bố thí cũng cần tâm thành kính. Trong “Liễu Phàm Tứ Huấn”, có một công án, có một cô gái nông thôn, gia cảnh bần hàn, cô ấy đến tự viện để lạy Phật, trên người chỉ có hai đồng tiền. Cô ấy lấy hai đồng tiền này ra, cung cung kính kính cúng dường Phật, lão hòa thượng đích thân hồi hướng cho cô ấy, chúc phúc cho cô ấy. Về sau, cô bé này trở thành Vương phi, cô ấy mang theo một ngàn lượng vàng, cúng dường tự viện, nhưng lần này lão hòa thượng lại kêu đồ đệ của mình hồi hướng cho cô ấy. Cô ấy liền hỏi lão hòa thượng: “Lúc nhỏ con đến đây, chỉ có sự bố thí hai đồng tiền, lão hòa thượng đích thân hồi hướng cho con. Nhưng hôm nay con mang nhiều tiền như vậy đến, sao ngài ngược lại kêu đồ đệ của ngài hồi hướng cho con?” Lão hòa thượng nói với cô ấy: “Lúc cô còn trẻ, hai đồng tiền đó, là dùng tâm chân thành cúng dường Phật Bồ-tát, tôi không đích thân hồi hướng cho cô là có lỗi với cô. Hôm nay cô phú quý rồi, thân phận địa vị không giống nhau, cô tuy mang theo một ngàn lượng vàng đến cúng Phật, nhưng cái tâm của cô không giống như trước kia, đã có tập khí ngạo mạn, cho nên để đồ đệ của tôi hồi hướng cho cô là được rồi.” Không phải nói người nghèo thì không thể tu phước, sự cúng dường chân thành của người nghèo, thường thường tu được phước báo lớn hơn rất nhiều so với người phú quý.
Bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật không phải thiết lập suông, “người gặp được không ai trôi qua luống uổng”, chỉ cần gặp được nhất định có thể được lợi ích. Nhưng phải ghi nhớ, không có tâm cung kính thì không được lợi ích. Được lợi ích ít nhiều, có liên quan với tâm thành kính, có mười phần tâm cung kính, bạn có thể hấp thu mười phần lợi ích; có hai phần tâm cung kính, bạn chỉ có thể tiếp nhận hai phần lợi ích; tất cả nằm ở chính mình, không nằm ở người thầy. Pháp âm của Phật Bồ-tát là bình đẳng viên mãn, nhưng chúng sanh có thể nhận được bao nhiêu là do phước tuệ của chính họ quyết định, vì vậy, từ mức độ cung kính có thể nhận sát được một người có phước tuệ lớn đến mức nào. Người có mười phần tâm cung kính, Phật Bồ-tát nhất định giúp đỡ người đó sớm ngày viên mãn công đức, thành tựu phước tuệ.
Hiện tại thỉnh pháp sư giảng kinh là ngày càng khó khăn, vì sao vậy? Người học tập kinh giáo ngày càng ít. Chúng ta phải phát tâm thỉnh chuyển pháp luân, nhiệm vụ quan trọng bậc nhất là bồi dưỡng pháp sư, gặp được người trẻ tuổi chân chính phát tâm, trước tiên trong thời gian một năm giúp đỡ người đó cắm vững bốn cái gốc, đây là căn bản, không có bốn cái gốc khẳng định sẽ không học thành tài, vì sao vậy? Không có thành ý, không có tâm thành kính. Thành kính hoàn toàn thể hiện trong bốn cái gốc, từ bốn cái gốc có thể thấy bạn có mấy phần thành kính, sau đó liền biết được tương lai bạn sẽ có mấy phần thành tựu. Người càng có thành tựu thì tâm địa càng chân thành, thái độ càng khiêm hư, đối với người càng cung kính, như người xưa Trung Quốc có nói: “Học vấn sâu thì khí chất bình hòa”, tuyệt đối không có một chút nông nổi xốc nổi nào, tâm nông nổi xốc nổi là biểu hiện của việc không có công phu.
Thầy nhìn học trò, học trò nào có thành tựu, học trò nào không có thành tựu, nhìn cái gì? Nhìn thành kính. Thành kính không phải đối với thầy, thành kính thật sự là đối với chính mình. Sự học tập của tôi là cái tâm kính nghiệp, tôi sẽ kính trọng môn học này, sẽ kính trọng vị thầy dạy môn học này, sẽ kính trọng những bạn học cùng học môn học này. Nếu không có tinh thần kính nghiệp, hoặc là lười biếng, dụng tâm không chuyên, thì không phải là chân chính muốn học, cũng không thể có sự thành tựu chân chính. Không có tâm thành kính, dẫu cho Thánh Hiền Phật Bồ-tát đến dạy bạn, cũng không nhận được lợi ích, vì vậy, cầu thiện tri thức dạy học, tâm cung kính là điều kiện bắt buộc phải có. Không thành không kính là cội nguồn của tất cả tội lỗi, không thể lơ là.
Vì sao nghe kinh nghe không hiểu? Không có tâm thành kính. Người biết nghe, chỉ một câu dưới đây đều có thể khai ngộ; người không biết nghe, nghe cả một trăm năm vẫn y như cũ. Thế nào gọi là biết nghe, thế nào gọi là không biết nghe? Duy chỉ ở sự thành kính. Năm xưa, Lục tổ Huệ Năng Đại sư nửa đêm nghe Ngũ tổ Nhẫn hòa thượng thuyết pháp, vừa nghe liền đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Đây là nguyên cớ gì? Mười phần thành kính được mười phần lợi ích. Thế nào là thành? Thành là trong tâm không có tạp niệm. Tiên sinh Tăng Quốc Phiên, đã hạ một định nghĩa cho chữ “thành”, “một niệm không sanh thì gọi là thành”. Trong tâm vẫn còn ý niệm, thì sự thành đã không còn nữa. Làm được một niệm không sanh, đây là người như thế nào? Bồ-tát Pháp thân. Chỉ có minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ, ngài ấy mới có thể thật sự đem vọng tưởng phân biệt chấp trước đều buông xuống, đây là mười phần thành kính. Nếu vẫn còn khởi tâm động niệm, ý niệm phân biệt chấp trước không còn nữa, đó là chín phần thành kính. A-la-hán có thể đem kiến tư phiền não buông xuống rồi, ngài ấy có bao nhiêu sự thành kính? Năm phần thành kính. Hiện tại chúng ta nghĩ xem, vọng tưởng phân biệt chấp trước đã buông xuống được bao nhiêu rồi? Một phần cũng chưa buông xuống; nói cách khác, không có tâm thành kính. Cho nên học Phật không thể nói không dụng công, dũng mãnh tinh tấn mấy chục năm rồi, lợi ích của Phật pháp không đạt được. Mỗi ngày vẫn sống cuộc sống của phàm phu lục đạo luân hồi, đây chính là nguyên cớ của việc không có sự thành kính!
Tâm thành kính của chúng ta đối với kinh giáo không sanh khởi được, đối với cái gì có thể sanh khởi tâm thành kính? Danh lợi. Đối với kinh giáo không có sự thành kính, đối với đạo đức không có sự thành kính, đối với luân lý không có sự thành kính, đối với tất cả đều không có sự thành kính, duy chỉ đối với danh văn lợi dưỡng là vô cùng có thành kính, thế thì tiêu rồi! Danh văn lợi dưỡng buông không xuống, học Phật học đến cuối cùng là đọa vào ba đường ác, đọa địa ngục, điều này không thể không biết. Buổi tối trước khi đi ngủ bản thân hãy suy nghĩ thật kỹ, con đường đời này tôi đang đi là con đường nào? Mười pháp giới mà Phật giảng, tôi đang đi là pháp giới Phật, pháp giới Bồ-tát, hay là pháp giới cõi người cõi trời, pháp giới địa ngục, pháp giới ngạ quỷ? Nếu đối với kinh điển không rành rẽ, tự cho rằng đang học Phật, kỳ thực toàn bộ đều sai rồi. Tôi theo Đại sư Chương Gia học Phật ba năm, lão nhân gia ngài bảo tôi học Thích-ca Mâu-ni Phật, bảo tôi không thể rời khỏi kinh giáo. Gặp được thầy Lý, yêu cầu tôi trong kinh giáo nhất định phải là một môn thâm nhập, huân tu thời gian dài, không được học quá nhiều quá tạp. Học quá nhiều, quá tạp, thì sự an nhẫn liền không còn nữa. Cho nên, người tu hành điều đầu tiên chính là tâm phải thanh tịnh, bất luận ở trong hoàn cảnh nào, không chịu sự ảnh hưởng của ngoại giới, không chịu sự dụ dỗ của ngoại giới, đây liền gọi là an nhẫn; nếu không chịu được sự dụ dỗ, bị hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng và chi phối, bạn sẽ không thành công. Vì sao không đè phục được phiền não? Bởi vì không có tâm cung kính. Nếu có sự cung kính chân thành, duyên bên ngoài không dễ dàng dao động bạn, bạn có năng lực khống chế được cảnh duyên.
Trên kinh luôn nói “tất cả cung kính”, điều này là có đạo lý. “Lễ Ký” của Nho gia: “Khúc lễ viết: Vô bất kính” (Khúc lễ nói: Không có gì là không cung kính). Sự kính quá quan trọng rồi. Con người nếu giữ tâm thành kính, sẽ không vọng động, sẽ không khởi niệm ác. Khởi một ý niệm chính là bất kính, sự kính liền mất đi rồi. Nhìn từ chỗ này, một người bất kể nghiên cứu Phật học sâu đến đâu, uyên bác đến đâu, giảng hay đến đâu, tu khổ đến đâu, nếu vẫn còn bị cảnh giới bên ngoài xoay chuyển, thì bằng với thi trượt, không có một chút tác dụng nào, đây là mấu chốt thành bại trong cả cuộc đời của chúng ta.
Từ Đường Trăm Họ
Đề xướng xây dựng từ đường trăm họ
Những năm đầu tôi đã đề xướng việc xây dựng “Từ đường trăm họ”, cho đến nay vẫn canh cánh trong lòng. Gần đây, thật đúng là nhờ oai thần của tổ tông gia trì, tôi lại mua được một tầng lầu ở Hồng Kông, vốn dĩ tầng 11 là “Hiệp hội Giáo dục Phật đà”, tầng 9 là Niệm Phật đường, hiện tại mua được tầng 10, để làm “Kỷ niệm đường tổ tông trăm họ Dân tộc Trung Hoa”. Thế nhưng không gian quá nhỏ, cho nên chỉ thờ bài vị của tổ tông.
Bài vị tổ tông viết như thế nào? Dựa theo “Bách Gia Tính” mà viết. Thế nhưng có rất nhiều họ tộc của Trung Quốc không được liệt kê trong “Bách Gia Tính”, cho nên chúng ta phải về vùng nội địa Trung Quốc để tìm kiếm, hoặc là đến cơ quan hộ tịch, hoặc là thông qua các con đường khác, để thu thập tất cả những họ tộc không có trong “Bách Gia Tính”, điều này có thể sẽ lên tới hơn một ngàn họ khác nhau. Và mỗi gia đình sẽ thờ một bài vị tổng của tổ tông, mỗi năm chúng ta sẽ định kỳ tổ chức hai lần pháp hội tế tổ.
Hiện nay ở Trung Quốc đã không còn nhìn thấy từ đường nữa, ở hải ngoại vẫn còn có thể nhìn thấy từ đường của nhiều họ tộc, nhưng đó là của một họ tộc, của một nhóm người. Làm thế nào để chúng ta hợp nhất các nhóm người lại với nhau, xây dựng một từ đường chung của người Hoa, để kỷ niệm tổ tiên, điều này rất có ý nghĩa.
Từ đường vào những lúc bình thường có thể dùng làm thư viện, hoặc là phòng đọc sách, mời thầy về dạy học, hoằng dương học thuật truyền thống của Trung Quốc. Giống y như hai cơ cấu (Liên xã Đài Trung và Thư viện Từ Quang) mà thầy Lý Bỉnh Nam đã xây dựng tại Đài Trung thuở trước, đó là một nơi để giảng học. Việc giảng học của ngài chú trọng vào Nho và Phật, Nho Phật cùng hoằng dương. Nếu như tương lai ở các nơi có người phát tâm xây dựng từ đường trăm họ, có thể áp dụng phương pháp này. Bởi vì việc tế lễ ở từ đường một năm cao lắm cũng chỉ có hai, ba lần, những lúc bình thường giống y như trường học, lớp học thêm, có thể mở rất nhiều môn học, có lớp nhi đồng, lớp người lớn, lớp học thêm cho học sinh bình thường. Môn học giảng dạy có Tứ Thư Ngũ Kinh, câu chuyện lịch sử, cũng có thể giảng kinh Phật, thậm chí là thi từ ca phú, âm nhạc hội họa. Ở nước ngoài, rất nhiều người thích kung fu Trung Quốc, điều này cũng có thể mở lớp, cho nên môn học vô cùng phong phú.
“Tịnh Tông Học Viện” của chúng tôi ở Toowoomba, Úc Châu, tương lai sau khi mở rộng, cũng có thể mở mười lớp. Chúng tôi là văn hóa đa nguyên, tuyệt đối không chỉ nghiên cứu pháp môn Tịnh độ của Phật pháp, chúng tôi là hoằng dương phổ thế học thuật truyền thống “Nho, Thích, Đạo” . Chúng tôi cần phải mời những người thầy tốt có đức hạnh, có học vấn, có chuyên môn về dạy học, và phương thức học tập có loại ngắn hạn, có loại dài hạn, ngắn hạn ước chừng khoảng ba tháng là một khóa, dài hạn có loại ba năm, năm năm, cho đến có chương trình học chín năm.
“Tịnh Tông Học Viện”, “Tịnh” là mang nghĩa rộng, không phải nghĩa hẹp, nghĩa hẹp là chuyên tu Tịnh độ. Chữ “Tịnh” này là tịnh hóa nhân tâm, chúng tôi là học viện lấy tôn chỉ là tịnh hóa tâm của hết thảy chúng sanh. Chúng tôi không những hoằng truyền nền văn hóa truyền thống vốn có của Trung Quốc, đồng thời cũng hoằng dương những lời dạy bảo của cổ Thánh tiên Hiền của các quốc gia dân tộc khác trên thế giới. Mục đích của chúng tôi là mong cầu thế giới hòa bình, hết thảy chúng sanh lìa khổ được vui.
(Trích lục từ 21-125 “Chịu thiệt thòi là phước”)
**********
Bàn bạc về việc xây dựng “Từ đường trăm họ Dân tộc Trung Hoa”
Mục đích của việc tế tự nằm ở chỗ không quên gốc gác, cái gọi là quay về nguồn cội báo đáp sự khởi đầu vậy. Cổ lễ trước tiên chú trọng vào tế lễ, thực sự là cái lý cực tắc của tâm tánh biểu hiện vào trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của chúng ta vậy. Thực sự là cội rễ to lớn của tất cả các pháp môn tu hành. Tế lễ có ba loại: Một là tế tổ tiên, mục đích là dạy dân sự chân thành, chữ tín, sự trung thành, lòng cung kính, yêu người như yêu mình, phụng sự người chết như lúc còn sống, tình cảm vô cùng sâu đậm. Lòng người sâu đậm, thì mới có thể nối tiếp tâm hiếu, làm đôn hậu luân thường đạo lý của con người, làm thuần phác phong tục tập quán, tiến tới làm hưng thịnh quốc vận, mở ra thời kỳ thái bình; đây là nền móng khởi đầu để khiến văn hóa Trung Hoa ta được phục hưng và phát dương quang đại, chiếu sáng khắp đại thiên thế giới, để tất cả các loài chúng sanh, thảy đều đạt được sự hòa bình an lạc, phước tuệ tự tại. Do đó Tịnh Không trong những lúc đảnh lễ Phật sáng tối, ắt luôn cầu nguyện cho “Từ đường trăm họ Dân tộc Trung Hoa” của ta sớm ngày xuất hiện tại hòn đảo tự do bảo bối này.
Đầu năm, vị lãnh đạo Phật giáo Cửu Long Hồng Kông là pháp sư Tẩy Trần đến thăm Đài Loan, pháp sư có ý định xây dựng tùng lâm Phật giáo tại một địa điểm thích hợp, đây thực sự là chuyện rất tốt. Muốn sự giáo hóa của Phật đà được phổ biến rộng rãi trên thế giới, nếu không có tùng lâm thì không thể làm được. Muốn văn hóa Trung Hoa được phục hưng và phát dương quang đại, nếu không có việc thờ cúng tế tự thì không đáng để nhắc tới. Hai việc này thực sự bổ trợ cho nhau, thế tất phải tiến hành song song, vả lại ắt phải bắt đầu bằng việc thờ cúng tế tự trước. Vì thế đề nghị pháp sư Tẩy phát tâm xây dựng “Từ đường trăm họ Dân tộc Trung Hoa”. Tịnh Không hiểu sâu sắc rằng tông miếu chính là cội rễ của văn hóa Trung Hoa ta. Tông miếu nếu bị hủy hoại thì lễ nhạc sẽ sụp đổ, lễ nhạc sụp đổ thì nhân nghĩa sẽ bị phế bỏ, nhân nghĩa bị phế bỏ thì luân thường đạo đức sẽ không còn tồn tại nữa. Thế thì muốn thế gian không rối loạn, e là khó lắm thay! Thế gian ngày nay loạn đến tột cùng rồi, người người đều mong muốn được yên trị, nhưng cuối cùng lại không thể yên trị, nguyên nhân là ở đâu? Tại sao không suy nghĩ về điều đó! Thế gian nếu không yên trị, thì dẫu cho có xây dựng tùng lâm, cũng chỉ là tăng thêm một nơi để đấu tranh mà thôi, người trí sẽ không làm, mạo muội xin hãy suy nghĩ đến việc “Từ đường trăm họ Dân tộc Trung Hoa” trước.
Các quốc gia trên thế giới ngày nay đang dốc sức vào việc xây dựng, tất cả đều là xây dựng vật chất, dẫu cho đạt đến mức cực hạn, thì vẫn là giàu có mà không có niềm vui, sự cường thịnh của các nước Âu Mỹ, có thể làm tấm gương rõ ràng. Nguyên nhân đó chính là do thiếu hụt sự xây dựng tinh thần mà dẫn đến, mà sự xây dựng tinh thần ắt phải lấy tông miếu làm cội rễ. Vì thế “Từ đường trăm họ Dân tộc Trung Hoa” không thể không gấp gáp nghiên cứu cho thật kỹ lưỡng.
Cấu tứ về “Từ đường trăm họ Dân tộc Trung Hoa”, đại lược như sau:
Tôn chỉ xây dựng là để khiến cho quốc dân ta, người người có thể truy niệm người xưa, nối tiếp tâm hiếu; lấy tình cảm chân thành bên trong củng cố lòng dân, bên ngoài kết nối tình kiều bào, và làm nơi nương tựa cho lòng kính yêu tổ tiên của một tỷ đồng bào Đại lục. Ân trạch của nó lan rộng, trên đến vạn họ tông tổ, dưới đến ngàn vạn đời con cháu. Phật nói: “Công đức ấy không thể đo lường, không thể cân nhắc, không có ngần mé, cho đến toán số tỷ dụ cũng không thể sánh bằng”. Đáng tin thay lời nói ấy!
Chọn vùng đất tốt, xây dựng từ đường, hợp trăm họ thành một nhà. Hỡi đồng bào dân ta, vạn người như một, mạnh rễ vững gốc, ở ngay hành động này.
Hình thức từ đường, áp dụng nghệ thuật kiến trúc của các triều đại. Ví dụ như chính điện lấy theo bản vẽ cung điện nhà Hán, lối đi lấy theo kiểu dáng nhà Tùy, nhà Đường, các điện đường còn lại, hoặc lấy theo nhà Minh, nhà Thanh, hoặc học theo thời cận đại. Trong đó các bậc thềm, đường đi, đình đài, cũng lại như vậy. Hoặc giả mô phỏng theo kiến trúc của các triều đại, giống y như đúc, thì có thể tập hợp đại thành nghệ thuật kiến trúc của các triều đại ta. Điều này có thể mời các chuyên gia học giả, dày công thiết kế bản vẽ. Trên vách chạm khắc tinh xảo, đều là những sự tích của các bậc hiền nhân thuở trước. Ắt phải khiến cho người bước lên sảnh đường ấy, bước vào gian phòng ấy, phảng phất như đang đối mặt với tổ tông, đối mặt với tiên hiền, trong không khí trang nghiêm ắt sẽ nghe thấy được âm dung của các ngài. Tình cảm sâu đậm về việc kính tổ tiên, yêu đồng bào, tự nhiên sẽ sinh ra. Đây là sự giáo dục quay về nguồn cội báo đáp sự khởi đầu vậy.
Chính điện của từ đường thờ phụng Hoàng Đế, cùng với các bậc đế vương khai quốc của các triều đại cùng thụ hưởng. Diện tích điện đủ sức chứa hàng vạn người, để thuận tiện cho việc tế lễ. Hàng trăm gian sảnh, phòng còn lại, thì làm thành từ đường của các họ tộc bao quanh. Bài vị thần chủ trong từ đường của các họ tộc, chất liệu giống nhau, kiểu dáng như nhau, có thể thống nhất chế tạo. Màu sắc chia làm ba bậc, ví dụ như màu tím chữ vàng biểu thị cho sự trung hiếu, màu vàng chữ vàng biểu thị cho dân thường, màu đen chữ trắng biểu thị cho gian nịnh. Đây cũng ngụ ý bao hàm sự khen ngợi, chê bai, với mong muốn đạt được công hiệu khuyên răn kẻ ác khen thưởng người thiện vậy.
Trong từ đường thiết lập nhiều cơ sở vật chất như “Phòng trưng bày”, “Thư viện”, “Giảng đường”, “Phòng nghiên cứu” v.v., chuyên cung cấp cho đồng bào trong và ngoài nước sử dụng để bồi dưỡng kiến thức. Trong từ đường ngoài các dịp lễ tết tế lễ ra, còn thường xuyên tổ chức các buổi diễn giảng học thuật chuyên môn về “Quốc sử”, “Luân lý”, “Kinh học”, “Tử học”, “Văn học” v.v. Khiến cho từ đường trường học hóa, từ đường gia đình hóa. Lại có xây dựng thêm các cơ sở vật chất như “Nhà khách”, “Phòng ăn” v.v., để thuận tiện cho việc tiếp đón khách bộ hành.
Bên ngoài từ đường có một khu vườn rộng lớn, trong vườn có hàng trăm ngọn tháp, đều là tháp lưu trữ tro cốt của trăm họ, như tháp họ Triệu, tháp họ Lý v.v. Việc xây dựng tháp, mỗi mỗi không giống nhau, đây là nơi lưu giữ tro cốt của người xưa trăm họ vậy. Cứ như thế khắp nơi là rừng tháp, bia đá, tượng tạc tiên hiền, tác phẩm điêu khắc bằng đá, đình đài lầu gác, đâu đâu cũng có thể nhìn thấy, trước hoa dưới cây, nhạc trời vang vọng không trung, pháp âm tuôn chảy, cứ ngỡ là Phật quốc phương Tây vậy. Vì trong đó khắp nơi đều có thiết bị loa phát thanh, tại các đình các lầu cũng có tivi mạch kín, cho nên đi đến đâu cũng có thể nghe thấy âm nhạc, có thể nghe thấy diễn giảng, và thần thái của người giảng trên tivi cũng được nhìn thấy rõ ràng không sót thứ gì. Dẫu cho là du khách tham quan, cũng đạt được công hiệu của việc giáo hóa tùy cơ hội. Khu vườn có diện tích ba trăm giáp, đầy đủ chân, thiện, mỹ, tuệ, nó khiến cho lịch sử văn hóa năm ngàn năm của ta đồng loạt hiển hiện trước mắt chúng ta, khiến cho chúng ta lập tức thấu rõ được sự rực rỡ rộng lớn của văn hóa Trung Hoa, công năng của nó trong việc khơi gợi lòng tự tôn, tự tin, tự cường của chúng ta, thực sự mang công hiệu không thể nghĩ bàn tồn tại trong đó. Đây chính là cái gọi là cứu văn hóa Trung Hoa bắt đầu từ gốc rễ vậy. Việc xây dựng hoàn thành, thì hiến tặng cho quốc gia, thỉnh cầu chính phủ đặc phái quan viên phụ trách tế tự để thống nhất quản lý. Sau đó xây dựng tùng lâm, ta tin tưởng sâu sắc ắt sẽ có sự dẫn dắt thần kỳ.
Thứ hai là tế trời: Trời tức là thiên lý vậy. Có việc ắt có lý. Mục đích của việc tế trời nằm ở chỗ dạy dân thông qua sự việc để thấu rõ cái lý tự nhiên pháp vốn như vậy của nó vậy. Thiên lý sáng tỏ thì lương tri xuất hiện, lương tri xuất hiện thì đạo nghĩa sinh ra. Tâm sinh đạo nghĩa, hành động thuận theo lý trí, đây là bản ý của việc tế trời vậy.
Thứ ba là tế chư thần: Chư thần tức là chỉ cho vạn vật vạn sự vậy. Mục đích của việc tế chư thần nằm ở chỗ dạy dân kính trọng sự việc yêu quý vạn vật, để thành tựu muôn ngàn kỹ nghệ, đây là biểu hiện tình cảm nghệ thuật của đời sống sinh hoạt, tuyệt nhiên không phải là mê tín vậy. Như thần đất, thần núi, thần biển, thần cây, thần hoa, thần ngũ cốc, cho đến môn thần, táo thần v.v., không có vị nào là không mang ý nghĩa dạy người kính trọng sự việc yêu quý vạn vật vậy. Thực chất cũng chính là cái gọi là vật tận kỳ dụng (vật hết công dụng của nó), hàng hóa lưu thông trơn tru mà Quốc phụ Tôn Trung Sơn tiên sinh đã nói, đạo cần kiệm, cũng từ đây mà sinh ra vậy. Sự tinh mỹ trong ý đồ lập nên nó, thì không phải kẻ trí cạn có thể biết được vậy.
Ba loại tế lễ đầy đủ, thì niềm vui sống của nhân sinh chân thiện mỹ mãn, mới được cùng chia sẻ với vạn vật. Phật pháp nói: “Lìa khổ được vui”, há chẳng phải là cái đạo to lớn của việc tế tự sao!
Tịnh Tông Học Viện
Giới thiệu tóm lược về việc tu học tại Tịnh Tông Học Viện
- Phật giáo cận đại suy vi, nguyên nhân tổng quát là do thiếu hụt nhân tài hoằng pháp tu hành, không có thiện tri thức hộ trì Phật pháp.
- Việc tu học truyền thống của Phật pháp là lấy ba môn học giới định tuệ làm nền tảng, mục tiêu của việc tu học là muốn thành Phật, thành Bồ-tát. Hiện tại tuy có rất nhiều Phật học viện, nhưng những Phật học viện này chỉ là truyền thọ tri thức, chứ không phải tu đạt được giới định trí tuệ, hoàn toàn không thể siêu việt sanh tử luân hồi.
- Sự tu hành chân chính của Phật pháp có ba giai đoạn: Một, chuyển ác thành thiện. Hai, chuyển mê thành ngộ. Ba, chuyển phàm thành Thánh.
- Mục đích thành lập Tịnh Tông Học Viện: chính là muốn bồi dưỡng ra nhân tài hoằng pháp và hộ pháp chân thật có thành tựu trong việc tu hành Phật pháp, đây là mục đích duy nhất của việc mở trường của chúng tôi.
- Thiết bị của Tịnh Tông Học Viện:
(1) Thư viện: Một bộ Tứ Khố Toàn Thư, hai bộ Tứ Khố Hội Yếu, mười loại Đại tạng kinh phiên bản khác nhau, hơn 5000 cuốn sách như Nhị Thập Ngũ Sử v.v.
(2) Thư viện âm thanh hình ảnh: Tàng trữ hàng trăm loại như băng cassette, VCD v.v. giảng kinh của Lão pháp sư Tịnh Không qua các năm.
(3) Mạng internet và thiết bị máy tính: Mỗi vị học sinh có một chiếc máy tính xách tay. Học viện cũng có thiết lập máy tính công cộng, có thể truy cập mạng internet và gửi nhận thư điện tử. Hiện trường giảng kinh dạy học đồng bộ phát sóng ngay lập tức trên mạng internet, và có phiên dịch đồng bộ tiếng Anh, tiếng Việt, để thuận lợi cho các đồng học từ xa cùng lúc học tập.
(4) Thiết bị ghi âm ghi hình: Chúng tôi có một phim trường hoàn thiện, phòng tư liệu dạy học từ xa. - Phương thức tu học: Mỗi ngày 8 tiếng đồng hồ niệm Phật, 8 tiếng đồng hồ nghe kinh, nghe kinh chỉ nghe một cuộn băng dài một tiếng đồng hồ, nghe đi nghe lại 8 lần, dùng phương thức này để hoàn thành việc tu học giới định tuệ.
- Môn học tu học: Có các môn học Nho học như “Đệ Tử Quy”, “Tam Tự Kinh” v.v., đặt nền móng cho việc chuyển ác thành thiện; lấy các sách nhân quả như “Liễu Phàm Tứ Huấn”, “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên” v.v., làm sự chỉ đạo cho việc chuyển ác thành thiện. Tiến thêm một bước lấy “Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo” và “Kinh A-nan Vấn Sự Phật Cát Hung” làm sự chỉ đạo, khiến cho tư tưởng và hành vi của chúng ta làm được thuần thiện không ác. Nếu có thể làm được những lời dạy dỗ ở trên, lại lấy những môn học trong “Tịnh Tông Tu Hành Thủ Tắc” (hai loại phiên bản) làm công khóa tu hành của chúng ta.
Mục tiêu cuối cùng của chúng ta không chỉ là muốn chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ, mà càng muốn chuyển phàm thành Thánh. Chỉ có khiến bản thân mình thành Thánh thành Hiền, chúng ta mới có năng lực giúp đỡ sự hoằng truyền của Phật pháp, giải cứu chúng sanh khổ nạn hiện tại và đời sau.
Thôn Di Đà
[Bổ sung thêm video “Hạnh Phúc Mỹ Mãn Tuổi Xế Chiều”]
Thôn Di Đà
“Viện dưỡng lão” là công trình có nhiều hy vọng nhất
Hiện nay do khoa học công nghệ, y học phát triển, tuổi thọ của con người đã được kéo dài; Phật nói đây là phước báo mà đời quá khứ họ đã tu được. Người trường thọ nhiều, dân số già hóa, đây là vấn đề nghiêm trọng của xã hội trước mắt. Chính phủ của mỗi quốc gia, khu vực đều vô cùng quan tâm đến sự việc này, cho nên đã phổ biến xây dựng các khu chung cư cho người già và viện dưỡng lão. Những ngôi làng hưu trí mà chúng tôi nhìn thấy ở Úc Châu, cũng đều là những cơ sở phúc lợi dành cho người già.
Phật pháp vô cùng xem trọng việc “nuôi người già”, đây là sự thực tiễn của “Tịnh nghiệp tam phước”. Điều đầu tiên chính là dạy chúng ta “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, tâm từ không giết hại, tu mười nghiệp thiện”. Cho nên mở viện dưỡng lão chính là thực hành thực tiễn lời răn dạy của Phật đà. Lời răn dạy này là căn cơ của toàn bộ Phật pháp, nếu không thật sự dụng công vào sự việc này, thì niệm Phật cũng không thể vãng sanh, tu học bất kỳ pháp môn nào cũng không đạt được kết quả, cho nên nuôi người già là đề tài trung tâm trong Phật pháp, quan trọng hơn bất cứ thứ gì.
Thế nhưng có một số người ngoài xã hội, cho rằng viện dưỡng lão là công trình không có hy vọng, già rồi sau đó sẽ chết, chi bằng mở cô nhi viện, mở trường học. Quan niệm này là sai lầm, có hy vọng hay không nằm ở con người, không nằm ở sự việc. Chính phủ Singapore khuyến khích mỗi một đoàn thể tôn giáo mở viện dưỡng lão và cô nhi viện, thu nhận những người già và trẻ em không có người thân chăm sóc ở ngoài xã hội này. Chúng tôi đối với sự việc này vô cùng quan tâm, chúng tôi là đang thúc đẩy nền giáo dục về sự tái sanh, nền giáo dục về đời sau, cho nên người già liền trở thành người có hy vọng, hơn nữa còn là niềm hy vọng chân thật. Phật tại hội Lăng Nghiêm đã nói rõ chân tướng của sinh tử, đó chỉ là sự chuyển biến và hiện tượng tiếp nối của nhân quả, sinh mạng là vĩnh hằng, sắc thân của phàm nhân là xuất hiện tùy theo sự chuyển biến của nghiệp lực do chính mình tạo ra. Cho nên người già trong sự chuyển biến này đã sanh khởi niềm hy vọng cực kỳ to lớn.
Năm 1983, tôi nhìn thấy một khu chung cư dành cho người già tại San Francisco, ở đây có hơn bốn trăm cụ già sinh sống, hơn nữa còn có thiết lập thêm một trường mẫu giáo, đây là do một người Do Thái chủ trì, làm rất thành công. Thế là tôi liền liên tưởng đến, đạo tràng Phật giáo của thế kỷ 21 nhất định là theo hình thức này, gợi mở cho tôi suy nghĩ về “thôn Di Đà”, người chuyển vào ở trong thôn Di Đà chính là những cụ già đã nghỉ hưu. Trong đời này của họ, những việc đáng nên làm đều đã làm rồi; bây giờ đã nghỉ hưu rồi, vẫn còn thời gian dư thừa, đáng nên hiệp trợ họ làm một đại sự chuyển biến ở đời sau, đây là một công trình càng có ý nghĩa hơn.
Vì vậy chúng ta phải có “giáo dục tôn giáo” đối với người già, mỗi ngày cho họ có cơ hội nghe kinh, giúp đỡ họ giác ngộ, mỗi ngày dẫn dắt họ niệm Phật. Họ sẽ ý thức được rằng, cuộc sống tu học lúc tuổi già, mới là cuộc sống hạnh phúc nhất trong cuộc đời họ. Người Trung Quốc thường nói “Lúc nhỏ tuổi thiếu niên phải bồi đắp phước, đặt định nền tảng phước đức cho cả đời. Lúc tráng niên phải phục vụ cho xã hội, cho nhân dân, đây là tạo phước. Tuổi già mới là hưởng phước.” Cho nên hưởng phước quyết định là ở tuổi già, chúng ta phải đem lý niệm này thực tiễn. Con người vào lúc tuổi già, dần dần bị lão hóa rồi, nếu không có việc gì làm sẽ vọng tưởng, sẽ sanh phiền não, đây chính là điều người nước ngoài nói “tuổi già là nấm mồ của đời người”, không giống với suy nghĩ của người Trung Quốc.
Cho nên “giáo dục tôn giáo” vô cùng quan trọng, phải giảng giải cho họ nghe tình trạng của lục đạo luân hồi, thuyết minh cho họ nghe sự thù thắng trang nghiêm của cõi nước chư Phật trong mười pháp giới, giới thiệu lịch sử của thế giới Tây Phương Cực Lạc, sự tu học trên nhân địa của A Di Đà Phật, sự thành tựu trên quả địa, sự tán thán của chư Phật, sự thù thắng của vãng sanh, khiến cho họ tràn đầy niềm hy vọng, tràn đầy sức sống, giúp đỡ họ chân thật nhìn thấu thế gian, buông xả tất cả, được đại tự tại. Họ chỉ cần thoát khỏi lục đạo luân hồi, thoát khỏi mười pháp giới, vãng sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc thì làm Phật rồi. Đạo tràng của chúng ta chỉ cần có một người niệm Phật vãng sanh làm Phật, thì tất cả mọi đầu tư, kiến thiết đều không uổng phí, cho nên đây là một công trình có hy vọng nhất! Bất kỳ niềm hy vọng nào trên thế gian cũng không thù thắng bằng niềm hy vọng này.
Loại “viện dưỡng lão” này là đạo tràng số một để thành tựu chư Phật Bồ-tát, cũng là đạo tràng tu học chủ yếu của thế kỷ 21. Chúng ta đi đầu làm trước, đồng thời đem lý niệm, cách làm, thành quả này, giới thiệu cho những tôn giáo khác. Chúng tôi kỳ vọng tất cả tôn giáo đều có thể chú trọng nuôi dưỡng người già, đều có thể giúp đỡ người già vãng sanh làm Phật, hoặc là sanh lên trời hưởng phước trời.
Kinh Đại thừa nói, “Vãng sanh bất thoái thành Phật”. Trên thế giới của chúng ta, bất kỳ một người nào chỉ cần hiểu được lý luận, phương pháp, tu học như lý như pháp, thì không một ai là không thành tựu, điều này thực đúng như cổ đại đức đã nói, “vạn người tu vạn người đi”. Vãng sanh làm Phật là chuyện khó nhất, chúng ta đều có thể làm được, thì sanh lên trời làm gì có chuyện làm không được! Mỗi một tôn giáo đều có một thiên đường mà họ hướng đến, chúng ta liền đáng nên toàn tâm toàn lực giúp đỡ họ đạt được mục đích sanh lên trời. Chúng ta nguyện sanh lên thiên đường, cũng phải đem tất cả mọi người dẫn vào thiên đường. Đồng tu học Phật kỳ vọng vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, cũng phải đem các đồng tu của chúng ta đều dẫn đến thế giới Cực Lạc, đây là đại công đức, thù thắng trang nghiêm không gì sánh bằng. Luôn hy vọng hết thảy chúng sanh trong một đời này, người người làm Phật, làm Bồ-tát. Đời này chúng ta đến thế gian này mới có ý nghĩa, có giá trị, không uổng công đến một chuyến rồi.
Thế nhưng sự việc này muốn thực tiễn, muốn làm được rất viên mãn, rất thành công, nhất định phải đi sâu vào kinh tạng. Tôi học Phật bốn mươi bảy năm, giảng kinh bốn mươi năm, đối với sự việc này thể hội sâu sắc. Người xưa học Phật thành tựu nhiều, nguyên nhân chính là họ đối với việc đọc tụng, giảng giải nghiên cứu thảo luận, đều không bỏ cuộc, cho nên đã đặt định được tín nguyện kiên định, lấy tín nguyện kiên định làm nền tảng thì sẽ có thành tựu. Thế Tôn năm xưa khi còn tại thế, đã làm ra tấm gương tốt nhất cho chúng ta - mỗi ngày giảng kinh thuyết pháp không gián đoạn. Các bạn đồng học mỗi ngày thời thời khắc khắc nghiên cứu thảo luận, làm bạn với Phật Bồ-tát, thời thời khắc khắc đều không rời xa, ma liền không có năng lực quấy nhiễu, đạo nghiệp liền có thể thành tựu.
Hôm nay ở Singapore, mỗi ngày chúng tôi giảng kinh hai tiếng đồng hồ, thời gian vẫn không đủ. Nhưng chúng sanh thời nay không có phước báo lớn như vậy, họ cần phải làm việc, cần phải chăm lo gia đình, một ngày có thể đến nghe kinh hai tiếng đồng hồ, đã là rất khó được rồi. Vì vậy, chúng tôi liền nghĩ đến tuổi già mới là giai đoạn tu học thích hợp nhất, công việc của họ đã buông xuống rồi, con cháu đã khôn lớn, không còn lo nghĩ nữa rồi. Lúc này có thể an tâm đến tu đạo, đây là thời kỳ tu đạo tốt nhất. Chúng ta nhìn cho rõ ràng, nhìn cho thấu tỏ, liền phải toàn tâm toàn lực giúp đỡ họ, thành tựu cho họ.
Tôi yêu cầu Cư sĩ Lý Mộc Nguyên, tương lai những nhân viên phục vụ làm việc trong “thôn Di Đà” phải tiếp nhận huấn luyện, phải ngày ngày nghe kinh, phải niệm Phật trong Niệm Phật đường. Chúng ta phải dùng cái tâm hiếu thuận cha mẹ để phục vụ mỗi một cụ già, dùng cái tâm cung kính Phật Bồ-tát để cung kính mỗi một cụ già, đây là điều mà các viện dưỡng lão khác không có. Ở bên trong “thôn Di Đà”, mỗi ngày có hai tiếng đồng hồ giảng kinh, hai mươi hai tiếng đồng hồ niệm Phật. Nhưng hoàn toàn không phải yêu cầu mỗi một người phải hai mươi bốn tiếng đồng hồ nghe kinh niệm Phật, mà là phải chân thật phát tâm đến Niệm Phật đường niệm Phật, niệm mệt thì nghỉ ngơi, nghỉ ngơi khỏe rồi lại niệm tiếp. Trong Niệm Phật đường, hai mươi bốn tiếng đồng hồ câu Phật hiệu không gián đoạn, buổi tối ngủ thức dậy rồi, liền đến Niệm Phật đường để niệm Phật, cho nên trong Niệm Phật đường luôn có người niệm Phật, không câu nệ nhân số bao nhiêu. Còn về các hoạt động giải trí khác cũng sẽ được sắp xếp, như múa dân tộc, biểu diễn, hý kịch, mỗi tuần đều sắp xếp một buổi, để người già có thời gian giải trí đầy đủ, có được một cuộc sống bình yên, vui vẻ, hòa lạc ấm áp giống y như một đại gia đình.
Chúng ta nhìn thấy trong các vãng sanh truyện của các triều đại, quả nhiên tu học như lý như pháp, có người ba đến năm năm thành tựu; cũng có người mười năm tám năm thành tựu. Từ đây có thể biết, sau khi nghỉ hưu, chính là lúc tốt nhất để chúng ta dụng công niệm Phật. Cho nên viện dưỡng lão là tràn đầy niềm hy vọng, quyết định không phải là công trình không có hy vọng, tôi nhất định phải từ trong không có hy vọng, giúp đỡ họ tràn đầy niềm hy vọng. Hơn nữa tôi còn phải đem lý niệm này, giới thiệu cho tất cả các tôn giáo, chúng ta cùng nhau nỗ lực giúp đỡ hết thảy chúng sanh, nâng cao chất lượng cuộc sống của họ, từ nhân đạo nâng cao lên thiên đạo, từ phàm phu nâng cao lên Thánh nhân, đây là việc chúng ta nên toàn tâm toàn lực đi làm. Chúng ta giúp đỡ người khác nâng cao, chính mình bất tri bất giác cũng đồng thời nâng cao rồi. Chúng ta giúp đỡ người khác làm Phật, chính mình làm gì có đạo lý không làm Phật! Chúng ta giúp đỡ người khác sanh lên trời, chính chúng ta làm sao lại không sanh lên trời!
Từ đây có thể biết, pháp thế xuất thế gian đích thực giống như Phật đã nói “không có định pháp”, tất cả mọi sự cát hung họa phước, thiện ác lợi hại, đều ở ngay trong một niệm. Một niệm này có thể chuyển đổi lại, chuyển ác thành thiện, chuyển không có hy vọng thành niềm hy vọng vô cùng tận, chuyển người làm trời, chuyển phàm thành Thánh, đều ở ngay trong một niệm.
Lời dạy bảo của Phật đối với chúng ta đều là từ trong tự tánh mà tuôn chảy ra, đây là trí tuệ đức năng vốn có của tự tánh chúng ta, mà tánh đức nhất thiết phải thực tiễn, bước đầu tiên của sự thực tiễn chính là nuôi người già. Mỗi người chúng ta đều sẽ già, chúng ta tôn kính người già, chăm sóc người già, đến lúc bản thân già đi, người trẻ tuổi sẽ tôn kính, chăm sóc bạn. Chúng ta không tôn kính người già, đến lúc bản thân già đi, cũng sẽ không có ai tôn kính bạn, đây là nhân quả báo ứng. Phật trên kinh nói, chăm sóc cha mẹ của chính mình, công đức này bằng với cúng dường Phật. Phật thường giảng, trong nhà bạn có hai vị Phật sống, chính là cha mẹ của bạn. Không hiếu dưỡng cha mẹ, đi cúng dường Phật, Phật sẽ không tiếp nhận, cho nên nhất định phải bắt đầu làm từ “hiếu thân tôn sư”.
Hôm nay công việc của chúng ta ở Singapore, thứ nhất là phải xây dựng thôn Di Đà để nuôi người già, thứ hai là bồi dưỡng các vị pháp sư trẻ tuổi, thứ ba chính là liên nghị giữa các tộc quần tôn giáo tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, giúp đỡ hợp tác lẫn nhau, cùng tồn tại cùng phồn vinh. Hãy để tất cả chúng ta cùng nhau sáng tạo nên một xã hội tốt đẹp, phồn vinh, an định, sáng tạo nên nền hòa bình thế giới chân thật, quyết định không thể có tâm vị kỷ. Tự tư tự lợi là mê hoặc điên đảo, bảo toàn cho sự vị kỷ chính là bảo toàn cho bản thân vĩnh viễn không được ra khỏi ba đường ác, vì vậy người chân chính giác ngộ, nhất định là niệm niệm vì hết thảy chúng sanh, từ bỏ lợi ích tự tư, như vậy mới có thể siêu việt lục đạo luân hồi, siêu việt mười pháp giới.
Kinh Phật thường giảng: “Tâm bao hàm thái hư, lượng trùm khắp cõi sa”, chúng ta phải đem nó thực hiện, thực tiễn. Trên thế gian có một số người làm ác, làm thế nào có thể biến người ác thành người tốt, biến người có tà tri kiến thành người có chánh tri kiến, biến người tạo tác tội nghiệp thành người tu phước, thì bạn đã thành công rồi. Chúng ta dùng sự chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi để đối đãi với hết thảy người, chúng sanh có tồi tệ đến đâu cũng sẽ bị cảm hóa, không thể cảm hóa luôn luôn là do chính mình làm chưa đủ, phải phản tỉnh, phải sửa lỗi, đây là ở trong sự chân thành vẫn còn tồn tại sự tự tư. Trên sự tướng, nhìn thấu, buông xả, tự tại, tùy duyên là được rồi. “Hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”, triệt để buông xả dục niệm khống chế, chiếm hữu đối với tất cả người, sự, vật. Từ bỏ thành kiến của bản thân, điều này rất quan trọng; chính mình muốn làm như thế nào, thì đó là sai lầm rồi.
Khuyết điểm của chính mình rất nhiều, bản thân không biết, người khác nhìn ra rồi, nói ra lỗi lầm của chúng ta, chúng ta liền phải kiểm điểm một cách rất nghiêm túc, lập tức cải tiến, sửa lỗi chính là tiến bộ. Người khác chỉ ra cho chúng ta, giúp đỡ chúng ta nâng cao lên trên, chúngtrong vô cùng cảm kích, đó là ân nhân của chúng ta, cả đời chúng ta đều sống trong “sự cảm ân”. Chúng ta toàn tâm toàn lực giúp đỡ xã hội, làm lợi ích cho chúng sanh, người khác làm như thế nào không cần phải hỏi đến, tâm phải vĩnh viễn bảo trì thanh tịnh, công đức này mới là công đức viên mãn. Chúng ta nhìn thấy rất nhiều người làm chuyện tốt, làm xong rồi vẫn còn lo nghĩ, có vướng bận, như vậy tâm liền không thanh tịnh, việc làm là quả thiện hữu lậu của ba cõi, quả báo ở cõi người cõi trời. Phước đức thanh tịnh, quả báo ở thế giới Cực Lạc, ở pháp giới Nhất Chân, tuyệt đối không giống nhau.
Các đồng tu học Phật chúng ta, người xuất gia phải làm ra tấm gương tốt của người xuất gia, người tại gia học Phật phải làm ra tấm gương tốt của người tại gia, đạo tràng phải làm ra tấm gương tốt của đạo tràng, chúng ta xây dựng viện dưỡng lão là tấm gương tốt của tất cả các viện dưỡng lão, thì chúng ta đã thành công rồi. Đây đích thực là công trình thù thắng nhất, có hy vọng nhất trên thế gian, chúng ta có duyên phận nhất định phải nắm bắt cơ hội, nghiêm túc nỗ lực đi làm, không thể bỏ lỡ. Nguyện cùng với chư vị đồng tu cùng nhau miễn lệ!
Sống ở thôn Di Đà là không thu một đồng
Sau khi thôn Di Đà được xây dựng xong, Niệm Phật đường có thể chứa một, hai ngàn người. Các đồng tu sống trong thôn Di Đà đều là Phật Bồ-tát, bởi vì đến nơi này chỉ có một mục đích, chính là làm Phật, “niệm Phật là nhân, làm Phật là quả”. Niệm Phật đường nhất định là hai mươi bốn tiếng đồng hồ niệm Phật không gián đoạn, ngày ngày như vậy, năm năm như vậy. Nhưng chúng ta là phàm phu nghiệp tập sâu nặng, phải ngày đêm niệm Phật không gián đoạn, về mặt thể lực có sự khó khăn, nhưng có khó khăn cũng phải khắc phục.
Trước kia lão hòa thượng Đế Nhàn dạy đồ đệ của ngài – ông thợ vá nồi, phương pháp niệm Phật, chính là “niệm mệt thì nghỉ ngơi, nghỉ ngơi khỏe rồi nhanh chóng tiếp tục niệm”. Quyết định không được lười biếng, giải đãi, đây là vì chính mình cũng là vì chúng sanh; bạn thành Phật rồi, liền có thể phổ độ chúng sanh, đây là tự lợi lợi tha. Hy vọng mọi người tự động tự phát, không cần người khác đốc thúc. Đến Niệm Phật đường niệm Phật mặc áo tràng, niệm mệt nghỉ ngơi cũng không cởi áo tràng; áo tràng cởi ra, sợ sẽ ngủ quên mất, làm chậm trễ công phu niệm Phật; mặc nguyên quần áo mà ngủ có thể nâng cao sự cảnh giác, cố gắng ngăn ngừa bản thân giải đãi biếng nhác. Ở trong đạo tràng như thế này tu học, thì làm gì có cái lý không thành Phật!
Sống ở thôn Di Đà là không thu một đồng, bởi vì bạn là chư Phật Bồ-tát, chúng tôi đáng nên cúng dường. Trong mười đức hiệu của Phật có “Ứng cúng”, bạn sống ở đây, thì đáng nên tiếp nhận sự cúng dường của hết thảy chúng sanh. Bạn phải đi làm Phật rồi, cho nên chúng tôi là dùng cái tâm cúng dường chư Phật để cúng dường bạn, giúp đỡ bạn trong một đời này viên mãn thành Phật đạo, cái duyên này thù thắng biết bao!
Niệm Phật Đường
Năm 1961 tôi từng có một vọng tưởng, Niệm Phật đường nên được kiến thiết thành hình tròn viên viên mãn mãn giống như hoa sen, vì việc này tôi còn vẽ một bức phác đồ. Xây dựng một ngôi Niệm Phật đường hình tròn có đường kính bốn mươi mét, Niệm Phật đường lớn cỡ một sân bóng đá, bên cạnh cất hơn bốn trăm gian liêu phòng, một gian liêu phòng ở ba người, thì có thể ở được hơn một ngàn hai trăm người.
Chúng tôi hy vọng đạo tràng không đặt thùng công đức, không thu một đồng một cắc nào, đừng để cho người ta có áp lực, hoan nghênh mọi người bất cứ lúc nào cũng có thể đến niệm Phật. Nếu như vừa bước vào liền phải bỏ tiền ra, sẽ dọa cho người ta đều không dám đến nữa. Mà người thường trú chỉ có một điều kiện, chính là thật thà niệm Phật. Cho nên, nó không chỉ là nuôi người già, mà là phải thành tâm niệm Phật.
Niệm Phật đường, mỗi một đường đều có người xuất gia dẫn dắt. Bạn niệm Phật, chúng tôi dùng tâm chân thành cung kính nhất để cúng dường bạn, cho nên nhất định phải chân thật phát tâm làm Phật mới được. Giả như có người nói, tôi không muốn làm Phật, mà là muốn tham cầu sự hưởng thụ, thì phải làm sao? Không sao cả, nếu có người muốn lười biếng trốn khóa tu, đến liêu phòng ngủ, chúng ta cũng không cần để ý tới, bởi vì đạo tràng có hộ pháp thần sẽ trừng phạt người đó, do hộ pháp thần quản lý, chúng ta không cần phải can thiệp, chúng ta vẫn cứ làm người tốt.
Tương lai chúng ta quy định các đồng tu niệm Phật trong Niệm Phật đường, mỗi ngày 24 tiếng đồng hồ niệm Phật không gián đoạn, áp dụng phương pháp của lão hòa thượng Đế Nhàn, “niệm mệt thì về liêu phòng nghỉ ngơi, nghỉ ngơi khỏe rồi lập tức đến Niệm Phật đường tiếp tục niệm Phật”. Để đề phòng kẻ lười biếng thừa cơ ngủ nướng, tương lai cửa của hơn bốn trăm gian liêu phòng này sẽ làm thành cửa kính, từ bên ngoài có thể nhìn rõ bên trong, ngoài ra lại cử người chuyên môn đi tuần liêu, tuyệt đối không cho phép ngủ nướng! Hơn nữa lúc nghỉ ngơi nhất định yêu cầu không cởi áo tràng, để nâng cao tâm cảnh giác. Như vậy lẫn nhau cùng răn nhắc khích lệ, mới có thể chân thật dụng công.
Lúc nghe kinh, bốn xung quanh Niệm Phật đường có màn hình lớn, cứ ở ngay trong Niệm Phật đường chỉ tịnh ngồi xuống để nghe kinh, mỗi ngày nghe kinh hai tiếng đồng hồ. Bốn việc “ăn mặc ở đi lại” đều do thường trú cúng dường. Thường trú lấy kinh phí từ đâu? Là phước báo do A Di Đà Phật ban cho.
Từ trường hoặc không khí của Niệm Phật đường như vậy, khẳng định vô cùng không thể nghĩ bàn, chỉ cần bước vào Niệm Phật đường niệm hai, ba ngày, liền sẽ đích thân thể nghiệm được. Bởi vì trong Niệm Phật đường có chư Phật Bồ-tát đang niệm Phật, đang làm sự ảnh hưởng, làm sự thị phạm cho chúng ta, nếu không thì tuyệt đối không thể thù thắng như vậy được. Chúng ta chỉ cần tâm chánh, hạnh chánh, tất cả vì Phật pháp, vì chúng sanh, thì mọi việc đều thuận buồm xuôi gió, có cầu ắt ứng.
Vọng tưởng này của tôi đã khởi lên hơn ba mươi năm rồi, vì sao lúc sớm không thành tựu? Lúc trước tâm lượng tuy đã mở ra rồi, nhưng vẫn chưa đạt đến cái to lớn của hư không pháp giới. Trước kia Đại sư Chương Gia nói với tôi: “Anh có tâm mong cầu, mà không thể hiện tiền, không thể thực hiện được, là do tự mình có chướng ngại.” Chỉ là chúng ta không biết chướng ngại nằm ở đâu, nếu có thể đem chướng ngại tiêu trừ, cảm ứng liền hiện tiền rồi. Chúng ta thông qua việc học tập “Kinh Hoa Nghiêm” mà biết được, tâm lượng nhỏ hẹp thì không thể được!
Các đồng tu đều từng nghe qua “phàm phu tâm lớn”, thế nào gọi là tâm lớn? Khởi tâm động niệm, đều nghĩ cho hết thảy chúng sanh trong hư không pháp giới. Chỉ nghĩ cho chính mình, cho gia đình, đoàn thể, quốc gia và thế giới này, thì tâm lượng quá nhỏ hẹp rồi, không phải phàm phu tâm lớn. Tiêu chuẩn của chữ “lớn” là tận hư không khắp pháp giới, nghĩ như vậy mới được!
Chúng ta xây dựng Thôn Di Đà, xây dựng Niệm Phật đường, là vì hết thảy chúng sanh trong hư không pháp giới mà kiến lập nên, không phải vì khu vực này của tôi, quốc gia này của tôi, cũng không phải vì thế giới này của tôi, mà là vì tận hư không, khắp pháp giới, đây mới là phàm phu tâm lớn. Bởi vì có cái tâm như vậy, cho nên Phật Bồ-tát trong hư không pháp giới, trong cõi nước chư Phật phương khác cũng đến Niệm Phật đường này niệm Phật. Chúng ta mở ra chính là hư không pháp giới, cho nên chư Phật Bồ-tát đến đây niệm Phật, Long Thiên hộ pháp đến giữ gìn. Tâm lượng lớn, chỉ có chúng sanh, chỉ có Phật pháp, không có chính mình, như vậy mới có thể cảm ứng đạo giao, chân thật đạt đến có cầu ắt ứng.
Vọng tưởng này của tôi muốn được thực hiện, cần phải cầu Tam bảo oai thần gia trì, chứ hoàn toàn không phải sức người có thể làm được. Chúng ta chỉ cần tin sâu Phật pháp, tin sâu vào sự gia trì bằng oai thần bổn nguyện của chư Phật Như Lai, thì không có gì phải sợ hãi. Đạo tràng như vậy sau khi được xây xong, chúng tôi không dám nói là “khoáng hậu”, nhưng khẳng định là “vô tiền” (chưa từng có trước đây), là đạo tràng niệm Phật số một thời hiện đại.
Chúng ta không có mong cầu gì, chỉ hy vọng kiến lập được đạo tràng số một như vậy, để làm một tấm gương. Bởi vì ở những quốc gia phát triển trên thế giới, đối với sự nghiệp phúc lợi người già đều làm rất nhiều, chúng ta cũng đã đi tham quan rất nhiều nơi, nhưng đối với phương diện chăm sóc đời sống tinh thần cho người già thì tương đối ít, điểm này vô cùng đáng tiếc. Chúng ta hy vọng về cả tinh thần lẫn vật chất đều có thể tận tâm tận lực đi làm, khiến cho các cụ già chân thật có thể cảm nhận được đây là những tháng ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời họ, thì mục đích của chúng ta đã đạt được rồi. Hy vọng tương lai đạo tràng như thế này, có thể phân bố khắp mọi khu vực trên toàn thế giới, thì thế giới này liền sẽ biến thành thế giới niệm Phật.
Niệm Phật đường áp dụng việc mở cửa hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Trong đường chia làm ba khu vực:
(1) Khu lạy Phật: Tượng Phật được thờ ở trung tâm Niệm Phật đường, không tựa vào tường (theo hình chữ Hồi 回), phía trước tượng Phật trải thảm lớn, để cung cấp cho việc lạy Phật.
(2) Khu kinh hành: Bốn xung quanh tượng Phật là dùng để đi nhiễu Phật kinh hành.
(3) Khu chỉ tịnh: Dọc hai bên sát tường đặt các bồ đoàn, để cho người niệm mệt nghỉ ngơi, chỉ ngồi nghe danh hiệu Phật, không niệm ra tiếng, đây là khu vực chỉ tịnh.
Ba khu vực này không cần có người sắp xếp, chăm sóc, toàn bộ đều tùy theo sở thích của bản thân, muốn kinh hành, thì đi nhiễu Phật; muốn ngồi niệm, thì đến ngồi tĩnh niệm ở hai bên; muốn lạy Phật, thì đến chính giữa để lễ Phật. Trong Phật đường không có duy na, duyệt chúng, chỉ dùng máy niệm Phật phát ra câu Phật hiệu, âm điệu của mọi người nhất trí với âm điệu của máy niệm Phật. Bước vào Phật đường chỉ có một quy củ: Tuyệt đối không nói chuyện cũng không chào hỏi, pháp sư cũng không ngoại lệ, thấy như không thấy, nếu không thì “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật…… Chào pháp sư!” trong câu Phật hiệu xen tạp một câu “Chào pháp sư”, điều này chính là làm gián đoạn rồi.
Ăn uống áp dụng hình thức tự chọn, chuẩn bị sẵn từng phần từng phần, không cần người thông báo, đói thì đi ăn. Như vậy, Phật đường mới thanh tịnh, trang nghiêm, công phu mới có thể đắc lực. Ngay vách bên cạnh Phật đường mở một phòng nghỉ ngơi, làm thành giường thông nhau, mệt rồi thì vào trong đó nghỉ ngơi.
Phương thức niệm Phật như thế này phù hợp với lời dạy bảo của Lão pháp sư Đế Nhàn, bất luận là nhiễu niệm, tọa niệm, niệm mệt thì nghỉ ngơi, nghỉ ngơi khỏe rồi tiếp tục niệm nữa, vừa tỉnh lại, Phật hiệu liền tiếp nối, tự tại biết bao! Đây là thật sự tinh tấn, thật sự đắc lực. Cho nên vừa bước vào Niệm Phật đường, chân thật sanh tâm hoan hỷ. Hoan hỷ niệm bao lâu thì niệm bấy lâu; hoan hỷ rời đi lúc nào thì rời đi lúc đó, không chào hỏi với bất kỳ ai. Phương pháp niệm Phật này rất tốt, hoàn toàn không có áp lực, vô cùng thích hợp với đại chúng hiện đại.
Học Tập Lời Dạy Bảo Của Đại Sư Ấn Quang
Thế gian loạn đến tột cùng, không thuốc nào cứu chữa nổi, kẻ sĩ có chí, sao nỡ ngồi nhìn. Nhưng lòng người đã chết, không dễ gì vãn hồi. Khổng tử chẳng từng nói sao, lời nói nghiêm chánh, có thể không thuận theo sao, biết sửa đổi mới là điều đáng quý. Lời nói uyển chuyển, có thể không vui vẻ sao, suy ngẫm tường tận mới là điều đáng quý. Vui vẻ mà chẳng suy ngẫm tường tận, thuận theo mà chẳng biết sửa đổi, ta cũng chẳng biết làm sao với họ nữa. Nhưng ở trong tình thế không thể thiết lập phương pháp, cũng không ngại gì đặc biệt thiết lập ra phương pháp. Bởi cái sự loạn của thế đạo, sự chết của lòng người, nằm ở chỗ không giảng nhân quả, không giảng giáo dục gia đình. Nếu quả thật có thể chú trọng hai việc này, thì người người biết nhân quả, nhà nhà có giáo dục, tất cả những lời nói nghiêm chánh và uyển chuyển ấy, đều trở thành cơm trà thường ngày, không có một ai chịu rời xa một ngày. Quang tôi thường nói, nhân quả, là cái quyền xảo to lớn để Thánh nhân trị thiên hạ, Phật độ chúng sanh vậy. Dạy dỗ con cái là căn bản của việc trị quốc bình thiên hạ, mà dạy dỗ con gái lại càng quan trọng hơn vậy. Bởi có người con gái hiền thục, mới có người vợ hiền người mẹ hiền. Con cái do người mẹ hiền sanh ra, đều là bậc hiền nhân. Đây chính là lý do vì sao ba bà Thái làm hưng thịnh nhà Chu, và cũng là nguồn gốc mà đời sau gọi người phụ nữ là “Thái thái” vậy. Quyền trị quốc bình thiên hạ, giới phụ nữ đã nắm được hơn một nửa, đại khái là lấy giáo dục của người mẹ làm gốc vậy.
Biện pháp cứu chữa:
- Bồi dưỡng bảo vệ nhân tài hoằng pháp.
- Tổ chức các loại diễn đàn văn hóa truyền thống, mục đích là để đại chúng xã hội nhận thức được giá trị của văn hóa truyền thống, tự cứu mình, cứu nhà, cứu nước, cứu thế giới, chỉ có cách này mới có thể làm được.
- Khuyên gắng kẻ sĩ có chí, tự thân gắng sức thực hành, tức là người do Phật Bồ-tát tái lai vậy.
Thế Giới Hài Hòa – Bắt Đầu Từ Tâm
Tâm tịnh cõi nước tịnh – Tâm an chúng sanh an – Tâm bình thiên hạ bình
Ngày 4 tháng 1 năm 2006
Bài nói chuyện tại Hiệp hội Giáo dục Phật đà Hồng Kông
Chư vị đồng học, chúc mọi người năm mới vui vẻ!
Những năm gần đây, chúng ta mang tình yêu thương gửi đến toàn thế giới, khẳng định tính người vốn thiện, người người đều có Phật tính. Kỳ vọng người người có thể học cách tự yêu mình, yêu người, yêu nhà, yêu nước, yêu thế giới, yêu chúng sanh. Tình yêu thương, xuất phát từ tâm, từ cảm nhận. Lấy cảm nhận chân tâm làm nghĩa. Sự cảm nhận của tâm chân thành chính là tình yêu thương. Lòng chân thành bao trùm thái hư, lòng nhân ái trùm khắp sa giới. Thực tiễn ở thế gian, chính là Đệ Tử Quy; thực tiễn trong Phật pháp, chính là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Do đó từ bi khắp pháp giới, thiện ý khắp cõi Ta-bà. Cũng tức là Thập Thiện Nghiệp Đạo khắp pháp giới, sự giáo dục của Đệ Tử Quy khắp cõi Ta-bà.
Tình yêu thương chính là sự thực tiễn viên mãn của Thập Thiện Nghiệp Đạo, cũng là di sản của văn minh thế giới. Tình yêu thương chính là sự thực tiễn viên mãn của Đệ Tử Quy, cũng là sự truyền thừa kinh nghiệm trí tuệ của nhân loại. Tình yêu thương chính là chân tâm, chân tánh, chân như, pháp tánh. Tình yêu thương chính là bản tánh, bản thiện, thuần tịnh, thuần thiện. Tình yêu thương chính là chân lý, chân đế, sinh mạng, vĩnh hằng. Tình yêu thương chính là thần thánh, Thượng đế, Chân chủ, thánh linh. Tình yêu thương ấp ủ nuôi dưỡng vạn vật trong vũ trụ, vạn vật trong thiên địa, không có thứ gì không sinh ra và lớn lên từ lòng yêu thương. Tình yêu thương là cội nguồn của vạn đức vạn năng vạn phước. Tất cả những gì chư Phật chư Thánh chứng được đạt được, tức là tự yêu mình. Tất cả những gì chư Phật chư Thánh dạy dỗ giáo hóa, tức là yêu người (sự thực tiễn Thập Thiện Nghiệp Đạo và Đệ Tử Quy). Sự giáo hóa của tất cả Thánh Hiền, chính là lòng yêu thương chân thành (nền giáo dục về quy phạm sinh hoạt Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo).
Ba tai nạn là quả, ba món độc là nhân. Nạn nước (lũ lụt) là quả, tham dục là nhân; Nạn lửa là quả, sân khuể là nhân; Nạn gió là quả, ngu si là nhân; động đất là quả, ngạo mạn là nhân. Siêng tu giới định tuệ, dứt sạch tham sân si, tâm bình khí hòa, tai nạn tự dứt. Lòng yêu thương chân thành, không xen tạp mảy may bất thiện, người người đều hướng thiện, nhà nhà đều hòa vui, tự nhiên không khởi ba tai nạn cùng các kiếp nạn. Ba môn học (giới định tuệ) tăng thượng, nhân ái lễ nhượng, thiên hạ hòa thuận, nước giàu dân an, binh đao vô dụng, tự nhiên trăm phước cùng đến, ngàn điềm lành mây tụ! Đây là hiệu quả viên mãn của nền giáo dục nhân ái của Thánh Hiền, là sự hiển phát tự nhiên của chân tánh chúng ta. Nguyện các bạn đồng luân của tôi đặc biệt coi trọng sự nhận thức và học tập Thập Thiện Nghiệp Đạo và Đệ Tử Quy, nhất thiết phải thực tiễn viên mãn một trăm phần trăm. Đây chính là đại pháp tu hành căn bản để hóa giải mọi tai nạn, hóa giải mọi sự xung đột, đối lập, mâu thuẫn!
Năm trước, có bạn đồng học gửi cho tôi xem hai cuốn sách, do nhà phong thủy, nhà tướng số Hồng Kông xuất bản, dự báo vận trình năm nay. Thời vận năm nay, sẽ không tốt hơn năm ngoái, tai nạn vẫn còn. Mấy tháng trước, Tổ chức Y tế Thế giới từng đưa ra lời cảnh báo, tôi nghe các bạn đồng học nói, nhắc nhở đại chúng chú ý phòng chống dịch bệnh. Dịch bệnh năm nay chính là “cúm gia cầm” mà mọi người đều quen thuộc. Nói rằng dịch bệnh này rất có thể sẽ bùng phát vào mùa đông năm ngoái. Nếu như dịch bệnh bùng phát, sẽ lây lan đến mùa xuân năm nay. Thế thì rất nghiêm trọng! Nhưng may thay, mùa đông năm ngoái chúng ta đã bình an vượt qua rồi, dường như lập xuân cũng sắp đến rồi, tai nạn này ít nhất có thể nói là đã giảm nhẹ, hoặc là đã lùi lại rồi.
Lời dự báo của Tổ chức Y tế Thế giới quả thật khiến người ta kinh hãi. Tổ chức nói, dịch bệnh này nếu như một khi lây lan ra toàn thế giới, số người chịu thảm họa đại khái có một trăm triệu người, tỷ lệ tử vong là một phần hai, tức là năm mươi triệu người; có thể thấy được vô cùng vô cùng nghiêm trọng. Cho nên đạo tràng chúng tôi cùng với Tịnh Tông Học Hội trên toàn thế giới, còn có những đồng học tại gia theo dõi vệ tinh và mạng internet của chúng tôi, tôi đều nhắc nhở họ, phải nghiêm túc nỗ lực nghiên cứu giáo lý, niệm Phật. Niệm Phật vì sao còn phải nghiên cứu giáo lý? Nếu giáo lý không thông, thì niệm Phật thuộc về mê tín; dẫu cho có thể có chút chỗ tốt, nhưng chỗ tốt không lớn. Nếu như có sự thấu hiểu nhận thức sâu sắc đối với giáo lý, thì công phu niệm Phật liền không giống nhau. Niệm Phật, tụng kinh, thậm chí Tam thời hệ niệm do Tịnh Tông Học Hội chúng ta đề xướng, hiệu quả cũng sẽ không giống nhau.
Đích thực có linh môi (đồng cốt, nhà ngoại cảm) tiết lộ thông điệp cho tôi, yêu cầu các vị chủ trì pháp sư khi làm Tam thời hệ niệm nhất định phải “tùy văn nhập quán” (theo văn mà quán tưởng), quỷ thần mới đạt được lợi ích tương đối lớn; nếu không thể tùy văn nhập quán, chỉ chiếu theo nghi quy mà đọc, hiệu lực không lớn. Từ đây có thể biết, sự cảm ứng giữa người với người, giữa người với vạn vật, giữa người với thiên địa quỷ thần; chỉ có tâm chân thành mới có thể cảm ứng. Tâm tôi không thành, sức mạnh cảm động sẽ rất yếu ớt. Nghi quy của Phật pháp là dẫn dắt chúng ta chí thành cảm thông, nếu không thể tùy văn nhập quán, hiệu quả tự nhiên sẽ giảm thấp. Vì thế, chúng ta mới đem pháp sự Tam thời hệ niệm ra giảng giải chi tiết. Quá khứ, tôi cũng từng yêu cầu người làm pháp sự nhất định phải nghe qua phần giảng giải Tam thời hệ niệm trước một lần. Tốt nhất là dẫn dắt đại chúng cùng nhau nghe, khiến cho những người tham dự pháp hội đều có thể hiểu được ý nghĩa của kinh văn, miệng đọc đến đâu đồng thời tâm nghĩ đến đó, đây chính là tùy văn nhập quán, hiệu quả tự nhiên liền sâu sắc hơn. Đáng lý ra trước mỗi một thời Tam thời hệ niệm, đều phải đem phần giảng giải nghe qua vài lần.
Cùng một đạo lý, niệm Phật cũng là như vậy, đối với kinh giáo nếu chúng ta không thâm nhập, hiệu quả liền yếu ớt. Một người có đức hạnh niệm Phật, chúng ta niệm một vạn câu Phật hiệu đều không bằng một câu Phật hiệu của người đó. Thế nào gọi là đức hạnh? Chính là người chân chính thông đạt, người có cảm ứng. Cổ đức thường giảng “Một niệm tương ưng một niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật”, người có đức hạnh một câu Phật hiệu liền khởi cảm ứng với Phật; chúng ta niệm một vạn câu đều không khởi nổi cảm ứng. Tuy đều là niệm, nhưng công lực không giống nhau, đạo lý nằm ở đây.
Cho nên, Phật pháp truyền thừa ở nước ta được hai ngàn năm rồi, Phật giáo chính thức truyền đến Trung Quốc là vào năm 67 Công nguyên, nay là năm 2006; đến năm 2067, chính là được hai ngàn năm rồi. Đời đời tương truyền, truyền đến thế hệ chúng ta thì suy vi đến tột cùng rồi. Quý vị muốn hỏi nguyên nhân gì? Đại khái ngày nay chúng ta ở tại khu vực này, quốc gia này, thế giới này, tôi tin rằng người niệm Phật tuyệt đối nhiều hơn số người thời xưa. Hiện nay dân số đông, thời xưa dân số ít. Số lượng người chắc chắn nhiều hơn thuở trước, nhưng cảm ứng không bằng thời xưa, nguyên nhân chính là tâm thái học Phật của người kim kẻ cổ không giống nhau. Người hiện đại vọng niệm quá nhiều, không có sự nhẫn nại; tâm của người xưa tương đối thuần, tương đối chuyên nhất, cho nên hiệu quả của họ tốt hơn chúng ta.
Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc và Cục Tôn giáo Quốc gia, vào tháng 4 năm nay tổ chức “Diễn đàn Phật giáo Thế giới” lần thứ nhất tại Chiết Giang, đã đưa ra chủ đề của diễn đàn “Thế giới hài hòa, bắt đầu từ tâm”. Phụ đề có ba câu: “Tâm tịnh cõi nước tịnh, tâm an chúng sanh an, tâm bình thiên hạ bình”. Đề xuất rất hay! Tôi nghe nói lần này đã mời đại biểu của mấy chục quốc gia đến tham gia, quy mô rất lớn. Chúng ta nghe xong rất hoan hỷ, đó chính là Phật giáo của Trung Quốc, tôn giáo của Trung Quốc đang đi ra quốc tế, đây là việc tốt. Tiêu đề cũng vô cùng hay. Hiện tại thế giới bất hòa, đây là một việc lớn mà toàn thể nhân loại trên thế giới đều quan tâm. Làm thế nào có thể hóa giải xung đột, thúc đẩy xã hội an định, thế giới hòa bình. Ba câu nói này nếu có thể thực tiễn, thì xung đột tự nhiên không sanh ra. Xã hội an định, thế giới hòa bình tức có thể thực tiễn. Thế nhưng tâm tịnh, tâm của chúng ta làm sao mới có thể thanh tịnh? Làm sao mới có thể an? Làm sao mới có thể bình? Đây chính là hạt nhân của chủ đề! Ở trong cửa Phật mà giảng, đây là vấn đề lớn, không phải vấn đề nhỏ. Ba vấn đề này giải quyết được rồi, chúng sanh liền thành Phật. Tuy nói là ba câu, thực tế thì một mà ba, ba mà một. Chỉ cần đạt được một cái, thì hai cái còn lại đều đạt được. Tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì làm gì có đạo lý không an, không bình! Tâm hễ an rồi, đương nhiên thanh tịnh, đương nhiên bình đẳng rồi. Cho nên đạt được một, thì đạt được cả ba. Giống y như “Kinh Vô Lượng Thọ” đã giảng “giác, chánh, tịnh”.
Nhìn thấy ba câu nói này, tự nhiên sẽ liên tưởng đến câu chuyện của Đại sư Huệ Khả của Thiền tông. Thời đại của Lương Võ Đế, Tổ sư Đạt-ma đem Thiền truyền đến Trung Quốc. Lương Võ Đế là đại hộ pháp của cửa Phật, nói chuyện cùng Tổ sư Đạt-ma không tâm đầu ý hợp, không có duyên phận, cho nên không nhận được sự hộ trì của Lương Võ Đế. Thế là ngài đến chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn để bế quan, ngài đã ở tại nơi đó chín năm, mới gặp được một người theo ngài học tập, chính là Huệ Khả. Huệ Khả vô cùng thành tâm, lúc bấy giờ là mùa đông, nhìn thấy Tổ sư Đạt-ma đang đả tọa trong phòng, cũng không dám đi quấy rầy, liền đợi ở ngoài cửa, đợi ngài hạ tọa rồi mới cầu ngài. Thời gian quá lâu rồi, mùa đông có tuyết rơi, tuyết tích tụ ngập đến đầu gối, Tổ sư Đạt-ma vẫn chưa xuất định. Huệ Khả đã đợi rất lâu, tâm của ông rất kiên định. Thế là ông liền dùng giới đao chặt đứt cánh tay trái của mình, cầm lấy cánh tay này đi cúng dường Tổ sư Đạt-ma. Cho nên Nhị tổ chỉ có một bàn tay phải, bàn tay trái đã cúng dường sư phụ rồi.
Lúc này Tổ sư Đạt-ma mở mắt nhìn thấy cảnh tượng trước mắt, liền nói: Ông rốt cuộc là vì sao? Hà tất phải chịu khổ, tự mình chặt cánh tay đến để cúng dường? Đặc biệt là nhìn thấy ông ấy lại đứng trong tuyết lâu như vậy, liền hỏi ông vì sao? Huệ Khả nói: Trong tâm đệ tử bất an, cầu đại sư an tâm cho con. Tổ sư Đạt-ma nói với Huệ Khả: “Ông đem tâm ra đây, ta an cho ông.” Câu nói này đã nhắc nhở Huệ Khả, Huệ Khả hồi quang phản chiếu. Rất lâu, liền nói với Tổ sư Đạt-ma: “Tìm tâm hoàn toàn không thể được”. Tổ sư Đạt-ma nói: “Ta đã an tâm xong cho ông rồi”. Huệ Khả ngay câu nói ấy liền đại ngộ, thế là Đạt-ma liền truyền y bát cho ông, trở thành Tổ sư đời thứ hai của Thiền tông. Đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Tâm an rồi, tâm đương nhiên thanh tịnh, tâm đương nhiên bình đẳng rồi. Hiện tại tiêu đề này: “Tâm tịnh cõi nước tịnh, tâm an chúng sanh an, tâm bình thiên hạ bình”. Mang đến sự gợi mở rất lớn cho chúng ta. Cõi nước thanh tịnh, xã hội an định, nhân dân hòa lạc, thiên hạ thái bình, luôn phải cần đại chúng giác ngộ mới có thể làm được, mới có thể thực tiễn. Đương nhiên phải bắt đầu làm từ chính bản thân tôi “lấy tu thân làm gốc, lấy giáo dục làm đầu”!
Đại sư Huệ Năng là vị tổ thứ sáu, ngữ lục của ngài được người đời sau tôn xưng là “Đàn Kinh”, đem ngữ lục của ngài xem ngang hàng với kinh điển do Thích-ca Mâu-ni Phật đã giảng. Quý vị xem, trứ thuật của tất cả Tổ sư các đời của Thiền tông đều gọi là “Ngữ lục”, không gọi là “Kinh”, duy chỉ có ngữ lục của Lục tổ gọi là “Kinh”, đây là sự tôn trọng của người đời sau đối với ngài, ngài thực sự rất liễu giải. Cả đời dạy học, dưới tòa của ngài các vị đại đức minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ có 43 người, điều này trong lịch sử Trung Quốc không có người thứ hai, trước Huệ Năng không có, sau Huệ Năng cũng không có.
Chúng ta biết rằng minh tâm kiến tánh, trên “Kinh Hoa Nghiêm” chính là Bồ-tát Pháp thân, cảnh giới này không những siêu việt lục đạo, mà còn siêu việt mười pháp giới. Chúng ta nhìn thấy trong “Kinh Hoa Nghiêm”, các ngài đối với tất cả các pháp thế xuất thế gian, chấp trước buông xuống rồi, phân biệt cũng buông xuống rồi, khởi tâm động niệm đều buông xuống rồi. Khởi tâm động niệm là vô minh, vô minh không còn nữa, phân biệt chấp trước đương nhiên cũng dứt rồi. Tìm tâm hoàn toàn không thể được, bạn khởi tâm gì? Bạn động niệm gì? Khởi tâm động niệm là vọng tâm, không khởi tâm không động niệm là chân tâm. Chân tâm ở đâu? Chân tâm trùm khắp pháp giới, chân tâm trùm khắp hư không, trùm khắp mọi thời gian. Trên “Kinh Hoa Nghiêm” nói toàn bộ vũ trụ, tất cả vạn pháp, tất cả chúng sanh từ đâu mà ra? “Chỉ do tâm hiện”, là do chân tâm hiện, vì sao có nhiều sự sai biệt như vậy? Mười pháp giới y chánh trang nghiêm. “Chỉ do thức biến”, thức là vọng tâm, chân tâm hiện ra hiện tượng, vọng tâm đem hiện tượng này biến thành lục đạo, biến thành mười pháp giới. Vọng tâm là giả, không phải thật. Một ngộ tất cả đều ngộ, vấn đề này mới chân thật được giải quyết.
Tông môn và giáo hạ không giống nhau, tông môn là ngộ rồi khởi tu, cho nên sự ngộ của nó là đốn ngộ. Sau khi ngộ rồi phải tu, tu cái gì? Bạn vẫn còn tập khí tồn tại, phiền não đã đoạn rồi, vẫn còn tập khí, nhất thiết phải ở trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, trong đối nhân xử thế tiếp vật mài mòn sạch sẽ tập khí. Ngộ rồi khởi tu, tức là 53 lần tham học của Thiện Tài ở phần cuối “Kinh Hoa Nghiêm”, ngài ấy khai ngộ dưới tòa của Văn Thù. 53 lần tham học là trải qua sự việc để rèn luyện tâm, thành tựu hậu đắc trí. “Hoa Nghiêm” đã mở ra cho chúng ta một tấm gương vô cùng tốt. Sau khi giác ngộ rồi dấn thân vào công tác dạy học, cho nên bản thân sau khi thành tựu rồi chỉ có một việc, giáo hóa chúng sanh. Ví dụ Thích-ca Mâu-ni Phật ba mươi tuổi thị hiện thành đạo, cũng tức là điều chúng ta thường nói đại triệt đại ngộ, đối với tất cả pháp thế xuất thế gian không có chấp trước, không có phân biệt, không còn khởi tâm động niệm nữa, đây mới là triệt ngộ chân chính. Nếu không có chấp trước, vẫn còn phân biệt, vẫn còn khởi tâm động niệm, đây là A-la-hán; nếu chấp trước, phân biệt đều đoạn rồi, vẫn còn khởi tâm động niệm, đây là Bồ-tát. Chư vị phải biết rằng, Bồ-tát này là Bồ-tát, Phật của mười pháp giới, bốn pháp giới bậc Thánh, các ngài tuy sẽ khởi tâm động niệm, đích thực không có phân biệt, không có chấp trước. Nếu các ngài có thể đoạn trừ luôn cả khởi tâm động niệm, các ngài liền siêu việt mười pháp giới rồi. Chúng ta giảng rất nhiều trong “Hoa Nghiêm”, đối với cảnh giới này rất rõ ràng.
Tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn, tu là tu cái gì? Chẳng ngoài việc đoạn chấp trước, đoạn phân biệt, đoạn khởi tâm động niệm. “Pháp” là phương pháp, “môn” là đường lối. Phương pháp đường lối rất nhiều, toàn bộ đều là tu sự việc này; nếu không phải tu cái này, thì không gọi là Phật pháp. Tu hành nhất thiết phải đoạn phiền não. Chấp trước là kiến tư phiền não, phân biệt là trần sa phiền não, khởi tâm động niệm là vô minh phiền não. Quý vị xem trên “Kinh Hoa Nghiêm” nói rất hay, “tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng của Như Lai”, sanh Phật bình đẳng, vốn dĩ chính là bình đẳng; “nhưng vì vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng được”, điều này chính là thuyết minh Phật và chúng sanh vốn dĩ bình đẳng. Vì sao hiện tại bạn lại biến thành cái dạng này? Chính là bạn vô cớ, không có duyên cớ gì mà sanh khởi vọng tưởng phân biệt chấp trước, cho nên đem pháp giới Nhất Chân biến thành mười pháp giới, biến thành lục đạo, biến thành ba đường ác. Biến ra như thế nào? Chính là do khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước biến hiện ra.
Sau khi bạn hiểu được đạo lý này, có thể đem tất cả phân biệt chấp trước buông xuống, không còn phân biệt, không còn chấp trước nữa, thì thành Bồ-tát, siêu việt lục đạo luân hồi; nếu không còn khởi tâm động niệm nữa, thì siêu việt mười pháp giới, khế nhập pháp giới Nhất Chân. Chỉ cần ý niệm hễ chuyển, phàm phu thành Phật chỉ ở ngay trong một niệm, một niệm thật sự chuyển lại được thì thành Phật rồi. Thích-ca Mâu-ni thành Phật rồi, thân thể vẫn còn ở thế gian, không trở ngại gì; dùng thân thể này độ chúng sanh, giúp đỡ người khác giác ngộ, lại mượn dùng thân thể này đoạn trừ tập khí tàn dư của chính mình, đây là sự nâng cao đối với chính mình. Quan trọng nhất là giúp đỡ hết thảy chúng sanh, tự lợi lợi tha, tự độ rồi sau mới có thể độ người.
Phật đem chân tướng vũ trụ nhân sinh giảng đơn giản như vậy, rõ ràng như vậy, minh bạch như vậy! Thế nhưng có người nghe thấy, tuy là giác ngộ, sự giác ngộ của họ lại giống như ánh chớp vậy, lóe sáng một cái, sau đó lại mê mất. Vì sao lại có tình hình này? Tập khí phiền não quá nặng rồi. Phiền não tập khí tích lũy đời đời kiếp kiếp từ vô lượng kiếp đến nay, làm gì có chuyện nhanh như vậy lập tức liền hiểu ngay được! Người lập tức hiểu được thì có, không nhiều. Giống như Tổ sư Đại đức, là thật, các ngài lập tức liền hiểu rõ; Huệ Khả vài câu nói ngài ấy liền hiểu rõ rồi. Hiện tượng hiểu rõ này của ông là gì? Chân thật buông xả rồi. Hôm nay chúng ta nghe kinh, hiểu rõ không? Hiểu rõ rồi. Vẫn y như cũ không buông xả, cái hiểu rõ đó là giả, không phải hiểu rõ thật; hiểu rõ thật, thì thật sự liền buông xả rồi. Khi nào mới hiểu rõ thật? Huân tu thời gian dài, chính là dưới tòa của Đại sư Huệ Năng, chúng ta đều nhìn thấy, người chân chính hiểu ra được có bốn mươi ba vị. Trong số 43 người có người rất nhanh, vài tháng, hai ba năm liền khai ngộ rồi; có người hai ba mươi năm. Đi theo Năng Đại sư, ngày ngày nghe ngài giảng kinh thuyết pháp, nương theo sự chỉ đạo của ngài mà đi tu hành, hai ba mươi năm mới giác ngộ, không tệ rồi! Hai ba mươi năm ngài ấy liền thành Phật rồi, cho nên rất đáng để chúng ta tôn kính.
Đến thời đại ngày nay, chúng ta giảng có rõ ràng hơn nữa, minh bạch hơn nữa, có thể khai ngộ không? Lời này không phải tôi nói, Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nói với tôi. Hoàng lão cư sĩ từng tham thiền với lão hòa thượng Hư Vân. Ông học Mật, thầy của Mật tông là Thượng sư Cống Cát, đều là những người rất có danh vọng, rất có thành tựu. Những năm đầu tôi về nước chính là đi thăm ông, chúng tôi kết duyên ở nước Mỹ, nhưng ở Mỹ chưa từng gặp mặt. Tôi biết tin tức của ông, liền đến Bắc Kinh để thăm ông. Ông nói với tôi, thời đại hiện nay, Thiền không còn nữa, Mật cũng không còn nữa. Tham thiền sẽ không khai ngộ, đại khái thời đại hiện nay, người đắc thiền định đều không còn nữa; học Mật cũng không thể thành tựu. Ông nói với tôi, trong sáu mươi năm gần đây, người học Mật thành tựu chỉ có sáu người. Ông nói, về sau e rằng không còn nữa, điều duy nhất có thể thành tựu chính là niệm Phật, đới nghiệp vãng sanh. Cho nên bản thân ông đời này tuy học Thiền, học Mật, tốn nhiều thời gian như vậy, nhiều tinh thần như vậy, cuối cùng vẫn là niệm Phật cầu vãng sanh. Lúc ông bị bệnh, một ngày niệm mười bốn vạn câu Phật hiệu, dũng mãnh tinh tấn, ông là niệm Phật vãng sanh.
Thầy của ông là Lão cư sĩ Hạ Liên Cư. Bản hội tập “Kinh Vô Lượng Thọ” chính là Lão cư sĩ họ Hạ dùng thời gian mười năm biên soạn thành. Tôi ở hải ngoại hoằng dương bản này, ông ở trong nước hoằng dương bản này. Vào thời đại đó hoằng dương bản này chỉ có hai người chúng tôi, cho nên chúng tôi gặp mặt vô cùng thân thiết. Kinh đề của “Kinh Vô Lượng Thọ”; kinh đề là tổng cương lĩnh của toàn kinh, giống y như tựa đề của bài văn vậy, rất quan trọng. Trong kinh đề bao hàm “thanh tịnh, bình đẳng, giác”, tương ưng với luận đề do Cục Tôn giáo Quốc gia đưa ra, “tâm tịnh, tâm an, tâm bình”. “Bình” là bình đẳng, “Tịnh” là thanh tịnh; giác rồi thì “an” rồi, mê rồi tâm liền không an. Quý vị xem, luận đề này chính là cương yếu chỉ đạo cao nhất cho việc tu hành của “Kinh Vô Lượng Thọ”. Thanh tịnh, bình đẳng, giác, chính là tâm tịnh, tâm an, tâm bình. Hy vọng chân thật đạt được “tâm tịnh, tâm an, tâm bình”, nhất thiết phải học tập “Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ”.
“Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh” phẩm “Tịnh Hạnh” gần đây chúng ta học tập, Bồ-tát Văn Thù nói với chúng ta một tổng cương lĩnh, “Khéo dụng cái tâm đó (thanh tịnh bình đẳng giác), thì có thể thành tựu tất cả thắng diệu công đức”, làm thế nào để khéo dụng cái tâm đó? Kinh văn nêu tóm lược một trăm bốn mươi mốt nguyện. Từ những ví dụ này, suy một ra ba, nghe một biết mười, quý vị liền biết được trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, công việc đối nhân xử thế tiếp vật nên dụng tâm như thế nào. Một trăm bốn mươi mốt là biểu pháp, Thanh Lương Đại sư nói rất rõ ràng, một trăm chính là ngôi vị Thập tín. Thập tín là nền tảng của việc học tập, mỗi một ngôi vị đều thâu nhiếp trọn vẹn tất cả ngôi vị, mười nhân mười là một trăm; đây là nói chi tiết. Bốn mươi mốt thì biểu thị cho Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác. Bốn mươi mốt, đây là nói tóm lược. Kinh văn đối với dạy học nền tảng nói rất rõ ràng, nói một trăm bài, khó nhất chính là giáo dục nền tảng.
Khó khăn nghiêm trọng chúng ta gặp phải trong việc học Phật ngày nay, niệm Phật niệm nhiều năm như vậy, ngay cả một chút tin tức cũng không có. Ai dám nói bản thân có phần nắm chắc vãng sanh? Không có phần nắm chắc, nguyên nhân nằm ở đâu? Là do chúng ta lơ là giáo dục nền tảng, dạy học nền tảng. Phật vô cùng từ bi, giảng rất chu đáo, chúng ta cũng thật sự hiểu rõ rồi, đã nắm vững được rồi. Đồng tu Tịnh tông tu hành năm khoa mục, thứ nhất “Tịnh nghiệp tam phước”, là tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc của toàn bộ việc tu học Phật pháp, chúng ta đã tìm thấy rồi. Thứ nhất “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, tâm từ không giết hại, tu mười nghiệp thiện”. Chúng ta làm được chưa? Nếu điều này không thể thực tiễn, thì ngay cả cái rễ cũng không có rồi. Điều này là căn bản, là pháp thế gian, không phải Phật pháp. Thứ hai “Thọ trì tam quy, đầy đủ các giới, không phạm oai nghi”. Tiếp nhận tam quy mới là đệ tử Phật. Cho nên điều thứ nhất là thiện nhân thế gian, chính là “thiện nam tử, thiện nữ nhân” mà trên kinh Phật đã giảng. Thiện thế gian đều không có, làm sao có thể học Phật? Phật là đại thiện, cái thiện của Phật được xây dựng trên nền tảng của thiện thế gian.
Trong giới luật, “Kinh Phật Tạng” nói rất hay, “đệ tử Phật không học Tiểu thừa trước, học Đại thừa sau, không phải đệ tử Phật”. Phật không thừa nhận bạn là học trò của ngài. Tiểu thừa là gì? Tiểu thừa là thiện nhân thiên, học Phật bắt buộc phải cắm rễ từ trên thiện nhân thiên. Chúng ta ngay cả thiện nhân thiên đều chưa làm được. Gần đây cũng thường có đồng học đến thăm tôi, từ nội địa đến, nói với tôi hiện tại trong nước phong trào học tập “Đệ Tử Quy” rất thịnh hành. Có một số đồng học trẻ tuổi, còn có không ít người làm công tác giáo dục, làm giáo viên tiểu học, giáo viên trung học, vốn dĩ đều cho rằng bản thân rất hiếu thuận, làm cũng rất tốt, kết quả sau khi học “Đệ Tử Quy” xong mới cảm thấy rất xấu hổ, hiếu đễ thực sự vẫn chưa làm được, kém quá xa so với tiêu chuẩn trên “Đệ Tử Quy”! Đây là sự dạy học của Đệ Tử Quy, đã sinh ra hiệu quả rồi, rất đáng quý.
Phật giáo Trung Quốc từ giữa thời Đường trở về sau, thì không học Tiểu thừa nữa, mà lấy Nho, Đạo thay thế cho Tiểu thừa. Cho nên từ xưa bất luận tại gia xuất gia, đồng học học Phật không ai là không đọc sách Nho; nói cách khác, không ai là không học “Đệ Tử Quy”. Tuy không gọi là “Đệ Tử Quy”, nhưng luôn là loại môn học cùng loại với “Đệ Tử Quy”. Chư vị trong “Ngũ Chủng Di Quy” của Trần Hoằng Mưu, “Dưỡng Chánh Di Quy”, “Huấn Tục Di Quy”, “Giáo Nữ Nghi Quy”, quý vị liền có thể nhìn thấy. Chúng ta hiện nay đem nó làm lại bản in mới, chia làm năm tập. Tập thứ nhất, thứ hai đã xuất bản, “Dưỡng Chánh”, “Huấn Tục” và “Đệ Tử Quy” là những sách cùng thuộc một loại. Chúng ta ngày trước học tập cũng không phải dùng “Đệ Tử Quy”, mà là dùng “Dưỡng Chánh” và “Khúc Lễ”, “Nội Tắc” trong “Lễ Ký”. “Lễ Ký” cũng có mười mấy thiên, mỗi một thiên đều tốt, học những quy củ giáo huấn này, đặt định nền tảng tu dưỡng, mới biết được làm thế nào để “hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng”. Cho nên tôi hiện tại đem hai câu này thực tiễn ở “Đệ Tử Quy”; “Đệ Tử Quy” không thể làm được một trăm phần trăm, hai câu này liền chưa làm được.
“Tâm từ không giết hại, tu mười nghiệp thiện”, đây chính là Thập thiện nghiệp đạo. “Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo” chúng ta cũng từng giảng qua chi tiết, có lưu lại băng hình, hiện tại làm thành đĩa quang. Có một số bạn đồng học rất phát tâm, nương theo bài diễn giảng đem nó chỉnh lý thành văn tự. Bởi vì nó là nền tảng của học Phật, vô cùng quan trọng. Bài văn này bản thân tôi đã xem qua, và tiến hành tu chỉnh. Hiện tại quyển sách này cũng đang được lưu thông với số lượng lớn, lấy đây làm nền tảng đặt định cho việc học Phật. Nếu không thể đem “Đệ Tử Quy” và “Thập Thiện Nghiệp Đạo” thực tiễn vào đời sống sinh hoạt hằng ngày, thì tam quy ngũ giới liền không làm được. Tam quy chính là giác, chánh, tịnh, chính là “tâm tịnh, tâm an, tâm bình” giảng ở đây. Quý vị xem Đại sư Huệ Năng trong “Đàn Kinh” khai thị với đại chúng, ngài không nói quy y Phật, mà nói “quy y giác”, “giác mà không mê” là quy y Phật; giác thì tâm an. “Chánh mà không tà” là quy y Pháp, tâm bình. “Tịnh mà không nhiễm” là quy y Tăng, tâm được thanh tịnh. Ba câu này tức là Tam bảo! Năng Đại sư nói rất hay. Ngày nay chúng ta giảng “Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng”, rất nhiều người nghe không hiểu, ngược lại sinh ra hiểu lầm, quy y Phật liền nghĩ đến tượng Phật, quy y Pháp liền nghĩ đến kinh sách, quy y Tăng liền nghĩ đến người xuất gia. Kỳ thực Phật nói tam quy không phải ý này; Phật dạy chúng ta đáng nên quy y tự tánh Tam bảo, “tự tánh giác, tự tánh chánh, tự tánh thanh tịnh”, là ý này, không thể hiểu sai được!
Ba câu này nên học tập như thế nào? Thứ nhất phải giác ngộ, giác cái gì? Thánh nhân dạy người đều là đầu tiên đem tổng cương lĩnh học tập truyền thụ cho người. “Tam Tự Kinh” vừa mở đầu nói: “Nhân chi sơ, tánh bản thiện” (Con người sinh ra, bản tánh vốn thiện), đây chính là giác. Dạy bạn phải khẳng định bản tánh của tất cả mọi người vốn là thiện. Phật dạy người “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, cùng với “nhân chi sơ, tánh bản thiện” là một ý nghĩa. Bạn phải khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đã có Phật tánh họ ắt có thể làm Phật! Họ vốn dĩ chính là Phật. Cho nên con người vốn dĩ liền thiện, vì sao biến thành bất thiện? Học theo thói xấu rồi. Người người đều có Phật tánh, vì sao bạn biến thành chúng sanh? Học sai rồi. Từ đây có thể biết, “Giáo do hưng khởi” (Giáo dục do đó hưng khởi), giáo dục quan trọng biết bao!
Cho nên sự dạy học của tông môn đích thực tương đối cao minh, vừa mở đầu liền giảng “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”, bạn có Phật tánh. Đầu tiên phải khẳng định tất cả vạn pháp từ tự tánh sanh, cũng chính là điều trên “Kinh Hoa Nghiêm” đã giảng, vũ trụ, vạn vật, chúng sanh từ đâu mà ra? “Chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”, khẳng định tất cả pháp từ tự tánh sanh. Tự tánh, tự tâm là chân Phật! Cho nên chân Phật là tự tánh của chính mình, thành Phật không có gì khác, khôi phục tự tánh mà thôi. Tuyệt đối không phải nói ngoài tự tánh ra vẫn còn có một ông Phật cho bạn thành. Cho nên chúng sanh giác ngộ rồi thì xưng là “Phật”, mê rồi thì xưng là “chúng sanh”; sự khác biệt giữa phàm và Thánh chính là “giác, mê”.
Hiện tại chúng ta mê rồi, mê quá lâu rồi, mê quá sâu rồi, đã dưỡng thành rất nhiều thói quen xấu, tập khí xấu. Đầu tiên bạn phải giác ngộ, giác ngộ mới sinh ra tín tâm; tôi có thể thành tựu, có tín tâm; “Tín là nguồn gốc của đạo, là mẹ của mọi công đức”. Nếu bạn không có tín tâm, chuyện gì cũng không thể thành tựu. Tất cả sự việc của pháp thế xuất thế gian, sự thành tựu lớn nhỏ luôn luôn được quyết định ở tín tâm. Cho nên chúng ta thấu hiểu đạo lý này tự nhiên sanh khởi tín tâm, chúng ta tin tưởng tất cả mọi điều bất thiện, trong tự tánh vốn dĩ không có, đây là Bồ-tát Mã Minh trong “Khởi Tín Luận” nói với chúng ta: “Bản giác vốn có, bất giác vốn không”. Tập khí phiền não đều là do “bất giác” biến hiện ra, vốn dĩ không có. Bạn nói sát sanh, trộm cắp, trong tự tánh cũng không có. Vì sao hiện tại lại có những tập khí này, loại hành vi này? Đây đều là hiện tượng nhiễm phải vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đây không phải thứ vốn có của tự tánh.
Hiện tại chúng ta nên bắt đầu tu sửa lỗi lầm từ đâu? Từ Thập thiện nghiệp đạo. Thầy tôi dạy tôi buông xả, buông xả sát sanh. Không những không sát sanh, phàm là ý niệm hại người đều thuộc về sát sanh. Phạm vi của sát sanh rất rộng, bạn muốn hại người khác, ý niệm có sự đe dọa đến sự an toàn tính mạng của họ, đều thuộc về tâm sát; ý niệm có sự tổn hại đến tài vật của họ là tâm đạo. Cho nên Bồ-tát giới và Tỳ-kheo giới không giống nhau, sự kết tội của Tỳ-kheo giới, là luận sự không luận tâm; Bồ-tát giới thì là luận tâm không luận sự. Bạn mới khởi tâm động niệm, liền đã phạm giới rồi. Bạn hận một người nào đó, muốn hại một người nào đó, bạn liền phạm sát giới rồi. Bạn tuy chưa giết họ, ý niệm của bạn sai rồi, ý niệm này chính là tâm sát, đã phạm sát giới rồi. Bạn không trộm của họ, đạo của họ, muốn chiếm chút tiện nghi nhỏ của họ, bạn liền phạm đạo giới rồi. Đạo tâm không dứt, tâm của bạn bất thiện. Cho nên Bồ-tát giới là kết tội từ khởi tâm động niệm.
Tất cả mọi điều bất thiện quá nhiều quá nhiều rồi, tổng kết lại chung quy không ngoài mười loại lớn này. Cho nên chúng ta nhất định phải đem sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, hai lời, ác khẩu, ỷ ngữ, tham dục, sân khuể, ngu si, buông xả sạch sẽ. Cũng chính là thực tiễn Thập thiện nghiệp đạo. Thực tiễn Thập thiện nghiệp đạo thì tâm liền thanh tịnh rồi, tâm thanh tịnh liền sanh trí tuệ. “Kinh Kim Cang” nói: “Tín tâm thanh tịnh, tức sanh thật tướng”. Vì sao hiện tại không có trí tuệ? Tâm không thanh tịnh. Tâm giống như nước vậy, khi nước thanh tịnh không có sóng gợn, giống như một mặt gương vậy, cảnh sắc bên ngoài soi chiếu rõ ràng rành mạch. Ác là nước tâm nổi lên sóng to gió lớn. Có một ác niệm liền nổi sóng gợn, huống hồ mười điều ác cùng làm! Đó thực sự là sóng to gió lớn. Tâm của bạn làm sao có thể thanh tịnh? Cho nên muốn tâm thanh tịnh, nhất định phải thực tiễn mười nghiệp thiện.
Hiện tại chúng ta biết phải tu mười thiện, nhưng trên sự việc luôn luôn không làm được, đây là nguyên nhân gì? Nguyên nhân là từ nhỏ chưa từng tiếp nhận nền giáo dục của Đệ Tử Quy. Cho nên nói “tu hành” một cách chân chính, “hành” là hành vi của chúng ta, “tu” là tu sửa, đem những hành vi sai lầm tu sửa lại gọi là “tu hành”.
Hành vi sai lầm quá nhiều, tổng kết lại không ngoài ba loại lớn: Ý niệm, khởi tâm động niệm là hành vi của ý nghiệp; ngôn ngữ, hành vi của khẩu nghiệp; sự tạo tác của thân thể là hành vi của thân nghiệp. Tất cả hành vi dùng ba loại lớn thân, ngữ, ý này, thì toàn bộ đều bao gồm hết thảy rồi. Mười nghiệp thiện chính là từ ba loại lớn này phân chia tỉ mỉ thêm một chút. Thân nghiệp, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, thuộc về sự tạo tác của thân; khẩu nghiệp, vọng ngữ, hai lời, ỷ ngữ, ác khẩu, thuộc về sự tạo tác của miệng; ý nghiệp, tham, sân, si, thuộc về sự tạo tác của ý niệm. Trong tự tánh vốn dĩ không có sự tạo tác. Không có thì có thể đoạn dứt được hay không? Đương nhiên có thể. Trong tự tánh có, nhất định có thể khôi phục. Chư Phật Bồ-tát khôi phục rồi, chúng ta đương nhiên cũng có thể khôi phục, từ đây kiến lập tín tâm kiên định, “tín tâm thanh tịnh, tức sanh thật tướng”, trí tuệ vốn có của tự tánh liền sanh khởi rồi.
Trí tuệ sanh khởi, mới có thể tiến thêm một bước đem một số quan niệm sai lầm bỏ đi, đây chính là “Bát tà” mà Lục tổ đã giảng, tà là không chánh. Tà kiến, kiến giải sai lầm; tà tư, tư tưởng sai lầm, bạn nghĩ sai rồi, bạn nhìn sai rồi; tà ngữ, bạn nói sai rồi; tà nghiệp, là bạn làm sai rồi; tà mạng, là phương thức sinh hoạt hiện tại của bạn không chính xác. Hôm nay có một vị đồng tu hỏi tôi, ở phương Bắc cũng có một vị đệ tử cửa Phật rất không tệ, anh ấy muốn xây một đạo tràng. Nhưng duyên phận xây đạo tràng chưa chín muồi, anh ấy đã vay mượn bên ngoài rất nhiều tiền để xây đạo tràng. Đây chính là thuộc về tà mạng. Anh ấy phải dựa vào nợ nần, dựa vào hóa duyên, dựa vào quyên góp để nuôi sống đạo tràng này, vất vả biết bao! Tâm của anh ấy làm sao có thể an, làm sao có thể thanh tịnh? Đồng thời anh ấy gia tăng thêm gánh nặng cho người khác, người ta có bằng lòng không? Việc như vậy không thể làm, đây là thuộc về tà mạng. Mạng là nuôi sống cái thân mạng này, những thủ đoạn này sai rồi.
Thích-ca Mâu-ni Phật còn tại thế, lão nhân gia ngài đã làm ra cho chúng ta tấm gương tốt nhất. Thích-ca Mâu-ni Phật cả đời không xây đạo tràng, đạo tràng của ngài ở đâu? Người ở đâu, đạo tràng liền ở đó. Chúng ta nhìn thấy lão nhân gia ngài giảng kinh thuyết pháp phần nhiều ở dưới gốc cây, bên bờ sông. Ngồi trên mặt đất, các học trò đại chúng quây quần xung quanh, Phật liền giảng kinh thuyết pháp cho đại chúng, giải đáp thắc mắc. Cho nên, đều là ngồi trên mặt đất, không có giảng đường, cũng không có bàn ghế. Ý nghĩa của sự thị hiện này, chư vị nhất định phải hiểu được. Về sau tuy cũng có sự cúng dường tinh xá, vườn tược của quốc vương đại thần, trưởng giả, Thích-ca Mâu-ni Phật và học trò của ngài có một nơi để cư trú. Đây là thị hiện tùy duyên, có phòng xá thì đi vào bên trong dạy học; không có, thì ở bên bờ sông dưới gốc cây cũng được, bên trong bên ngoài đều không trở ngại gì. Thế nhưng chúng ta phải thấu hiểu, tất cả mọi sự cúng dường chỉ tiếp nhận quyền sử dụng; Thích-ca Mâu-ni Phật dạy chúng ta có thể có quyền sử dụng, mà không thể có quyền sở hữu. Bạn chỉ có thể thỉnh mời ngài đến tinh xá giảng kinh thuyết pháp, giảng xong ngài liền đi rồi. Không phải nói, tinh xá này cúng dường cho pháp sư. Pháp sư xuất gia rồi, lại tặng cho ngài một cái nhà, lại cùm ngài trở lại, đây là sai lầm rồi! Làm gì có cái đạo lý này.
Phật cả đời chưa từng mở miệng xin tiền người khác, chưa từng hóa duyên, điều này phải biết. Lão nhân gia ngài làm điển hình cho chúng ta, làm mô phạm cho chúng ta, chúng ta phải học, học Phật thì phải học theo ngài, không thể học theo người khác. Như vậy tâm bạn mới thanh tịnh, tâm mới an, mới bình đẳng. Nếu như bạn ôm một đống nợ nần vào thân, ba thứ này của bạn đều không còn nữa. Tâm của bạn không thanh tịnh, bất an, không bình đẳng, bạn hoàn toàn sai rồi. Cận đại có Đại sư Ấn Quang, quý vị xem lão nhân gia ngài, liên tục dạy bảo chúng ta xây dựng niệm Phật đường; ngài không dạy chúng ta xây đại đạo tràng, chỉ xây niệm Phật đường. Noi gương sơ tổ của Tịnh tông là Đại sư Huệ Viễn. Đại sư Huệ Viễn có phước báo, cho nên niệm Phật đường của ngài lớn, ngài có 123 người, người người đều thành tựu. Ấn tổ dạy bảo chúng ta, người hiện đại phước mỏng, dạy chúng ta xây niệm Phật đường, đừng vượt quá hai mươi người, mọi người cùng nhau cộng tu, sẽ có thành tựu. Không vượt quá hai mươi người, giảng đường hiện tại này của chúng ta là đủ dùng rồi. Hôm nay chúng ta nếu không giảng kinh, không lưu thông Phật pháp, chân thật tu hành, ba tầng lầu này của chúng ta, hai mươi người là đủ dùng rồi; nhưng chỗ này có một phiền phức, nó là tòa nhà thương mại, không được ở lại. Cho nên nhất định phải có thể ở, có thể nấu ăn, có một niệm Phật đường, thế là được. Đây là nói đến “Tà mạng”, chúng ta nên biết để tránh.
Tiếp theo nói “Tà phương tiện”. Nhà Phật giảng “Từ bi vi bản, phương tiện vi môn” (Từ bi là gốc, phương tiện là cửa). Phương là phương pháp, tiện là tiện nghi. Muốn dùng lời hiện tại mà nói, chính là phương pháp thích hợp nhất, phương pháp tốt nhất. Thế nhưng phương pháp tốt nhất, nếu không phải dùng vào chánh pháp, thì liền biến thành tà phương tiện rồi. Sự việc thuộc loại này quá nhiều quá nhiều rồi, chúng ta không có trí tuệ để phân biệt, tự nhiên rất dễ làm chuyện sai lầm. Thứ bảy là “Tà niệm”, thứ tám là “Tà định”, tên chung là “Bát tà”.
Mười điều ác đoạn trừ rồi tâm liền thanh tịnh, Bát tà đoạn trừ rồi tâm liền an. Lại phải đem những phiền não tập khí này cũng trừ bỏ đi, tâm liền bình rồi, “Tâm bình khí hòa”. Lục tổ đại sư nói mười một loại phiền não tập khí, thứ nhất, là ý niệm bất thiện, tất cả mọi ý niệm bất thiện đều không thể có. Tiếp theo, là ý niệm tà mê, đồng học học Phật chúng ta có, đây là gì? Hiếu kỳ, thích thần thông, thích cảm ứng, chỗ nào vừa nói là bạn liền động tâm rồi, đây gọi là tâm tà mê. Vì sao chúng ta lại có những tập khí này? Nói thật ra, mười điều ác chưa đoạn, Bát tà chưa trừ. Nếu mười điều ác, Bát tà đã bị đoạn trừ rồi, tập khí này vẫn còn, nhưng nó không khởi tác dụng, vì sao vậy? Ý niệm vừa khởi bạn liền giác ngộ rồi, vừa giác thì ý niệm này liền không còn nữa, cho nên khó nhất là đoạn mười điều ác!
Ngày nay chúng ta mười điều ác đoạn không nổi, chính là “Đệ Tử Quy” chưa thực tiễn. Cho nên tìm lại cái gốc, vẫn là phải nghiêm túc bắt tay vào từ trên “Đệ Tử Quy”, theo thứ tự từng bước từng bước nâng cao lên trên, mới dễ dàng nhập môn, người người đều có khả năng thành tựu. Nếu không hạ công phu từ trên việc này, đích thực là khó, thật sự là khó.
Thứ ba, kiếp hại tâm (tâm cướp hại), chính là có ý niệm làm hại chúng sanh mang tính thói quen. Đừng nói hại người, hại chúng sanh cũng là loại ý niệm này. Muỗi cắn tôi một cái, một chưởng đập chết rồi. Hại chúng sanh, có thói quen cố ý hoặc vô ý gây tổn thương đối với tất cả chúng sanh. Thứ tư, ác độc tâm (tâm ác độc), đây đều là tâm bất thiện, tập khí bất thiện. Năm, tật đố tâm (tâm ghen tị), quý vị nói chúng ta có hay không? Nhìn thấy người khác có chuyện tốt, trong tâm liền có chút không thoải mái, có một chút bất bình, điều này là không nên! Nếu có loại ý niệm này, tâm làm sao có thể bình? Nên học theo Phật Bồ-tát, nhìn thấy người khác có điểm tốt, được lợi ích, đáng nên hoan hỷ, đáng nên tán thán, không nên có sự ghen tị. Cần biết ghen tị tổn thương thân tâm chính mình nhất.
Lục đạo chúng sanh, nghiệp mà mỗi người tạo ra trong đời quá khứ không giống nhau, quả báo phải nhận đều khác nhau. Có người phú quý, có người bần tiện, có người khỏe mạnh, có người nhiều bệnh, vì sao lại có nhiều sự sai biệt như vậy? Nghiệp nhân không giống nhau. Phật ở trên kinh giải thích cho chúng ta rất rõ ràng, nghiệp lực của tất cả chúng sanh, đặc biệt giảng hai loại nghiệp của lục đạo, một loại gọi là dẫn nghiệp, dẫn nghiệp cõi người của chúng ta giống nhau, dẫn dắt bạn đến cõi người thọ thân, được thân người, nghiệp lực này là giống nhau; thế nhưng một loại khác là mãn nghiệp, thì mỗi mỗi đều không giống nhau. Cho nên tuy được thân người, nhưng phú quý bần tiện, cát hung họa phước không giống nhau. Mãn nghiệp là thành tựu như thế nào? Ba nghiệp thiện ác trong đời quá khứ chiêu cảm nên. Ba nghiệp thiện thì đời này hưởng phước, ba nghiệp bất thiện, thì đời này chịu khổ chịu nạn. Cho nên bạn phải thật sự tìm hiểu cho rõ ràng, tìm hiểu cho minh bạch rồi, thì sẽ không oán trời trách người, vì sao vậy? Hóa ra đều là tự làm tự chịu, bạn làm sao có thể trách người khác? Trách người khác thì lại gia tăng thêm một tầng tội lỗi. Tự mình tạo cái nhân, thì đời này chính mình chịu quả báo, chẳng liên quan gì đến người khác.
Hồi giáo giảng nhân quả hai đời, thế nhưng tôi đọc “Kinh Koran” phát hiện vẫn là nhân quả ba đời. Nó có sáu tín điều cơ bản, trong đó có một điều “Tin vào sự định sẵn”, “Kinh Koran” nói, “Chân chủ y theo sự định sẵn mà sáng tạo vạn vật”. Y theo sự định sẵn tạo ra người này để họ hưởng phước, tạo ra người kia để họ chịu khổ. Không phải Chân chủ không công bằng, thích bạn, ghét họ, không phải vậy. Chân chủ là y theo sự định sẵn. Sự định sẵn là gì? Giống y như nhân quả ba đời vậy, đời trước bạn tạo nhân thiện, đời này hưởng phước; đời trước tạo bất thiện, đời này phải chịu khổ, phú quý bần tiện cát hung họa phước đều là định sẵn cả. Cho nên từ “y theo sự định sẵn” mà nói, vẫn là nhân quả ba đời, chứ không phải là nhân quả hai đời, ngài “y theo sự định sẵn”. Thánh nhân sở dĩ dạy người, chỉ cần tỉ mỉ đi quan sát thì liền có thể thấu hiểu, nhân quả ba đời trong Phật pháp giảng rất viên mãn, rất thấu triệt.
Con người, tất cả chúng sanh hầu như không có ngoại lệ, trong tâm niệm niệm không quên, điều mà họ hy cầu, là tài phú, phát tài. Bạn xem mỗi khi năm mới đến khắp nơi đều nghe thấy “cung hỉ phát tài”, có thể phát tài được không? Cầu khỏe mạnh trường thọ, cầu thông minh trí tuệ, có thể cầu được không? Bất kể tôn giáo nào, bất kể tộc quần nào, Trung Quốc, nước ngoài, tôi tiếp xúc với rất nhiều người, hỏi thử họ, đều cầu, không một ai là không hy vọng đạt được. Những điều này trong cửa Phật giảng là “có cầu ắt ứng”, không phải không cầu được, thực sự cầu được. Cầu được, là trong mạng bạn vốn dĩ không có, hiện tại đạt được rồi, đó là do bạn cầu được; trong mạng vốn dĩ có, thì không tính. Trong mạng không có, bạn có thể cầu được. Sự cầu này, cũng là do Đại sư Chương Gia dạy tôi lúc tôi mới học Phật, có lý luận, có phương pháp, cầu như lý như pháp, không có chuyện gì là không cầu được. Nếu bạn đi ngược lại đạo lý, không thể như pháp, thì điều bạn cầu sẽ không đạt được.
Phải “cầu” như thế nào? Bạn xem “Liễu Phàm Tứ Huấn” Thiền sư Vân Cốc dạy dỗ tiên sinh Viên Liễu Phàm lý luận và phương pháp của “cầu”, đạo lý của “cầu”; nếu bạn học được rồi, thì bạn trong đời này khẳng định có cầu ắt ứng. Cuối sách “Liễu Phàm Tứ Huấn” còn đính kèm một bài “Du Tịnh Ý Công Ngộ Táo Thần Ký”, văn tự không quá nhiều, chỉ có bốn, năm trang. Thực ra lý luận và phương pháp mà Du Tịnh Ý y cứ vượt qua tiên sinh Liễu Phàm; sự cầu nguyện và quả báo đạt được của ông cũng vượt qua tiên sinh Liễu Phàm. Chỉ là tiên sinh Liễu Phàm đem sự tích có cầu ắt ứng của bản thân viết ra rồi, còn Du Tịnh Ý không viết ra, là do đồng hương La Trinh ghi chép lại. Hai bài văn này đều vô cùng tốt, nếu chúng ta nghiêm túc đi đọc tụng học tập, thấu hiểu nghĩa lý, y giáo phụng hành, thì trong đời này nhất định cũng là có cầu ắt ứng.
Nguyên tắc mà Phật dạy dỗ chúng ta trên kinh điển, tôi thường thường báo cáo với chư vị, bởi vì mọi người có mong cầu, Phật dạy chúng ta “đoạn ác tu thiện, tích công lũy đức”, đây là nguyên tắc chung. Thực tiễn trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, cách làm cụ thể chính là bố thí. Bố thí tài, đây là tu nhân, quả báo bạn nhận được chính là tài phú; bố thí pháp, đây là tu nhân, quả báo nhận được là thông minh trí tuệ; bố thí vô úy, quả báo nhận được là khỏe mạnh trường thọ. Người học Phật chúng ta đại khái đều tu ba điều này, nhưng vì sao không có cảm ứng rõ rệt? Tôi nghĩ, vẫn là đạo lý chưa thể hiểu thấu triệt, cho nên hiệu quả của việc tu liền bị giảm sút rồi. Nếu chân chính thấu hiểu đạo lý này, thì cảm ứng của việc bạn tu sẽ đặc biệt rõ rệt. Lúc chưa thấu hiểu đạo lý, thì bán tín bán nghi: Lời Phật nói là thật sao? Tiền của tôi đều bố thí hết rồi, cuộc sống ngày mai của tôi phải làm sao? Vẫn là hoài nghi. Chư vị phải biết rằng, hoài nghi thánh giáo của Phật Bồ-tát, chính là hoài nghi tánh đức của chính mình, chướng ngại này rất nghiêm trọng, đem cái phước của việc bố thí chiết tổn đi rồi. Bên này làm công đức, bên kia hoài nghi; bên này tu thiện, bên kia chiết phước; cho nên quả báo không thể hiện tiền. Phải biết được đạo lý này.
Nếu bạn thật sự tin tưởng, bố thí bỏ tài, dẫu cho ngày mai không có cơm ăn, vẫn tin sâu, không nghi, tự nhiên phước về sau vô cùng tận. Cho nên bất luận là chuyện gì đều phải giác, phải minh; không giác, không minh, sự tu tích của bạn không dễ dàng cảm nhận được quả báo. Cho nên, không phải không có cảm ứng, mà là “sự nghi lo” đem nó triệt tiêu đi rồi. Chỉ cần thành kính nghiêm túc đi làm, quyết định không có nghi hoặc. Đối với sự dạy bảo của chư Phật Bồ-tát, đối với Thánh Hiền nhân thì khẳng định, tin tưởng, mảy may nghi hoặc cũng không có. Phàm có chuyện tốt, đều tận tâm tận lực đi làm. Vẫn còn có những chuyện, là công đức không cần tiêu tiền, làm việc tốt. Ví dụ chúng ta bản thân y theo lời Phật Bồ-tát dạy bảo, nghiêm túc thực tiễn Đệ Tử Quy, thực tiễn Thập thiện nghiệp, làm cho người khác xem, điều này có công đức lớn! Người ta nhìn thấy dáng vẻ này của bạn, đối với bạn rất ngưỡng mộ, đối với bạn rất tán thán, học tập theo bạn, đây tức là tự hành hóa tha, công đức không cần tiêu tiền. Tự mình phải làm ra một tấm gương tốt cho đại chúng xã hội xem, công đức này lớn nhất, còn lớn hơn cả công đức bố thí tiền tài. Vì sao vậy? Tự mình làm được là bố thí nội tài, nội tài so với ngoại tài càng thù thắng hơn.
Thế nào gọi là bố thí vô úy, ăn chay chính là bố thí vô úy, không ăn thịt chúng sanh, không còn kết oan cừu với chúng sanh nữa, khiến cho tất cả chúng sanh vĩnh viễn không còn sự khủng bố sợ hãi. Có lẽ có người hỏi: Có người ăn chay ăn cả đời, nhưng cũng không khỏe mạnh cũng không trường thọ. Vì sao vậy? Điều này là bị triệt tiêu rồi. Bởi vì họ vẫn còn có ác niệm, vẫn còn đang sát sanh; muỗi chích họ, một cái tát đánh chết rồi, đem công đức ăn chay của họ triệt tiêu đi mất rồi. Nhìn thấy gián, chuột thì muốn giết chúng, đây không phải là bố thí vô úy! Cho nên phải hiểu đạo lý. Tỉ mỉ đi mà nghĩ xem, bên này làm, bên kia triệt tiêu, làm được không nhiều, mà cái bị triệt tiêu còn nhiều hơn cái làm, thì làm sao có được phước báo? Cho nên không phải không có hiệu quả, chỉ cần tỉ mỉ đi quan sát tư duy, bạn liền sẽ biết, vì sao hiệu quả không rõ rệt, ắt có nhân duyên.
Cho nên phải học cách yêu thương bảo vệ tất cả chúng sanh, “Hộ sanh”. Ví dụ có một số người cho rằng phóng sanh là công đức, phóng sanh là chuyện tốt. Phóng sanh như thế nào? Như pháp hay không như pháp? Nếu như bạn đến chợ để đặt mua trước, bạn không phóng sanh họ sẽ không đi bắt, bởi vì bạn muốn phóng sanh, họ liều mạng đi bắt, điều này gọi là “hại sanh”, đây đâu gọi là “phóng sanh”? Bạn xem, có rất nhiều đạo tràng, quy định ngày nào đó phóng sanh, thông báo trước cho chợ phóng sanh phải mua bao nhiêu chim, mua bao nhiêu cá. Ngày hôm đó họ làm ăn tốt, họ đặc biệt đi bắt; bạn nếu không phóng sanh, họ liền không bắt nữa! Vì sao vậy? Họ không bán được. Đây chính là mang cái danh mỹ miều là “phóng sanh”, trên thực tế là hại chúng sanh, sai rồi! Những chi tiết này chúng ta đều không nghĩ đến. Lại nói phóng sanh phải cử hành nghi thức, thời gian nghi thức quá dài, có rất nhiều chúng sanh đã chết rồi. Cho nên nghi thức nên là càng đơn giản càng tốt, phải nhanh nhanh thả chúng đi, chúng sẽ cảm kích bạn. Cho nên chỉ cần chúng ta nghĩ cho chúng sanh nhiều hơn một chút, chúng ta liền sẽ giác ngộ nhiều hơn, thấu hiểu nhiều hơn.
Tâm ghen tị không thể có, tâm siểm khúc không thể có. Siểm khúc là nịnh bợ, bợ đỡ, nhìn thấy người có tiền có thế, liền đi nịnh nọt, luôn hy vọng chúng ta có thể được một chút chỗ tốt. Đây là vọng niệm sai lầm. Tồn tâm phải thanh tịnh. Chuyện tốt, tận tâm tận lực đi làm chính là công đức viên mãn, không nhất định phải làm rất nhiều. Tâm lực của chúng ta đều đạt đến rồi, có duyên thì đi làm, có thể làm bao nhiêu đều là công đức viên mãn, đạo lý này không thể không hiểu. Phàm sự việc luôn phải tùy duyên tùy sức, không thể miễn cưỡng.
Cái tâm ta của ta, khởi tâm động niệm đều là đem “ta” đặt ở vị trí thứ nhất, tất cả đều là vì lợi ích của ta. Cái tâm này không thiện. Vì sao vậy? Phật trên kinh giảng rất rõ ràng, bạn vì sao đời đời kiếp kiếp không thoát khỏi lục đạo luân hồi? Chính là “ngã chấp” quá nặng. Việc tu học của Phật pháp, thứ nhất chính là phá ngã chấp, con người không còn chấp trước cái thân này là ta nữa, thì thoát khỏi lục đạo rồi.
Không còn chấp trước cái thân này là ta, bạn thử nghĩ xem, bạn có sanh bệnh không? Sẽ không sanh bệnh, vì sao vậy? “Ta” đều không còn nữa, thì ai sanh bệnh? Là người nào sanh bệnh? Lại nói với bạn, bạn cũng không chết; “ta” không còn nữa, thì ai chết? ai sanh bệnh? ai chịu khổ? ai chịu vui? đều không còn nữa. “Kinh Kim Cang” Phật nói với Bồ-tát “Không có tướng ngã, không có tướng nhân, không có tướng chúng sanh, không có tướng thọ giả”. Đó là Bồ-tát chân chính giác ngộ. Có “ta”, khổ nạn gì cũng phải chịu, vô “ngã” thì không còn nữa, vấn đề gì cũng đều được giải quyết rồi. Cho nên “chấp trước cái thân là ‘ta'” đây là nhận thức sai lầm đệ nhất của đời người. Nhất thiết phải giác ngộ, phải đem nó buông xuống.
Tiếp theo là cuồng vọng tự đại, đây là tập khí ngạo mạn. Tập khí ngạo mạn người người đều có, luôn cảm thấy mình giỏi hơn người khác. Trước kia thầy Lý lên lớp cho học trò, ngài nói, các bạn xem! Ngày trước kẻ ăn mày trên đường phố bần tiện đến tột cùng, “bần” là không có tài phú, dựa vào việc đi xin ăn để sống qua ngày; “tiện” là không có địa vị. Thế nhưng, hắn vẫn còn ngạo mạn, hắn nhìn thấy nhà giàu có ngồi xe đi ngang qua, nói: “Hừ! Có gì đặc biệt đâu, chẳng qua chỉ là có vài đồng tiền thối mà thôi”. Đây chính là tâm cuồng vọng, tập khí cuồng vọng.
Lại có cái tâm khinh người, coi mình rất nặng, coi người khác rất nhẹ; khinh mạn người khác, tâng bốc bản thân. Những tập khí này đều là mười điều ác Bát tà đã giảng ở phía trước; mười điều ác Bát tà tuy đã buông xuống rồi, nhưng tập khí vẫn còn. Sau khi trừ bỏ tập khí đi rồi tâm mới chân chính bình hòa, thanh tịnh, bình đẳng, giác mới có thể hiện tiền. Cho nên Lục tổ nói với chúng ta, tất cả hành vi bất thiện đều phải trừ bỏ; sau đó, lại tiến thêm một bước nữa, giống như ngài trên “Đàn Kinh” đã nói, bản thân ngài là “thường thấy lỗi mình, không thấy lỗi người”. Chúng ta liền phải học đến cái mức độ này. “Thường thấy lỗi mình” là “tự giác” giảng trong Phật pháp. Mọi người thường giảng khai ngộ, khai ngộ là gì? Giác ngộ lỗi lầm của bản thân. Ngộ rồi khởi tu, sau khi giác ngộ rồi biết được lỗi lầm của bản thân, đem lỗi lầm của bản thân sửa đổi lại gọi là “khởi tu”, gọi là “ngộ rồi khởi tu”. Nếu không biết lỗi lầm của bản thân, liền không cách nào sửa lỗi, không có cách nào tu hành. Cho nên nhất định phải thấy lỗi mình trước.
Thấy lỗi lầm của bản thân là Thánh nhân, không phải phàm phu. Phàm phu, bạn đi hỏi họ có lỗi lầm hay không, họ nói không có. Họ nhìn người khác một thân đầy những lỗi lầm, mà lại không thấy lỗi của mình. Phàm Thánh không giống nhau chính là ở chỗ này. Chúng ta làm thế nào mới có thể nhìn thấy lỗi lầm của bản thân? Nhìn thấy lỗi lầm của bản thân không phải là chuyện đơn giản, là học vấn lớn! Bản thân nếu không có công phu này; có thể nhìn người khác, nhìn lỗi lầm của người khác là dễ nhất. Nhìn lỗi lầm của người khác không được phép phê bình. “Đệ Tử Quy” nói: “Người có lỗi, chớ nói ra. Người có bí mật, chớ đem kể. Dương ác người, tức là ác. Ghét quá mức, họa ập đến”. Đáng nên lập tức phản tỉnh, hồi quang phản chiếu, bản thân có lỗi lầm tương tự hay không. Có thì sửa, không thì miễn lệ thêm. Người khác chính là một mặt gương của mình, đáng nên biết dùng mặt gương này để thường xuyên soi lại tâm hành của bản thân. Thánh Hiền thế xuất thế gian đều là dạy chúng ta như vậy, khi mới học thì hạ chân công phu trên phương diện này. Nếu phát hiện mình có lỗi lầm, thì nhanh chóng sửa đổi; không có, thì phải miễn lệ chính mình, đừng phạm lỗi lầm này, như vậy mới tốt. Đây gọi là chân chính tu hành, là đệ tử của Thánh Hiền chân chính.
Một phương pháp khác là đọc kinh. “Kinh” cũng là một mặt gương, ví dụ sáng tối đọc “Liễu Phàm Tứ Huấn”, đừng đọc quá nhanh, quá nhanh liền không có thời gian tùy văn nhập quán; chầm chậm mà đọc, vừa đọc, vừa nghĩ câu này tôi đã làm được hay chưa, tôi có phạm phải hay không? Cách đọc như vậy ích lợi mới lớn! Cầm lấy tiêu chuẩn trong kinh huấn để phản tỉnh, để kiểm tra, bản thân có những gì làm đúng rồi, những gì làm sai rồi. Điều đúng tôi phải tiếp tục tăng trưởng, không được để mất đi; điều sai, tôi phải y theo thánh giáo mà sửa đổi, mới có thể phát triển điểm tốt sửa chữa khuyết điểm. Đọc có to tiếng đến mấy, nhanh đến mấy, sau khi đọc xong, nó là nó, mình vẫn là mình, thì có tác dụng gì? Tất cả các Giới kinh, đều là quy phạm hành vi của chúng ta, không thể đọc quá nhanh. “Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo” cũng không thể đọc quá nhanh, mỗi một điều mỗi một câu đều nghiêm túc kiểm điểm. Nếu các đồng tham đạo hữu ở cùng nhau, thì giống như mở một buổi họp kiểm điểm vậy, một người đọc hoặc là vài người thay phiên nhau đọc. Một người đọc một đoạn, sau khi đọc xong mọi người cùng kiểm điểm, điều kinh nói tôi đã làm được hay chưa. Đừng hỏi người khác, hỏi người khác thì sai rồi, phải hỏi chính mình, mỗi người hỏi chính mình đã làm được chưa, cùng với các đồng học cùng nhau miễn lệ. Hoặc là nghiên cứu dưới một tình huống nào đó, nên phải linh hoạt như thế nào. Lời dạy bảo của Thánh nhân đều là viên dung, chúng ta ở trong những hoàn cảnh khác nhau nên linh hoạt vận dụng như thế nào; đây chính là quyền xảo phương tiện, không phải là nhất thành bất biến. Tinh thần của thánh giáo phải nắm vững.
Có đồng học hỏi tôi, hiện nay có rất nhiều báo chí, tạp chí bên trong có in hình tượng Phật, đệ tử Phật chúng ta cầm trên tay nên xử lý như thế nào? Còn có một số vỏ ngoài máy niệm Phật cũng có hình tượng Phật, thậm chí là một số đĩa quang Phật giáo hỏng rồi không dùng được nữa, nên xử lý như thế nào? Có rất nhiều người đối với điều này cảm thấy rất buồn bực. Ở đây nên biết một nguyên tắc xử lý, “tâm cung kính”. Không có sự khinh mạn, có tâm cung kính, dùng tâm cung kính xử lý như thế nào đều là đúng. Bạn dẫu cho có rất nhiều phương pháp xử lý, mà không có tâm cung kính, thì cũng là sai rồi. Cho nên cung kính quan trọng hơn bất cứ thứ gì.
Ví dụ ở Úc, những pháp vật không thể sử dụng được nữa như thế này, hỏng rồi, có thể gói nó lại, gói thật chỉnh tề, cung cung kính kính, đào đất ở chỗ sạch sẽ, rồi chôn xuống dưới đất. Ngoài ra, nếu sống ở gần sông, nước là dòng nước chảy, không phải nước tù, thì có thể nhấn chìm nó xuống dưới đáy nước. Đây đều là những phương pháp xử lý mà người xưa dạy cho chúng ta. Một là chôn xuống đất, hai là thả trôi theo dòng nước. Hiện tại hoàn cảnh đã có sự biến hóa, không thể ném xuống biển; làm ô nhiễm nước biển, còn phải phạm luật. Nếu có thể thiêu hủy được, thì đem đốt nó đi, đem tro gói lại, cũng là một loại phương pháp xử lý.
Một số chùa chiền có lò thiêu, dùng tâm cung kính thiêu hủy trong lò thiêu. Nếu thực sự không có phương pháp, bạn cứ dùng tâm cung kính, đem nó gấp lại, gói ghém cho chỉnh tề, xử lý như rác thông thường, cái tâm của chúng ta đã tận hết rồi, thì đều không có lỗi lầm, đều là chính xác. Nếu rất khinh mạn, qua loa đại khái, không có tâm cung kính, thì dẫu cho nương theo phương pháp mà người xưa đã giảng, cũng có lỗi lầm. Cho nên quan trọng nhất là tâm cung kính, đối với Tam bảo không khinh mạn, thì chính là công đức, tâm chúng ta mới có thể an, mới có thể bình.
Phật Bồ-tát mà trong “Đàn Kinh” giới thiệu cho chúng ta, hoàn toàn nói từ phương diện biểu pháp. Sau khi bạn đọc rồi liền sẽ biết, không có một chút mê tín nào. Ngài chỉ đưa ra một vài ví dụ, đáng nên biết suy một ra ba. Ngài nói “Từ bi tức Quán Âm”, không sai, Bồ-tát Quán Âm đích thực là đại biểu cho từ bi, tâm địa từ bi chính là Quán Âm. Chúng ta nhìn thấy Bồ-tát Quán Âm, tâm từ bi liền sanh khởi, đây mới là tác dụng chân chính của việc cúng dường hình tượng Phật Bồ-tát. Không phải nhìn thấy Bồ-tát Quán Âm liền nhanh chóng dập đầu với ngài, hy vọng ngài đại từ đại bi phù hộ tôi, vậy thì sai rồi! Đó chính là mê tín. Nhìn thấy Bồ-tát Quán Âm, nghe danh hiệu Bồ-tát Quán Âm, đem tâm từ bi vốn có của tự tánh chính mình khơi gợi ra. Tôi đối với tất cả chúng sanh phải đại từ đại bi, như vậy mới đúng. “Hỷ xả tức Thế Chí”, Bồ-tát Đại Thế Chí của Tịnh tông, đại biểu cho đại trí đại xả. Ngài nói “Năng tĩnh tức Thích-ca”. “Thích-ca Mâu-ni” là tiếng Ấn Độ, Thích-ca dịch là năng nhân, nhân của nhân từ, Mâu-ni dịch là tịch tĩnh. Năng nhân tịch tĩnh, Lục tổ dùng một chữ Năng, dùng một chữ Tĩnh, cho nên bạn hiểu được ý nghĩa này. Hàm ý của danh hiệu dạy người đối với tất cả người phải có thể nhân từ, đối với bản thân phải thanh tịnh. Bạn nhìn thấy Thích-ca Mâu-ni Phật, nghe thấy danh hiệu Thích-ca Mâu-ni Phật, lập tức liền nghĩ đến “Tôi đối với người khác có nhân từ hay không? Tôi đối với bản thân mình có thanh tịnh hay không?”
Danh hiệu và tượng Phật toàn bộ đều là biểu pháp, là giáo dục, làm gì có mê tín! Đây chính là “sự dạy học của nghệ thuật” mà ngày nay nói đến, phương pháp dạy học cao nhất, bạn không thể đem ngài xem như thần linh mà đối đãi. Đây là đệ nhất nghĩa. Đệ nhị nghĩa, là quay về nguồn cội báo đáp sự khởi đầu, ý nghĩa báo ân. Những gì chúng ta học hôm nay là do Thích-ca Mâu-ni Phật truyền dạy, Thích-ca đối với tôi có ân, tạc tượng ngài, cúng dường ngài, là báo ân thầy! Cho nên cúng dường hình tượng Phật Bồ-tát có hai tầng ý nghĩa. Một là quay về nguồn cội báo đáp sự khởi đầu, biểu thị cho tâm báo ân. Mặt khác là thấy người hiền thì muốn làm sao cho được bằng họ, dạy người thấy nghe hình tượng, tức có thể nhắc nhở bản thân. “Bình trực là Di Đà”, “Bình” là bình đẳng, “Trực” là chánh trực. Bình đẳng đối với tất cả chúng sanh, chánh trực đối với bản thân mình. Chính là “thành ý chánh tâm” mà Nho gia Trung Quốc đã giảng, A Di Đà Phật đại biểu cho ý nghĩa này.
Từ đây có thể thấy được sự cảm thán của Năng Đại sư! Đây là ở thời Đường, Phật giáo truyền vào Trung Quốc đã hơn bảy trăm năm, bảy, tám trăm năm, cự ly với thời đại Phật đà ngày càng đi càng xa, pháp được truyền bá đã dần dần biến chất rồi. Mọi người chỉ chú trọng vào hình tướng, không biết ý nghĩa biểu pháp. Hiện tại Lục tổ Huệ Năng Đại sư cách chúng ta lại có một ngàn ba, bốn trăm năm, thực sự là đời sau không bằng đời trước. Cho nên kinh nếu không giảng, không nghiêm túc học tập, bạn làm sao có thể hiểu? Hiện nay ngoài xã hội đều nói Phật giáo mê tín, chúng ta nghe xong gật đầu, một chút cũng không thể phủ nhận, vì sao vậy? Thật sự mê tín, có mấy đồng học học Phật có thể đem những đạo lý này giảng rõ ràng, giảng minh bạch? Giảng không rõ ràng, giảng không minh bạch họ liền tin rồi, không phải mê tín thì là gì? Cho nên không thể trách đại chúng ngoài xã hội, phải trách chính đồng học tứ chúng học Phật chúng ta chưa học cho tốt; chưa đem tấm gương tốt, hình tượng tốt của Phật Bồ-tát tuyên dương cho đại chúng xã hội. Cho nên lỗi lầm không nằm ở họ, mà nằm ở chính chúng ta. Điều này vô cùng đáng để chúng ta cảnh giác. Chúng ta phải học hàng thật không thể học hàng giả.
Chỉ có sự chân thật, đối với chính mình mới có lợi ích chân thật. Lợi ích chân thật này, là lợi ích lớn nhất, khỏe mạnh trường thọ, thông minh trí tuệ. Tài phú không cần nhiều, cuộc sống có thể duy trì là tốt rồi. Đừng trải qua cuộc sống quá phú dụ, cuộc sống phú dụ dễ đánh mất phương hướng nhất. Có tài phú dư thừa, đáng nên giúp đỡ người khác. Cuộc sống của chính mình, nói thật ra, tâm địa càng thanh tịnh, nhu cầu của bạn càng ít, cuộc sống rất đơn giản rất vui vẻ, đây mới là chân chính đạt được sự thọ dụng. Phiền não nhẹ, trí tuệ tăng, quý vị xem vui vẻ biết bao! Hôm nay tôi liền báo cáo đến đây. Hôm nay là ngày đầu tiên của năm mới, chúng ta giảng đến “tâm tịnh, tâm an, tâm bình”, hy vọng chúng ta đều có thể thực tiễn nó, đây là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh. Tại đây tôi đem nó làm quà năm mới, cúng dường đại chúng! Chúc
Chớ làm các điều ác – Tuổi tuổi đều bình an
Vâng làm các điều thiện – Năm năm đều như ý
Cảm ơn mọi người!
Thấu Rõ Chân Tướng – Nhìn Thấu Buông Xuống
“Kinh Kim Cang” nói: “Phàm những gì có tướng, đều là hư vọng”, tướng là giả. Các nhà khoa học cũng đã chứng thực được rằng trong vũ trụ chỉ có vật chất, năng lượng, thông tin. Thông tin mà nhà khoa học giảng chính là kiến phần của A-lại-da, vật chất là cảnh giới tướng của A-lại-da, năng lượng là nghiệp tướng của A-lại-da, đây là ba tế tướng của A-lại-da. Ba tế tướng khởi tác dụng, liền biến hiện ra toàn bộ vạn sự vạn vật trong vũ trụ, ba tế tướng là năng biến, vạn vật là sở biến.
“Kinh Bồ-tát Xứ Thai” nói: “Phật hỏi Di Lặc, tâm có một niệm, là mấy niệm mấy tướng mấy thức vậy? Di Lặc nói: Trong khoảng giơ tay khảy móng có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm, niệm niệm thành hình, hình đều có thức, thức niệm cực kỳ vi tế, không thể nắm giữ. Oai thần của Phật, nhập vào vi thức đó, đều khiến cho được độ.” ‘Phật hỏi Di Lặc, tâm có một niệm’, phàm phu chúng ta khởi một ý niệm, thời gian rất ngắn ngủi, ý niệm này có mấy niệm, mấy tướng, mấy thức? Tướng là hiện tượng vật chất, thức là hiện tượng tinh thần. Mấy thức, chính là thọ tưởng hành thức, có bao nhiêu cái thọ tưởng hành thức? Bồ-tát nói: ‘Trong khoảng giơ tay khảy móng, có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm’, trăm ngàn là đơn vị, một trăm cái ngàn là mười vạn, ba mươi hai ức nhân với mười vạn là 320 ngàn tỷ. Bồ-tát Di Lặc lại nói: ‘Niệm niệm thành hình’, hình chính là vật chất, chính là tứ đại; ‘Hình đều có thức’, hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần trong mỗi một ý niệm là tồn tại đồng thời, không cách nào tách rời. ‘Thức’ là thông tin, trong mỗi một hiện tượng vật chất đều có thông tin. Thông tin chính là kiến văn giác tri, thọ tưởng hành thức, đây là hiện tượng tinh thần. ‘Oai thần của Phật’, chân tướng sự thật này, Phật không phải dùng máy móc phát hiện ra, mà là nhìn thấy chân tướng sự thật ở trong thiền định sâu xa.
Những gì chúng ta nhìn thấy đều là giả tướng, là một niệm bất giác, từ trong chân tánh sanh khởi ra một giả tướng hư vọng, gọi là A-lại-da. Tự tánh là chân tâm, vĩnh hằng bất biến. A-lại-da là vọng tâm, vọng tâm từ đâu mà ra? Là sanh ra từ hiện tượng chấn động. Chấn động này ở vào lúc nào? Không phải quá khứ, không phải vị lai, mà ở ngay một niệm hiện tiền. Chúng ta phải biết rằng “hiện tiền” cũng không tồn tại, vừa động lập tức liền không còn nữa, còn nhanh hơn cả ánh chớp. Cái thứ hai lại trồi lên, cái thứ hai không còn, cái thứ ba lại trồi lên, cho nên nó là tướng tiếp nối, giống như chúng ta xem điện ảnh, chính là tướng tiếp nối. Đây là thuyết minh hiện tượng vật chất của vũ trụ, không những hiện tượng vật chất của lục đạo là như vậy, mà pháp giới bốn bậc Thánh cũng là như vậy. Do đó kinh nói: “Phàm những gì có tướng, đều là hư vọng”. Chúng ta biết rằng hình ảnh trên màn hình điện ảnh là động, một giây đồng hồ hai mươi bốn tấm phim nhựa, là những giả tướng tiếp nối từng tấm từng tấm một, liền đánh lừa con mắt của chúng ta, cho rằng là thật. Phật nói với chúng ta, hoàn cảnh hiện thực một giây đồng hồ chấn động bao nhiêu lần? 1.280 ngàn tỷ lần, đây là hiện tượng chấn động cực kỳ vi tế.
Chúng ta cho rằng là thật, kỳ thực ‘Phàm những gì có tướng, đều là hư vọng’. Thường thường quán như vậy, tâm liền định rồi, vọng niệm tuy không đoạn dứt được, nhưng phân biệt, chấp trước khẳng định nhạt đi, vậy thì công phu của bạn liền nâng cao rồi. Từ trên lý mà giảng, đây thuộc về triết học bậc cao, từ trên sự mà giảng đây là khoa học bậc cao. Vấn đề mà triết gia, nhà khoa học ngày nay không thể giải quyết, trong kinh Phật toàn bộ đều có, khoa học chú trọng chứng cứ, Thích-ca Mâu-ni Phật đã đưa ra chứng cứ rồi, chứng cứ gì? Thiền định. Kinh điển Đại thừa giảng, đến lúc nào mới có thể nhìn thấy hiện tượng này? Bồ-tát từ Bát địa trở lên có thể nhìn thấy, có thể khống chế nó không? Không thể; có thể nắm bắt nó không? Không thể; có thể đạt được nó không? Không thể, nó quá nhanh rồi. Chúng ta phải hiểu rõ đạo lý này, chúng ta nhìn thế giới này đáng nên nhìn như thế nào? Giống như xem điện ảnh. Hiện tượng này bạn có thể xem, có thể đạt được không? Không thể.
Đã không thể đạt được, vậy thì phải buông xả. Trước tiên phải buông xả năm điều ác, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu. Đây chính là ngũ thường mà lão tổ tông Trung Quốc đã giảng, không sát sanh là nhân, không trộm cắp là nghĩa, không tà dâm là lễ, không vọng ngữ là tín, không uống rượu là trí, nhân nghĩa lễ trí tín. Cho nên chân tu hành, thật sự làm công phu, chính là ở trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, khởi tâm động niệm phải tương ưng với luân lý, đạo đức, nhân quả mà Phật Bồ-tát, lão tổ tông đã giảng, nếu trái nghịch thì nhanh chóng đem nó sửa đổi lại, như vậy mới đúng.
Ở trong Phật pháp vẫn còn có một A Di Đà Phật không thể nghĩ bàn, đó là cái thiện trong những cái thiện, không có gì thiện hơn cái này. Ý niệm vừa khởi, bất kể là niệm thiện, niệm ác, lập tức chuyển thành A Di Đà Phật, trong tâm chỉ có A Di Đà Phật, đời này quyết định thành Phật. A Di Đà Phật là ai? Là chính mình, tự tánh Di Đà. Thế giới Tây Phương Cực Lạc từ đâu mà ra? Đều là do tâm chính mình biến hiện ra, chỉ do tâm hiện, tự tánh Di Đà, không phải người khác. Chúng ta tương lai đến thế giới Cực Lạc, người người đều là A Di Đà Phật, cùng một tự tánh, A Di Đà Phật là danh hiệu của tánh đức viên mãn. Thế giới hiện tiền này của chúng ta từ đâu mà ra? Vẫn là do tự tánh biến hiện ra, thế giới Cực Lạc cũng là do tự tánh biến hiện ra, có gì không giống nhau? Trong sự biến hiện từ tự tánh này của chúng ta có xen tạp rất nhiều nghiệp ác, vọng tưởng phân biệt chấp trước toàn bộ đều có, hơn nữa chấp trước lại vô cùng vô cùng nghiêm trọng, liền biến thành cái dáng vẻ hiện tại của chúng ta.
Thấu hiểu những đạo lý này, tất cả mọi tai nạn trên thế gian là có thể chuyển biến được, cơ thể bệnh tật có thể chuyển biến thành khỏe mạnh. Ý niệm làm chúa tể tất cả, đây là điều Phật thường giảng trong kinh giáo “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”. Bắt đầu chuyển biến từ đâu? Bắt đầu chuyển từ ý niệm của chính mình, không ở bên ngoài, cho nên Phật pháp xưng là nội học, kinh điển xưng là nội điển, nó từ trong ra ngoài, không phải từ ngoài vào trong. Trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, phải đem ác niệm chuyển biến thành thiện niệm, đem tà niệm chuyển biến thành chánh niệm, đem ý niệm ô nhiễm chuyển biến thành tịnh niệm, đây là chân chính đang tu hành, chân chính đang làm công phu. Nếu thật sự đem tất cả ý niệm đều chuyển thành A Di Đà Phật, một niệm này có thể khiến phàm phu ở trong một đời được thành tựu viên mãn.
Học Phật, đem chân tướng sự thật tìm hiểu cho rõ ràng, tâm liền an rồi, sau khi tâm an vọng niệm tự nhiên liền ít đi, tâm thanh tịnh liền nổi lên, cơ thể tự nhiên liền khỏe mạnh, rất nhiều mao bệnh cũng liền đều có thể khôi phục bình thường. Đều là ý niệm đang làm chúa tể, cho nên con người không thể không có thiện niệm, tịnh niệm. Đạo lý thấu hiểu rồi, lợi ích đầu tiên chúng ta đạt được, là thân tâm khỏe mạnh, bách bệnh bất sanh.
Cung kính trích lục từ bài diễn giảng của Lão pháp sư Tịnh Không
Đạo Dạy Học – Quý Ở Chỗ Chuyên Tinh
Tam Tự Kinh nói: “Đạo dạy học, quý ở chuyên”. Đạo làm học vấn, cũng quý ở chỗ chuyên. Chỉ có chuyên mới có thể đạt được lợi ích thiết thực sâu sắc, khế nhập cảnh giới.
Phật đà và cổ Thánh dạy học, đều chú trọng “một môn thâm nhập, huân tu thời gian dài”. Chuyên học một môn tức là trì giới, không tham cầu nhiều kinh luận thì là tu định. Lâu ngày chầy tháng, trí tuệ thông đạt, tâm tánh thấu lộ viên mãn, tự nhiên có thể “một kinh thông, tất cả kinh thông”, pháp thế xuất thế gian viên dung không ngại. Dựa vào nguyên lý này, dung hợp với học chế thế gian, thì những kiến nghị dưới đây, có thể dùng làm tài liệu tham khảo.
- Trường tư thục truyền thống, đều là học xong một môn học, mới học thêm môn khác. Sau khóa học cộng tu nền tảng, đồng học tự chọn một môn, huân tu thời gian dài. Thời gian dài đó, kỳ hạn của người xưa chúng ta là mười năm, cho nên nói: Mười năm đèn sách, một sớm thành danh.
- Mười năm chuyên học một môn, lặp đi lặp lại không dứt; học không có điểm dừng như vậy, thực sự là niềm vui lớn nhất của nhân sinh. Ví như người học “Luận Ngữ”, từ nhỏ chuyên đọc “Luận Ngữ”, đến năm trăm tuổi vẫn đọc “Luận Ngữ”, không mệt không chán, chỉ chuyên chỉ cần mẫn, tự nhiên thành Thánh thành Hiền.
- Học chế ngày nay, tham nhiều tham nhanh, nhiều môn học học tập cùng một lúc. Các bạn đồng học một giờ trước vẫn chưa hấp thu xong, một giờ sau lại là môn học khác. Đầu óc càng học càng loạn, áp lực thân tâm nặng nề, hiệu suất ngày càng giảm sút. Những vấn đề xã hội phát sinh từ đây, cũng tầng tầng lớp lớp xuất hiện không dứt.
- Kẻ sĩ có tâm có thể chọn một ngôi trường, để làm thực nghiệm. Ví như chương trình sáu năm tiểu học hiện đại, các môn học chủ yếu là ngữ văn, toán học v.v., có thể sắp xếp vào năm thứ nhất chuyên học ngữ văn, năm thứ hai chuyên học toán học…, chỉ cần điều chỉnh cho thỏa đáng trong việc biên soạn chương trình học, thì chương trình sáu năm cũng viên mãn giống như vậy. Tâm chí của học sinh chuyên nhất, tin tưởng sâu sắc hiệu quả nhất định có thể ưu việt hơn tình trạng hiện tại.
- Như vậy, thì chương trình học của các cấp, nhà trường chỉ cần mời một vị giáo viên, cặp sách của học sinh chỉ cần mang theo một quyển sách giáo khoa, áp lực gánh nặng của nhà trường, giáo viên và các bạn đồng học được giảm nhẹ đi rất nhiều.
Học trò ngày nay cảm nhận sâu sắc nỗi khổ của việc đọc sách, sầu lo buồn bực, tâm nông nổi xốc nổi, thua xa ý cảnh sâu xa “niềm vui của việc làm học vấn, vui vô cùng” của người xưa. Kẻ sĩ có tâm, đối với hiện tượng này, không ai là không lo âu. Nếu đã như vậy, thì lời răn dạy của người xưa: “Đọc sách ngàn lần, ý nghĩa tự hiện”, “tham nhiều nhai không nát”, đáng để suy nghĩ sâu xa.
Lấy Tu Thân Làm Gốc, Lấy Dạy Học Làm Đầu
Ngày 16 tháng 12 năm 2005
Bài nói chuyện tại “Diễn đàn Hòa bình Toàn cầu Perdana” Kuala Lumpur
Lời mở đầu
Lần này nhận được sự thỉnh mời của đại hội, tham gia “Diễn Đàn Hòa bình Toàn cầu Perdana”, tôi vô cùng cảm ơn! Đặc biệt Trưởng lão Mahathir đức cao vọng trọng, chúng tôi sâu sắc hy vọng hội nghị lần này dưới sự lãnh đạo của Trưởng lão, có thể đưa vào hành động thực tế vì hòa bình thế giới, đạt được thành tựu hữu hiệu.
Quá khứ Tịnh Không từng tham gia năm lần Hội nghị Hòa bình của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc, nhận sự chỉ giáo của rất nhiều chuyên gia học giả có kinh nghiệm phong phú đối với công tác hòa bình. Đúng như thư mời của đại hội đã nói, từ lâu đến nay, đặc biệt là sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, các giới trên toàn cầu trong công tác hòa bình, đã đầu tư một lượng lớn nhân lực, vật lực và tài lực, nhưng hiệu quả không rõ rệt. Chủ yếu là rất nhiều người mang quan niệm thâm căn cố đế cho rằng “chiến tranh” là thủ đoạn để đạt được hòa bình; nhưng theo sự phát triển của loại hình thái ý thức này, các quốc gia tranh nhau tăng cường doanh số vũ khí công nghệ cao và trang bị quân sự, ngược lại khiến cho bầu không khí căng thẳng trên vũ đài quốc tế không ngừng leo thang. Sau sự kiện 11 tháng 9, hành động trả thù kiểu du kích của phần tử khủng bố (một hình thái khác của chiến tranh), càng khiến cho con người sống trong nỗi sợ hãi không có điểm dừng. Tổng quan cục diện ngày nay, dân số bần cùng gia tăng, nhân tâm trống rỗng mà tràn ngập oán hận, dã tâm hiếu chiến của những thế lực hùng mạnh, thiên tai địa biến xuất hiện tầng tầng lớp lớp… nhân loại của thời đại mới, dường như đang đi vào con đường khốn cùng chưa từng có trước đây.
Tịnh Không học tập giáo dục Thánh Hiền 54 năm, công tác dạy học 47 năm, đối với đạo lý “nhân tính vốn thiện”, “lấy tu thân làm gốc, lấy giáo dục làm đầu” mà cổ Thánh tiên triết đã nói, có đôi chút thể hội. Hôm nay thừa mông sự thỉnh mời của Trưởng lão tham gia thịnh hội này, thành tâm nguyện cống hiến một chút đắc ý của kẻ ngu muội, để làm tư liệu tham khảo chỉ giáo cho Trưởng lão và chư vị chí sĩ nhân nhân.
Cội nguồn của hòa bình và xung đột
Hai năm trước, một nhóm sinh viên thanh niên đến từ các nơi trên thế giới đã đến thăm Tịnh Tông Học Viện Úc Châu, có đồng học hỏi tôi, “hòa bình thế giới” có thật sự có khả năng thực hiện được hay không? Đáp án của tôi là khẳng định, thế nhưng đối với câu hỏi của người đồng học này cũng cảm thấy rất than thở! Đích thực, thế giới ngày nay động loạn khắp nơi, rất nhiều người mất đi tín tâm đối với “hòa bình”. Tịnh Không trong sự thể nghiệm 54 năm học tập, thực tiễn lời dạy bảo của Thánh Hiền, tin tưởng sâu sắc rằng, vũ trụ vốn dĩ là hài hòa, tất cả sinh vật trên trái đất vốn dĩ cũng là hài hòa. Lòng người vốn dĩ là thuần tịnh thuần thiện, tất cả những tư tưởng hành vi bất thiện, đều là do tập tính đời sau nhiễm phải mà dẫn đến. Người thiện là do dạy mà ra, người ác cũng là do dạy mà ra; Thánh Hiền Phật Bồ-tát vẫn là do dạy mà ra. Tĩnh tâm suy nghĩ về sự động loạn của thế giới ngày nay, đích thực là do lơ là nền giáo dục nhân từ bác ái của Thánh Hiền, không tin nhân quả, không tin tiên tri, không tin sự định sẵn, tùy ý tạo tác nghiệp ác mà dẫn đến; khiến cho giữa người với người, giữa người với đại tự nhiên, giữa người với chúng sanh ở các không gian đa chiều khác nhau sinh ra mâu thuẫn và xung đột cực kỳ to lớn.
Chúng ta mỗi ngày giở báo chí tạp chí ra, xem tin tức thời sự, không khó để phát hiện toàn cầu ngày nay, giữa quốc gia với quốc gia, giữa chủng tộc với nhau, giữa tôn giáo với nhau tràn ngập xung đột cạnh tranh. Mà trên thực tế, sự phát sinh của động loạn, xung đột, mâu thuẫn, chính là đến từ đơn vị cơ bản của xã hội – gia đình. Một gia đình vợ chồng không hòa thuận, cha con không hòa thuận, anh em không hòa thuận, bước ra ngoài xã hội, liền không có cách nào chung sống hòa mục với đại chúng, phá hoại sự hài hòa của cả một môi trường lớn. Truy cứu sâu hơn một tầng, chúng ta phát hiện cội nguồn chân chính của xung đột là nằm ở trong nội tâm của chính mình, trong nội tâm chúng ta có sự xung đột giữa bản tính và tập tính. Bản tính, chính là điều Nho gia đã nói “Nhân chi sơ, tánh bản thiện” (Con người sinh ra, bản tánh vốn thiện); bản tính là thuần tịnh thuần thiện, tập tính là các loại tri kiến nhiễm phải ở đời sau. Lại nói một cách thông tục hơn một chút, ví dụ như sự xung đột giữa vị tha và tự tư trong nội tâm. Vì vậy, muốn hóa giải xung đột, trước tiên phải hóa giải mâu thuẫn xung đột trong nội tâm chính mình, buông xả tự tư tự lợi, buông xả ý niệm và hành vi khống chế và chiếm hữu của bản thân đối với tất cả người, sự, vật; đây mới là biện pháp căn bản để hóa giải tất cả mâu thuẫn xung đột trên thế gian. Nói cách khác, xã hội hài hòa, bắt buộc phải bắt đầu làm từ chính bản thân tôi, bắt đầu làm từ gia đình tôi; tuyệt đối không thể yêu cầu người khác.
“Hóa giải xung đột, khôi phục hòa bình” chỉ có nền giáo dục nhân từ bác ái
Nhà sử học nổi tiếng người Anh thập niên 70 là Tiến sĩ Toynbee từng nói, “Muốn giải quyết các vấn đề xã hội của thế kỷ 21, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Đại thừa.” Học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Đại thừa rốt cuộc có điểm gì đáng quý chứ? Tinh túy của đạo Khổng Mạnh, Phật pháp Đại thừa, đều nằm ở chỗ khẳng định nhân tính vốn thiện, dùng sự nhân từ bác ái hóa độ hết thảy chúng sanh, chuyển ác thành thiện, hóa thù thành bạn, hóa oan thành thân, hóa mê thành ngộ, chuyển phàm thành Thánh. Trên thực tế, chúng ta mở tất cả các điển tịch thần thánh trên thế gian ra, tôn chỉ mục tiêu đều là giống nhau. Thánh huấn của đạo Hồi, dạy chúng ta phải “tiếp tế người tuyệt giao với ta”, “chăm sóc người tuyệt tình với ta”, “tha thứ cho người hành động bất nghĩa với ta”, đạo Thiên Chúa dạy người phải yêu thương kẻ thù của chúng ta, trên kinh Phật nói, “không nhớ ác cũ, không ghét người ác”, Khổng tử nói thành nhân, Mạnh tử nói lấy nghĩa, do đó mà biết, “hóa giải xung đột, khôi phục hòa bình” chỉ có dùng nền giáo dục luân lý đạo đức Thánh Hiền, nhân từ bác ái hóa độ hết thảy chúng sanh mới có thể chân thật thực hiện.
Năm ngàn năm trước, Thánh Hiền dạy người, không ngoài năm việc: một, cha con có tình thân, hai, vua tôi có nghĩa, ba, vợ chồng có phân biệt, bốn, anh em có thứ tự, năm, bạn bè có chữ tín. Cha con, vua tôi, vợ chồng, anh em, bạn bè là “đạo”, là nhân đạo, cũng chính là mối quan hệ hình thành tự nhiên giữa người với người, không phải do một người nào phát minh chế định ra. Người xưa thường nói “đạo đức”, “đạo” là quy luật của đại tự nhiên; có thể tuân thủ quy luật tự nhiên mà không trái nghịch chính là “đức”. “Bát đức” do Thánh nhân chúng ta đưa ra có hai cách nói: “Hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ”, hoặc là “Trung hiếu nhân ái, tín nghĩa hòa bình”. Hai cách nói này hợp lại có thể tổng kết thành: “Hiếu đễ trung tín nhân ái đối đãi, lễ nghĩa liêm sỉ hòa bình chung sống”, đây là tôn chỉ giáo hóa hết thảy chúng sanh bằng luân lý đạo đức của cổ Thánh tiên vương. Thánh vương không những lấy đây làm chuẩn tắc lập thân xử thế; đồng thời cũng lấy đó làm nền tảng để hòa mục gia đình tộc quần, an định xã hội quốc gia, giáo hóa hết thảy nhân dân.
Vua Thang thời nhà Thương của Trung Quốc là bậc Thánh nhân, ngài nói: “Vạn phương hữu tội, tội tại trẫm cung”. Người thiên hạ có tội, tội ở một mình ta. Vì sao ngài lại nói như vậy? Bởi vì ngài là quốc vương, nhân dân phạm tội, là do quốc vương không tổ chức tốt việc giáo dục. Nhìn lại gia đình của chúng ta, trong gia đình có một người không tốt, là lỗi lầm của bậc gia trưởng như tôi, là tự mình chưa nêu lên tấm gương tốt, chưa dạy dỗ người nhà cho tốt, không được phép trách cứ anh em chị em. Chúng ta nếu giác ngộ rồi, thì sẽ hiểu được gia đình bất hòa, xã hội động loạn, đều là do chính mình chưa làm cho tốt, không thể làm tấm gương tốt cho đại chúng xã hội. Cho nên, tất cả mọi lỗi lầm đều nguyện tự mình gánh chịu. Đây là chỗ khác biệt giữa Thánh và phàm. Tâm thái của người bình thường là “người có tội lỗi là các người, chỗ tốt đều là của tôi”, đây là lỗi lớn, không có lỗi nào nghiêm trọng hơn cái lỗi này. Cho nên Thích-ca, Khổng Mạnh cùng tất cả Thánh nhân cổ kim trong ngoài, đều là dạy chúng ta phải “phản cầu chư kỷ” (quay lại tìm nguyên nhân ở chính mình), mọi vấn đề phát sinh, nhất định là kiểm điểm chính mình, tuyệt đối không trách cứ người khác. Vua Thang nói, bất kỳ một đoàn thể nào không tốt, là lỗi lầm của người lãnh đạo, bởi vì người lãnh đạo chưa làm tốt. Trách nhiệm của người lãnh đạo là “quân, thân, sư”, ba chữ này làm cho tốt, chính là công đức viên mãn, không có gì là không tốt.
Ba trọng trách lớn của người lãnh đạo: Quân, thân, sư
“Quân, thân, sư” là lý niệm vô cùng quan trọng trong học thuyết Khổng Mạnh. Ba sứ mệnh này, giống như ba chân của cái đỉnh, thiếu một cũng không được.
“Quân” là ý nghĩa lãnh đạo. Người lãnh đạo của bất kỳ một tầng lớp, đoàn thể nào, đều có trách nhiệm lãnh đạo, hoạch định, dẫn dắt nhân dân, nhân viên, đi về hướng xã hội hài hòa về luân lý đạo đức, bao dung, tôn trọng, kính yêu lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác, an định hòa bình.
“Thân”, bất kỳ một người lãnh đạo nào, đều có trách nhiệm chăm sóc cấp dưới giống như cha mẹ vậy, khiến cho cuộc sống của họ nhận được sự bảo đảm, nhà nhà hòa lạc.
“Sư” là dạy dỗ. “Học làm thầy người, hành làm mẫu mực cho đời”, khẳng định nhân tính vốn thiện, tu thân làm gốc, dạy học làm đầu. Thành tựu đạo đức, cảm hóa nhân dân, đây là việc lớn đệ nhất. Thân là người lãnh đạo, mang sứ mệnh của một chữ “sư”, bắt buộc phải dạy dỗ nhân dân đạo lý làm người xử thế, ngũ luân thập nghĩa, không thể trái nghịch quy luật tự nhiên. Khiến cho nhân tâm có nơi quy hướng, không đến nỗi mịt mờ mất phương hướng.
Suy nghĩ kĩ lưỡng, mỗi một người thế gian đều có ba loại sứ mệnh “quân, thân, sư” này, nếu người người đều có thể làm tròn trách nhiệm quân thân sư trên cương vị công tác bổn phận của mình, vậy thì cá nhân thành tựu đức nghiệp, gia đình hạnh phúc, xã hội hài hòa an định đích thực là có thể làm được. Đặc biệt là lãnh đạo quốc gia, nếu có thể lấy đạo đức Thánh Hiền làm định hướng, thì xã hội hài hòa, thiên hạ thái bình nhất định có thể mong đợi. Ngược lại, nếu phương hướng lãnh đạo sai lệch, thường thường sẽ mang đến tai nạn cho quốc gia, xã hội cho đến toàn thế giới, bắt buộc phải vô cùng cẩn trọng!
Quan sát thế giới ngày nay, rất nhiều quốc gia không tiếc tiêu hao nguồn vốn lớn để phát triển vũ khí có tính sát thương lớn công nghệ cao, hoặc lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, nhưng vì thiếu hụt sự giáo hóa về luân lý đạo đức, lòng người tham lam, chế tạo ra càng nhiều vấn đề xã hội hơn. Đâu biết rằng, quân sự, chính trị, kinh tế cho đến khoa học công nghệ, đều không có cách nào mang đến sự hài hòa an định cho thế giới. Chỉ có giáo dục, nền giáo dục về đạo đức luân lý Thánh Hiền, tình yêu thương chân thành, mới là con đường căn bản cho sự hài hòa an định. “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên” (Dựng nước lãnh đạo dân, dạy học là đầu). Chính sách quốc gia, nên lấy giáo dục nhân ái hòa bình làm chủ đạo, giáo hóa nhân dân “chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng”. Người lãnh đạo thành công, tức là “người hòa giải” mà chúng ta đã nói, có thể hóa giải sự phân tranh đối lập, mâu thuẫn xung đột của tất cả mọi phe phái, tộc quần, tôn giáo khác nhau, khiến cho văn hóa phát triển đa nguyên mà tìm điểm chung gác lại bất đồng, cùng tồn tại cùng phồn vinh; lại lấy môi trường xã hội hài hòa an định làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế thương mại, khoa học công nghệ, như vậy sự giàu có phồn vinh của quốc gia tất nhiên sẽ theo đó mà đến. Ba sứ mệnh “Quân thân sư” mới là thành tựu viên mãn! Thiên lệch về phát triển kinh tế thương mại, tuy có “thân” mà không có sự giáo hóa, điều người xưa đã nói “Con người có cái đạo vậy, ăn no mặc ấm, sống nhàn hạ mà không có giáo dục, thì gần với cầm thú. Thánh nhân lo lắng điều này, sai Tiết làm quan Tư đồ, dạy dỗ nhân luân. Quốc quân lập giáo dạy dân, từ đó mà hưng khởi.” Trách nhiệm của “sư” to lớn biết bao! Đây là sự ghi chép của hơn bốn ngàn năm trước. Lấy chiến tranh phục thù để giải quyết vấn đề, tức là lãnh đạo nhân dân đi về hướng nỗi sợ hãi vĩnh viễn không có điểm dừng, sứ mệnh “quân thân sư” thất bại triệt để.
Thành tâm nguyện lãnh đạo các tầng lớp trên toàn cầu chấn hưng đại trí, đại nhân, đại dũng, lấy nền giáo dục Thánh Hiền nhân từ bác ái, khiến người thiên hạ giác minh thật tướng vũ trụ nhân sinh, giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, thì thịnh hội ngày nay sẽ hướng nhân loại của thế kỷ mới đến sự bình an hạnh phúc vĩnh hằng!
Mở đọc lịch sử Trung Quốc, thời kỳ thịnh thế của nhà Thanh thế kỷ 18, rất nhiều quốc gia ở các nơi trên thế giới đã cử sứ tiết đến Trung Quốc tham quan giao lưu. Như mọi người đều biết, hoàng đế nhà Thanh là lấy tộc người thiểu số khác biệt giành được chính quyền ở Trung Quốc, nhưng đạo trị quốc an bang của họ, đích thực vô cùng cao minh. Đế vương thỉnh mời học giả, đại đức của Nho Thích Đạo vào trong cung đình giảng học. Đế vương dẫn dắt đại thần ngày ngày lên lớp, bản thân mình cũng nghiêm túc học tập thực tiễn, làm tấm gương cho đại chúng. Khiến cho vương công đại thần thân tâm thấm đẫm trong Thánh học, thì đối nhân xử thế tự nhiên lấy trí làm tiên đạo, lấy trung hiếu nhân nghĩa làm gốc, lấy từ ái làm đầu, tế thế lợi vật, tự hành hóa tha, không dám trái nghịch lời răn dạy của Thánh triết. Thế là có thể khai sáng thịnh thế trên mảnh đất rộng lớn này của Trung Quốc, dung hợp 56 dân tộc khác nhau, khiến cho nước giàu dân vui, xa đến gần an, văn trị võ công đều có thành tích tương đối khả quan, đích thực không phải là một chuyện dễ dàng! Mãi cho đến đế vương thời mạt đại lơ là đọc kinh, phế bỏ việc giảng dạy Thánh học, quốc thế cũng dần dần suy nhược, cho đến diệt vong.
Từ đây có thể biết, triệt để hóa giải mâu thuẫn, xung đột, khủng bố, chiến tranh, chỉ có lấy việc dạy học giảng bài, khơi gợi tánh đức thuần tịnh lương thiện, từ hòa nhân nhượng vốn có của tâm tánh con người, thì đạt được lợi ích thiết thực nhất. Mà ba điều “quân thân sư”, cũng nhất thiết phải lấy giáo dục Thánh Hiền làm nơi dẫn về mới là sự viên mãn chân chính!
Bốn loại giáo dục
Giáo dục cổ đại có bốn loại: giáo dục gia đình, giáo dục trường học, giáo dục xã hội, giáo dục tôn giáo. Giáo dục gia đình là căn bản, giáo dục trường học là sự kéo dài của giáo dục gia đình, giáo dục xã hội rộng học nhiều nghe, thành tựu tài nghệ, giáo dục tôn giáo minh đạt chân tướng vũ trụ nhân sinh, lý sự nhân quả, mở rộng thành nền giáo dục viên mãn trong ba đời. Tháng 9 năm nay, tôi quay về Úc Châu, cùng hiệu trưởng và một số vị giáo sư của Đại học Nam Queensland tụ họp. Các giáo sư bàn đến, trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, các học giả châu Âu từng thực hiện một cuộc thảo luận, bốn nền văn minh cổ đại lớn trên thế giới, trong đó ba nền văn minh đã biến mất rồi, vì sao chỉ có văn minh Trung Quốc đứng sừng sững cho đến ngày nay. Mọi người đã đưa ra tổng kết, “có thể là nguyên nhân người Trung Quốc đặc biệt coi trọng gia giáo!” Đối với kết luận này, Tịnh Không vô cùng tán đồng. Đặc sắc giáo dục truyền thống Thánh Hiền, đích thực là giáo dục gia đình. Bắt đầu từ ngày đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, tuy không biết nói chuyện, nhưng nhất ngôn nhất hành của cha mẹ bậc trưởng bối đều lưu lại ấn tượng sâu sắc trong não hải của nó, sinh ra ảnh hưởng mang tính quyết định đối với cả cuộc đời nó. Cho nên sự giáo dục của người xưa là bắt đầu từ 3, 4 ngày sau khi trẻ sơ sinh ra đời, do đó ngạn ngữ cổ có nói: “Ba tuổi thấy tám mươi, bảy tuổi thấy cả đời”. Từ xưa đến nay, người Trung Quốc cực kỳ coi trọng gia giáo. Về cơ sở vật chất của nó, thì lấy từ đường để biểu thị cho hiếu đạo, lấy Khổng miếu để biểu thị cho sư đạo, lấy Diêm Vương điện trong Thành hoàng miếu để chỉ đạo giáo dục thiện ác nhân quả. Tuổi thơ của Tịnh Không chính là lớn lên trong môi trường như vậy, hiếu thân tôn sư, tin sâu nhân quả, không dám khởi một ác niệm, ảnh hưởng cả đời, đến già vẫn có thể giữ gìn không mất. Khắc thực mà luận, nếu đối với sự nhận thức của đạo lý này không sâu sắc, thuyết mà Tiến sĩ Toynbee đã nói, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Đại thừa mới có thể giải quyết các vấn đề của xã hội hiện đại, cũng không có chỗ để bắt tay vào. Vì sao vậy? Bởi vì căn bản của học thuyết Khổng Mạnh nằm ở “Đệ Tử Quy”, Đệ Tử Quy là tập đại thành của năm ngàn năm gia giáo truyền thống, Tứ Thư Ngũ Kinh đều là cành lá hoa quả; nếu không bắt tay vào từ căn bản, hoa quả có phồn mậu đến mấy cũng sẽ nhanh chóng rụng rơi khô héo. Bắt buộc phải nghiêm túc thực tiễn Đệ Tử Quy, lấy đây làm nền tảng, đạo Khổng Mạnh mới có chỗ để bắt tay vào. Phật pháp Đại thừa là lấy “Thập Thiện Nghiệp Đạo” làm nền tảng, nếu đời sống sinh hoạt hằng ngày không thể chân thật thực tiễn thập thiện, dẫu cho đem “Đại Tạng Kinh” đọc từ đầu đến cuối làu làu, cũng không có cách nào thể hội “học Phật là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh”!
Người làm công tác hòa bình, bắt buộc phải nhận thức sâu sắc, chỉ có hóa giải mâu thuẫn xung đột trong nội tâm của chính mình trước, triệt để buông xả tự tư tự lợi, dùng tình yêu thương chân thành để đối đãi với tất cả người, sự, vật, mới có thể hóa giải tất cả mâu thuẫn xung đột bên ngoài, đạt được hòa bình an định. Mà chân chính thực tiễn Đệ Tử Quy và Thập thiện nghiệp, tức là ngôn hành tư tưởng biểu hiện ra để hóa giải sự xung đột đối lập. Thập thiện và Đệ Tử Quy, là quy luật tự nhiên vốn có trong tâm tánh của hết thảy chúng sanh, cùng làm tăng thêm vẻ đẹp cho tinh túy của tất cả giáo học thần thánh. Trong xã hội hiện đại thiên tai nhân họa không dứt này, chỉ có tự thân gắng sức thực hành, và ra sức quảng bá thập thiện, Đệ Tử Quy cùng tất cả nền giáo dục thần thánh nhân từ bác ái, mới có thể khiến nhân dân đạt được sự hạnh phúc an lạc chân chính! Đúng như hàng chục vạn lần thí nghiệm của Tiến sĩ Masaru Emoto người Nhật Bản những năm gần đây, phát hiện tâm niệm “tình yêu thương” và “cảm ân”, có thể khiến cho nước sản sinh ra sự kết tinh đẹp nhất. Tiến sĩ Emoto, cũng nhờ vào bản báo cáo thí nghiệm này, nhận lời mời của Liên Hợp Quốc đến các nơi trên thế giới để phát biểu diễn giảng. Nước là khoáng vật, mà còn như vậy, huống hồ là động thực vật có đủ linh tính, lại càng huống hồ là nhân loại thân là động vật bậc cao! Cho nên biết kinh Phật đã nói: “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, chân lý “Tâm có thể hiện, thức có thể biến”, tâm niệm của mỗi người, đích thực có mối liên hệ mật thiết với hòa bình thế giới, hạnh phúc của nhân loại, là nguồn gốc căn bản của hòa bình và xung đột thế giới. Thiên tai địa biến, cũng là lòng người bất thiện, oán thù tích tụ mà cảm triệu nên! Từ đó mà xem, việc quảng bá giáo dục luân lý đạo đức, đích thực là sự nghiệp lớn! Đại nhân duyên! để toàn nhân loại chẩn tế khổ nạn, không thể chậm trễ!
Kiến nghị biện pháp cụ thể khả thi
Tiếp nối những gì đã nói ở trên, chân chính hy vọng quốc gia xã hội trị an lâu dài, thế giới an định hòa bình, đề xướng nền giáo dục luân lý đạo đức toàn dân nên là công tác quan trọng hàng đầu. Biện pháp cụ thể, tốt nhất do quốc gia bồi dưỡng 2, 3 mươi vị giáo viên, mỗi ngày luân phiên giảng bài, nguyên thủ quốc gia cũng đồng thời tham gia nghe giảng, nghiêm túc học tập. Lại đem cảnh quay thực tế nội dung lên lớp, chế tác thành đĩa DVD lưu thông với số lượng lớn. Tốt nhất có thể tại đài truyền hình quốc gia, phát sóng vào khung giờ vàng mỗi ngày, lấy đây để dẫn dắt toàn dân học tập. Cái gọi là “Thượng hành hạ hiệu” (Trên làm dưới bắt chước), khán giả trước màn hình tivi, tận mắt nhìn thấy nguyên thủ quốc gia nghiêm túc học tập giáo dục Thánh Hiền, ắt có thể chấn hưng cổ vũ to lớn lòng người quần chúng, nâng cao nguyện vọng và hứng thú học tập của đại chúng. Nếu như toàn quốc mỗi ngày ít nhất có 2 tiếng đồng hồ đến 4 tiếng đồng hồ huân tập giáo dục Thánh Hiền, giữ gìn không mất, trong vòng một năm, phong khí xã hội tất nhiên cải thiện rõ rệt.
Tết dương lịch năm 2003, Đài Truyền hình Vệ tinh Hoa Tạng do các bạn đồng học ở Mỹ chủ trì chính thức bắt đầu phát sóng, mỗi ngày 24 tiếng đồng hồ chuyên môn phát sóng những bài giảng của giáo dục Thánh học. Đài truyền hình này không có quảng cáo, cũng không có chương trình mang tính giải trí. Toàn bộ dựa vào sự quyên góp ủng hộ của những nhân sĩ có hảo tâm. Tiền chi tiêu kinh doanh đài truyền hình tuy lớn, thế nhưng cho đến nay đã gần 3 năm, đều có thể duy trì sự vận hành tốt đẹp. Cho thấy trong thời đại lớn vẩn đục ô nhiễm này, vẫn còn rất nhiều nhân sĩ có hảo tâm, khát khao học tập nền giáo dục thuần tịnh lương thiện mang tính chính diện, “nhân tính vốn thiện” từ đó được chứng minh vậy.
Cổ nhân nói: “Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa” (Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa). “Nhân hòa” là đề tài quan trọng nhất trước mắt của toàn nhân loại. Trong thời đại lớn dân chủ tự do cởi mở, người lãnh đạo đáng nên chủ động đi thăm lãnh đạo của các phe phái khác nhau trong toàn quốc (đặc biệt là lãnh đạo phe phản đối, càng phải chủ động đi thăm thỉnh giáo). Cùng lãnh đạo của các tôn giáo, các tộc quần, giao lưu học tập nhiều hơn, dung hợp ý kiến, xóa bỏ hiểu lầm, hóa giải sự đối lập, thúc đẩy sự hợp tác mật thiết, dốc sức cầu sự đoàn kết.
Ngoài ra, nguyên thủ quốc gia có thể vào các dịp lễ tết mỗi năm ít nhất tổ chức một lần “Dạ tiệc hài hòa”, hoặc vào những ngày lễ tết quan trọng của quốc gia tổ chức hoạt động “Tiệc nhỏ hòa mục”, mời đại diện các phe phái, tôn giáo, tộc quần khác nhau ở các nơi trên toàn quốc cùng sứ tiết các nước đến tham gia. Mục đích của nó, nằm ở chỗ dung hợp tình cảm của toàn dân, hóa giải sự hiểu lầm đối lập, đạt được sự đoàn kết nhất trí của toàn dân. Quá khứ tôi ở Singapore, từng cùng 9 tôn giáo lớn của Singapore liên hợp tổ chức ba lần dạ tiệc ấm áp, đối với sự đoàn kết dung hợp của văn hóa đa nguyên, đã sinh ra hiệu quả vô cùng tốt đẹp. Cho đến nay tôi tuy đã rời khỏi Singapore 4 năm, nhưng mỗi lần có cơ hội đến Singapore, đều sẽ cùng đại diện 9 tôn giáo lớn tụ họp ăn uống nói chuyện gia đình. Tình hữu nghị chân thành cùng kinh nghiệm quý báu này, khiến chúng tôi trong việc dấn thân vào sự đoàn kết của văn hóa đa nguyên trên bình diện quốc tế sau này, đã kiến lập được tín tâm kiên định.
Để thúc đẩy sự giao lưu học tập, người lãnh đạo cũng có thể khuyến khích các phe phái, tôn giáo, tộc quần khác nhau tổ chức đoàn ra nước ngoài thăm viếng, làm sâu sắc thêm sự thấu hiểu lẫn nhau và tăng trưởng kiến thức. Năm 2000, chúng tôi từng mời đại diện 9 tôn giáo lớn của Singapore đến thăm Trung Quốc, các đại diện tham gia có hơn 10 ngày cùng sống chung với nhau, giao lưu học tập, trong bầu không khí nhẹ nhàng vui vẻ, đã hóa giải sự ngăn cách vô hình. Tháng 7 năm 2004, tôi tùy tùng phái đoàn đại biểu 5 tôn giáo lớn của Indonesia đi thăm Vatican và Ai Cập; tháng 12 cùng năm, tùy tùng phái đoàn đại biểu tôn giáo Indonesia do Trưởng lão Wahid dẫn đầu đi thăm Trung Quốc. Mọi người học tập nhận thức lẫn nhau trong đời sống sinh hoạt, kính yêu lẫn nhau; một phần sự ân cần quan tâm nhỏ nhặt, thường thường vượt xa những tràng dài đại luận thao thao bất tuyệt. Đối với việc hóa giải hiểu lầm, thúc đẩy sự hợp tác mật thiết lẫn nhau, đích thực đã sinh ra sự ảnh hưởng sâu xa.
Ngày nay là thời khắc mấu chốt cho sự hưng suy tồn vong của trái đất và toàn nhân loại. Tịnh Không trong lúc giảng kinh thường nói, thế giới ngày nay, sự hưng diệt tồn hủy của trái đất và toàn nhân loại, do hai nhóm người nắm giữ đại cục. Một là lãnh đạo quốc gia, một là người phụ trách truyền thông. Chính sách của lãnh đạo quốc gia, và định hướng của người phụ trách truyền thông, sinh ra ảnh hưởng to lớn mang tính quyết định đối với sự hạnh phúc an lạc của toàn dân. Những công tác như đoàn kết tộc quần tôn giáo đa nguyên, thúc đẩy giáo dục nhân từ bác ái v.v. đã nói như trên, đều là sự nghiệp vĩ đại “Vì bậc Thánh thuở trước tiếp nối tuyệt học, vì vạn đời mở ra thái bình”. Quá khứ chúng ta lấy sức mạnh của dân gian, khắc phục tầng tầng chướng nạn và trắc trở mà có được chút thành tích. Nếu do quốc gia toàn lực thúc đẩy, thì hiệu quả đạt được trong một năm, ắt vượt xa những gì chúng ta đã làm trong quá khứ 10 năm, 20 năm. Đích thực chỉ có người lãnh đạo chân thật có đủ đại trí, đại nhân, đại dũng, mới có thể gánh vác sự nghiệp Thánh Hiền của muôn đời ngàn kiếp này! Đây là sự kỳ vọng tha thiết chân thành của tôi đối với Trưởng lão Mahathir và chư vị nhân giả đại đức tham dự đại hội.
Tổng kết
Tịnh Không trong lúc giảng kinh thường cùng các bạn đồng học khích lệ lẫn nhau, cho rằng việc quảng bá nền giáo dục đạo đức Thánh Hiền, hiệu quả của phương thức giảng bài dạy học vượt xa so với việc mở cuộc họp; mà giảng kinh dạy học, lại có thể kết hợp với phương thức của khoa học công nghệ cao, càng có hiệu suất mà lại mở rộng sức ảnh hưởng một cách rộng rãi. Vì vậy mấy chục năm nay, chúng tôi tặng đĩa quang, sách báo với số lượng lớn, tích cực quảng bá nền giáo dục luân lý đạo đức, nhân từ bác ái. Vài năm gần đây, lợi dụng mạng internet và truyền hình vệ tinh đem nền giáo dục Thánh Hiền nhân từ bác ái, quảng bá đến trong nhà của mỗi một người trên toàn thế giới. Tại Trung Quốc, có một số giáo viên người Hoa trẻ tuổi, tự thân gắng sức thực hành, đi khắp nơi giảng học, đem hạt giống Thánh học nhân từ bác ái, rải vào trong tâm của mọi người, làm cảm động vô số nam nữ già trẻ. Sức ảnh hưởng này, cũng đang dần dần mở rộng ra hải ngoại (chúng tôi từng tổ chức nhiều lần tọa đàm văn hóa tại Singapore, Malaysia, Indonesia, Úc Châu, Paris). Năm nay, tôi tại quê nhà, Lư Giang An Huy Trung Quốc xây dựng một “Trung tâm Giáo dục Văn hóa”, hy vọng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về luân lý đạo đức, khiến cho nền giáo dục Thánh học kéo dài không dứt, nhân từ bác ái lan khắp toàn cầu. Những sự nỗ lực này, chúng tôi đều đang dần dần nhìn thấy được những thành tích đáng mừng. Có cơ hội, vô cùng hoan nghênh các vị đang ngồi đây cùng nhau đến Trung tâm tham quan chỉ giáo. Cuối cùng, chúng tôi lấy vài câu nói cúng dường chư vị nhân giả, đồng thời làm tổng kết cho bài báo cáo hôm nay.
Xã hội hài hòa Vạn quốc hài hòa Đối xử bình đẳng Cùng tồn tại cùng phồn vinh
Xã hội hài hòa Vạn tộc hài hòa Đối xử bình đẳng Giúp đỡ hợp tác lẫn nhau
Xã hội hài hòa Vạn giáo hài hòa Đối xử bình đẳng Chung sống hòa mục
Chúc phúc chư vị nhân giả đại đức
Thân cung khang thái Quốc vận xương long
Tuổi tuổi bình an Năm năm như ý
Cảm ơn mọi người!
TỊNH KHÔNG
Viện trưởng Tịnh Tông Học Viện Úc Châu – Giáo sư danh dự Đại học Griffith
Phật Hóa Chính Trị Và Giáo Dục – Nền Trị Vì Đại Đồng
PHẬT HÓA CHÍNH GIÁO – NỀN TRỊ VÌ ĐẠI ĐỒNG
Kinh văn
[Nơi Phật đi qua, nước, ấp, gò, làng, không đâu chẳng thấm nhuần giáo hóa. Thiên hạ hòa thuận, nhật nguyệt trong sáng. Mưa gió thuận thời, tai ương chẳng khởi. Nước giàu dân an, can qua vô dụng. Sùng đức hưng nhân, rèn tu lễ nhượng. Nước không trộm cướp. Chẳng có oán uổng. Mạnh không hiếp yếu, ai nấy yên phận.]
Đoạn kinh văn này là cảnh tượng Phật hóa thái bình thịnh thế, đại đồng chi trị, cùng với bài “Lễ Vận Đại Đồng Thiên” trong “Lễ Ký” có sự vi diệu của “khác khúc đồng công” (cách làm khác nhau nhưng hiệu quả như nhau), thế nhưng so với “Lễ Vận Đại Đồng Thiên” lại giảng hay hơn, hoàn bị hơn.
“Lễ Vận Đại Đồng Thiên”: “Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục. Cố nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử; sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở trưởng, căng quả cô độc phế tật giả giai hữu sở dưỡng; nam hữu phân, nữ hữu quy. Hóa ác kỳ khí ư địa dã, bất tất tàng ư kỷ; lực ác kỳ bất xuất ư thân dã, bất tất vi kỷ. Thị cố, mưu bế nhi bất hưng, đạo thiết loạn tặc nhi bất tác, cố ngoại hộ nhi bất bế, thị vị đại đồng.” (Khi đại đạo được thi hành, thiên hạ là của chung, kén chọn người hiền và người tài, chú trọng chữ tín và tu dưỡng sự hòa mục. Cho nên người ta không chỉ yêu kính người thân của riêng mình, không chỉ coi trọng con cái của riêng mình; khiến cho người già có nơi nương tựa đến cuối đời, người trẻ tuổi có chỗ dùng tài năng, trẻ em có môi trường để lớn lên, những kẻ quan phu, góa phụ, côi cút, bệnh tật đều có nơi nuôi dưỡng; nam giới có công việc, nữ giới có chốn nương về. Của cải ghét việc vứt bỏ xuống đất, nhưng không nhất thiết phải cất giấu cho riêng mình; sức lực ghét việc không do bản thân mình bỏ ra, nhưng không nhất thiết phải vì riêng mình. Vì thế, mưu mô bị đóng lại mà không khởi, trộm cắp loạn tặc mà không nổi lên, cho nên cửa ngoài không cần đóng lại, đây gọi là đại đồng.) Thế giới đại đồng có thể hiện tiền hay không? Đem mười lăm câu này làm cho được, thế giới đại đồng liền hiện tiền rồi.
Đại đồng chi trị không phải là một lý tưởng, đã từng được thực hiện ở thời xưa. Căn cứ theo sự ghi chép của cổ tịch, Tam Hoàng lấy đạo trị thiên hạ, Ngũ Đế lấy đức trị thiên hạ, Tam Vương lấy nhân trị thiên hạ, một ngàn tám trăm năm của ba thời đại này, là khoảng thời kỳ dài nhất trong lịch sử Trung Quốc. Triều Chu có tám trăm năm lịch sử, ba trăm năm đầu là thịnh thế, năm trăm năm sau là loạn thế, có Ngũ bá thời Xuân Thu Chiến Quốc. Tuy Ngũ bá không bằng ba thời đại trước, nhưng họ chuộng nghĩa khí. Tần thống nhất Trung Quốc, thống trị mười lăm năm mất nước, Hán thế chỗ thay cho nó. Hán Vũ Đế tiếp nhận đề nghị của Đổng Trọng Thư, lấy học thuyết Khổng Mạnh làm dòng chính trong nền giáo dục của Trung Quốc. Chính sách này vô cùng chính xác, mãi cho đến khi triều Thanh diệt vong, gần hai ngàn năm đều là lấy lễ trị thiên hạ. Nhà sử học cổ đại nói: “Đạo mất rồi sau đó có đức, đức mất rồi sau đó có nhân, nhân mất rồi sau đó có nghĩa, nghĩa mất rồi sau đó có lễ”. Lễ là giới hạn cuối cùng của xã hội an định, quốc gia trị an lâu dài, lễ nếu như mất đi rồi, xã hội liền động loạn. Lời người xưa nói, hiện tại đều đã ứng nghiệm rồi. Làm thế nào mới có thể khôi phục xã hội an định, thế giới hòa bình, nhân dân hạnh phúc? Chúng ta nhất định phải giác ngộ, chỉ có tìm lại chữ lễ, mới có thể thực hiện được mục tiêu này.
Chú giải
Nơi Phật đi qua Cát tường hòa mục
Văn trên biểu thị lòng từ đức của Phật vô lượng.
“Nơi Phật đi qua”, chỉ những nơi Phật đã đi qua, tức những nơi ngài đến; lại kiêm chỉ những nơi Phật pháp lưu hành ở đời sau.
“Nơi Phật đi qua”, chính là nơi đẩy mạnh giáo dục Phật đà, giáo hóa chúng sanh. Phàm là nơi giảng kinh thuyết pháp thì gọi là đạo tràng, không câu nệ hình thức. Bởi vì rất nhiều kinh giáo của Phật là được giảng trong rừng cây, giảng bên bờ sông, cho nên đạo tràng không có một hình thức nhất định, cũng không có một nơi chốn nhất định, không thời nào, không nơi nào không phải, chỉ cần là giảng kinh dạy học, khuyên hóa chúng sanh, thời điểm này, địa điểm này, đây liền gọi là đạo tràng.
Khi Phật đà còn tại thế, giao thông không thuận tiện, không có thông tin. Thế Tôn giáo hóa chúng sanh, không dùng thần thông làm Phật sự, dùng phương pháp gì để quảng bá việc dạy học? Phật đem những đệ tử thâm niên, phân phát đến bốn phương tám hướng để giảng học, giáo hóa chúng sanh. Tại Ấn Độ lúc bấy giờ, mỗi năm mùa mưa có ba tháng, ba tháng này kết hạ an cư, để các học trò đang dạy học ở bên ngoài, toàn bộ quay về bên cạnh Thích-ca Mâu-ni Phật, tiếp nhận sự tái giáo dục, giúp đỡ họ nâng cao lên trên. Các học trò có thời gian chín tháng ở bên ngoài giáo hóa chúng sanh, có thời gian ba tháng quay về bên cạnh Thích-ca Mâu-ni Phật tiếp nhận “giáo dục bồi dưỡng”, nâng cao bản thân.
Hiện nay khoa học công nghệ thay đổi từng ngày, có rất nhiều xí nghiệp, những nhân viên quản lý, kỹ thuật của họ, cũng có giáo dục bồi dưỡng. Chế độ này của Phật vô cùng tốt, hiện nay hạ an cư có hình thức mà không có nội dung thực chất. Phật pháp là lấy dạy học làm chủ đạo, là nền giáo dục chính tông, chúng ta nhất định phải khẳng định. Hai trăm năm trước, tự viện am đường, bất kể là tùng lâm hay miếu nhỏ, đều có pháp sư hoặc cư sĩ đại đức giảng kinh. Chỉ có giảng kinh dạy học, thì mới có thể giáo hóa một phương, làm ra tấm gương cho đại chúng xã hội, đem những gì chúng ta học được thực tiễn trong cuộc sống, công việc, đối nhân xử thế tiếp vật.
“Quốc” là quốc gia, “ấp” là làng xã. “Khâu” có hai nghĩa: Một là “Hội Sớ” bảo là đồi núi (sơn khâu). Hai là “Chu Lễ” nói: “Bốn ấp là khâu”, vậy thì “khâu” cũng là nơi tụ cư. “Tụ” là tụ lạc, xóm làng. Vọng Tây nói: “Quê nhỏ gọi là tụ”. “Nước, ấp, gò, làng” biểu thị nơi chốn Phật đi qua. Không đâu chẳng nhờ cậy sự giáo hóa của Phật, cho nên nói “không đâu chẳng thấm nhuần giáo hóa”. Đã nhận sự Phật hóa, thì ắt cảm giáng sự cát tường, do đó được “thiên hạ hòa thuận” cho đến “ai nấy yên phận”. “Thiên hạ hòa thuận”, là thế giới hòa bình, muôn nước hòa mục vậy.
“Quốc” là quốc gia, “ấp” là làng xã, ấp cũng có thể nói là thành thị. “Khâu” có hai ý nghĩa: Một là “sơn khâu”, hai là “bốn ấp”, “bốn ấp” xưng là một khâu, “khâu” là nơi tụ cư. “Tụ” là tụ lạc, xóm làng. Vọng Tây nói: “Quê nhỏ gọi là tụ”. Người hiện đại chúng ta nói “quốc” là chỉ “quốc gia”, nhưng vào thời cổ đại “quốc” là chỉ một thành thị hoặc khu vực, “ấp” tương đương với trấn của chúng ta ngày nay, “khâu” chính là hương, “tụ” chính là thôn. Bất luận là đô thị, trấn, khu, thôn lạc, từ lớn đến nhỏ, phàm là nơi chúng sanh cư trú đều có sự dạy học của Phật.
Đây là từ gần đến xa mở rộng sức ảnh hưởng của sự giáo hóa, biểu thị nơi chốn mà sự giáo hóa của Phật đà được đẩy mạnh, không nơi nào không nhờ cậy sự giáo hóa của Phật. Thời cổ đại tự viện am đường là cơ cấu đẩy mạnh giáo dục Phật đà, trụ trì phương trượng là hiệu trưởng, thủ tọa hòa thượng tương đương với giáo vụ trưởng trong các trường đại học hiện nay, duy na là huấn đạo trưởng, giám viện là tổng vụ trưởng, cùng với sự phân công trong các trường học hiện nay hoàn toàn giống nhau. Tiên sinh Phương Đông Mỹ từng giảng nhiều lần, Phật giáo muốn phục hưng, nhất định phải khôi phục chế độ tùng lâm. Chế độ tùng lâm là gì? Dạy học.
Tùng lâm thời cổ đại ở nước ta giống như trường đại học hiện nay vậy, các tông phái khác nhau chính là các khoa hệ khác nhau bên trong trường đại học. Bạn muốn học điển tịch của một tông phái nào đó, có giáo viên chuyên môn chỉ đạo, đây gọi là phân tòa giảng kinh. Có ý nghĩa gì? Phòng học khác nhau, mở những môn học khác nhau. Cho nên, Phật giáo nhất định phải quay về với dạy học, quay về với trường học, mới có thể thường trụ thế gian. Các tôn giáo khác cũng nhất định phải quay về với giáo dục, mới có được cống hiến chân chính đối với xã hội.
“Nơi Phật đi qua” là khu vực mà sự đẩy mạnh giáo dục Phật đà sản sinh hiệu quả, hiển thị ra đại đồng chi trị của Phật giáo. Làm đệ tử Phật, nếu có thể đem đoạn kinh huấn này thực tiễn trên bản thân, thực tiễn trong toàn thể gia đình, thì có thể thân tâm khỏe mạnh, hạnh phúc vui vẻ, liền có thể thụ hưởng được lợi ích công đức thù thắng của việc Phật Bồ-tát giáo hóa─”Sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh”!
Phật độ người có duyên, sự giáo hóa của Phật không có sự phân biệt khu vực, không có sự phân biệt khinh trọng, hoàn toàn là từ bi bình đẳng giáo hóa hết thảy. Nhân dân của khu vực này đối với Phật pháp yêu thích, Phật liền đến rồi; họ bài xích Phật pháp, Phật cũng không rời đi. Nói sao không rời đi? Phật đứng ở bên cạnh chờ đợi, khi nào quay đầu rồi, ngài liền đến dạy bạn, từ bi đến tột cùng! Tình yêu của cha mẹ đối với con cái, không thể so sánh với tình yêu của Phật đối với chúng sanh, Phật đối với chúng sanh là mười ngàn phần tình yêu, cha mẹ đối với con cái chỉ có một phần. Phật Bồ-tát đối với chúng sanh, đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn không rời bỏ, bất luận bạn luân lạc ở đường nào, luôn luôn quan tâm bạn, chăm sóc bạn. Tự bạn có thể tin có thể hiểu, thì có hiển cảm (cảm ứng rõ rệt); nếu bạn bài xích, không tiếp nhận, cảm ứng này bản thân bạn không thể nhận sát, gọi là minh cảm; Phật Bồ-tát vĩnh viễn sẽ không rời xa bạn, đây là sự thật.
Phật pháp là giáo dục, là sự giáo hóa của Phật, giáo là dạy học, hóa là thành quả của việc dạy học. Người xưa nói: “Đọc sách chí ở thay đổi khí chất”, vậy học Phật? Mục đích của học Phật là chuyển phàm thành Thánh, đây chính là hóa. Nó cũng có sơ cấp, trung cấp, cao cấp. Sự giáo hóa của Phật đà có thể chuyển ác thành thiện, giúp đỡ xã hội hiện tại khôi phục sự an định hòa bình, đây là sơ cấp; nâng cao thêm, chuyển mê thành ngộ; nâng cao thêm, chuyển phàm thành Thánh. Chuyển ác thành thiện là nói với cõi người, cõi trời; chuyển mê thành ngộ là nói với Nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác), Quyền giáo Bồ-tát; chuyển phàm thành Thánh, là nói với người có căn tánh Đại thừa. Cho nên, giới thiệu Phật pháp, đoạn kinh văn này vô cùng tốt, thuyết minh Phật giáo là giáo dục.
Phật giáo có phải là tôn giáo không? Nếu dùng định nghĩa tôn giáo của người xưa chúng ta mà nói, Phật giáo là tôn giáo. Tông có ba ý nghĩa chủ yếu, quan trọng, tôn sùng; giáo cũng có ba ý nghĩa giáo dục, dạy học, giáo hóa. Hợp lại tôn giáo chính là nền giáo dục chủ yếu, sự dạy học quan trọng, sự giáo hóa đáng tôn sùng. Từ đó mà nói, Phật giáo hoàn toàn là một tôn giáo đúng với tên gọi của nó, là nền giáo dục chủ yếu của nhân loại, điều này quan trọng biết bao! Khác với định nghĩa tôn giáo mà người nước ngoài đã nói.
Thế giới Cực Lạc là do đích thân A Di Đà Phật chủ trì, ngày ngày giảng kinh dạy học, đẩy mạnh ra toàn thế giới, cho nên thế giới đó trang nghiêm tốt đẹp. Chúng ta hiện nay dùng khoa học công nghệ, truyền hình vệ tinh, truyền hình mạng, giáo dục từ xa. Thế giới Cực Lạc không cần những công cụ này, thế giới Cực Lạc tuy rất rộng lớn, thế nhưng, bất luận bạn ở chỗ nào, đều có thể nhìn thấy Phật ở trước mặt dạy bạn; rẽ sang một lối, quay đầu lại, vẫn là nhìn thấy Phật ở trước mặt, Phật chưa từng rời đi, không thể nghĩ bàn.
Thế giới Cực Lạc là đệ nhất khoa học trong vũ trụ. A Di Đà Phật là nhà khoa học lớn, là nhà triết học lớn, có một người thầy tốt như vậy ngày ngày lên lớp dạy học, có thể không đến sao? Hơn nữa đến thế giới Cực Lạc, chỗ tốt đầu tiên chính là được vô lượng thọ, vĩnh viễn không có sanh tử, vĩnh viễn thoát ly lục đạo luân hồi. Nếu như bạn hoài nghi, thiện căn gieo xuống rồi, nhưng đời này không thể vãng sanh, vì sao vậy? Sự nghi ngờ chướng ngại bạn vãng sanh. Đời sau kiếp sau bạn lại sẽ gặp được, đến đời nào kiếp nào không còn hoài nghi nữa, bạn liền vãng sanh rồi.
Thế là chúng ta biết, mọi người trong đời quá khứ đời đời kiếp kiếp đều nghe qua pháp môn này, đều học tập pháp môn này, vì sao chưa đi được? Vẫn là còn sự nghi hoặc, cho nên chưa đi được. Đời này lại gặp được rồi, đời này có thể đi được không? Phải xem đời này có thể đoạn tận nghi tình hay không; vẫn còn nghi hoặc, thì lần sau lại đến. Cái quyền này nắm trong tay chính mình, không nằm ở người khác. Sự cảm ứng của A Di Đà Phật, như tiếng hải triều, tuyệt không thất tín, chúng ta thật sự không có nghi hoặc, có đủ điều kiện, vừa niệm Phật ngài liền đến, liền có thể vãng sanh.
Thế giới Tây Phương Cực Lạc là tiếp nhận sự giáo hóa của A Di Đà Phật, cho nên trang nghiêm tốt đẹp. Nếu trên trái đất có một quốc gia, hoặc là một thành thị, một thôn trấn, cho đến một thôn nhỏ, chân thật tiếp nhận sự giáo hóa của Phật, thì sẽ không như nhau! Việc này phải làm ra mới được, không làm ra, người hiện tại không tin.
Tôi mấy năm nay có cơ hội ra nước ngoài thăm viếng, hai lần thăm viếng Giáo hoàng, đề nghị ông lấy Vatican làm thực nghiệm, đem thành Rome biến thành điểm mẫu của Công giáo trên toàn thế giới, đem giáo nghĩa, tinh thần của Công giáo hoàn toàn dung hợp vào trong đời sống sinh hoạt, tạo ra một mô hình thiên đường trên trái đất này.
Tôi đến Thái Lan thăm viếng, gặp mặt Thái hoàng, cũng đem thông điệp này nói cho ông. Mấy ngày nữa, Thái Lan có một vị thân vương sẽ đến thăm tôi, vị thân vương này là em trai của hoàng hậu, hy vọng xúc tiến thành công sự việc này. Thái Lan là quốc gia duy nhất trên thế giới lấy Phật giáo làm quốc giáo, có thể chọn một thành thị nhỏ, đem tinh thần của Phật giáo, văn hóa của Phật giáo thực tiễn ở thành thị nhỏ này, thành thị nhỏ này chính là cõi Phật, thế giới đại đồng của Phật giáo. Người ta hỏi: Cái gì là Phật giáo? Đến thánh thành Phật giáo xem thử. Thánh thành Phật giáo, thánh thành Thiên Chúa giáo, thánh thành Cơ Đốc giáo, mỗi một tôn giáo làm một thánh thành, đem tinh thần của tôn giáo, sự dạy học của tôn giáo hoàn toàn dung hợp vào trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Đạo Thiên Chúa đem tình yêu thương của Thánh mẫu làm ra, Cơ Đốc giáo đem tình yêu thương của Chúa Giê-su làm ra, Thần yêu thương người thế gian, Đạo Hồi đem sự từ bi của Chân chủ làm ra, tôn giáo có thể phục hưng, có thể dẫn dắt toàn thế giới quay về với sự an định hòa bình.
Giáo dục văn hóa truyền thống cũng phải làm một thực nghiệm. Chúng tôi đẩy mạnh Hán học tại Malaysia, trường Hoa ngữ Malaysia, trường tiểu học có hơn một ngàn ngôi, trường trung học có 61 ngôi, những giáo viên, hiệu trưởng của các trường học này, họ cả đời dấn thân vào công tác giáo dục, đối với giáo dục là người trong nghề. Viện Hán Học của chúng tôi không có giảng viên, trước tiên bồi dưỡng giáo viên, tìm những giáo viên tiểu học, giáo viên trung học có hứng thú, có nhận thức, có sứ mệnh đối với văn hóa truyền thống, mỗi một giáo viên yêu cầu họ thực tiễn ba cái gốc Nho Thích Đạo – “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp Đạo”, tự thân gắng sức thực hành, làm tấm gương cho đại chúng xã hội. Nếu có thể có hai trăm vị giáo viên phát tâm làm nghiên cứu viên của Viện Hán Học, mỗi người chuyên công một bộ kinh, ba năm sẽ có thành tựu rất tốt, liền có thể nâng cao bản thân lên trình độ giáo sư đại học, liền có thể dạy học.
Một môn thâm nhập, huân tu thời gian dài, một đời chuyên tâm vào một bộ điển tịch. Nếu có thể dụng công mười năm, người đó chính là nhà Hán học hàng đầu trên thế giới. Nếu quốc gia có thể khéo léo sử dụng họ, xây dựng một đài truyền hình vệ tinh, mở một Viện Hán Học trên không, hai trăm vị giáo viên này không ngừng giảng bài, truyền bá đến toàn thế giới, Hán học của cổ nhân chúng ta giáo hóa chúng sanh toàn cầu. Tôi đối với những giáo viên, hiệu trưởng này ký thác một niềm hy vọng rất lớn, đến lúc đó nếu mở trường đại học, thì đã có giảng viên rồi. Nho Thích Đạo toàn bộ đều học, điển tịch của Nho và Đạo đều được thu thập trong “Tứ Khố Toàn Thư”, điển tịch của Phật là “Càn Long Đại Tạng Kinh”. Văn hóa truyền thống Thánh Hiền, không ngoài ba nhà Nho Thích Đạo.
Chúng ta nhất định phải thừa nhận, Phật giáo là giáo hóa; cũng phải thừa nhận, mỗi một tôn giáo trên toàn thế giới đều là giáo hóa, người sáng lập của mỗi một tôn giáo đều là giảng kinh dạy học. Chỉ có tôn giáo quay về với giáo dục, quay về với dạy học, các tôn giáo bắt tay nhau lại giúp đỡ thế giới giáo hóa chúng sanh. Tất cả đều lấy dạy học làm đầu, cho nên nói “không đâu chẳng thấm nhuần giáo hóa”, đều là nhờ cậy vào sự giáo hóa của Phật đà.
Giáo dục Phật giáo là giáo dục tình yêu thương, là giáo dục từ bi, là giáo dục phá mê khai ngộ, là giáo dục lìa khổ được vui, nhất định phải giảng cho rõ ràng, giảng cho minh bạch. Chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác, có phải đều đang nghĩ đến chúng sanh khổ nạn, nghĩ đến xã hội và trái đất đầy rẫy tai nạn hay không? Dùng phương pháp gì để giúp đỡ họ hóa giải tai nạn, lìa khổ được vui? Thế Tôn đã làm ra tấm gương cho chúng ta, hoàn toàn thực tiễn ở việc dạy học.
Phật năm xưa trụ thế bốn mươi chín năm, dạy học không dứt. Người xưa chúng ta nói “dựng nước quản dân, dạy học làm đầu”, tất cả các pháp thế xuất thế gian đều phải đem việc dạy học đặt ở vị trí thứ nhất, vấn đề xã hội, vấn đề tai nạn ngày nay sẽ vĩnh viễn không phát sinh. Phát sinh do nguyên nhân gì? Chúng ta đã lơ là việc dạy học rồi. Sau khi vấn đề xuất hiện rồi dùng phương pháp gì để giải quyết? Vẫn là phải dùng phương pháp cũ, là dạy học làm đầu, không dạy học là vĩnh viễn không thể giải quyết được. Cổ đức có nói “Con cái không được dạy dỗ, lòng người liền hư hỏng; người không học, xã hội liền rối loạn”. Học cái gì? Học Thánh Hiền, xã hội sẽ không rối loạn. Không học Thánh Hiền, cho rằng Thánh Hiền vô năng, cho rằng Thánh Hiền lạc hậu, cho rằng Thánh Hiền không theo kịp thời đại, xã hội liền đại loạn, tai nạn thường xuyên. Tình trạng mà ngày nay chúng ta đang gặp phải không phải là như thế này sao?
“Tả Truyện” nói “Người vứt bỏ luân thường thì yêu ma nổi lên”, con người vứt bỏ cái đạo luân thường, trên xã hội toàn là yêu ma quỷ quái. Thế nào gọi là yêu ma quỷ quái? Bất nhân, bất nghĩa, vô lễ, vô trí, không giữ chữ tín, đây chính là yêu ma quỷ quái, tai nạn xuất hiện rồi. Hiện tại điều được gọi là tai nạn tự nhiên, kỳ thực, không phải là tai nạn tự nhiên, đó là gì? Là do bất nhân, bất nghĩa, vô lễ, vô trí, vô tín cảm triệu đến. Phật pháp nói tất cả pháp từ tâm tưởng sanh, đây là tai biến do ý niệm bất thiện cảm triệu, chúng ta nếu không nỗ lực cứu vãn, thì không còn kịp nữa rồi.
Làm thế nào để ứng phó với động loạn xã hội và tai biến hiện tiền? Trên kinh Phật giảng một cách thấu triệt, rõ ràng, chúng ta phải tin tưởng, không thể hoài nghi. Hóa giải tai nạn, cứu vãn xã hội, phải bắt đầu làm từ bản thân tôi, tuyệt đối không thể yêu cầu người khác, yêu cầu người khác vĩnh viễn không đạt được mục đích. Phải bắt đầu làm từ đâu? Bắt đầu làm từ ngũ luân. Ngũ luân của Phật pháp, cao hơn rất nhiều so với ngũ luân của Trung Quốc, ngũ luân của Trung Quốc là người một nhà, ngũ luân của Phật pháp là hết thảy người sự vật khắp pháp giới hư không giới cùng với tôi là một thể, từ một tự tánh biến hiện ra. Cho nên, sự từ bi của Phật pháp là viên mãn, gọi là “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”, vô duyên chính là tình yêu thương vô điều kiện. Đây chính là điều người xưa nói cha con có tình thân, tình yêu đó của cha mẹ đối với con cái, là không có điều kiện, đây là thiên tính.
Đứa trẻ ba, bốn tháng tuổi, tình yêu thương của nó đối với cha mẹ, đối với tất cả mọi người, bất kể là người nào tiếp cận nó, nó đều hoan hỷ. Sau năm, sáu tháng là bắt đầu nhận mặt người lạ, nó không biết nói chuyện, bạn nhìn ánh mắt của nó, nhìn biểu cảm của nó, nhìn động tác của nó, là có thể nhìn ra được. Lúc này không dạy dỗ cho tốt, nó liền học theo thói xấu rồi. Những đứa trẻ hiện nay học với ai? Học với tivi, mạng máy tính. Nó học theo thói xấu rồi, nó không có trách nhiệm, người lớn có trách nhiệm, xã hội có trách nhiệm, đây là điều chúng ta không thể không biết, chân thật biết rồi thì mau chóng quay đầu.
Giáo sư Ngô Hồng Thanh, tại một trường tiểu học ở vùng quê nghèo nàn hẻo lánh Thiên Thủy, Cam Túc, đã mở lớp thực nghiệm Phục Hy, thầy đã mở thành công rồi. Tôi nói với thầy: Chỉ mở trường tiểu học là không được, các em hễ lên trung học, lập tức bị ô nhiễm, sức mạnh của môi trường quá lớn rồi. Làm sao đây? Tiếp tục mở lên, tốt nghiệp tiểu học thì mở trung học, tốt nghiệp trung học thì mở đại học, tốt nghiệp đại học thì mở viện nghiên cứu, như vậy mới có thể mang đứa trẻ này ra một cách viên viên mãn mãn. Lớp này là gì? Đây là lớp Thánh Hiền, tương lai các em sẽ làm Thánh làm Hiền. Chỉ có Thánh Hiền mới có thể cứu thế giới, mới có thể cứu quốc gia dân tộc.
Thánh Hiền dạy ra được, “nhân chi sơ, tánh bản thiện”, mỗi một người vốn dĩ đều là Thánh Hiền, chỉ là học theo thói xấu rồi, không dạy dỗ đàng hoàng cho họ. Mà học tập quan trọng nhất là cắm rễ, cái rễ này là thai giáo, lúc mang thai, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác của người mẹ sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Cho nên tư tưởng của người mẹ thuần chánh, quyết định không có tà niệm, ngôn ngữ bất thiện, động tác bất thiện.
Sau khi đứa trẻ chào đời, những gì nó nhìn thấy, nghe thấy, tiếp xúc đến, đều là những hành vi thuần chánh. “Đệ Tử Quy” là cha mẹ biểu diễn cho trẻ sơ sinh xem, nó từ lúc sinh ra nhìn cho đến ba tuổi, đã học thuộc toàn bộ rồi, điều này gọi là cắm rễ thật sâu. Người xưa nói: “Ba tuổi nhìn ra tám mươi”, cái rễ ba tuổi này trồng được tốt, nó cả đời sẽ không thay đổi, có sức mạnh lớn như vậy, công lao này hoàn toàn là của người mẹ. Cho nên người mẹ là bậc Thánh nhân, người mẹ biết được đạo lý này, chăm sóc đứa trẻ cho tốt, thì cái rễ của Thánh nhân liền được cắm xuống rồi.
Sau này thì thầy giáo dạy nó, thầy giáo quyết định là người con hiếu thảo, đức hạnh đệ nhất. Vì sao vậy? Cái rễ của tất cả các pháp thiện thế xuất thế gian đều được sinh ra từ trong chữ hiếu. Tịnh nghiệp tam phước câu thứ nhất “hiếu dưỡng cha mẹ”, câu thứ hai “phụng sự sư trưởng”.
Phật giáo là sư đạo, sư đạo được xây dựng trên nền tảng của hiếu đạo, người không hiếu thuận cha mẹ không thể học Phật, người không hiếu thuận cha mẹ, Thích-ca Mâu-ni Phật đến dạy cũng học không thành. Chữ hiếu (孝), bên trên là chữ lão (老), bên dưới là chữ tử (子), thuyết minh thế hệ trước và thế hệ sau là một thể. Thế hệ trước vẫn còn thế hệ trước nữa, quá khứ vô thủy, tương lai vô chung, vô thủy vô chung là một chỉnh thể, đây là ý nghĩa mà chữ “hiếu” biểu thị, cùng với một thể mà Phật pháp đã giảng là cùng một đạo lý.
Điển tịch của nhà Phật tuy nhiều, nhưng nếu có thể đem tịnh nghiệp tam phước thực tiễn, làm nguyên tắc chỉ đạo cao nhất cho việc học Phật của chúng ta, điều này liền đúng rồi. Ở mặt hành môn, thực tiễn ngũ giới thập thiện, thực tiễn lục hòa, lục độ, thì chính là Bồ-tát tiêu chuẩn. Kinh điển là giúp đỡ chúng ta phá mê khai ngộ, đoạn ác tu thiện, lìa khổ được vui. Chúng ta phải ngày ngày học tập, nhắc nhở chính mình bảo trì sự tiến bộ, không thể thối chuyển, nâng cao lên trên; nâng cao đức hạnh của chính mình, nâng cao trí tuệ của chính mình, mới có thể mang sự giáo hóa của Phật đà phát dương quang đại. Mình đạt được chỗ tốt, liền giúp đỡ người khác, “cho nên nói không đâu chẳng thấm nhuần giáo hóa”, người học Phật nhận được sự giáo hóa của Phật, người không học Phật cũng nhận được sự giáo hóa của Phật, trong lúc bất tri bất giác họ đã sống trong bầu không khí của Phật.
“Đã nhận sự Phật hóa, thì ắt cảm giáng sự cát tường”, Phật dùng chánh đạo giáo hóa chúng sanh, cảm ứng đương nhiên là cát tường. Nhận sự giáo hóa của Phật, chính là người thiện, người thiện chính là người có trí tuệ, có phước báo. Người xưa nói “người có phước ở đất phước, đất phước người có phước ở”, khu vực mà người có đại trí tuệ, có đại phước báo sinh sống chính là đất phước. Ai là người có đại trí tuệ, đại phước báo? Chính mình. Tự mình phải hảo hảo học Phật, y theo lời Phật dạy, nghiêm túc thực tiễn, bạn chính là người có đại trí tuệ, người có đại phước đức. Bạn sống ở nơi này, nhất định sẽ cảm ứng ơn trên giáng sự cát tường, vĩnh viễn không có tai nạn.
“Do đó được thiên hạ hòa thuận”, chữ hòa này, chính là sự hài hòa mà ngày nay nói đến; thuận là thuận theo quy luật của đại tự nhiên, phép tắc của đại tự nhiên, cổ nhân gọi nó là đạo. Y theo cái đạo này mà thực hành, điều này xưng là đức, tự nhiên liền tương ưng với đạo đức. “Cho đến ai nấy yên phận”, nam nữ già trẻ, hiền ngu bất tiếu, mỗi người đều có chỗ thích hợp, đây chính là đại đồng chi trị, đây chính là đất phước. Đệ tử Phật phải vì mình mà tạo phước, vì mình mà thêm phước, thành tựu trí tuệ chân thật của chính mình.
“Thiên hạ hòa thuận, là thế giới hòa bình, muôn nước hòa mục”, đây là xã hội mà người hiện nay luôn hướng về. Có không ít người hỏi tôi, có thể làm được không? Thứ nhất, quốc gia và quốc gia đối xử bình đẳng, chung sống hòa mục; thứ hai, đảng phái và đảng phái đối xử bình đẳng, chung sống hòa mục; thứ ba, tộc quần và tộc quần; thứ tư, là tôn giáo và tôn giáo. Bốn sự việc này đều có thể đối xử bình đẳng, chung sống hòa mục, thì thế giới hòa bình, muôn nước hòa mục liền làm được rồi. Có người nghe xong không dám tin, cho rằng điều này là không thể làm được. Thế giới Cực Lạc làm được rồi, cõi nước chư Phật làm được rồi, thiên đường của mỗi một tôn giáo làm được rồi, chúng ta vì sao lại không làm được? Chúng ta đã vứt bỏ giáo dục rồi, dùng giáo dục liền có thể làm được.
Bắt tay vào làm từ đâu? Nhất định phải bắt đầu làm từ giáo dục tôn giáo. Tôn giáo là nền giáo dục chủ yếu, sự dạy học quan trọng, sự giáo hóa đáng tôn sùng của tất cả chúng sanh, nó có thể giúp đỡ thế giới đi về hướng hài hòa, đi về hướng muôn nước hòa mục. Đặc biệt là những nhân sĩ tín ngưỡng tôn giáo chúng ta nên tư duy nhiều từ trên đề mục này, dốc hết sức mạnh của bản thân, chúng ta đoàn kết lại vì thế giới sáng tạo nên nền hòa bình vĩnh cửu, công đức này liền to lớn rồi! Sự hỗn loạn của thế giới, tai biến của trái đất hiện nay, tôn giáo nếu không liên kết lại với nhau, thì sự từ bi để ở đâu! Dạy học là đầu, đây là bổn phận không thể chối từ của chúng ta. Tôi cả đời làm ra một tấm gương, mỗi ngày dạy học. Nếu mỗi một tôn giáo đều có rất nhiều giáo viên tôn giáo ngày ngày giảng kinh dạy học, thiên hạ thái bình, thế giới hòa bình, giữa các quốc gia chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng, thiên hạ là một nhà. Mấu chốt nằm ở lòng người, lòng người tốt rồi, thì hành vi của con người sẽ tốt, môi trường cư trú liền an định hòa mục.
- Mưa gió thuận thời, tai ương chẳng khởi
“Nhật nguyệt trong sáng, mưa gió thuận thời” chỉ mưa thuận gió hòa, không có hạn lụt gió bão cùng những tai hại tự nhiên khác. “Tai ương chẳng khởi”, “tai” chỉ tai họa, “ương” chỉ dịch bệnh. Nghĩa là đã không có các họa như núi lở, động đất, sóng thần, đất sụt v.v., những nạn như nước, lửa, đao, binh v.v., lại cũng không có những bệnh dịch truyền nhiễm lưu hành vậy.
“Nhật nguyệt trong sáng, mưa gió thuận thời, tai ương chẳng khởi”, ba câu này giảng chính là hoàn cảnh vật chất, chính là điều cổ nhân thường nói “mưa thuận gió hòa”. Hạn là hạn hán, lụt là thủy tai, gió là bão tố, lốc xoáy, bão (bạc) là mưa đá, tất cả tai hại tự nhiên toàn bộ đều được hóa giải rồi. Vì sao vậy? Nhà khoa học hiện đại nói với chúng ta “lấy tâm khống chế vật chất”. Kinh Phật giảng “cảnh tùy tâm chuyển”, hoàn cảnh bên ngoài là xoay chuyển theo lòng người. Lòng người đoan chánh, không có ác niệm, không những thiên hạ thái bình, tất cả mọi tai nạn đều không còn nữa.
“Tai ương chẳng khởi”, tai là tai họa, phần nhiều là chỉ chiến tranh; ương là dịch bệnh, là chỉ ôn dịch, bệnh truyền nhiễm. “Nghĩa là đã không có các họa như núi lở, động đất, sóng thần, đất sụt v.v.”, đất sụt chính là hố sụt, sụt lún mặt đất hiện nay. “Lại cũng không có những bệnh dịch truyền nhiễm lưu hành”, bệnh dịch truyền nhiễm lưu hành, chính là bệnh truyền nhiễm có sức tấn công hung mãnh. Núi lở, động đất, sóng thần, đất sụt, thủy tai, hỏa tai, chiến tranh, ôn dịch, những thiên tai nhân họa này toàn bộ đều không có. Đây là hiệu quả mà Liên Hợp Quốc ngày nay hằng mơ ước, chúng ta phải truyền đạt thông điệp này cho Liên Hợp Quốc.
Chúng ta cẩn thận quan sát, phàm là những nơi có tai nạn, đều là không có sự giáo hóa của Thánh Hiền, không có sự giáo hóa của Phật đà. Khu vực nào có sự giáo hóa của Thánh Hiền, có sự giáo hóa của Phật đà, y giáo phụng hành, thì khu vực đó liền thái bình, liền bình an vô sự. Quý vị nhìn cho rõ ràng, nhìn cho minh bạch, liền biết sự giáo hóa của Phật là tốt, không thể không cần. Bạn không cần, vậy thì phải chịu khổ chịu nạn. Vì sao vậy? Con người không rời khỏi ngũ dục —— tài sắc danh thực thùy, tuy Phật không cấm đoán đối với những thứ này, thế nhưng Phật dạy dỗ chúng ta phải biết đủ, phải tiết chế, không thể lan tràn, nếu không thì tai nạn liền sẽ hiện tiền.
Giới luật của Phật, lễ của Nho gia chính là dạy chúng ta tiết chế. Tầm nhìn của người tu đạo xa rộng, nhìn thấy quá khứ tương lai, hy vọng trong một đời này siêu việt tam giới lục đạo, thế thì ngũ dục phải hoàn toàn buông xuống. Vì sao vậy? Lục đạo luân hồi là cái bóng của ngũ dục, ngũ dục là nguyên nhân đệ nhất của lục đạo luân hồi. Bạn buông xả ngũ dục, lục đạo liền không còn nữa, liền từ trong ác mộng lục đạo mà tỉnh ngộ lại. Tỉnh lại là cảnh giới gì? Là bốn pháp giới bậc Thánh —— Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát, Phật. Cảnh giới này là thế giới thanh tịnh, thế giới này không có ô nhiễm, thế giới này không có tai nạn.
Cội nguồn của tai nạn, Phật ở trên kinh giảng rất rõ ràng, tai nạn đích thực là do năm loại độc dẫn phát, năm loại độc là tham sân si mạn nghi. Các nhà khoa học cận đại phát hiện một sự việc, ý niệm của con người có thể thay đổi hiện tượng vật chất. Động đất là do ngạo mạn gây ra, sóng thần là do tham lam gây ra, thủy tai là do tâm tham gây ra, hỏa tai là do sân khuể gây ra, tương ứng với sự hoài nghi là hố sụt lún đất. Chiến tranh hưng khởi như thế nào? Tụ hội đủ năm thứ độc. Ôn dịch cũng là do nghiệp ác chiêu cảm đến.
Chúng ta phải từ trong nội tâm làm nhạt đi tham sân si mạn nghi, phải tiết chế sát đạo dâm vọng tửu, tuyệt đối không thể tùy hứng. Phải khống chế cảm xúc oán hận não nộ phiền, có thể khống chế được, thì không tạo nghiệp ác, không khống chế thì sẽ tạo nghiệp ác. Thiên tai nhân họa đều là tự làm tự chịu, đều là do tâm hành bất thiện của chính mình cảm triệu nên, không phải là tự nhiên. Tự nhiên là chân thiện chân mỹ nhất, tự nhiên làm sao lại có tai hại? Không tự nhiên, tai hại mới xuất hiện.
Chúng ta đem tự nhiên gọi là tai hại là đã làm oan cho tự nhiên rồi, đem tai hại đẩy cho người khác, không biết đây là tự làm tự chịu, đây đều là sai lầm trên quan niệm, chúng ta phải triệt để sửa chữa lại sai lầm trước đây. Phật pháp từ trên lý giảng vô cùng thấu triệt, đặc biệt là hiện nay học Phật, có thể đem những phát hiện mới nhất về khoa học, triết học ra đối chiếu, bạn không thể không phục.
Niệm lực của chúng ta có thể ảnh hưởng đến hệ ngân hà trong không gian vũ trụ, nếu bạn có định lực rất sâu, đích đích xác xác có thể đem khởi tâm động niệm buông xuống, bạn có thể ảnh hưởng toàn vũ trụ, sự to lớn của niệm lực này không thể nghĩ bàn. Niệm lực của chúng ta giống như ánh sáng của bóng đèn vậy, chiếu xạ ra bốn phương tám hướng, ánh sáng bị phân tán, ngay cả một tờ giấy cũng không xuyên qua được. Hiện nay khoa học chứng minh, nếu đem ánh sáng bóng đèn ngưng tụ thành một tia sáng hình thành chùm tia laser, thì ngay cả tấm thép cũng có thể xuyên thủng. Niệm lực cũng là như vậy, nếu như tập trung lại, năng lượng đó lớn bao nhiêu? “Kinh Di Giáo” nói “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” (Tập trung tâm vào một chỗ, không việc gì là không làm được), cái “vô sự bất biện” này, là bao gồm hệ ngân hà trong không gian vũ trụ, bao gồm tất cả pháp khắp vũ trụ, chúng ta tập trung ý niệm lại đều có thể làm được, đều có thể ảnh hưởng nó, thay đổi nó, tu sửa sự sai lệch của nó.
Hiện nay có ngày càng nhiều người nghiên cứu khoa học mới nổi về ý niệm tâm lý, bởi vì ý niệm có thể thay đổi môi trường vật chất, có thể thay đổi thân tâm chúng ta, khiến cho bệnh tật của chúng ta không cần dùng thuốc cũng có thể khỏi. “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, tất cả thiện pháp từ tâm tưởng sanh, tất cả ác pháp cũng là từ tâm tưởng sanh. Tư tưởng thiện, hành vi thiện, chính là hiệu quả thiện, xã hội và núi sông đại địa; ý niệm bất thiện, hành vi bất thiện, liền cảm nhận được tai nạn, xã hội động loạn, tai biến của trái đất, chính là sự việc như thế này đây. Đây chính là điều mà các nhà khoa học cận đại đã phát hiện, tất cả hiện tượng vật chất đều sinh ra từ ý niệm, ý niệm có thể khống chế hiện tượng vật chất.
Lưu Tố Vân là ví dụ, hơn bốn mươi bệnh nhân ung thư tại Tiểu Viện Sơn Tây là ví dụ, còn có Tiến sĩ Hew Len của Mỹ đã giảng, đều là những ví dụ về việc chuyển biến ý niệm chữa khỏi bệnh ung thư. Ý niệm của họ không nghĩ về bệnh, không nghĩ đến bản thân có bệnh, chỉ nghĩ đến niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, ngoài một niệm này ra, không còn ý niệm gì khác, bệnh tự nhiên liền khỏi rồi. Ý niệm đem bệnh tật của người đó chuyển biến tốt rồi.
Bởi vì thân thể là hiện tượng vật chất, tế bào mang bệnh độc, hiện tại dùng ý niệm đem bệnh độc bên trong tế bào hóa giải, khôi phục lại bình thường. Hóa giải bằng cách nào? Bạn đừng đi nghĩ đến nó, cắt đứt chất dinh dưỡng của nó thì liền hóa giải rồi; bạn nghĩ đến nó, là đang tăng thêm dinh dưỡng cho bệnh độc, để nó lớn lên, chính là đạo lý này đây. Cho nên, ý niệm có thể trị bệnh, không cần y dược, không cần tiêm chích, bất kỳ sự trị liệu nào cũng không cần, chỉ cần đem ý niệm khôi phục lại “thanh tịnh bình đẳng giác”, thì được rồi.
Việc “lấy tâm khống chế vật chất” do các nhà khoa học đề xướng, đây là sự chứng minh cụ thể nhất. Yêu người chính là chân chính yêu mình, chán ghét người khác, hận người khác chính là hận mình, mang đến bệnh tật, mang đến phiền phức cho chính mình. Dùng tình yêu thương, thì cái gì cũng hóa giải được rồi, tất cả mọi tai nạn đều hóa giải được rồi. Từ đây có thể biết, những điều trên kinh Phật đã giảng đều là chân ngôn, lời nói thật, lão tổ tông chúng ta nói bản tính vốn thiện, bạn có thể giữ được cái bản thiện của bạn, để nó không biến chất, không chịu sự ảnh hưởng của cảnh giới bên ngoài, bạn chính là Thánh nhân, bạn chính là trí tuệ viên mãn, phước đức viên mãn, bạn có thể giúp đỡ chính mình, cũng có thể giúp đỡ người khác.
Cho nên trước tiên chúng ta phải kiến lập tín tâm đối với chính mình, phải tin tưởng chính mình. Phật Bồ-tát giúp đỡ là tương đối, tôi có một phần tín tâm, ngài giúp đỡ một phần; tôi có mười phần tín tâm, ngài giúp đỡ mười phần; tôi có hai mươi phần tín tâm, ngài giúp đỡ hai mươi phần. Nếu như hoàn toàn không có tín tâm đối với chính mình, Phật Bồ-tát có từ bi đến mấy cũng không giúp đỡ gì được cho bạn. Chúng ta phải giống như Đại sư Huệ Năng vậy, đối với bản thân, đối với Phật, đối với kinh giáo, đối với thầy, là mười ngàn phần tín tâm, đạt được mười ngàn phần lợi ích. Đạo lý chính là ở chỗ này.
Quốc gia giàu đủ, nhân dân an vui
“Nước giàu dân an”, là quốc gia giàu đủ, sản xuất dồi dào, nhân dân an vui vậy. “Can qua vô dụng”, “can” là lưỡi dao binh khí, khí giới quân đội dùng kim loại làm lưỡi. “Qua” là cây kích đầu bằng vậy. Can qua tỉ dụ cho chiến tranh. Nghĩa là trong không có đạo tặc phản nghịch, ngoài không có nước khác xâm lược, do đó có thể dẹp võ chuộng văn, ngưng can qua chẳng dùng đến vậy.
“Nước giàu dân an”, một khu vực có những người chân chính y giáo tu hành cư trú, thì sẽ “quốc gia giàu đủ, sản xuất dồi dào, nhân dân an vui”. Đây là điều mà mỗi một người lãnh đạo quốc gia đều hy vọng làm được, có thể làm được không? Được. Phải dựa vào sự dạy học của Thánh Hiền, sự dạy học của Phật pháp Đại thừa, bạn mới có thể đạt được. Không có Thánh Hiền, không có Phật pháp, dẫu cho có giàu có, cũng là giàu mà bất nhân, không có tình yêu thương, bất nhân bất nghĩa. Bất nhân bất nghĩa, không đạt được phước báo chân chính, thứ nhận được là giả tướng, giả tướng là rất dễ dàng vỡ vụn.
‘Can qua vô dụng’, “can qua” là chỉ vũ khí, vũ lực. “Can là lưỡi dao binh khí, khí giới quân đội dùng kim loại làm lưỡi”, hiện nay chính là súng pháo, bao gồm cả vũ khí hạt nhân, sinh hóa đều thuộc về loại này. “Qua là cây kích đầu bằng. Can qua tỷ dụ cho chiến tranh”. Nước giàu dân an, thiên hạ thái bình, không còn chiến tranh nữa. “Nghĩa là trong không có đạo tặc phản nghịch, ngoài không có nước khác xâm lược, do đó có thể dẹp võ chuộng văn, ngưng can qua chẳng dùng đến”, bên trong quốc gia không có hiện tượng phạm tội, bên ngoài không bị chiến tranh uy hiếp, thực tiễn văn minh lễ trị.
Xung đột, tranh chấp giữa các quốc gia, có thể dùng phương pháp đàm phán ngoại giao để giải quyết, tốt nhất đừng dùng đến chiến tranh. Phương pháp chiến tranh không phải tu phước, mà là thất đức, người có phước báo không có trí tuệ mới phát động chiến tranh. Thế gian không có vấn đề gì là không thể giải quyết, mọi người tranh giành chẳng phải là lợi ích hay sao? Nhất thiết phải dùng cái tâm chí công vô tư, không thiên vị một phe nào, ức hiếp một phe nào, phân chia lợi ích một cách công bằng, thì tâm người liền bình rồi. Quá khứ tôi từng có hai lần viết thư khuyên nhủ Tổng thống Bush, đừng dùng vũ lực giải quyết vấn đề. Chiến tranh bùng nổ, chẳng qua là vì dầu mỏ, nếu giao dịch công bằng, đôi bên đều hoan hỷ. Chiến tranh tạo thành thù sâu hận lớn giữa hai quốc gia, dẫn phát chiến tranh khủng bố, khiến cho toàn bộ xã hội nước Mỹ bị rối loạn.
Lúc chúng tôi ở Mỹ, lúc bấy giờ, nước Mỹ thực sự là môi trường hòa bình, tốt đẹp đệ nhất trên thế giới, máy bay quốc nội giống như xe buýt vậy, mua vé xong là lên máy bay. Các tuyến bay quốc tế cũng là như vậy, bạn bè đưa tiễn máy bay tiễn đến đâu? Tiễn đến tận chỗ ngồi, mới bắt tay bạn rồi rời đi. Làm gì có giống như hiện tại, còn phải kiểm tra an ninh. Ngày trước nhập cảnh vào Mỹ, hành lý có phải kiểm tra không? Cao lắm cũng chỉ ngẫu nhiên kiểm tra vài kiện, thông quan rất nhanh chóng. Trước đây lòng người nước Mỹ là an định, không có ý niệm khủng bố, tạo thành như hiện tại, không phải đều là do tự mình gây ra sao? Cho nên, kinh Phật giảng rất có đạo lý, có sẵn vũ lực mà không dùng đến.
Dùng chiến tranh để chấm dứt chiến tranh, ý niệm này không thể có được. Không có chiến tranh có thể đạt được chính quyền hay không? Có thể. Trung Quốc thời kỳ trước ba thời đại (Ba thời đại là Hạ, Thương, Chu), đều không dùng thủ đoạn chiến tranh để kiến lập chính quyền. Dùng phương pháp gì? Dùng nhân nghĩa, đạo đức, dùng sự giáo hóa để đạt được chính quyền, giành được sự tán thán, tôn trọng của các nước chư hầu, tiến cử bạn làm thiên tử. Mọi người cảm động trước đạo đức, thành tích chính trị của bạn, thỉnh giáo bạn, phục tùng sự lãnh đạo của bạn, tự nguyện xưng thần. Không dùng chiến tranh, dùng giáo hóa, dùng dạy học, dùng lời hiện đại mà nói chính là dùng văn hóa, không dùng vũ lực. Những năm cuối nhà Chu đã lơ là đối với việc dạy học, việc dạy học hễ lơ là, thì đấu tranh liền nổi lên, xã hội liền loạn, biến thành thời Xuân Thu Chiến Quốc, sự động loạn này trước sau ước chừng gần năm trăm năm. Văn hóa thống nhất là hoàn mỹ nhất, không tạo nghiệp.
Sử sách ghi chép “Thành Thang chỉ với bảy mươi dặm”, ngài ấy là nước chư hầu, khu vực vuông vức bảy mươi dặm không lớn, giống như một thị trấn nhỏ hiện tại vậy, nhưng ngài ấy làm rất tốt, các quốc gia khác đều hướng ngài học tập, tôn xưng ngài làm thiên tử. Cho nên văn hóa có thể thống nhất, giáo dục có thể thống nhất, hà tất phải dùng đến chiến tranh, hà tất phải giết người? Giết người đền mạng, nợ tiền trả tiền, đây là định luật nhân quả. Phật giáo truyền đến nước ta, tất cả tự viện am đường, người xuất gia, tại gia học tập Phật giáo, đều giảng học tại những nơi này, bồi dưỡng nhân tài, bồi dưỡng giáo viên, không bị gián đoạn một ngày nào.
Tự viện thuở xưa, dạy học cho đại chúng phần nhiều là vào những ngày nghỉ, đặc biệt là ăn Tết, bởi vì kỳ nghỉ Tết là dài nhất, từ mùng tám tháng Chạp cho đến mùng hai tháng Hai, có kỳ nghỉ hai tháng. Hai tháng này, mỗi một tự viện đều sẽ giảng một bộ kinh, có đầu có đuôi. Bạn thích nghe kinh gì, thì đến nơi đó để học, đến đó để xin tạm trú, gọi là “thảo kinh đan”, nghe xong bạn hãy rời đi. Lớp học ngắn hạn vài ngày, nửa tháng, cứ như vậy thường xuyên mở lớp dạy học.
Ba nhà Nho Thích Đạo có cống hiến quá lớn đối với xã hội, đem con người đều dạy dỗ cho tốt rồi, cho nên xã hội an định, nhân dân hài hòa, quốc gia giàu đủ, sản xuất dồi dào, can qua vô dụng. Can qua vô dụng, đối nội chính là không có đạo tặc phản nghịch, đối ngoại không phát sinh chiến tranh với nước khác. Đêm không cần đóng cửa, rơi đồ trên đường không ai nhặt, trong xã hội hiện nay vẫn còn. Năm ngoái tôi đến Nhật Bản giảng kinh nửa tháng, ở tại một vùng quê, đích đích xác xác chính là cảnh tượng này. Tôi nhìn thấy bên đường có một cái sạp nhỏ, người bán rau dán giá cả lên trên rau, không có người trông coi, bạn muốn lấy rau thì tự mình bỏ tiền vào trong một cái hộp. Đại khái người ta sáng sớm đem rau đặt ở đó, đến tối mới đi thu dọn. Rất hiếm có! Mỗi một người đều thật thà như vậy, hòa mục như vậy, không có tâm tham, không có ý niệm chiếm tiện nghi, tôi nhìn thấy vô cùng hoan hỷ. Cho nên, nhân dân đều là người tốt, nhân dân là rất dễ dạy, chỉ cần học tập văn hóa truyền thống, một chút cũng không khó.
Thi hành nhân chính, ai nấy yên phận
“Sùng đức hưng nhân”, tôn sùng đạo đức, gọi là sùng đức. Hưng thi nhân chính gọi là hưng nhân. “Rèn tu lễ nhượng”, “Hội Sớ” nói: “Tôn ty có thứ tự là lễ vậy, tiên nhân hậu kỷ là nhượng vậy.” Lại “nhượng” là lùi nhường, nhường chỗ tốt cho người, tự mình chẳng nhận vậy. “Nước không trộm cướp”, nhân dân đều phụng công thủ pháp, cho nên không trộm cướp. “Chẳng có oán uổng”, người tại vị thanh liêm công chánh, xem xét tới từng ly từng tí, cho nên không có án sai. “Mạnh không hiếp yếu, ai nấy yên phận”. Ỷ mạnh hiếp yếu, thực sự là cội nguồn tai họa của thế gian. Nước bá quyền thì cậy vào sức mạnh quân sự, để ức hiếp kẻ yếu nhỏ; kẻ giàu có thì cậy vào tài phú của mình, mà bóc lột kẻ bần cùng; kẻ chấp quyền thường cậy vào quyền thế của mình, mà nhũng nhiễu nhân dân; kẻ làm ác, thì kết thành băng đảng, để bức hại kẻ lương thiện. Lấy đông hiếp ít, cậy thế bắt nạt người. Hút mỡ máu của người, làm no đầy dạ dày mình, họa quốc ương dân, chẳng gì quá đáng hơn điều này. Cho nên nguyện “mạnh không hiếp yếu”, người người “ai nấy yên phận”. Cùng nhau sống yên ổn, có không đổi chác, chung sống hòa bình, đi nhiều về ít, nguyện thế giới đạt đến đại đồng vậy. Nơi Phật đi qua, đều nhờ cậy lợi ích vô thượng, hiển thị năng lực từ bi của Phật, khó nghĩ khó bàn.
“Sùng đức hưng nhân”, tôn sùng đạo đức gọi là “sùng đức”. Hưng thi nhân chính gọi là “hưng nhân”. Nhân chính là gì? Dùng Phật pháp mà nói, giúp đỡ nhân dân lìa khổ được vui, là mục tiêu đệ nhất của việc ban bố chính sách của quốc gia, đây gọi là nhân chính. Mạnh tử nói: “Dân vi quý, quân vi khinh” (Dân là quý, vua là nhẹ), tư tưởng này được đưa ra từ hai ngàn năm trăm năm trước. Bất kỳ vị đế vương nào có thể hiểu được câu nói này, trong lúc làm hoàng đế đem nhân dân coi trọng, ngài ấy quyết định hưng vượng, xã hội quyết định là an định hài hòa, nhận được sự ủng hộ của nhân dân. Đem hạnh phúc của bách tính đặt ở vị trí thứ nhất, quốc thái dân an; nếu không để ý đến lợi ích của bách tính, chỉ để ý đến ăn uống vui chơi hưởng thụ của chính mình, chính quyền liền sẽ bị người ta lật đổ. Nắm giữ được chính quyền, từ người lãnh đạo cao nhất của quốc gia cho đến các đơn vị hành chính, cho đến trưởng thôn, trưởng làng, đơn vị nhỏ nhất, đều có thể làm được “sùng đức hưng nhân”, thì nền chính trị này chính là thái bình thịnh thế.
Nếu như hy vọng lãnh đạo toàn thế giới, phải yêu thương bảo vệ chúng sanh trên toàn thế giới, bạn mới có thể nhận được sự ủng hộ của đại chúng. Bạn chỉ yêu người của quốc gia mình, không yêu người của quốc gia khác, người của quốc gia khác đương nhiên sẽ phát sinh xung đột với bạn, đương nhiên đối địch với bạn. Bạn phải dùng tâm bình đẳng, tâm thanh tịnh, tâm nhân từ, yêu thương bảo vệ người của mỗi một quốc gia trên toàn thế giới, người của mỗi một tộc quần, những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, toàn bộ đều bình đẳng yêu thương bảo vệ, bạn mới có thể lãnh đạo toàn thế giới.
Tôn sùng đạo đức, đạo hoàn toàn thuận theo quy luật của đại tự nhiên, giống như một năm bốn mùa, mùa xuân sinh trưởng mùa hạ phát triển mùa thu thu hoạch mùa đông tàng trữ, không cần con người chế định chính sách, phương châm, con người đều có thể thuận theo đại tự nhiên, đây là khỏe mạnh nhất, là hoàn mỹ nhất. Càng về thời thượng cổ, dân số trên trái đất này càng ít, con người đều vô cùng thuần hậu, không có tà tư tà niệm, người người đều là người tốt. Đức là gì? Ngũ thường (nhân nghĩa lễ trí tín), bát đức (hiếu đễ trung tín, nhân ái hòa bình). Đạo là đại tự nhiên, đức là tuân theo đạo, đức là từ đạo mà ra.
Luân lý, ngũ thường, bát đức, nếu có thể thực tiễn trên bản thân, thì thân đã tu rồi; thực tiễn trong gia đình, thì nhà đã tề rồi; thực tiễn trong trị quốc, thì quốc đã trị rồi; thực tiễn trong việc đối xử bình đẳng đối với người trong thiên hạ, thì thiên hạ bình rồi, bình là người thiên hạ đạt được sự đối xử công bằng. Thế giới này tốt đẹp biết bao, cổ nhân chúng ta đã từng làm qua, có những thành tích rất tốt được ghi chép trong điển tịch. Thương Thang làm được rồi, Chu Văn Vương, Chu Võ Vương đều làm được rồi. Cho nên nhà Hạ hưởng nước 400 năm, Thành Thang hưởng nước 600 năm, nhà Chu hưởng nước 800 năm.
Ngũ luân là đạo, ngũ luân là mối quan hệ giữa người với người, mối quan hệ này là quy luật của đại tự nhiên, là sự vận hành của vũ trụ, không phải do con người sáng tạo phát minh ra, điều này gọi là đạo.
Sự kết hợp của vợ chồng là đạo, cha con là đạo, anh em là đạo, vua tôi là đạo, bạn bè là đạo, đều là thuận theo quy luật tự nhiên. Ngũ luân có thập nghĩa, 10 loại thân phận này mỗi người đều có, ở vào thân phận nào thì phải làm trọn nghĩa vụ thế nào. Khởi nguyên là cha con, cha con có tình thân, cha từ con hiếu, vợ chồng có sự phân biệt, đây là đạo. Vợ chồng kết hợp thành một gia đình, hai việc lớn quan trọng nhất của gia đình, thứ nhất là đời sống kinh tế gia đình, do người chồng phụ trách; thứ hai phụ nữ giúp chồng dạy con, bồi dưỡng thế hệ sau, quán xuyến gia đình một cách ngăn nắp gọn gàng, người chồng không cần phải bận tâm, đây là việc lớn trong những việc lớn.
Cho nên, địa vị tôn trọng của phụ nữ còn vượt qua cả nam giới, điều này trên toàn thế giới không có. Vì sao vậy? Tương lai gia đình bạn có hiền nhân hay không, có Thánh nhân hay không, hoàn toàn dựa vào người vợ, nhà có con có hiếu, nước mới có tôi trung. Cho nên giáo dục thời xưa của cổ nhân, dạy con gái được xem trọng hơn cả dạy con trai. Có con gái tốt, thì sẽ có vợ hiền, người vợ hiền tương lai cô ấy sẽ bồi dưỡng ra bậc Thánh Hiền, tạo ra những cống hiến lớn nhất đối với quốc gia, đối với dân tộc, đối với toàn thế giới, bạn sao có thể không tôn trọng cô ấy chứ!
Vua tôi có nghĩa, vua phải nhân từ, người làm lãnh đạo, đối với cấp dưới được lãnh đạo phải có tình yêu thương, bạn có thể yêu thương họ, họ sẽ tận trung với bạn. Lớn nhỏ có thứ tự, liền không tranh giành nữa. Bạn bè có chữ tín, giữ chữ tín với nhau, đây là thuộc về đạo, hiện nay đạo không còn nữa. Chữ đức ở đây là nói đạo đức, tôn sùng đạo đức, đức chính là nhân nghĩa lễ trí tín, là năm cái đức, cũng gọi là ngũ thường, thường là vĩnh viễn không thể thay đổi, không chịu sự hạn chế của thời gian, không gian. Trên trái đất này, bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ khu vực nào, chiếu theo bộ này mà thực hành, đều là đại đạo, đều có thể tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Không phải chỉ có chúng ta mới làm được, ai đi làm người đó đều có thể làm được. Đây là sự cống hiến lớn nhất của cổ nhân chúng ta đối với toàn nhân loại, trí tuệ chân thật, chúng ta phải nhận thức.
Hiện nay đối với sự nhận thức về văn hóa truyền thống Thánh Hiền, rất nhiều người trong nước không bằng người nước ngoài. Chúng ta phải đem nó tìm về, xã hội mới an định, tai nạn mới có thể hóa giải; nếu như không cần nó, xã hội một năm loạn hơn một năm, tai nạn một năm nghiêm trọng hơn một năm. Có phải là phải đến lúc nếm đủ trái đắng mới chịu quay đầu? Hiện tại vẫn chưa muốn quay đầu, khổ nếm vẫn chưa đủ. Chịu những khổ nạn này là đáng đời, vì sao vậy? Các người không cần tổ tông. Vô giá chi bảo mà tổ tông để lại, có thể mang đến hạnh phúc cả đời cho bạn, giúp đỡ bạn lìa khổ được vui, bạn không cần, vậy thì hết cách rồi. Không phải tổ tông có lỗi với người đời sau, là người đời sau có lỗi với tổ tông.
Văn hóa Truyền thống có thể cứu toàn thế giới, khu vực nào, quốc gia nào đi làm, liền có thể thu được kết quả tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Thiên hạ hòa thuận, ai nấy yên phận, tai ương chẳng khởi, can qua vô dụng, sùng đức hưng nhân, rèn tu lễ nhượng, họ chân thật thực tiễn, chân thật làm được rồi. Khu vực này chính là tấm gương tốt cho sự an định phồn vinh, hạnh phúc mỹ mãn của toàn thế giới.
“Rèn tu lễ nhượng”, lễ quyết định không thể thiếu, giữa người với người chung sống với nhau phải nhường nhịn lẫn nhau, không thể tranh giành. Vì sao thế giới ngày nay lại biến thành như vậy? Chính là lý niệm của giáo dục sai rồi. Giáo dục của các quốc gia phương Tây từ lúc mẫu giáo đã dạy cạnh tranh. Lý niệm của người phương Tây, không thừa nhận con người là người tốt, cho rằng bản chất của con người là xấu xa, là ác, không phải là thiện, không tin tưởng thế gian có người tốt, đây là nhân sinh quan của người phương Tây, không giống với người phương Đông. Hàng ngàn vạn năm nay ở nước ta, lão tổ tông truyền lại là quan niệm “nhân tính vốn thiện”, Thích-ca Mâu-ni Phật truyền lại là định luận “tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật”. Ngày nay các quốc gia phương Tây đã đi đến bước đường cùng, đã không còn lối thoát, đối với sự động loạn của xã hội, sự tai biến của trái đất, thì hoang mang thất thố.
Tôn sùng đạo đức, “rèn tu lễ nhượng”, dùng phương pháp gì? Dạy học. Lão tổ tông chúng ta có trí tuệ của giáo dục, có lý niệm của giáo dục, có phương pháp của giáo dục, có kinh nghiệm của giáo dục, đem con người đều dạy dỗ tốt rồi, đều trở thành Thánh Hiền quân tử. Những người này ở ngoài xã hội có tác dụng rất lớn, tạo nên sự trị an lâu dài, thái bình thịnh thế. Thế giới chư Phật đều tốt đẹp, dựa vào đâu? Giáo dục.
Thế giới Cực Lạc không có quốc vương, thượng đế, sĩ nông công thương, chỉ có thầy giáo và học sinh. Thầy giáo là A Di Đà Phật, tất cả người vãng sanh đến bốn cõi ba bậc chín phẩm toàn bộ đều là học sinh. A Di Đà Phật dạy học chưa bao giờ gián đoạn, học sinh đến nơi đó học tập cũng không đình chỉ. Người ở thế giới Cực Lạc không cần ăn uống, ngủ nghỉ; thế giới Cực Lạc ban ngày buổi tối, là thế giới quang minh, Phật và Bồ-tát đều phóng quang, hoa cỏ cây cối cũng phóng quang, đại địa cũng phóng quang, vì vậy, việc học tập không gián đoạn.
Chỉ cần vãng sanh đến thế giới Cực Lạc, chính là Bồ-tát A-duy-việt-trí, sáu loại thần thông hiện tiền viên mãn, liền có năng lực phân vô lượng vô biên thân, đồng thời đến mười phương thế giới cúng Phật nghe pháp. Cúng Phật là tu phước, nghe kinh nghe pháp là tu tuệ, phước tuệ song tu. Từ đây có thể biết, thành tựu ở thế giới Cực Lạc là thù thắng biết bao, nhanh chóng biết bao!
Đại sư Ấn Quang nhắc nhở chúng ta, người chân tu hành, bắt buộc phải xem ngày hôm nay như là ngày cuối cùng trong cuộc đời ta. Vẫn còn gì chưa buông xuống được nữa? Một hơi không thở nữa, thân thể đều không phải là của mình, huống hồ là vật ngoài thân? Ngày ngày quán như vậy, đây là tâm cảnh giác cao độ. Tôi chỉ có một mục tiêu ─ thân cận A Di Đà Phật; chỉ một phương hướng ─ vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc. Sống trên thế gian này rất khổ sở, rất mệt mỏi, tôi niệm niệm hướng về thế giới Cực Lạc, tôi đối với thế gian này không có chút mảy may lưu luyến nào.
“Rèn tu lễ nhượng, Hội Sớ nói: Tôn ty có thứ tự là lễ vậy, tiên nhân hậu kỷ là nhượng vậy.” Mọi việc đều nghĩ cho người khác trước, bản thân cố gắng đặt ở phía sau, đây là tích đức, đây là tu phước. “Rèn tu lễ nhượng, Hội Sớ nói: Tôn ty có thứ tự là lễ vậy, tiên nhân hậu kỷ là nhượng vậy.” “Lễ nhượng” vô cùng quan trọng, lục hòa kính vì sao không thể thực hiện? Chính là thiếu sự lễ nhượng. Nếu có hai chữ này, lục hòa kính thật sự có thể làm được.
Trên thế giới này chỉ cần có một tăng đoàn lục hòa kính (tăng đoàn là bốn người, cùng nhau cộng tu, bất luận tại gia xuất gia, chân thật tu lục hòa kính) xuất hiện, khu vực này sẽ được Tam bảo hộ trì, Long Thiên thiện thần bảo hộ, không có tai nạn. Trên trái đất xuất hiện một cái, thì người của toàn trái đất đều được thơm lây, trái đất này sẽ không có tai nạn.
Thuyết minh “hòa” thực sự là điều khó mà đáng quý. Ai có thể hòa? Tu-đà-hoàn của Tiểu thừa trở lên, Bồ-tát Sơ tín vị của Đại thừa trở lên. Vì sao vậy? Vô ngã mới có thể hòa, hữu ngã. Hữu ngã thì có tranh chấp, liền sanh phiền não, không thể hòa được. Đi đâu để tìm bốn vị Tu-đà-hoàn, bốn vị Bồ-tát Sơ tín? Tìm không ra. Bản thân muốn làm, thân kiến chưa buông xuống, ngã chấp chưa buông xuống, biên kiến, thành kiến chưa buông xuống, tri kiến sai lầm rất nhiều. Như vậy liền biết được căn tính của bản thân, ngoài pháp môn niệm Phật ra, không còn con đường nào để đi, đây là sự thật.
Tôn ty có thứ tự là lễ, hiện nay ai nguyện ý lạc hậu? Người người đều phải cạnh tranh, lễ không còn nữa. Tiên nhân hậu kỷ (người trước mình sau), hiện tại là tiên kỷ hậu nhân (mình trước người sau). Từ nhỏ liền dạy cạnh tranh, đến đại học, viện nghiên cứu vẫn là cạnh tranh. Cạnh tranh thăng cấp thêm nữa chính là đấu tranh, đấu tranh thăng cấp thêm nữa chính là chiến tranh, nhân họa liền nổi lên rồi. Cho nên lễ nhượng quan trọng biết bao!
“Lại nhượng là lùi nhường, nhường chỗ tốt cho người, tự mình chẳng nhận vậy”, việc tốt cố gắng nhường cho người khác, lỗi lầm chúng ta có thể gánh vác, làm như vậy, chính là công đức chân chính. Bạn phải hỏi vì sao? Làm một tấm gương tốt cho đại chúng xã hội. Hiện tại người ngoài xã hội đều cạnh tranh, khởi tâm động niệm đều là tổn người lợi mình, chúng ta làm một tấm gương tốt cho mọi người xem. Inamori Kazuo của Nhật Bản là một thương nhân, hoàn toàn dùng nhân nghĩa, dùng đạo đức để kinh doanh, ông ấy đã kinh doanh thành công rồi, đây là làm ra tấm gương tốt nhất cho những doanh nghiệp, những người làm ăn buôn bán bình thường, bậc Thánh Hiền trong giới thương nhân. Điều khó mà đáng quý chính là ông ấy không tranh, ông ấy nhường, mà lại càng kiếm được nhiều hơn, cho nên hiện tại rất nhiều người muốn học theo ông ấy.
Điều này chân thật gọi là minh triết bảo thân (sáng suốt để giữ gìn bản thân), tâm không có lo âu, thân không có khổ não, chân chính học Phật, lìa khổ được vui. Cho nên, hiểu được lễ, hiểu được nhượng, nhượng quyết định không chịu thiệt thòi, quyết định không tranh với người, phải làm được cả đời không tranh với người, không cầu với đời. Đặc biệt là sau khi học Phật, tôi chỉ cầu vãng sanh thế giới Cực Lạc, ngoài một niệm này ra, cái gì cũng không cầu. Cái gì cũng không cầu, cho nên cái gì cũng có thể nhường.
Trong mạng có, càng nhường càng nhiều; trong mạng không có, cầu cũng cầu không được, tội gì phải chuốc khổ? Chi bằng quay đầu lại, đoạn ác tu thiện, cải tà quy chánh, dùng tâm thanh tịnh cầu sanh Tịnh độ, vậy là tốt! Kinh thường nói, tâm tịnh thì cõi Phật tịnh, chúng ta dùng câu Phật hiệu này đem những thứ không sạch sẽ trong tâm toàn bộ xóa bỏ đi. Ý niệm bất thiện toàn bộ buông xuống, ý niệm thiện cũng buông xuống, vì sao vậy? Trong tâm thanh tịnh thì thiện cùng với bất thiện đều không có, chỉ có A Di Đà Phật.
Thỉnh A Di Đà Phật đến ngồi ở giữa tâm, ngoài A Di Đà Phật ra, cái gì cũng không có, đây gọi là người niệm Phật chân chính. Người khác có duyên thiện, có chuyện tốt, chúng ta gặp được có duyên, thì tận tâm tận lực giúp đỡ họ, thành tựu cho họ. Thành tựu cho một người thiện chính là thành tựu cho tất cả chúng sanh, đây là chuyện tốt. Chuyện tốt làm xong rồi cũng đừng để ở trong tâm, làm như không có chuyện gì, trong tâm sạch sẽ gọn gàng, chính là một câu Phật hiệu. Đoạn tất cả ác, không dính mắc cái tướng đoạn ác; tu tất cả thiện, không dính mắc cái tướng tu thiện, đây gọi là chân niệm Phật.
‘Nước không trộm cướp’, vì sao vậy? “Nhân dân đều phụng công thủ pháp, cho nên không trộm cướp”, người người đều hiểu lễ nhượng, người người đều biết hòa kính, đều có thể phụng công thủ pháp, cho nên không có trộm cướp.
‘Chẳng có oán uổng’, “người tại vị thanh liêm công chánh, xem xét tới từng ly từng tí, cho nên không có án sai”. Đối với người lãnh đạo, công chức nhà nước, liêm là không tham ô, minh là có trí tuệ. Họ xử lý công việc công chánh thanh liêm, không làm oan cho người khác.
‘Mạnh không hiếp yếu, ai nấy yên phận’, câu này vô cùng quan trọng. “Ỷ mạnh hiếp yếu, thực sự là cội nguồn tai họa của thế gian”, lời này nói vô cùng chính xác. “Nước bá quyền thì cậy vào sức mạnh quân sự, để ức hiếp kẻ yếu nhỏ” ỷ vào sức mạnh quân sự của quốc gia mình, không nói đạo lý, vì muốn đoạt lấy lợi ích của chính mình, ức hiếp kẻ yếu nước nhỏ.
“Kẻ giàu có thì cậy vào tài phú của mình, mà bóc lột kẻ bần cùng; kẻ chấp quyền thường cậy vào quyền thế của mình, mà nhũng nhiễu nhân dân”, cậy vào uy thế, tài phú của bản thân để ức hiếp bình dân, hoặc ức hiếp đối phương, trong lòng người ta không phục, điều này liền kết oan thù. Oan thù hễ kết xuống rồi, đời đời kiếp kiếp oan oan tương báo không dứt không dứt, khổ không thốt nên lời.
“Kẻ làm ác, thì kết thành băng đảng, để bức hại kẻ lương thiện”, kẻ làm xằng làm bậy, thì kết thành băng đảng, đây là thứ mà hiện nay chúng ta gọi là xã hội đen, nó là sự ức hiếp kẻ lương thiện có tổ chức.
“Lấy đông hiếp ít, cậy thế bắt nạt người”, cậy vào phe mình đông người thế lớn, khắp nơi ức hiếp người khác. “Hút mỡ máu của người”, mỡ máu (cao chi) là tài vật. “Làm no đầy dạ dày mình, họa quốc ương dân, chẳng gì quá đáng hơn điều này”, đây là mối họa của quốc gia, là nỗi khổ của nhân dân. Ngoài xã hội có nhiều tổ chức bất hợp pháp như vậy, sống trong thời đại này, phương diện nào cũng phải đối phó, đích thực cuộc sống vô cùng đau khổ. Thống khổ tương đối dễ dàng giác ngộ, chân chính có thể giác ngộ được nỗi khổ, mới hạ quyết tâm thoát ly luân hồi.
Những hiện tượng được nói ở trên đây, hiện nay ngoài xã hội gần như đâu đâu cũng có thể nhìn thấy, cho nên sự động loạn của xã hội là có nguyên do của nó, tai biến của trái đất không phải là không có nguyên nhân, là do cộng nghiệp của nhân dân trên trái đất cảm triệu nên, chúng ta không thể không biết.
Cho nên chí sĩ nhân nhân không ai là không mong nguyện “mạnh không hiếp yếu”, câu này làm được rồi, thế giới liền hòa bình rồi, nước lớn sẽ không còn ức hiếp nước nhỏ nữa. Kỳ thực ức hiếp người khác, bức hại người khác, là họ không hiểu đạo lý nhân quả báo ứng. Nếu thấu triệt được nhân quả rồi, mới chân thật biết được, trên thế giới này có người chiếm được tiện nghi không? Không có; có người chịu thiệt thòi không? Cũng không có. Vì sao vậy? Giết người phải đền mạng, nợ tiền phải trả tiền, nhân quả thông ba đời. Bạn giết người đó, cướp đoạt tài vật của người đó, người đó niệm niệm không quên, nhất định phải đòi lại cho bằng được mới thỏa nguyện. Đòi như thế nào? Đầu thai vào nhà bạn, làm con trai của bạn, cháu trai của bạn, bạn cướp đoạt tài sản của người đó, đến cuối cùng toàn bộ đều phải giao lại cho người đó. Nếu bạn hại mạng người đó, người đó cũng sẽ hại mạng của bạn.
Oan oan tương báo, đời đời kiếp kiếp không dứt không dứt, đây là tình trạng chân thật của lục đạo, không thể không biết. Chúng ta thấu hiểu tình trạng này, cho nên chúng ta mới có thể xí xóa mọi ân oán. Chúng ta bị người ta phỉ báng, bị người ta nhục nhã, bị người ta hãm hại, bị người ta chướng ngại, chúng ta nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Tôi trong đời quá khứ đối xử với người ta như vậy, hôm nay người ta dùng phương pháp này đối xử với tôi, một báo trả một báo, hoan hoan hỷ hỷ, món nợ này đã xong rồi. Tôi không có oán hận, đời sau gặp lại, hoan hoan hỷ hỷ, thế này tốt biết bao! Thế này tự tại biết bao!
Trong đời này, chân chính làm được không kết oán với bất kỳ người nào, vĩnh viễn mang trong lòng sự cảm ân. Người ta đối xử tốt với tôi, tôi cả đời sẽ không quên; người ta có lỗi với tôi, quên sạch sành sanh, tuyệt không để ở trong tâm. Tâm của bản thân là tâm thanh tịnh, là tâm bình đẳng, là lương tâm, đừng thu gom rác rưởi của người khác. Hành vi thiện của người khác, thì được; hành vi ác, việc ác của người khác, tuyệt đối không để ở trong tâm, để tâm địa của chúng ta được lương thiện, thanh tịnh, một hạt bụi cũng không nhiễm.
“Người người ai nấy yên phận”, câu này rất khó làm được, Thánh vương đều không dễ gì làm được, Nghiêu Thuấn Vũ Thang đều không dễ dàng, nhưng cố gắng hết sức tiến về phía mục tiêu này, đây chính là một bậc quốc quân tốt.
“Cùng nhau sống yên ổn”, chỉ có giáo dục mới có thể làm được. Thế giới Cực Lạc chính là cùng nhau sống yên ổn, không có cạnh tranh, không có xâm đoạt, những mặt tiêu cực này đều tìm không ra.
“Có không đổi chác, chung sống hòa bình, đi nhiều về ít”, “Đi nhiều” là đối xử với người đôn hậu, đồ tốt thì tặng cho người khác, bản thân thanh đạm một chút không sao cả; “về ít” là đối với người khác không có mong cầu, không tổn người lợi mình.
“Nguyện thế giới đạt đến đại đồng vậy”, tâm nguyện duy nhất chính là để thế giới trở thành ngôi nhà đại đồng tốt đẹp. “Nơi Phật đi qua, đều nhờ cậy lợi ích vô thượng”, nơi mà sự giáo hóa của Phật đà được đẩy mạnh, đều có thể đạt được những lợi ích ở trên. “Hiển thị năng lực từ bi của Phật, khó nghĩ khó bàn”, hiển thị ra sức dụng từ bi không thể nghĩ bàn của Phật Bồ-tát. Chúng ta thật sự làm như vậy, Phật lực gia trì, thiện thần giúp đỡ. Quan trọng nhất là, tâm địa chúng ta thanh tịnh lương thiện, niệm niệm nghĩ đến chúng sanh khổ nạn, giúp đỡ họ lìa khổ được vui. Giúp đỡ họ lìa khổ được vui, thì phải giúp đỡ họ phá mê khai ngộ, mê phá rồi, khổ liền lìa khỏi; ngộ khai rồi, niềm vui liền đạt được.
A Di Đà Phật giảng kinh không gián đoạn, Thích-ca Mâu-ni Phật trụ thế bốn mươi chín năm giảng kinh không gián đoạn, là tấm gương tốt của chúng ta, đáng nên học tập như vậy.
Đoạn kinh văn này là thế giới đại đồng mà kinh Phật đã giảng, đại đồng chi trị không phải là lý tưởng, đã từng được thực hiện ở nước ta thời xưa, thời đại của Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ chính là thế giới đại đồng. Đến nhà Hạ, Thương, Chu, lúc này mới dần dần suy vi rồi. Từ triều Hán đến nhà Mãn Thanh, hoàn toàn dựa vào lễ, dùng lễ để trị quốc. Sau khi nhà Mãn Thanh mất nước, lễ không còn nữa, xã hội liền loạn. Làm thế nào để giúp đỡ xã hội này thực hiện sự an định hài hòa? Nhất định phải khôi phục giáo dục truyền thống, khôi phục sự dạy học của ba nhà Nho Thích Đạo, xã hội mới có thể khôi phục bình thường, tai nạn của trái đất mới có thể hóa giải.
Thập niên 70 của thế kỷ trước, Tiến sĩ Toynbee của Anh Quốc nói: “Muốn giải quyết vấn đề xã hội của thế kỷ 21, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Đại thừa”. Tôi từng hai lần đến thăm London, đi Oxford, Cambridge và Đại học London, xem Hán học của châu Âu. Tôi từng diễn giảng cho họ trong trường học, cũng từng giao lưu với các vị giáo sư.
Tôi hỏi: “Lời của Tiến sĩ Toynbee, các vị có thể tin không? Học thuyết Khổng Mạnh, Phật pháp Đại thừa thực sự có thể giải quyết vấn đề không?” Họ nhìn tôi cười mà không đáp. Tôi lại hỏi: “Vậy lời của Toynbee nói sai rồi?” Họ vẫn là không trả lời, ép buộc tôi phải nói. Tôi nói: “Lời của Tiến sĩ Toynbee không có nói sai, là chúng ta đã giải mã sai rồi. Nhắc đến Khổng Mạnh, các vị nhất định sẽ nghĩ đến Tứ Thư Ngũ Kinh, Thập Tam Kinh. Nhắc đến Phật học, nhất định là nhắc đến kinh điển Đại thừa, ‘Kinh Hoa Nghiêm’, ‘Kinh Pháp Hoa’, ‘Kinh Bát-nhã’. Các vị cầm lấy những đại kinh đại luận này để viết luận án tiến sĩ, có thể lấy được học vị tiến sĩ, cũng có thể trở thành giáo sư danh tiếng, nhà Hán học của châu Âu.”
Tôi nói đùa: “Thành tựu tương lai của các vị, không thể so với tôi, vì sao vậy? Các vị không có được sự vui vẻ, tự tại như tôi. Bởi vì các vị học là Nho học, Đạo học, Phật học. Tôi là học Nho, học Phật, học Đạo. Nho học là đem Nho giáo xem như một môn học vấn để nghiên cứu, học Nho là học Khổng tử, học Mạnh tử, chúng ta phải làm một Khổng tử, Mạnh tử thời hiện đại, thì vấn đề xã hội mới có thể được giải quyết. Học Phật phải học cho giống với Thích-ca Mâu-ni Phật, làm một vị Phật Bồ-tát thời hiện đại, bạn mới có thể cứu thế. Học Đạo, phải học cho giống với Lão tử, Trang tử, thế này mới được!” Cho nên lời của Toynbee là thật.
Nếu dùng một câu để tóm quát, học thuyết Khổng Mạnh là gì? “Khổng tử nói thành nhân, Mạnh tử nói lấy nghĩa”. “Đạo của phu tử, chung thứ mà thôi vậy”. Bốn chữ nhân nghĩa trung thứ này có thể cứu được xã hội không? Được! Thứ mà người hiện tại thiếu hụt chính là bốn chữ này. Đem bốn chữ này tìm trở lại, xã hội liền an định, thế giới liền hòa bình, nhân dân liền an lạc hạnh phúc.
“Người nhân từ yêu thương mọi người”, thế nhưng hiện tại trên toàn thế giới tìm không ra người yêu thương người khác. Vì sao vậy? Người hiện đại không tự yêu mình, họ làm sao có thể yêu người khác? Nếu như muốn dạy họ yêu người khác, trước tiên bắt buộc phải dạy họ tự yêu chính mình, tự yêu mình rồi sau đó mới có thể yêu người khác. Người hiện đại bất nghĩa bất trung, không có khái niệm tha thứ cho người khác. Thứ (恕) là tha thứ cho người khác, bất luận là người nào phạm phải sai lầm lớn đến đâu, tạo ra tội nghiệp lớn thế nào, chúng ta đều phải tha thứ cho họ.
Phật trong “Kinh Vô Lượng Thọ” nói: “Người trước bất thiện, không biết đạo đức, không có người nói cho biết, thật cũng chẳng đáng trách.” Đây là đạo thứ của Thích-ca Mâu-ni Phật. Vì sao không thể trách họ? Cha mẹ không dạy họ. Cha mẹ, ông bà nội, cụ cố nội của họ, hướng lên trên ít nhất từ năm đời trở lên đều chưa từng tiếp nhận nền giáo dục này, hôm nay họ làm sai chuyện, làm sao bạn có thể trách cứ họ? Cho nên nhất thiết phải hiểu được đạo thứ, suy bụng ta ra bụng người.
Chúng ta bản thân làm sai chuyện, hy vọng người khác tha thứ cho mình, vì vậy tôi cũng phải tha thứ cho người khác. Chỉ có dùng đạo thứ mới có thể để những người làm sai chuyện này định tâm lại, đàng hoàng học tập đạo Khổng Mạnh, học tập Phật pháp Đại thừa. Đại thừa, chúng tôi cũng đưa ra bốn chữ: Chân thành từ bi. Nho Phật cộng lại —— chân thành từ bi, nhân nghĩa trung thứ, tám chữ này liền có thể dẫn dắt thế giới trở lại bình thường, dẫn dắt thân tâm của mỗi người chúng ta trở lại khỏe mạnh, chúng ta mới có được gia đình hạnh phúc, sự nghiệp tốt đẹp, xã hội hài hòa, thế giới an định.
Ngày nay ở nước ta, Nho Thích Đạo đều suy vi rồi. Nguyên nhân suy vi là do thiếu người kế thừa hoằng dương. “Người có thể hoằng đạo, không phải đạo hoằng người”, Phật giáo có nhân tài thì hưng thịnh, không có nhân tài thì suy vi. Phật giáo trước mắt cần loại nhân tài gì? Nhân tài giảng kinh dạy học. Thích-ca Mâu-ni Phật cả đời giảng kinh, từ năm ba mươi tuổi khai ngộ cho đến bảy mươi chín tuổi viên tịch, chưa từng nghỉ ngơi một ngày. Một ngày giảng bao lâu? Từ sáng đến tối, chưa từng dừng lại.
Lúc không giảng kinh, thì lấy thân giáo để làm gương cho người, đem những điều đã nói biểu hiện trong đời sống sinh hoạt, công việc, đối nhân xử thế tiếp vật, không có việc gì là không phải Phật pháp. Vì vậy, kinh không thể không niệm, không thể không giảng, ngày ngày giảng đối với bản thân có chỗ tốt. Giảng cho ai nghe? Giảng cho chính mình nghe, một buổi học cũng không bỏ sót. Cơ hội để người khác nghe trọn vẹn một bộ kinh không nhiều, bản thân thật sự giảng từ đầu đến cuối một cách viên viên mãn mãn, người đạt được lợi ích lớn nhất chính là bản thân.
Chân thật đồng đức đồng hạnh với chư Phật Bồ-tát, một đời thọ trì không cần nhiều, một bộ kinh là đủ rồi, một kinh thông tất cả kinh đều thông. Có một bộ kinh làm bổn sự phòng thân, người khác mời bạn giảng kinh gì, bạn đều có thể giảng, sẽ không có chướng ngại, vì sao vậy? Bạn đã khai ngộ rồi. Giữ quy củ, mới có thể đắc định, do giới được định, do định mở tuệ, trí tuệ mở rồi, thì pháp thế xuất thế gian toàn bộ đều quán thông rồi. Nếu như Phật giáo không quay về với giáo dục, vậy thì giống như linh mục Đào Nhiên đã nói, hai, ba mươi năm sau tôn giáo có thể sẽ biến mất trên thế gian này. Tôn giáo là giáo dục xã hội bậc cao, chúng ta nhất định phải khôi phục nó lại, một người học một bộ kinh, mười năm quyết định thành tựu.
Pháp vận của Thế Tôn là một vạn hai ngàn năm, trong đó Chánh pháp một ngàn năm, Tượng pháp một ngàn năm, Mạt pháp một vạn năm. “Nhân Vương Kinh Sớ” từ trên lý mà nói: Thích-ca Mâu-ni Phật còn tại thế giảng kinh, có người thật sự nghe, thật sự tu, chứng quả, đây chính là Chánh pháp. Nếu như có người giảng kinh, có giảng có tu có học, nhưng không có người chứng quả, đây gọi là Tượng pháp. Nếu như có người giảng kinh nghe kinh, nhưng không nghiêm túc tu học, giảng thì cứ giảng, nghe thì cứ nghe, tâm hành lại là chuyện khác, đương nhiên không thể chứng quả, đây gọi là Mạt pháp. Nếu như người giảng kinh đều không còn nữa, khu vực này gọi là Diệt pháp, Phật pháp liền không còn nữa.
Cho nên quan trọng nhất, chính là phải giúp đỡ người phát tâm giảng kinh, chúng ta có nghĩa vụ, có trách nhiệm giúp đỡ họ, để họ chân thật định tâm lại. Họ có thể ở đây mười năm, tôi liền chăm sóc họ mười năm; họ có thể ở đây hai mươi năm, tôi liền chăm sóc họ hai mươi năm; để họ an tâm tu học ở nơi này, một môn thâm nhập, huân tu thời gian dài, bồi dưỡng đào tạo.
Lão tổ tông chúng ta thường nói “bất hiếu có ba, không có người nối dõi là lớn nhất”, không phải nói bạn có nhiều con cái thì xem như là hiếu, con cái nhiều không tính, trong số con cái có người kế thừa gia nghiệp, kế thừa gia đạo, kế thừa gia học, đây mới là quan trọng nhất. Người làm thầy cũng là như vậy, dẫu cho học trò có nhiều đến mấy, nếu trong số học trò không có ai kế thừa đạo thống của thầy, không có ai kế thừa học thuật của thầy, thì không có ý nghĩa gì.
Các vị đồng tu Tịnh tông, mọi người đều là đệ tử của Thế Tôn, không thể phụ lòng Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, bất luận tại gia xuất gia, đều phải phát tâm đứng ra giảng kinh dạy học, như vậy thì Phật pháp liền sẽ hưng vượng lên, thời đại mạt pháp liền sẽ có chánh pháp của Như Lai. Giảng kinh dạy học có khó không? Không khó. Đầu tiên đem bản thân dạy cho tốt, nhất định phải tự mình tu trước. Tu bắt đầu từ đâu? Nguyên tắc bắt buộc phải tuân thủ “nhờ giới được định, nhờ định mở tuệ”, đây là nguyên tắc vĩnh viễn không thay đổi. Giới quan trọng! Vì sao ngày nay chúng ta học giới luật học không giống, làm sao so với người xưa cũng không sánh bằng, nguyên nhân nằm ở chỗ nào? Người xưa có cái gốc, chúng ta không có gốc. Cái gốc này của người xưa là bồi đắp ra như thế nào? Là bồi dưỡng ra từ trong giáo dục gia đình.
Người xưa chúng ta hiểu giáo dục nhất, có trí tuệ của việc dạy học, có phương pháp của việc dạy học, có kinh nghiệm của việc dạy học, có thành quả của việc dạy học. Con người phải dạy từ lúc nào? Lúc người mẹ mang thai liền bắt đầu dạy. Lúc người mẹ mang thai liền đáng nên biết khởi tâm động niệm, ngôn ngữ cử chỉ đều sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Sử sách ghi chép, thân mẫu của Chu Văn Vương là Thái Nhậm lúc mang thai, mắt không nhìn sắc ác, tai không nghe âm thanh dâm tà, miệng không nói lời kiêu ngạo, đây chính là thân khẩu ý mà nhà Phật đã giảng. Cho nên đứa trẻ sau khi sinh ra vô cùng khỏe mạnh, chính là bởi vì đứa trẻ không bị nhiễm ô.
Đứa trẻ sau khi sinh ra sẽ nhìn sẽ nghe, đây chính là đang học tập, từ ngày sinh ra cho đến lúc ba tuổi, một ngàn ngày này là giáo dục cắm rễ. Người mẹ là vị đạo sư đầu tiên, trước mặt trẻ sơ sinh, ngôn đàm cử chỉ phải đoan trang, không thể tùy tiện, bởi vì đứa trẻ đang quan sát học tập. “Đệ Tử Quy” là người mẹ dùng để dạy dỗ đứa con, dạy như thế nào? Làm ra cho đứa trẻ xem. Để đứa trẻ nhìn đến ba tuổi, nhìn một ngàn ngày, nó đã học thuộc hết rồi. Ngạn ngữ cổ có câu “ba tuổi nhìn ra tám mươi”, cái rễ một ngàn ngày này trồng được tốt, nó đến tám mươi tuổi cũng sẽ không thay đổi, có hiệu quả như vậy. Chúng ta sở dĩ cảm thấy học giới luật khó khăn như vậy, thực tâm muốn học, nhưng học thế nào cũng không tốt, chính là bởi vì thiếu hụt nền giáo dục cắm rễ.
Người xuất gia chúng ta, tự mình cả đời này chưa cắm rễ, thế hệ trước lão hòa thượng cũng chưa cắm rễ, thế hệ trước nữa, cũng chưa cắm rễ, có thể phải truy ngược lên trên 2, 3 thế hệ mới có nền giáo dục cắm rễ, cho nên họ tu hành dễ dàng nhờ giới được định. Đồng học xuất gia đều biết, thời cổ đại năm năm học giới. Năm năm học giới này, chính là năm năm tuân thủ sự giáo giới của thầy, chính là đối với sự chỉ đạo của thầy phải hoàn toàn phục tùng, một trăm phần trăm làm được “Đệ Tử Quy”, điều này mới gọi là phụng sự sư trưởng.
Chúng ta đem “Đệ Tử Quy” và “Sa-di Luật Nghi” hợp lại mà xem, những chỗ giống nhau quá nhiều rồi. Cho nên chúng ta nhất định phải nhận định “Đệ Tử Quy” là giới luật căn bản của chúng ta, ngàn vạn lần đừng xem nhẹ nó. Chúng ta cắm rễ từ trên “Đệ Tử Quy”, bắt tay vào từ giáo dục nhân quả của “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp” liền rất dễ dàng làm được. Mười nghiệp thiện có thể làm được, tam quy ngũ giới, sa-di luật nghi một chút cũng không khó. Có nền tảng này học giáo, một môn thâm nhập, huân tu thời gian dài, mười năm nhất định đại thành!
Chúng ta có Tổ sư Đại đức các đời thị hiện dạy dỗ, chỉ cần chân chính chịu học, bất cứ lúc nào cũng đều kịp. Hiện tại bạn đã đến 55 tuổi chưa? Bạn nếu như bắt đầu từ 60 tuổi, đến 70 tuổi thành công, được không? Được! Có thọ mạng này không? Có! Bởi vì Phật Bồ-tát gia trì bạn, bạn vì Phật Bồ-tát làm việc, bạn vì chúng sanh khổ nạn, vì chánh pháp trụ lâu dài, nhất định sẽ trường thọ.
Chân chính học Phật, một bộ kinh là đủ rồi, đừng học nhiều quá. Một bộ kinh, một câu thánh hiệu A Di Đà Phật, càng đơn giản càng tốt. Chân chính đi làm như vậy, tôi tin rằng bạn dùng thời gian một năm, thân tâm khỏe mạnh, mao bệnh gì cũng không còn nữa, vì sao vậy? Phật là thiện hơn tất cả, Phật pháp là pháp chí thiện thế xuất thế gian, một câu Phật hiệu này quyết định có thể vượt qua mọi khổ ách thế gian. Thường xuyên niệm Phật, trong tâm chỉ có A Di Đà Phật, ngoài A Di Đà Phật ra toàn bộ đều buông xuống.
Ngàn vạn lần đừng đem tâm của chúng ta làm thùng rác của người khác, sự tốt xấu của người khác là chuyện của họ, không liên quan đến tôi. Chỗ tốt của họ, tôi tán thán họ; sự bất thiện của họ, tôi không để ý đến, tuyệt không để ở trong tâm. Như vậy, dẫu cho cơ thể chúng ta có bệnh, những tế bào mang mầm bệnh cũng sẽ rất dễ dàng khôi phục lại bình thường, thân tâm khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc, phiền não nhẹ, trí tuệ tăng, Phật Di Đà, Thích-ca gia trì, mười phương chư Phật che chở, cớ sao lại không vui vẻ đi làm!
Đệ tử Phật chúng ta đáng nên tận trách nhiệm giáo hóa, phối hợp với đoàn thể xã hội, trường học, quốc gia, giúp đỡ hóa giải sự động loạn của xã hội, đạt đến “thiên hạ hòa thuận”. Kiến lập nên thế giới hài hòa. Về vấn đề này, chúng tôi từng tham gia mười mấy lần hội nghị hòa bình quốc tế, những hội nghị này đại đa số là do Liên Hợp Quốc chủ trì. Chuyên gia học giả, chí sĩ nhân nhân tham dự hội nghị đều đang tìm kiếm làm thế nào để giúp đỡ xã hội khôi phục sự an định, khẩu hiệu của họ là “tiêu diệt xung đột, thúc đẩy xã hội an định hòa bình”. Tôi làm báo cáo tại Liên Hợp Quốc đã giảng rất nhiều lần, đừng dùng từ “tiêu diệt”, tiêu diệt là đối địch. Cổ nhân chúng ta không nói đối địch, chúng ta gọi là hóa giải, hóa giải xung đột, thúc đẩy xã hội an định hòa bình.
Ví như Đông y và Tây y, Tây y là sát trùng, phải đem bệnh độc tiêu diệt đi; nhưng Đông y là giải độc, việc hóa giải thì tâm bình khí hòa, không đối lập. Cho nên không thể đối lập với tất cả người sự vật, chúng ta phải tôn trọng họ, ngay cả muỗi rệp kiến cũng phải tôn trọng chúng.
Tôi nghe nói bên Vân Nam có một số đồng học trồng thực vật, giao tiếp với sâu bệnh, chim nhỏ, đã nhận được hiệu quả vô cùng tốt đẹp. Họ khoanh ra một khu vực hoa màu chuyên môn cúng dường cho sâu nhỏ, sâu nhỏ toàn bộ đều đến khu vực đó để ăn, những nông hoa màu khác sâu nhỏ không ăn, bảo lưu lại được rất hoàn chỉnh. Họ ước định với chim nhỏ, chỉ định mấy cây ăn quả cúng dường chim nhỏ, những cây không được chỉ định chim nhỏ không đến ăn, quả toàn bộ đều được bảo lưu lại, đỡ được biết bao nhiêu việc. Sự việc này sinh ra hiệu quả tại địa phương, rất nhiều người đều nhìn thấy rồi, lãnh đạo chính phủ cũng nhìn thấy rồi, không thể không tin.
“Kinh Dịch” nói: “Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương” (Nhà tích thiện ắt có niềm vui có thừa, nhà tích bất thiện ắt có tai ương có thừa). Hiện tại vì sao thường xuyên có tai nạn rất lớn phát sinh? Thế hệ con cháu chúng ta ngày nay bất tiếu, đã đem tổ tông quên sạch rồi, xem thường tổ tông, cái tội này lớn biết bao! Nói tổ tông không thông minh bằng chúng ta, chúng ta có thể phát minh đèn điện, phát minh máy quay phim, phát minh xe hơi, phát minh tên lửa, bom nguyên tử… tổ tông không có năng lực này. Sai rồi, trí tuệ của tổ tông cao siêu hơn chúng ta rất nhiều! Vậy sao các ngài lại không phát minh? Nếu lão tổ tông chúng ta dấn thân vào việc phát minh sáng chế, thì thế giới từ lâu đã bị hủy diệt rồi. Các ngài không nỡ nhìn thấy thế giới bị hủy diệt, cho nên không làm loại chuyện này.
Chúng ta phải biết rằng, khoa học không phải là hoàn mỹ nhất, vấn đề của khoa học rất nhiều, tác dụng phụ quá lớn, vẫn là bộ của lão tổ tông tốt hơn, ngay cả nhà triết học lớn người Anh là Toynbee đều khâm phục sát đất đối với lão tổ tông của chúng ta. Gần một, hai trăm năm nay chúng ta làm những chuyện sai lầm, đương nhiên có sự trừng phạt, tai nạn trước mắt chính là sự trừng phạt. Tổ tông yêu thương bảo vệ con cháu, trừng phạt cũng là tình yêu thương, là muốn giáo huấn chúng ta, để chúng ta kính sợ nhân quả, biết được cải hối. Chỉ có sửa lỗi, tai nạn mới dừng lại, xã hội mới có thể an ninh.
Cung kính trích lục từ “Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa” tập 541, 542 và “Khoa Chú” tập 489 đến 490
Con Đường An Định Lòng Người Trong Xã Hội
Trung Thứ Từ Bi – Con Đường An Định Lòng Người Trong Xã Hội
Năm nay (2011), Tổ chức Hòa bình Tôn giáo Thế giới của Liên Hợp Quốc, lần đầu tiên tổ chức hội nghị hòa bình tôn giáo. Họ đến tìm tôi, tôi liền nghĩ đến, làm thế nào để đưa văn hóa truyền thống đến toàn thế giới? Tôi muốn tặng cho mỗi quốc gia một món quà, món quà này có một bộ “Tứ Khố Hội Yếu”, hai mươi bộ “Quần Thư Trị Yếu”, hai mươi bộ “Quốc Học Trị Yếu”. Còn có hai con dấu bằng đồng, một con là “Thần yêu thương người đời, thiên sứ hòa bình”, con còn lại là điều mà Toynbee đã nói, “Khổng Mạnh nhân nghĩa trung thứ, Đại thừa chân thành từ bi“. Hai con dấu đồng, ba loại sách, là món quà rất lớn, tôi thỉnh Liên Hợp Quốc gửi đến nguyên thủ của mỗi một quốc gia, đây là đưa văn hóa truyền thống đến với toàn thế giới, hy vọng toàn thế giới có thể đạt được sự an định hòa bình vĩnh cửu của thế giới từ trong văn hóa truyền thống, để cho nhân dân rời xa tai họa, đều có thể trải qua một cuộc đời hạnh phúc mỹ mãn; hy vọng họ đều có thể làm thiên sứ hòa bình, đều học tập Thần yêu thương người đời.
Nhà triết học lịch sử người Anh là Tiến sĩ Toynbee nói: “Muốn cứu vãn thế kỷ 21, chỉ có Phật pháp Đại thừa và học thuyết Khổng Mạnh”. Cho nên hóa giải vấn đề xã hội trên thế giới, phải dùng phương pháp “nhân nghĩa trung thứ” của Khổng Mạnh. ‘Nhân giả’ yêu người, người hiện nay không yêu người khác, vì sao vậy? Họ không tự yêu chính mình, họ tự yêu mình thì có thể tự sát không? Hiện tại ngay cả học sinh tiểu học cũng tự sát, điều này còn ra thể thống gì nữa? Tự yêu mình còn có thể phạm tội không? Còn có thể tổn người lợi mình không? Họ không tự yêu mình, đây là hiện tượng bi ai nhất. Chúng ta nhất định phải yêu người khác, khởi tâm động niệm phải có thể suy bụng ta ra bụng người, nghĩ đến mình thì nhất định phải nghĩ đến người khác. ‘Nghĩa’ là tư tưởng hành vi, hợp tình, hợp lý, hợp pháp, đây gọi là nghĩa. ‘Trung’ là không thiên không tà, tâm bạn chánh, hành vi của bạn chánh, không xa rời sự dạy dỗ của Thánh nhân. ‘Thứ’ là tha thứ, khoan thứ, tha thứ cho người khác, đừng so đo tính toán, họ tạo tội nghiệp nặng đến đâu thì chuyện cũ đã qua không trách cứ nữa, đừng để ở trong tâm, làm ra tấm gương tốt cho họ xem, cảm hóa họ, hy vọng họ cải tà quy chánh, như vậy mọi người mới có thể yên tâm, xã hội mới có thể an định. Nếu như có cái tâm trách cứ người khác, tâm của bạn liền không đủ đôn hậu, họ có lỗi lầm, bạn cũng sẽ có lỗi lầm theo, bạn liền sai rồi. Phải thi hành đạo trung thứ, tất cả đều phải tha thứ, luôn luôn “làm mà không đạt được kết quả, hãy quay lại tìm nguyên nhân ở chính mình”, thường xuyên hồi quang phản chiếu, bạn liền có thể thông cảm cho người khác.
Phật pháp cũng như vậy, “Kinh Vô Lượng Thọ” nói: “Người trước bất thiện, không biết đạo đức, không có người nói cho biết, thật cũng chẳng đáng trách.” Người đi trước của họ vô tri, không dạy dỗ họ, họ làm chuyện xấu, bạn không thể trách họ. Bất kể họ làm sai chuyện gì, bất kể họ tạo tội nghiệp gì, một nét xóa sạch, không nghe không hỏi đến. Chúng ta mọi người ngồi xuống, cùng nhau học tập luân lý, đạo đức, nhân quả và giáo dục tôn giáo, như vậy là tốt rồi, không thể tiếp tục gây ra xung đột nữa.
Phật pháp Đại thừa “chân thành từ bi”. Chúng ta quyết định không thể trách cứ người khác, hôm nay họ tạo tội ngũ nghịch, bất luận giết cha, giết mẹ đều đừng trách cứ họ, là do họ vô tri không tìm hiểu rõ chân tướng sự thật, đừng đổ thêm tội cho họ, từ nay về sau, phải hảo hảo dạy dỗ họ. Khổng tử nói: “Việc đã xong không can ngăn, chuyện đã qua không trách cứ”, phải dùng sự khoan hồng đại độ này để đối đãi. Hy vọng mọi người đều có thể tiếp nhận nền giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, tôn giáo, tự tự nhiên nhiên con người liền sẽ quay đầu, quay đầu là bờ, xã hội liền khôi phục sự tường hòa, thế giới liền khôi phục sự hài hòa. Hiểu được giữa người với người nên chung sống như thế nào, giữa người với người, người với vạn vật, người với đại tự nhiên, người với thiên địa quỷ thần, đáng nên cùng tồn tại cùng phồn vinh, tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, quan tâm lẫn nhau, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ hợp tác lẫn nhau, thế giới là một nhà!
“Nhân nghĩa trung thứ, chân thành từ bi”, hai câu tám chữ này, có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề. Nhân nghĩa trung thứ là tâm thiện, chân thành từ bi tâm thiện. Tâm thiện liền có thể đem vấn đề giải quyết, bởi vì sự động loạn của xã hội, sự tai biến của trái đất hiện nay cái gốc chính là do ác tâm ác niệm tạo thành. Dùng tâm thiện để đối trị ác niệm, vấn đề liền có thể hóa giải, trật tự xã hội liền có thể chuyển biến, sự tai biến của trái đất liền có thể khôi phục lại bình thường. Cho nên cách nói hệ ngân hà thẳng hàng năm 2012 này, Phật pháp là có phương pháp để hóa giải, chỉ cần chúng ta đoan chánh tâm niệm, toàn bộ vũ trụ sản sinh biến hóa, thực sự có thể ảnh hưởng đến hệ ngân hà. Đạo lý này hiện nay các nhà khoa học đã biết, ý thức tập thể có thể thay đổi hiện thực. Ví dụ “Pháp hội Nhân Vương Hộ Quốc” chính là ý thức tập thể, rất nhiều người cùng nhau tụng kinh, đoan chánh tâm niệm, dùng cái tâm niệm đoan chánh này, liền có thể hóa giải tai nạn do con người gây ra, có thể hóa giải tai nạn tự nhiên. Nhà khoa học nói với chúng ta, ý niệm có thể thay đổi môi trường vật chất, mức độ thay đổi chúng ta không có cách nào tưởng tượng được, có thể tu sửa quỹ đạo vận hành của tinh cầu trong không gian vũ trụ, quỹ đạo của nó sắp đi chệch rồi, có thể đem nó tu sửa lại, quý vị xem sức mạnh của niệm lực này lớn biết bao! Cho nên kinh Phật nói tất cả pháp từ tâm tưởng sanh, bạn liền hiểu được thiên đường, địa ngục đều là từ tâm tưởng sanh, ý niệm gì thì biến ra cảnh giới đó. Vì vậy, chỉ cần chúng ta có thể “đoạn ác tu thiện, cải tà quy chánh, đoan chánh tâm niệm”, thì có thể hóa giải được tai nạn.
Nhận Thức Thích-Ca Mâu-Ni Phật
I. Lời mở đầu
Người học Phật tuy rất nhiều, người chân thật học Phật lại không nhiều. Phật giữ tâm như thế nào? Phật đối nhân xử thế tiếp vật như thế nào? Phật sinh hoạt như thế nào? Chúng ta rốt cuộc hiểu được bao nhiêu về Thích-ca Mâu-ni Phật? Tốt nhất hãy đi đọc “Thích Ca Phổ”, “Thích Ca Phương Chí”. Đây là truyện ký của Thích-ca Mâu-ni Phật. Bạn không đọc, bạn sẽ không nhận thức về Phật. Lúc tôi mới học Phật, Đại sư Chương Gia, bước đầu tiên liền bảo tôi đọc hai bộ sách này, bạn nếu không nhận thức, bạn biết đi đâu để học?
Vì vậy, học Phật, trước tiên phải nhận thức Thích-ca Mâu-ni Phật, bạn nếu không nhận thức, sẽ đi rất nhiều đường vòng; bạn nếu nhận thức ngài, liền đỡ đi được rất nhiều đường vòng, chân thật đạt được lợi ích của giáo dục Phật đà.
II. Nhận thức Thích-ca Mâu-ni Phật
1. Tên gọi học vị của giáo dục Phật đà
Phật đà là tên gọi học vị trong giáo dục Phật đà (dùng lời hiện đại mà giảng để mọi người dễ hiểu). Giống như trường học bình thường hiện nay, học vị có ba loại, cao nhất là Tiến sĩ, tiếp theo là Thạc sĩ, tiếp theo nữa là Cử nhân. Trong giáo dục Phật đà cũng có ba học vị, cao nhất gọi là Phật đà, tương đương với Tiến sĩ; tiếp theo là Bồ-tát, tương đương với Thạc sĩ; thứ ba là A-la-hán, tương đương với Cử nhân. Chư vị nhất định phải biết rằng, Phật, Bồ-tát, La-hán là người, không phải thần, cũng không phải tiên.
Phật là thầy, Bồ-tát, A-la-hán đều là học trò của Phật, chẳng qua các ngài đã lấy được học vị rồi. Chúng ta hiện nay học Phật vẫn chưa lấy được học vị, tuy chưa đạt được học vị, mối quan hệ của chúng ta là bạn học cùng trường trước sau. Bồ-tát, A-la-hán là đàn anh của chúng ta. Tên gọi này phải rõ ràng, không thể mơ hồ được.
Trong văn hóa truyền thống cũng có ba học vị: Thánh nhân, Hiền nhân, Quân tử. Thánh nhân trong văn hóa truyền thống, Thánh là minh bản (sáng tỏ cội gốc), Thánh nhân chính là một người sáng suốt. Đối với phàm phu bình thường chúng ta mà nói, chúng ta là người hồ đồ không sáng suốt; đối với đạo lý sự tướng của vũ trụ nhân sinh thấu đạt tường minh, người như vậy thì xưng là Thánh nhân. Học tập theo Thánh nhân, chưa đạt đến tiêu chuẩn của Thánh nhân thì xưng là Hiền nhân, học trò của Khổng tử thì xưng là Hiền nhân, Hiền nhân tương đương với Bồ-tát trong Phật pháp. Tiếp theo nữa là Quân tử.
2. Ý nghĩa của danh hiệu
Phật có ý nghĩa là trí tuệ, giác ngộ, có trí tuệ, đại triệt đại ngộ, đây gọi là Phật.
Thích-ca Mâu-ni Phật, danh hiệu này cũng là biểu pháp, là tôn chỉ dạy học của ngài ở thế gian này, ngài dạy những gì ở nơi này? Danh hiệu chính là những gì ngài dạy. Bạn hỏi Phật giáo dạy cái gì? Thích-ca Mâu-ni. Thích-ca có ý nghĩa gì? Ý nghĩa là nhân từ, dịch là Năng nhân, ngài có thể nhân từ.
Chúng sanh trong xã hội chúng ta ngày nay, thiếu hụt chính là sự nhân từ, không có lòng yêu thương; không những không yêu người, ngay cả bản thân cũng không yêu, họ làm sao có thể đi yêu người? Cho nên, Phật ở thế gian này dạy học dạy cái gì? Chính là dạy nhân từ. Dạy bảo chúng ta đối với người khác phải có lòng yêu thương, phải có lòng từ bi, đại từ đại bi đối đãi với hết thảy chúng sanh, đây là nội dung dạy học của Phật pháp.
Đối với bản thân là “Mâu-ni”. Mâu-ni có ý nghĩa gì? “Mâu-ni” dịch là tịch tĩnh, chúng ta dùng năm chữ “thanh tịnh bình đẳng giác” trên tựa đề của “Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh” để giảng, quý vị sẽ dễ hiểu hơn, Mâu-ni là tâm địa thanh tịnh, bình đẳng, giác mà không mê, đây chính là ý nghĩa của Mâu-ni, quý vị xem cái tên này hay biết bao. Thích-ca Mâu-ni Phật dạy chúng ta điều gì? Dạy chúng ta tự mình phải thanh tịnh bình đẳng giác, dùng đại từ đại bi để đối đãi với hết thảy chúng sanh, đây chính là giáo dục Phật đà.
Danh hiệu của Phật, Bồ-tát, đều là tôn chỉ và mục tiêu của môn học mà ngài giảng dạy, vừa nhìn thấy danh hiệu liền biết được ngài dạy môn học gì, danh hiệu này là môn học tổng quát. Môn học mà Phật pháp giảng dạy, vô lượng vô biên, không rời khỏi tôn chỉ này, khẳng định môn nào cũng tương ưng với thanh tịnh bình đẳng giác, đại từ đại bi, rời khỏi tôn chỉ này thì đó không phải là Phật giáo, Phật đà không dạy bạn như vậy.
Đối với Phật nếu không nhận thức, nếu bị bóp méo, thì sẽ không đạt được lợi ích chân thật. Chúng ta ngày nay đến tự viện cầu Phật, cầu Bồ-tát, cầu thăng quan phát tài, cầu phù hộ, đó gọi là mê tín, đó gọi là điên đảo, Thích-ca Mâu-ni Phật năm xưa khi còn tại thế không có chuyện này.
Mọi người mê tín, đem Phật Bồ-tát, A-la-hán đều xem như thần tiên để sùng bái, chúng ta phải biết rằng, Phật Bồ-tát và A-la-hán cùng với thần tiên chẳng liên quan gì đến nhau, thần tiên cũng là phàm phu, giống hệt như chúng ta. Rất nhiều thần tiên cũng học Phật, họ chưa chứng được A-la-hán, cho nên, thần, tiên, không phải là La-hán, cũng không phải là Bồ-tát, điều này tóm lại phải rõ ràng, minh bạch.
3. Phật giáo là giáo dục Phật đà
Phật giáo là giáo dục Phật đà. Thích-ca Mâu-ni Phật từ năm ba mươi tuổi khai ngộ, bảy mươi chín tuổi viên tịch, cả đời giảng kinh dạy học, không có một ngày gián đoạn. Trên kinh thường giảng “giảng kinh hơn ba trăm hội, thuyết pháp bốn mươi chín năm”, hơn ba trăm hội chính là mở lớp dạy học, trong cả một đời đã mở lớp hơn ba trăm lần, dạy học bốn mươi chín năm. Cả đời dạy học chưa từng xây dựng tự viện, xây dựng tự viện là sau khi Phật giáo truyền đến Trung Quốc mới xây dựng.
Tự viện am đường là đạo tràng dạy học của Phật giáo, nó là trường học, không phải tôn giáo. Tự viện hiện nay, cách xưng hô của các chức sự vẫn là từ thời cổ đại truyền lại, giống như trụ trì, phương trượng, danh xưng này tương đương với hiệu trưởng của trường học hiện đại; thủ tọa hòa thượng tương đương với giáo vụ chủ nhiệm, giáo vụ trưởng của trường đại học; duy na tương đương với huấn đạo trưởng, là quản lý trật tự, quản lý đức hạnh, chính là dạy những môn học như giới luật; giám viện là tổng vụ trưởng, danh xưng không đồng nhất, nhưng tính chất phân công hoàn toàn giống nhau.
Cho nên chế độ tùng lâm của Phật giáo ở nước ta, chính là đưa việc dạy học vào nền nếp. Tại Ấn Độ Thích-ca Mâu-ni Phật năm xưa hoàn toàn là dạy học theo kiểu tư thục, giống hệt như Khổng lão phu tử. Khổng lão phu tử cũng là ba ngàn đệ tử, bảy mươi hai hiền nhân. Thích-ca Mâu-ni Phật năm xưa khi còn tại thế, ba ngàn đệ tử, thường tùy chúng được ghi chép trên kinh điển, đi theo Phật không rời khỏi là một ngàn hai trăm năm mươi lăm người. Số người tạm thời đến tham gia tôi tin rằng sẽ không ít hơn con số này, cho nên, Thích-ca Mâu-ni Phật, cả đời dạy học, hoàn toàn không liên quan gì đến tôn giáo, những nghi thức trong tôn giáo này, vào thời của Thế Tôn hoàn toàn không có.
Lên lớp học cùng với nhau, tu hành ở cá nhân, bạn có nghi nan vấn đề hướng Phật thỉnh giáo, Phật giải đáp cho bạn. Bởi vì đời sống sinh hoạt hằng ngày đều là ôm bát khất thực, ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới gốc cây, điều gọi là sư phụ dẫn vào cửa, tu hành ở cá nhân, thời Thế Tôn thực sự là như vậy, người người đều có thể tự luật. Cho nên, trong cửa Phật không có tổ chức, Thích-ca Mâu-ni Phật có nhiều học trò như vậy, không có phân lớp, không có mời ai làm lớp trưởng, không có, nếu có thì sẽ có ghi chép lại, không có, hoàn toàn là dạy học theo kiểu tư thục.
Trong số các học trò có người thành tựu, người học rất giỏi, giúp đỡ người học kém kia, tình hình này có, nhưng không có tổ chức, không có kiến lập đạo tràng. Vì sao không kiến lập đạo tràng? Ngài muốn kiến lập đạo tràng thì không khó, gia tộc là vương tộc. Lúc bấy giờ mười sáu vị quốc vương lớn của Ấn Độ đều là học trò của Thích-ca Mâu-ni Phật, muốn xây một cái đạo tràng há chẳng phải rất dễ dàng sao? Không cần! Vì sao không cần? Bây giờ chúng ta đã hiểu rồi, xây dựng ngôi miếu lớn lộng lẫy nguy nga thì liền có người động tâm, muốn khống chế, muốn chiếm hữu, đạo tâm liền không còn nữa, thanh tịnh bình đẳng giác liền bị phá hoại rồi. Không xây dựng đạo tràng, những người theo bạn học tập đều có đạo tâm, họ không có mưu đồ, không có danh văn lợi dưỡng có thể đạt được.
Thích-ca Mâu-ni Phật có trí tuệ, ba ngàn năm trước đã làm ra tấm gương cho chúng ta, chúng ta phải học Thích-ca Mâu-ni Phật, không thể học theo thế tục, học theo thế tục thì tiêu rồi, thế thì bạn tạo lục đạo luân hồi. Học theo Thích-ca Mâu-ni Phật, đời này có thể làm Phật, ít nhất cũng phải làm Bồ-tát, mới xem như việc tu học của bạn có thành tựu. Cho nên, nhận thức Thích-ca Mâu-ni Phật quan trọng biết bao!
Thân phận của Thích-ca Mâu-ni Phật, nếu dùng lời ngày nay mà nói, ngài là một nhà giáo dục xã hội văn hóa đa nguyên, thân phận của ngài là người làm công tác tình nguyện về giáo dục xã hội văn hóa đa nguyên, ngài dạy học không thu học phí, vô cùng nhiệt tâm. Khổng lão phu tử dạy học vẫn còn thu một chút lễ vật ra mắt, có một chút học phí mang tính tượng trưng; Phật không cần, người làm công tác tình nguyện. Khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đều làm ra tấm gương cho học trò đời sau, “học làm thầy người, hành làm mẫu mực cho đời”.
Bốn cái đức được giảng trong “Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán”: “Tùy duyên diệu dụng, oai nghi hữu tắc, nhu hòa chất trực, đại chúng sanh khổ” (Tùy duyên diệu dụng, oai nghi mẫu mực, nhu hòa ngay thẳng, thay chúng sanh chịu khổ). Trong kinh Phật không có một câu nào là lời giả dối, thật sự đã làm được rồi, hơn nữa còn làm được viên mãn như vậy. Chúng ta học Phật phải học tập ở những chỗ này, không có chính mình, chính mình ở đâu? Vũ trụ là chính mình, hết thảy chúng sanh là chính mình.
Chúng ta đem vũ trụ xem như một cơ thể của chúng ta, tất cả chúng sanh đều là những tế bào trên cơ thể chúng ta, như vậy mới đúng, Thích-ca Mâu-ni Phật đích thực có cách nhìn nhận này. Cách nhìn nhận này chúng ta không cách nào tưởng tượng được, khi nào bạn chân thật buông bỏ vọng tưởng phân biệt chấp trước, minh tâm kiến tánh, cách nhìn nhận của bạn cùng với Phật hoàn toàn tương đồng, chân thật không hư dối. Điều này khẳng định Phật giáo là giáo dục, giáo dục mới là Phật giáo do Thích-ca Mâu-ni Phật truyền lại, giáo dục Phật đà.
4. Phật pháp đang giảng những gì?
Phật pháp rốt cuộc đang giảng những gì? Chúng ta dùng danh tự để giảng, ngài ấy giảng chính là “Thích-ca và Mâu-ni”, cách nói này rất chung chung. Nói một cách cụ thể, Thích-ca Mâu-ni Phật bốn mươi chín năm giảng những gì? Giảng luân lý. Luân lý là gì? Giảng mối quan hệ giữa người với người, mối quan hệ giữa người với động vật, mối quan hệ giữa người với thực vật, mối quan hệ giữa người với khoáng vật, núi sông đại địa, mối quan hệ giữa người với hiện tượng tự nhiên (vũ trụ), còn có mối quan hệ giữa người với các không gian đa chiều khác nhau, những điều này đều thuộc về luân lý, phạm vi luân lý rộng hơn rất nhiều so với học thuật truyền thống chúng ta đã giảng!
Luân lý truyền thống của chúng ta chỉ giảng đến mối quan hệ giữa người với người, người với động vật. “Phàm là người, đều yêu thương”, “Yêu ai yêu cả đường đi lối về”, mối quan hệ luân lý trong dân gian chỉ nói đến đây. Mối quan hệ luân lý của Phật giảng thật sự viên mãn, toàn bộ không gian đa chiều của vũ trụ đều bao gồm ở trong đó. Đa chiều giảng thiên địa quỷ thần, thiên địa quỷ thần là một trong những chúng sanh, ngài ấy cũng là mê mà không giác, ngài ấy không phải là Thánh nhân, chẳng qua phước báo không giống nhau mà thôi!
Phật pháp giảng đạo đức, nhân quả, triết học, khoa học, năm hạng mục này đều giảng đến chỗ rốt ráo viên mãn, điều này quá xuất sắc rồi. Khoa học được giảng trong kinh Phật, ngày nay khoa học so với kinh Phật, vẫn còn kém một khoảng cách lớn, triết học cũng lại như vậy.
III. Tổng kết
Học Phật nhất định phải nhận thức Thích-ca Mâu-ni, hướng Thích-ca Mâu-ni Phật học tập, thì làm gì có đạo lý cả đời không thành Phật chứ! Phật dạy chúng ta buông xả, ngài thật sự đã buông xả rồi, ba y một bình bát, trải qua cuộc sống đơn giản nhất. Chúng ta phải hiểu được, thứ trên người bạn là của chính bạn, thứ không ở trên người bạn, không phải của chính bạn, học Phật ít nhất phải có quan niệm này. Tiền trong túi áo trên người bạn có bao nhiêu, đó là của chính mình, thứ cất trong ngân hàng không phải của bạn. Bạn sống trong căn nhà này, căn nhà này là của bạn, sau khi bạn ra khỏi cửa, căn nhà này không phải của bạn. Chư vị trong đời sống sinh hoạt hằng ngày có thể quán như vậy, bạn liền tiếp cận với Phật pháp rồi, tham sân si từ từ liền được hóa giải rồi!
Quá Khứ, Hiện Tại Và Tương Lai Của Phật Giáo
Ngày 18 tháng 5 năm 2007
Bài phát biểu chủ đề tại “Đại lễ Vesak của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới” ở Bangkok, Thái Lan
Kính thưa Ngài Thủ tướng Surayud,
Kính thưa Ngài Phan Wannametthee, Hội trưởng Hội Phật giáo Thế giới,
Kính thưa Ngài Phallop Thaiarry, Tổng thư ký Hội Phật giáo Thế giới,
Chào buổi sáng! Vô cùng cảm ơn lời mời của Hội Phật giáo Thế giới, và để tôi thực hiện một bài phát biểu với chủ đề “Quá khứ, hiện tại và tương lai của Phật giáo”, tôi cảm thấy vô cùng vinh hạnh! Vô cùng đáng tiếc, khi tôi nhận được lời mời vào chín ngày trước, không may đã sắp xếp xong những lịch trình khác, không thể đích thân đến Bangkok tham gia thịnh hội lần này, kính mong quý hội lượng thứ! Tôi đã chuẩn bị một bản bài phát biểu, để học trò của tôi đọc thay, hướng về chư vị đại đức thỉnh giáo.
Tôi sẽ nói qua về thiển ý của tôi trên ba phương diện dưới đây:
Một, bộ mặt vốn dĩ của Phật giáo: Nền giáo dục về chân tướng vũ trụ nhân sinh
Hai, sứ mệnh hiện tiền của Phật giáo: Dùng giáo dục thúc đẩy thế giới hài hòa
Ba, sự phục hưng trong tương lai của Phật giáo: Bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp “cấp Đại sư”
I. Bộ mặt vốn dĩ của Phật giáo: Nền giáo dục về chân tướng vũ trụ nhân sinh
Thập niên 1930, một vị đại sư Phật học của Trung Quốc là tiên sinh Âu Dương Cánh Vô từng phát biểu một bài diễn giảng nổi tiếng, xưng là “Phật giáo không phải tôn giáo, không phải triết học, mà là điều cần thiết cho thời nay”. Nếu như Phật giáo không phải tôn giáo, không phải triết học, vậy thì nó lại là gì? Tôi cho rằng: Phật giáo là giáo dục.
Chúng ta xem Thích-ca Mâu-ni Phật từ năm mười chín tuổi ra ngoài tham học, sau khi ba mươi tuổi thành Chánh giác, cả một đời ngài, giảng kinh hơn ba trăm hội, thuyết pháp bốn mươi chín năm, giáo hóa chúng sanh “phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui”. Cho nên ngài là một người làm công tác giáo dục xã hội văn hóa đa nguyên. Mà một trong mười loại danh hiệu của Phật là “Thiên Nhân Sư”. Có thể thấy được Phật là thầy giáo, người học tập theo ngài là học sinh. Mối quan hệ thầy trò này chỉ tồn tại ở trong giáo dục. Thích-ca Mâu-ni Phật trong lúc dạy học đã khẳng định “chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng của Như Lai”, bản chất của tất cả chúng sanh và Phật là bình đẳng, thông qua tu chứng thì có thể khôi phục trí tuệ đức tướng vốn có của tự tánh. Trong tôn giáo mối quan hệ giữa Thượng đế và con dân là mối quan hệ cha con, mà con dân không thể nào bình đẳng với Thượng đế. Cho nên Phật giáo không phải tôn giáo.
Phật trong “Kinh Hoa Nghiêm” nói với chúng ta: “Tất cả pháp chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”. Vũ trụ được biến hiện ra cùng với tâm thức có khả năng biến hiện, là một thể, là không hai. Sự nhận thức này trong triết học không có, bởi vì “năng” và “sở” trong triết học là nhị nguyên, là đối lập. Vì vậy, Phật giáo cũng không phải triết học.
Bộ mặt vốn dĩ của Phật giáo là nền giáo dục chí thiện viên mãn của Thích-ca Mâu-ni Phật đối với hết thảy chúng sanh về vũ trụ nhân sinh. Giáo dục của Phật đà khẳng định “bản tánh vốn giác, bản tánh vốn thiện”, khẳng định vũ trụ hài hòa một thể. Dùng nhân từ bác ái hóa độ hết thảy chúng sanh. Dạy người đáng nên khiêm nhường, tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, quan tâm lẫn nhau, chăm sóc lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau, đây chính là sự lưu lộ tự nhiên của bản giác bản thiện, nên có thể đạt đến mục tiêu chuyển ác thành thiện, hóa thù thành bạn, hóa oan thành thân, hóa mê thành ngộ, chuyển phàm thành Thánh một cách viên mãn. Tôn chỉ, mục tiêu này, là căn bản trong lời dạy bảo của tất cả Thánh triết trên thế gian, là “nền giáo dục của tình yêu thương” mà người hiện đại đã nói.
II. Sứ mệnh hiện tiền của Phật giáo: Dùng giáo dục thúc đẩy thế giới hài hòa
Ngày nay toàn cầu chấn động bất an, thiên tai nhân họa thường xuyên, xóa bỏ xung đột, thúc đẩy an định hòa bình là vấn đề mà mọi người quan tâm nhất. Cội nguồn của xung đột nằm ở đâu? Cội nguồn nằm ở chính chúng ta. Khi chúng ta mê mất bản tánh, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác trái nghịch với bản thiện bản giác, tâm hành không thể tùy thuận bản tánh, thì xung đột liền phát sinh. Việc dạy học của Thích-ca, đem “tham, sân, si” nhận định là căn bản của xung đột, xưng là “ba món độc”. Cho nên cần phải dùng giáo dục chuyển hóa lòng người, dạy họ quay về với tự tánh. Đầu tiên đem “ba món độc” trong nội tâm của chính mình buông xuống, đem sự đối lập, xung đột, mâu thuẫn trong nội tâm của chính mình hóa giải rồi, vậy thì thế giới bên ngoài liền có thể khôi phục sự hài hòa rồi. Thế giới hài hòa, bắt đầu từ tâm ta, thông qua sự dạy học của Thánh triết, khôi phục “bản giác bản thiện, thành kính khiêm hòa” vốn có trong tâm tánh của hết thảy chúng sanh, đồng thời đem nó phát dương quang đại đến khắp hư không khắp pháp giới. Cho nên, chúng ta nên học tập Thế Tôn Thích-ca, mở lớp dạy học, ra sức thúc đẩy giáo dục Thánh triết. Tịnh Không năm nay tám mươi mốt tuổi, cả đời bắt chước Thế Tôn Thích-ca, cho đến nay đã giảng kinh dạy học được bốn mươi chín năm, hiện tại mỗi ngày thông qua mạng internet, truyền hình vệ tinh, lưu thông đĩa quang, truyền bá nền giáo dục Thánh triết đến toàn thế giới.
Giáo dục cần phải coi trọng nền tảng. Việc tu học của Phật pháp Đại thừa cần phải được thiết lập trên nền tảng Tiểu thừa. Mà Trung Quốc vì sao Phật pháp Đại thừa hưng thịnh còn Tiểu thừa không hưng thịnh? Bởi vì người Trung Quốc từ nhỏ liền tiếp nhận nền giáo dục của hai nhà Nho, Đạo, đã hoàn thành rất tốt nền tảng cho việc tu học Đại thừa. Căn bản tu học của Nho gia nằm ở “Đệ Tử Quy”, căn bản tu học của Đạo gia nằm ở “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên”, căn bản tu học của Phật gia nằm ở “Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo”, ba môn này đều là mẫu mực của văn hóa truyền thống, mãi cho đến ngày nay, vẫn mang tính thực dụng vô cùng sâu sắc. Có thể vì xã hội thế kỷ 21 hóa giải tất cả xung đột, mang đến cho toàn nhân loại sự hài hòa an định, phồn vinh giàu vui chân thật vĩnh hằng!
III. Sự phục hưng trong tương lai của Phật giáo: Bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp “cấp Đại sư”
Sự chấn hưng và phát triển trong tương lai của Phật giáo cần nhân tài hoằng pháp “cấp Đại sư”. Chúng tôi tha thiết hy vọng do Thái Lan thành lập một “Trung tâm Văn hóa Truyền thống”, bồi dưỡng giáo viên tốt hoằng pháp, làm rạng rỡ nền giáo dục truyền thống của Thánh triết. Những nhân tài hoằng pháp này không những đối với giáo nghĩa của Phật pháp có sự thấu ngộ sâu sắc, mà quan trọng hơn là, nhân phẩm đạo đức của họ có thể làm một tấm gương tốt cho đại chúng xã hội.
Điều kiện tuyển chọn giáo viên tốt là lấy việc có đủ “thành kính, nhân ái, hiếu liêm, hiếu học” làm tiêu chuẩn nhập học. Trung tâm cung cấp những điều kiện thiết yếu cho đời sống sinh hoạt của các vị thầy, khiến cho họ tuyệt đối không có nỗi lo về sau, chuyên tâm hướng học. Dùng “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp” để thực tiễn giáo dục luân lý đạo đức, người xuất gia tu học thì cộng thêm “Sa-di Luật Nghi”. Sau đó một môn thâm nhập, mười năm khổ tu, ngày ngày giảng tập, ắt có ngộ nhập. Đồng thời đem nội dung giảng tập mỗi ngày, lợi dụng các kênh dạy học từ xa như truyền hình vệ tinh, mạng internet v.v., hai mươi bốn tiếng đồng hồ luân phiên phát sóng, giáo hóa khắp toàn cầu. Như vậy, người nghiên cứu học tập đã có thể làm thiện cho riêng mình, lại có thể làm thiện cho thiên hạ. Mà quốc gia thì có thể chân thật thực tiễn giáo dục luân lý đạo đức toàn dân, tin tưởng rằng trong vòng ba năm, đối với sự an định hài hòa của xã hội, sự hạnh phúc an lạc của nhân dân, tất nhiên sẽ sinh ra hiệu quả vô cùng rõ rệt. Mà giáo dục Phật đà, cũng có thể nương theo đây mà phát dương quang đại. Kính chúc:
Ngài Thủ tướng thân cung khang thái, cát tường như ý!
Chư vị đại đức thân thể khỏe mạnh, xin cảm ơn!
Thích Tịnh Không AM Ph.D.
Viện trưởng Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Giáo sư danh dự Đại học Queensland, Đại học Griffith Úc Châu
Tiến sĩ danh dự Đại học Hồi giáo Bang Syarif Hidayatullah Indonesia
(Cẩn dịch: Hoàng Anh Việt)
Kỷ Niệm Phật Đản 2550 — Cống Hiến Của Phật Đà Đối Với Nhân Loại
Ngày 7 tháng 10 năm 2006
Hội trường lớn tại Trụ sở Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), Paris
Kính thưa các vị đại diện, người đứng đầu các quốc gia, các vị khách quý của các quốc gia, chư vị đại đức, các quý ông quý bà :
Pháp vi diệu thâm sâu vô thượng, trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được, nay con nghe thấy được thọ trì, nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như Lai.
Hôm nay thắng duyên hy hữu, Tịnh Không cùng chư vị đại biểu đến từ 191 quốc gia trên các nơi thế giới tề tựu một đường tại nơi đây, tổ chức hoạt động kỷ niệm ngày Phật đản 2550 năm, thảo luận học tập sự cống hiến của Phật đà đối với nhân loại. Nhắc đến sự cống hiến của Phật đà đối với nhân loại, chính là sau khi Phật đà tự giác, đã dùng trọn cuộc đời mình, giáo hóa chúng sanh “phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui”. Phương pháp của ngài tức là “giảng kinh hơn ba trăm hội, thuyết pháp bốn mươi chín năm”. Tịnh Không tiếp nhận giáo dục 55 năm, dạy học 48 năm, hôm nay xin kính cẩn đem một chút sở đắc của kẻ ngu muội, đưa ra báo cáo tâm đắc tại nơi này, hướng về chư vị đại đức thỉnh giáo. Chủ đề bài diễn giảng của tôi là “Nhiệt liệt chúc mừng lễ Vesak, học tập Thích-ca Mâu-ni Phật mở lớp dạy học, hóa giải xung đột, thúc đẩy xã hội an định, thế giới hòa bình”, kính xin phê bình chỉ giáo.
Hám “Lợi” là cội nguồn của mọi xung đột
Mấy năm qua, kể từ sau khi sự kiện 11 tháng 9 xảy ra, Học viện Hòa bình của Đại học Queensland, Úc Châu đã mời tôi tham gia một buổi tọa đàm của các giáo sư Học viện Hòa bình được tổ chức trong trường. Tôi nghe báo cáo của học viện, mới biết trên toàn thế giới có tám trường đại học có thiết lập “Học viện Hòa bình”. Học viện Hòa bình của Đại học Queensland thành lập đã được 8 năm, có những cống hiến tương đối đáng kể đối với việc nghiên cứu “xóa bỏ xung đột, thúc đẩy hòa bình”. Nhưng sau sự kiện 11 tháng 9, họ đã tiến hành một lần phản tỉnh sâu sắc, cảm thấy những thủ đoạn quen dùng trước đây như trấn áp, trả thù, chiến tranh lạnh, chiến tranh nóng v.v., đều không có cách nào giải quyết vấn đề. Hy vọng dùng phương pháp hòa bình thuần túy, có thể đạt được thành quả xóa bỏ xung đột, thúc đẩy hòa bình an định hay không. Thế là hiệu trưởng đã mời tôi tham gia buổi tọa đàm này.
Đầu tiên tôi nghe xong báo cáo nghiên cứu mấy năm qua của học viện, sau đó người chủ trì hy vọng tôi đưa ra một vài kiến nghị. Sau khi nghe báo cáo của họ, tôi hiểu được “hóa giải xung đột” cũng giống như bác sĩ trị bệnh vậy, bắt buộc phải tìm ra nguồn bệnh, trị liệu từ trên căn bản mới có hiệu quả. Căn bản của xung đột nằm ở đâu? Tôi đưa ra cách nhìn – căn bản của xung đột nằm ở “gia đình”. Hiện tượng phổ biến của xã hội toàn cầu ngày nay, tỷ lệ ly hôn rất cao, đây là xung đột vợ chồng; trong gia đình cha con xung đột, anh em xung đột; ở Trung Quốc thông thường còn có ba thế hệ cùng chung sống, sự xung đột giữa mẹ chồng nàng dâu trong tam đại đồng đường v.v., đủ loại vấn đề gia đình đều là cội nguồn của xung đột, bước ra ngoài xã hội chung sống với đại chúng, thì làm gì có đạo lý không xung đột chứ!
Trên thực tế đây vẫn chưa phải là cội nguồn của tất cả xung đột, cái gốc chân chính nằm ở đâu? Cái gốc chân chính nằm ở chính mình, Phật nói “mê là gốc khổ, giác là nguồn vui”, sự xung đột sanh khởi giữa sự giác ngộ của tự tánh và sự mê mờ của tập tính mới là cội nguồn; Nho gia cũng nói là “Bản tính” và “Tập tính” xảy ra xung đột. Vì sao lại xảy ra xung đột? Khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đi ngược lại với bản tính bản thiện, tâm hành không thể tùy thuận bản tính, thế là xung đột liền phát sinh. Vì sao không thể tùy thuận bản tính? Tìm kiếm một cách tỉ mỉ, chúng ta đã tìm thấy cội nguồn của xung đột, chính là “tham dục”. Cho nên việc dạy học của Thích-ca, đã nhận định “tham, sân, si” là căn bản của xung đột, xưng là “ba món độc”. Mà cội nguồn của ba món độc, chính là nằm ở tham dục; mục tiêu của tham dục, tức là chữ “Lợi” mà cổ nhân Trung Quốc đã giảng.
Trên xã hội hiện nay ai mà không tranh lợi! Mạnh tử của Trung Quốc, sinh vào thời Chiến Quốc (372 – 289 Tr.CN), ông ấy gặp Lương Huệ Vương, Lương Huệ Vương vừa mở miệng liền nói, “Cụ lão từ nơi xa xôi như vậy đến đất nước chúng tôi, chắc hẳn có lời kiến nghị mang lại lợi ích cho đất nước chúng tôi!” Mạnh tử nói: “Thưa quốc vương, hà tất phải nói lợi, chỉ cần có nhân nghĩa là được rồi.” [Nguyên văn: Mạnh tử kiến Lương Huệ vương. Vương viết, “Tẩu, bất viễn thiên lý nhi lai, diệc tương hữu dĩ lợi ngô quốc hồ?” Mạnh tử đối viết, “Vương hà tất viết lợi? Diệc hữu nhân nghĩa nhi dĩ hĩ”.] Hàm ý của câu nói này vô cùng sâu sắc, bởi vì “lợi” là thứ mà con người tranh giành, đối tượng của tham dục chính là “lợi”. Từ đây mà biết, hám “lợi” mới là cội nguồn của mọi xung đột.
Muốn hóa giải xung đột, nhất định phải làm nhạt đi “lợi”, đem “lợi” buông xuống. Mặt trái của “lợi” là “nhân nghĩa”, nhân nghĩa chính là “từ bi” mà nhà Phật đã giảng. “Nhân” là ý nghĩa của “từ”, mang niềm vui đến cho chúng sanh, xả kỷ vì người; “Nghĩa” là nhổ nỗi khổ của chúng sanh, đồng nghĩa với “bi”. Cho nên, nhà Phật giảng “từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa”, Nho gia giảng “nhân nghĩa”, ngôn ngữ không giống nhau, ý nghĩa tương đồng. Phương pháp hóa giải vấn đề của Mạnh phu tử hoàn toàn tương đồng với Phật đà, đều là chú trọng từ trên căn bản.
Từ đây mà biết, chúng ta muốn “xóa bỏ xung đột, thúc đẩy xã hội an định, thế giới hòa bình”, chỉ có buông bỏ tranh danh đoạt lợi, tích cực đề xướng nền giáo dục nhân nghĩa, từ bi, giác ngộ chúng sanh, cũng tức là “nền giáo dục tình yêu thương”, “Thượng đế yêu thương người thế gian, Thần yêu thương người thế gian” mà các tôn giáo thông thường đã nói. Chúng ta cẩn thận quan sát, chân thật thể hội được các bậc đại Thánh đại Hiền cổ kim trong ngoài, những vị sáng lập của các tôn giáo chính trên thế giới, đều là Thánh Hiền, đều đem lợi, tham dục hoàn toàn buông xuống, thân tâm thanh tịnh, do đó có thể tự hành hóa tha, sinh ra sức ảnh hưởng sâu rộng to lớn đối với đương thế, thế hệ mai sau.
“Mở lớp dạy học” có thể hóa giải mọi xung đột
Tình yêu thương là tánh đức, cho nên có tình yêu thương, có nhân nghĩa, có từ bi, đây chính là tùy thuận tánh đức. Hậu quả của việc tùy thuận tánh đức là lương thiện. Tỉ mỉ suy nghĩ xem, người tùy thuận tánh đức nhất định sẽ yêu người; dùng nhân nghĩa, từ bi đối đãi với người, làm sao có thể hại người! Nếu như tranh lợi, quyết định sẽ có hành vi tổn người lợi mình phát sinh. Mỗi một người đều mang tâm lý tổn người lợi mình, sự xung đột giữa người với người tự nhiên sanh khởi. Cho nên muốn chân thật hóa giải mọi xung đột, thúc đẩy xã hội an định, thế giới hòa bình, không phải dùng vũ lực trấn áp hay trả thù là có thể làm được, cũng không phải do mở họp là có thể đạt được. Dùng phương pháp gì mới có thể đạt được? Thánh Hiền phương Đông, những vị như Thích-ca Mâu-ni Phật không ai là không lấy việc “mở lớp dạy học” mà đạt được mục đích. Khổng tử mở lớp dạy học, Thích-ca Mâu-ni cả đời mở lớp dạy học, trên kinh điển ghi chép “giảng kinh hơn ba trăm hội”, đó chính là cả một đời Phật đà mở lớp tổng cộng hơn ba trăm lần. Mỗi một lần đối tượng không giống nhau, mục tiêu, phương pháp cũng không giống nhau, cho nên thời gian dài ngắn cũng đều không giống nhau. Đơn nguyên lớn, ví dụ như lớp “Bát-nhã”, nội dung vô cùng phong phú, chia làm rất nhiều đơn nguyên trung, tiểu, cần thời gian vài năm mới có thể dạy xong. Lại như “Kinh Hoa Nghiêm”, hiện tại chúng ta nhìn thấy bản dịch tiếng Trung có ba mươi chín phẩm, mỗi một phẩm là một đơn nguyên lớn, trong đơn nguyên lớn có đơn nguyên nhỏ, điều này cũng cần phải mất thời gian dài lên lớp. Giống y như mở trường học, thời gian học sinh tiếp nhận giáo dục có 4 năm, 5 năm, 6 năm, thậm chí đến 10 năm không đồng nhất. Hoặc có 3 ngày, 5 ngày, 1 tuần, 1 tháng, cũng không nhất định. Đơn nguyên nhỏ nhất, một ngày hai, ba tiếng đồng hồ, đây là có đối tượng đặc định hướng Thế Tôn thỉnh giáo và ngài giải đáp cho họ, tình hình như vậy cũng rất nhiều.
Cho nên một đời Thích-ca mở lớp dạy học với những đơn nguyên lớn có hơn ba trăm lần, nội dung vô cùng phong phú. Ngài bắt đầu lên lớp giảng bài từ năm 30 tuổi, qua đời năm 79 tuổi, 49 năm dạy học không có gián đoạn. Chúng ta biết rằng Khổng tử của Trung Quốc dạy học chỉ có 5 năm; Chúa Giê-su dạy học 3 năm, ngài ấy là bị người ta hại chết; Tiên tri Muhammad dạy học 27 năm. Cho nên trong các bậc Thánh triết của các tộc quần cổ kim, đích thực, thời gian dạy học của Thích-ca Mâu-ni Phật là dài nhất, nội dung cũng phong phú nhất, thành tích, hiệu quả cũng vô cùng kiệt xuất, điều này rất đáng để chúng ta tham khảo học tập. Chỉ có “mở lớp dạy học” mới có thể chân thật hóa giải tất cả các vấn đề xung đột phức tạp.
Kể từ sau khi tham gia buổi tọa đàm của Học viện Hòa bình Đại học Queensland, trường học liền mời tôi làm giáo sư của Học viện Hòa bình, khích lệ tôi đại diện trường, đại diện Úc Châu tham gia hội nghị hòa bình quốc tế, đây là nhân duyên tôi tham gia hội nghị hòa bình quốc tế. Tôi đã trước sau tham gia 8 lần diễn đàn hội nghị hòa bình quốc tế, ngày hôm nay tại nơi này tụ hội cùng chư đại đức là lần thứ 9. Trong 8 lần đó có 5 lần là có mối quan hệ với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc, đều là do họ chủ đạo đại hội. Sau khi tham gia nhiều hội nghị như vậy, tôi thể hội sâu sắc rằng “hội nghị rất khó chân thật hóa giải vấn đề”.
Do đó mà phản tư, trong năm ngàn năm lịch sử của Trung Quốc, chưa từng phát động chiến tranh đối với quốc gia láng giềng, chưa từng xâm chiếm một tấc một thước đất nào của quốc gia láng giềng. Dẫu cho chính quyền thay đổi, đổi triều hoán đại, đó là chuyện nội bộ của quốc gia; nhưng đối ngoại chưa bao giờ chủ động xâm lược quốc gia khác. Cho nên rất nhiều chuyên gia học giả trên thế giới đều khẳng định, Trung Quốc là một tộc quần yêu chuộng hòa bình. Giống như sáu trăm năm trước, đội tàu của Trịnh Hòa giong buồm đi thăm viếng, phát hiện ra toàn thế giới, họ không khai phá thuộc địa, nơi họ đến, chỉ có toàn tâm toàn lực cống hiến, giúp đỡ nhân dân địa phương nâng cao những sự giao lưu đa dạng như nông nghiệp, công nghệ, văn hóa v.v., do đó có thể nhận được sự kính trọng sâu sắc của người dân địa phương, tôn xưng ông là “Tam Bảo thái giám”. Cho đến nay tại khu vực Nam Dương vẫn còn giữ lại rất nhiều “miếu Trịnh Hòa”, nhang khói nghi ngút. Đây là một ví dụ vô cùng rõ rệt. Quốc lực của Trung Quốc lúc bấy giờ là cường thịnh nhất trên thế giới, đội tàu do Trịnh Hòa dẫn đầu, dùng lời hiện tại mà nói, là hạm đội hải quân hùng mạnh nhất trên thế giới thời bấy giờ, đi biển qua khắp toàn thế giới, vì sao không thiết lập thuộc địa? Vì sao không có ý thức mở rộng bản đồ của quốc gia mình? Nguyên nhân nằm ở đâu? Thật sự mà nói chính là hiệu quả của việc ba nhà Nho, Thích, Đạo mở lớp dạy học.
Tư tưởng giáo dục Trung Quốc hưng khởi từ “Tình yêu thương”
Cho nên người Trung Quốc từ xưa đến nay, phương thức tư duy của họ đều là tùy thuận tự tánh, tùy thuận tánh đức, cũng chính là nền giáo dục luân lý đạo đức và nhân quả mà người Trung Quốc đã nói. Cái gì là “đạo đức”? “Đạo” chính là “quy luật của đại tự nhiên” mà hiện nay đã nói, “trật tự vận hành của đại tự nhiên”, “đại tự nhiên là hài hòa – thái hòa”; tùy thuận đại tự nhiên chính là “đức”. Ví dụ một năm bốn mùa, xuân, hạ, thu, đông, đây là hiện tượng quy luật của tự nhiên, xưng nó là “đạo”; đời sống, tư duy của con người (tư duy thuộc về đời sống tinh thần, thân thể thuộc về đời sống vật chất), đều có thể tùy thuận quy luật “mùa xuân sinh trưởng, mùa hạ phát triển, mùa thu thu hoạch, mùa đông tàng trữ” của bốn mùa, tinh thần và thân thể nhất định vô cùng khỏe mạnh, cho nên nói tùy thuận tự nhiên, hài hòa là “đức”. Nếu vi phạm sự vận hành tự nhiên, không hòa, người này nhất định không khỏe mạnh, dễ dàng sinh ra bệnh tật. Đây là định nghĩa của “đạo đức”.
Luân lý là đạo, là tùy thuận tự nhiên, tùy thuận hài hòa. Quan hệ ngũ luân, sự kết hợp của vợ chồng, cha con, anh em, vua tôi, bạn bè, đều là hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ, sự hài hòa của tự nhiên, không phải do một ai phát minh, sáng tạo ra. Cho nên nói, mối quan hệ giữa người với người cùng với quy luật của đại tự nhiên là hoàn toàn giống nhau. “Ngũ luân” là “đạo”, tùy thuận ngũ luân thì xưng nó là “đức”. Cái gọi là “cha từ con hiếu, anh bạn em cung kính, vua nhân tôi trung, chồng nghĩa vợ vâng lời, người lớn ban ân người nhỏ thuận tòng”, “mười nghĩa” này, mười loại hài hòa này chính là “đức”. Đây là quy phạm hài hòa bắt buộc phải tuân thủ để làm người mà tổ tiên Trung Quốc dạy dỗ cho con cháu đời sau.
Lý thể của đạo đức, khởi điểm chính là “tình yêu thương”. Cho nên khởi điểm của quan niệm đạo đức Trung Quốc tức là “cha con có tình thân” trong luân lý. “Thân” là “thân ái” (tình yêu thương), chính là “nhân nghĩa” mà Nho gia giảng sau này, “từ bi” mà Phật pháp giảng, “Thần yêu thương người thế gian”, “Thượng đế yêu thương người thế gian” mà tôn giáo phương Tây giảng; khởi điểm chính là tình yêu thương thiên tính của cha con. Tình yêu thương của cha con là thái hòa của thiên nhiên, không có bất kỳ điều kiện nào. Chúng ta cẩn thận quan sát, đứa trẻ lúc ba, bốn tháng tuổi, tình yêu thương của đứa trẻ đối với cha mẹ, tình yêu thương của cha mẹ đối với đứa bé, biểu hiện vô cùng rõ rệt. Tư tưởng giáo dục của Trung Quốc chính là hưng khởi từ khởi điểm này.
Vì vậy, những năm gần đây, chúng tôi mang tình yêu thương gửi đến toàn thế giới, khẳng định nhân tính vốn thiện, người người đều có Phật tính. Kỳ vọng người người có thể học cách tự yêu mình, yêu người, yêu nhà, yêu nước, yêu thế giới, yêu chúng sanh. Tình yêu thương, xuất phát từ tâm, từ cảm nhận. Lấy cảm nhận chân tâm làm nghĩa, sự cảm nhận của tâm chân thành chính là tình yêu thương. Lòng chân thành bao trùm thái hư, lòng nhân ái trùm khắp cõi sa. Thực tiễn ở thế gian, tức là Đệ Tử Quy; thực tiễn trong Phật pháp, tức là Thập Thiện Nghiệp Đạo.
Do đó từ bi khắp pháp giới, thiện ý khắp cõi Ta-bà. Cũng tức là học tập Thập Thiện Nghiệp Đạo khắp thế giới, giáo dục của Đệ Tử Quy khắp thế gian.
Tình yêu thương chính là sự thực tiễn viên mãn của Thập Thiện Nghiệp Đạo.
Tình yêu thương chính là sự thực tiễn viên mãn của Đệ Tử Quy.
Tình yêu thương chính là chân tâm, chân tánh, chân như, pháp tánh.
Tình yêu thương chính là bản tánh, bản thiện, thuần tịnh, thuần thiện.
Tình yêu thương chính là chân lý, chân đế, sinh mạng, vĩnh hằng.
Tình yêu thương chính là thần thánh, Thượng đế, Chân chủ, thánh linh.
Tình yêu thương ấp ủ nuôi dưỡng vạn vật trong vũ trụ, vạn vật trong thiên địa, không có thứ gì không sinh ra và lớn lên từ lòng yêu thương.
Tình yêu thương là cội nguồn của vạn đức vạn năng vạn phước.
Tất cả những gì chư Phật chư Thánh chứng được đạt được, tức là tự yêu mình. Tất cả những gì chư Phật chư Thánh dạy dỗ giáo hóa, tức là yêu người. Sự giáo hóa của tất cả Thánh Hiền, chính là sự chân thành, tình yêu thương, nền giáo dục về quy phạm sinh hoạt Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo. Nó là sự truyền thừa kinh nghiệm trí tuệ của nhân loại, cũng là di sản của văn minh thế giới.
Mục đích thứ nhất của giáo dục Trung Quốc thời cổ đại, chính là hy vọng tình yêu thương của cha con có thể vĩnh viễn duy trì không biến chất trong suốt một đời. Mục đích thứ hai là đem lòng yêu thương chân thành này phát dương quang đại, yêu cha mẹ, yêu gia đình, yêu anh chị em, yêu tộc quần, yêu xã hội, yêu quốc gia, yêu toàn nhân loại, cho đến yêu tất cả các loài sinh vật. Không những là yêu nhân loại, ngay cả động vật, cây cối hoa cỏ cũng yêu, đem lòng yêu thương này mở rộng ra, chính là lý niệm của giáo dục Trung Quốc, mục tiêu mà giáo dục Trung Quốc hy vọng đạt được. Giáo dục Trung Quốc là giáo dục nhân nghĩa, giáo dục của tình yêu thương, giáo dục của thái hòa; nó không phải là giáo dục tranh đoạt lợi ích. Cho nên giáo dục trẻ em, từ nhỏ liền phải dạy em biết lễ nhượng, không những phải học tập “không tranh”, còn phải biết đáng nên xả kỷ cống hiến. Không giống như nền giáo dục hiện đại, từ mẫu giáo liền dạy trẻ con cạnh tranh, cạnh tranh chính là tự tư tự lợi. Từ nhỏ liền dạy em tranh danh đoạt lợi, dưỡng thành quan niệm tổn người lợi mình, sau khi lớn lên em sẽ không biết tổn người lợi mình là hành vi sai lầm. Cho nên giáo dục của tình yêu thương là dạy người đáng nên yêu người như yêu mình, niệm niệm tư duy hy vọng bản thân có thể hy sinh cống hiến, phục vụ cho người khác, phục vụ cho xã hội, quốc gia, phục vụ cho hết thảy chúng sanh; tuyệt đối không xem xét đến lợi ích của chính mình. Sự giáo dục của Thánh nhân là hưng khởi từ chỗ này.
Tấm gương giáo dục nổi tiếng nhất của Trung Quốc, chính là ba bà Thái (Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự) của triều Chu đề xướng thai giáo. Mẹ của Văn Vương là Thái Nhậm, lúc mang thai liền biết được ý niệm ngôn hành của bản thân sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Chúng ta nhìn thấy trên sử sách ghi chép, Thái Nhậm lúc này mắt không nhìn hiện tượng bất thiện, tai không nghe âm thanh của tà tư tà niệm, ngôn ngữ nhu hòa, không có ngôn hành ngạo mạn phẫn nộ. Bà hiểu sâu sắc rằng khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác của chính mình sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Cho nên giáo dục con cái đáng nên bắt đầu từ lúc mang thai. Người bình thường tuy chưa làm được thai giáo đối với con cái của chính mình, nhưng lúc đứa trẻ ra đời cũng có thể thấu hiểu được đứa trẻ nhìn sắc nghe thanh ắt sẽ bị ảnh hưởng. Đứa trẻ bất kể có hiểu chuyện hay không hiểu chuyện, nó chỉ cần mở mắt ra rồi, thì mắt sẽ nhìn, tai sẽ nghe, nó đang học tập, đang bắt chước. Điều này là tự nhiên, tự nhiên chính là đạo. Lúc này cha mẹ đáng nên dùng mặt chính diện để giáo hóa em, đây chính là đức giáo.
Mẹ của Mạnh tử thấu hiểu đạo lý này, cho nên vì để giáo dục Mạnh tử, đã ba lần chuyển nhà. Chỗ ở vốn dĩ của họ gần mồ mả, Mạnh tử từ nhỏ vui chơi đùa giỡn liền học theo việc chôn cất người chết, mẹ của ông nhìn thấy hình dáng bất thiện như vậy, nên đã chuyển nhà. Chuyển đến gần chợ, chợ có buôn bán, Mạnh tử nhìn thấy những người mổ heo, bán thịt, ông liền học mổ heo, học bán thịt, mẹ ông nhìn thấy rồi, lại chuyển nhà. Chuyển đến gần trường học, thế là Mạnh tử học được cách hành lễ như thế nào, cúi chào như thế nào, đi đọc sách như thế nào, Mạnh mẫu nhìn thấy điều này là việc tốt đối với đứa trẻ, liền định cư tại nơi này. Cho nên Mạnh mẫu ba lần chuyển nhà, vì để dạy con. Mạnh mẫu đích thực đã dạy dỗ rất tốt, về sau Mạnh tử trở thành bậc Thánh nhân của một thời đại, địa vị trong giới học thuật Trung Quốc chỉ xếp sau Khổng tử.
Người mà Mạnh tử học theo là Khổng tử, nhưng lúc bấy giờ Khổng tử đã không còn tại thế nữa, thầy của ông là người truyền thừa đời thứ ba của Khổng tử, Mạnh tử hướng họ mà học tập. Trứ tác của Khổng tử vẫn còn, cho nên Mạnh tử là người đầu tiên của Trung Quốc tôn người xưa làm thầy ─ hiện tại không tìm thấy người thầy tốt, có thể tìm trứ tác của người xưa. Lúc bấy giờ vẫn còn có học trò từng đi theo Khổng tử, Mạnh tử hiếu học, có chỗ không hiểu rõ liền hướng học trò của Khổng tử thỉnh giáo. Đạo đức, học vấn của ông đã thành tựu, đã tạo ra những cống hiến kiệt xuất cho lịch sử văn hóa Trung Quốc. Ông cả đời kế thừa đạo đức học thuật của Khổng tử, bài xích tự tư tự lợi, đề xướng nhân nghĩa đạo đức. Nhưng các nước chư hầu, quốc quân đương thời không có người nào có thể dùng ông. Nguyên nhân là gì? Ông sinh vào thời Chiến Quốc (Khổng tử sinh vào thời Xuân Thu), phong khí xã hội lúc bấy giờ đang dần dần coi trọng tranh danh đoạt lợi, động loạn, chinh chiến, tương tự như thế giới hiện đại. Các ông nhìn thấy trong lòng, vô cùng cảm thán, vô cùng đau xót, không có người nào chịu dùng ông, lúc này mới trở về dấn thân vào công tác dạy học, đem trí tuệ, kinh nghiệm, đức hạnh, lý luận của chính mình truyền thụ cho Thánh triết của thế hệ tiếp theo.
Thích-ca Mâu-ni Phật, chúng ta quan sát một cách rất khách quan, trí tuệ, sự quan sát của ngài đều ở trên cả Khổng tử. Bởi vì bản thân Thích-ca Mâu-ni Phật là vương tử, nếu như muốn dùng phương pháp chính trị để thúc đẩy lý niệm của ngài, thì cơ duyên đầy đủ. Thế nhưng ngài đã từ bỏ. Đã từ bỏ vương vị, quyền thế, từ bỏ vinh hoa phú quý, cả đời cam tâm tình nguyện trải qua cuộc sống của một vị sư khổ hạnh, dấn thân vào công tác giáo dục xã hội văn hóa đa nguyên. Đây là hành động của Thánh nhân, chúng ta cẩn thận quan sát, những gì ngài làm trong cả một đời là hoàn toàn chính xác. Ngài đã làm một tấm gương tốt nhất cho người đời sau chúng ta, đây là cống hiến lớn nhất của ngài đối với nhân loại.
Sự kỳ vọng vốn dĩ của Khổng tử, Mạnh tử, là có thể giống như Chu Công vậy, bản thân có địa vị, quyền lực hợp pháp, có thể thi triển hoài bão, tạo phước cho nhân dân. Đây là một loại thị hiện, chúng ta gọi là “biểu diễn”. Thích-ca Mâu-ni Phật là một phương thức biểu diễn khác, dạy người buông xả, không tranh danh lợi, không tranh vinh hoa phú quý, quyền thế địa vị. Bởi vì thật sự hy vọng phục vụ cho nhân dân, thì vẫn là mở lớp dạy học tốt hơn. Đối với cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia, cho đến thế giới, trăm đường lợi mà không một đường hại. Đây là sự thấu tỏ của đại trí tuệ, không phải điều mà phàm phu có thể nhìn thấy làm được; ngài đã làm một cách rất triệt để.
Thánh triết hiền sĩ mỗi người có cách làm của riêng mỗi người, đều là đúng, đều là chính xác. Chúng ta đáng nên nhìn rõ ràng mọi phương diện, sau đó mới có thể chân thật mở trí tuệ, chân thật học tập được trí tuệ đức năng mà chúng ta đáng nên học. Không thể nói Khổng tử đi cầu một chức quan là sai lầm, ông không có sai lầm; Thích-ca Mâu-ni Phật buông xả tất cả, ngài là chính xác. Đều là chính xác, không có sai lầm, chỉ là phương thức khác nhau, chúng ta phải học tập từ nhiều phương diện mới có thể viên mãn. Có đủ địa vị, có đủ quyền thế, cũng giống như Thích-ca Mâu-ni Phật vậy, sự việc phải nghiêm túc đi làm, trong tâm buông xả được sạch sẽ gọn gàng, một hạt bụi cũng không nhiễm, điều này mới đạt đến sự viên mãn. Việc học tập của Đại thừa là giảng sự viên dung, trí tuệ viên mãn, sự nghiệp viên mãn, công đức viên mãn, đây là điều mà người hiện đại chúng ta đáng nên có thể thể hội được, đáng nên có thể noi theo. Chỉ có nền giáo dục của trí tuệ thần thánh, mới có thể giúp đỡ chúng ta nâng cao cảnh giới; trong Phật pháp giảng là tiêu trừ phiền não tập khí của chúng ta, cũng tức là đem những tư duy sai lầm, tâm lý sai lầm, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước cải chánh lại. Hoàn toàn tùy thuận quy luật tự nhiên, tùy thuận sự vận hành của đại tự nhiên. Nhận thức mối quan hệ giữa toàn bộ vũ trụ và quy luật tự nhiên, đạt đến tận cùng, đích thực là một thể, hài hòa; bạn, tôi, họ và toàn bộ vũ trụ là một thể.
Chân thần dùng hình tượng khác nhau giáo hóa chúng sanh
Phật pháp vì phương tiện dạy học mà đem toàn bộ vũ trụ chia làm ba phần, một phần là bản thể, một phần là tinh thần, một phần là vật chất. Tuy làm ba phần, thực tế là một thể. “Bản thể” là lý thể, chính là điều Phật pháp giảng “năng hiện, năng biến”. “Chỉ do tâm hiện”, “tâm tánh” là thể; “Chỉ do thức biến”, “thức” là phân biệt, chấp trước, phân biệt, chấp trước lại biến hiện thành vạn sự vạn pháp của vũ trụ. “Năng biến” và “sở biến” là một không phải hai, cho nên từ chỗ này mà nhận thức “toàn bộ vũ trụ là chính mình”. Tinh thần của chúng ta và pháp tánh dung hợp thành một thể, thân thể của chúng ta và Pháp thân dung hợp thành một thể; “Pháp thân” chính là hiện tượng vật chất của vũ trụ, “Kiến, văn, giác, tri” là hiện tượng tinh thần của vũ trụ. Cho nên hiện tượng tinh thần và hiện tượng vật chất là cùng một bổn nguyên, cội nguồn này trong Phật pháp xưng nó là “pháp tánh”, trong các tôn giáo khác xưng là “Thượng đế”, xưng là “Thần”.
Hiện nay rất nhiều người học tập tôn giáo đều nói, Thượng đế không có nhục thân, không nơi nào không hiện hữu, không lúc nào không tồn tại; đối với Thần, cũng là nói như vậy. Điều này liền hoàn toàn giống với “Pháp tánh” mà nhà Phật đã giảng. Vì vậy chúng ta biết rằng điều mà các tôn giáo đã nói, trên thực tế là một sự việc, chỉ là danh từ không giống nhau mà thôi. Tôi qua lại với rất nhiều vị lãnh tụ tôn giáo, khi thảo luận đến quan niệm cơ bản này, đều bàn đến việc Thần mà mỗi một tôn giáo sùng tín, đều là vị Chân thần duy nhất trong vũ trụ. Tôi nói với họ, “Chân thần có trí tuệ viên mãn, các vị thừa nhận không?” Họ thừa nhận. “Chân thần có thể biến hóa, thần thông quảng đại không thể nghĩ bàn”, họ tin tưởng. Thế là tôi nói, “Chân thần trong Phật giáo liền biến thành Thích-ca Mâu-ni, ở Trung Quốc liền biến thành Khổng tử, trong đạo Cơ Đốc liền biến thành Chúa Giê-su, trong đạo Hồi liền biến thành Tiên tri Muhammad; trên thực tế là một người, thiên biến vạn hóa. Cho nên mọi người đều là người một nhà.” Rất hiếm có, những vị lãnh đạo tôn giáo này đều rất hoan hỷ tiếp nhận lý niệm này. Tôi tưởng đưa ra một cách nói như vậy, có thể phải trải qua rất nhiều tranh luận, kết quả những năm qua lại ngoài ý muốn là mọi người đều hoan hỷ tiếp nhận, điều này là vô cùng hiếm có.
Tất cả những người sáng lập của tôn giáo đều là Chân thần ở các tộc quần khác nhau, thời đại, văn hóa khác nhau, dưới các bối cảnh lịch sử khác nhau, dùng những hình tượng thân phận khác nhau để giáo hóa chúng sanh. Nghiên cứu tỉ mỉ, rất nhiều hình thức tuy không giống nhau, thế nhưng phương hướng, mục tiêu, mục đích quyết định là giống nhau. Khởi điểm chung của tất cả các tôn giáo chính là “tình yêu thương”, khởi điểm giống nhau, cũng tức là mục tiêu, phương hướng của chúng ta hoàn toàn nhất trí, cho nên tôn giáo là có thể đoàn kết được. Tôi ở Singapore, lúc bấy giờ có 9 tôn giáo, chúng tôi thật sự đã đoàn kết thành một thể, trở thành anh chị em, vô cùng hòa mục, mang đến nền tảng an định, hòa bình cho xã hội Singapore. Ở Indonesia, tôi cũng đang làm công tác hòa mục đoàn kết tôn giáo ở bên đó, cũng vô cùng có hiệu quả.
Sự đoàn kết hòa mục của tôn giáo ở Indonesia, là trước khi Trưởng lão Wahid làm tổng thống, đã dấn thân vào công tác này, đặt định nền tảng tốt đẹp. Tôi vô cùng may mắn, đến thăm Indonesia, vô cùng dễ dàng đoàn kết lại cùng với mọi người. Tôi từng cùng họ tổ chức đoàn đi thăm Ai Cập, Vatican; sau đó còn đi thăm Trung Quốc. Hai lần họ đều mời tôi làm cố vấn cho đoàn viếng thăm tôn giáo. Trên thực tế, du lịch là một cơ duyên học tập vô cùng có ích, bởi vì các vị lãnh tụ tôn giáo ngày thường rất khó có được dịp tụ họp lại với nhau. Tổ chức đoàn đi du lịch thăm viếng nước ngoài, có thời gian mười mấy ngày sống chung với nhau, từ sáng đến tối, không có chuyện gì là không nói, trao đổi lẫn nhau, tìm hiểu, học tập lẫn nhau, cho nên mới chân chính trở thành bạn bè.
Có được những kinh nghiệm này, cho nên năm 2005 khi tôi đến thăm cựu Thủ tướng Malaysia là Trưởng lão Mahathir, ông ấy đã rời khỏi chính trường, nhưng bi nguyện chưa mất. Vẫn luôn luôn quan tâm việc làm thế nào hóa giải xung đột, tai nạn của thế giới, làm thế nào có thể để xã hội khôi phục lại sự an định hòa bình. Ý niệm thương xót cho nỗi khổ của người đời này của ông, tôi nghe xong vô cùng cảm động, cũng vô cùng kính phục. Ông ấy hỏi tôi có phương pháp gì có thể thực tiễn, tôi lúc đó liền đưa ra bốn sự việc, tôi nói bốn sự việc này có thể làm cho tốt, thì mục tiêu hóa giải xung đột, khôi phục an định hòa bình liền có thể đạt được.
Ông ấy hỏi tôi bốn sự việc gì, tôi nói thứ nhất, giữa quốc gia với quốc gia trên toàn thế giới phải đối xử bình đẳng, chung sống hòa mục; thứ hai, các tộc quần khác nhau cũng phải làm được sự đối xử bình đẳng, chung sống hòa mục; thứ ba, các đảng phái, phe phái đủ để ảnh hưởng đến sự an định của thế giới, cũng phải có thể mở rộng tâm lượng, ánh nhìn, không thể chỉ nghĩ cho riêng mình, phải nghĩ cho hạnh phúc của nhân dân toàn thế giới. Phe phái cũng nên đoàn kết, có chung mục tiêu, lấy việc “hưng lợi trừ hại, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân toàn thế giới” làm mục tiêu, nhất định phải đoàn kết hợp tác; thứ tư, tôn giáo toàn cầu phải chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng. Tôi nói bốn sự việc này đều không dễ làm, vô cùng khó giải quyết, thế nhưng bắt tay vào từ tôn giáo vẫn là tương đối dễ dàng, nếu tôn giáo có thể chung sống hòa mục, có thể đối xử bình đẳng, khẳng định sẽ ảnh hưởng đến chính trị, đảng phái và tộc quần.
Trưởng lão Mahathir nghe xong ý kiến của tôi bày tỏ sự tán đồng, ngày hôm sau liền quyết định mời tôi tham gia “Diễn đàn Hòa bình Toàn cầu Perdana” do ông triệu tập tại Kuala Lumpur vào tháng 12 năm 2005. Tôi cũng rất hoan hỷ tham gia hoạt động lần này. Cảm kích sự biệt đãi của ông đối với tôi trong hoạt động diễn đàn. Cơ thể ông rất khỏe mạnh, tôi khuyên ông, hy vọng những năm cuối đời ông vẫn có thể vì hòa bình thế giới, hạnh phúc của nhân loại, ít nhất làm mười năm; tạo ra cống hiến vĩ đại nhất vì việc hóa giải xung đột, khôi phục sự hòa bình và an định của thế giới.
Đệ Tử Quy đặt nền tảng đức hạnh
Do mấy chục năm nay rất nhiều chí sĩ nhân nhân trên thế giới, với bi nguyện vô tận, hy cầu hóa giải tất cả mọi xung đột, thúc đẩy an định hòa bình, dùng phương pháp hội nghị vẫn chưa mang lại hiệu quả, thế là phản tư điều mà Lão tử Trung Quốc đã nói “nước nhỏ dân ít”. Tôi liền muốn làm một thí nghiệm, tìm một cộng đồng nhỏ làm một điểm thử nghiệm. Ngày trước ở Mỹ từng muốn làm, duyên không chín muồi; sau này ở Singapore, ở Úc Châu, duyên vẫn là không chín muồi. Mấy năm trước hiếm có dịp về thăm quê nhà, cùng với các phụ lão huynh đệ ở quê nhà trò chuyện, bàn về lý tưởng này, không ngờ họ vô cùng nhiệt tâm hưởng ứng, họ nói: “Chúng tôi nguyện ý làm.” Tôi rất hoan hỷ, liền chọn một thị trấn nhỏ ở quê nhà ─ Thang Trì. Thị trấn nhỏ này là ở vùng nông thôn, có mười hai thôn trang, cư dân bốn vạn tám ngàn người. Họ đã lơ là giáo dục Thánh Hiền của Trung Quốc được 80 năm rồi. Chúng tôi liền lấy nơi này làm thí nghiệm, kiến lập một trung tâm văn hóa đa nguyên, hy vọng đem lý niệm, phương pháp và tinh thần dạy học của Khổng tử, Thích-ca, thực tiễn tại thị trấn nhỏ này.
Đầu tiên là bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Bởi vì đây là công tác dạy học, không có giáo viên thì không thể làm thành công. Chúng tôi đem lý niệm truyền bá từ trên mạng internet, chiêu sinh đối ngoại. Đối tượng là giáo viên mẫu giáo, giáo viên tiểu học, giáo viên trung học cơ sở. Rất nhanh liền có hơn ba trăm người đến thi. Chúng tôi tinh chọn lựa kỹ càng trong số đó, chọn ra hơn ba mươi người tham gia phỏng vấn. Sau khi phỏng vấn, chọn ra ba mươi vị giáo viên chân chính có cùng chí hướng, tự nguyện tham gia sự nghiệp này. Họ từ chức công việc hiện tại, tham gia hoạt động dạy học của trung tâm chúng tôi. Hai tháng đầu học tập, chúng tôi dùng tài liệu dạy học nền tảng của Nho gia là “Đệ Tử Quy” làm giáo trình, yêu cầu các thầy cô giáo phải tự mình thực tiễn một trăm phần trăm.
Sự dạy học của “Đệ Tử Quy”, chủ yếu là “thân giáo” mà cha mẹ trưởng bối nhất định phải làm ra cho trẻ em xem. Đứa bé từ lúc sinh ra, mở mắt ra sẽ biết nhìn, dỏng tai lên sẽ biết nghe, tuy vẫn chưa biết nói, vẫn chưa có khả năng hành động, nhưng đã đang bắt chước rồi. Ngôn hành cử chỉ của trưởng bối trước mặt nó, nhất thiết đều phải phù hợp với luân lý đạo đức, khiến cho những gì đứa bé nhìn thấy, nghe thấy, tiếp xúc đến, toàn bộ đều là giáo dục mang tính chính diện. Ngạn ngữ cổ Trung Quốc có câu “ba tuổi nhìn ra tám mươi, bảy tuổi nhìn ra cả đời”, cách nói này vô cùng có đạo lý. Trẻ nhỏ nhìn ba năm, nghe ba năm, ấn tượng sâu sắc, đến lúc ba tuổi thì có năng lực phân biệt đúng sai tà chánh. Đối mặt với rất nhiều sự ô nhiễm bất thiện của xã hội hiện đại, dùng lời hiện tại mà nói, đứa trẻ liền có năng lực miễn dịch, loại năng lực miễn dịch này là dưỡng thành từ khi còn nhỏ. Cho đến sáu, bảy tuổi đi học, thầy cô giáo ở trường dạy dỗ em mỗi ngày phải làm được, không thể vi phạm; đem sự dạy học luân lý đạo đức mà em học được từ nhỏ không ngừng tăng cường, kéo dài, khiến nó dưỡng thành phẩm đức cơ bản cả đời tư tưởng thiện, ngôn ngữ thiện, hành vi thiện. Niệm niệm có thể lễ nhượng, đối người khiêm kính, xử sự cẩn trọng, lẫn nhau hài hòa lễ nhượng mà không tranh, cho nên không có tranh chấp. Sau khi nền tảng đức hạnh được đặt định, giáo viên mới dạy em học tập kinh điển Thánh Hiền, tiếp nhận sự giáo dục về luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ.
Tuổi thơ là giai đoạn trí nhớ tốt nhất trong cuộc đời của mỗi người. Cho nên từ 12 tuổi trở về trước, hoàn toàn chú trọng vào ghi nhớ, đem những khóa học nên ghi nhớ trong cả cuộc đời đều đọc thuộc lòng, như vậy thì cả đời đều sẽ không quên. Trẻ em đọc sách không chú trọng giảng giải, chỉ chú trọng đọc tụng, học tập hàm dưỡng phẩm đức, học tập đối nhân xử thế tiếp vật. Trẻ con trong trường học được học cách phụng sự sư trưởng, về nhà sẽ hiếu dưỡng cha mẹ, phục vụ cho cha mẹ. Trẻ em từ 12 tuổi trở về trước, giáo viên tiểu học chỉ dạy đọc tụng kinh văn, không có giảng giải. Thiên phú của mỗi người khác nhau, giở đọc 10 lần liền có thể thuộc lòng, đây là tiến độ thích hợp. Nhưng bắt buộc phải yêu cầu em đọc thuộc 100 lần, 200 lần, vì sao vậy? Để em cả đời không thể quên. Ngày hôm sau trước khi dạy khóa học mới, trước tiên đem khóa học của ngày hôm qua đọc thuộc lại một lần, sau đó mới học khóa mới, chú trọng ôn tập, ôn cũ mà biết mới.
Dạy học thời cổ đại Trung Quốc chỉ có hai giai đoạn, tiểu học đi lên chính là thái học, thái học chính là đại học, 13 tuổi lên thái học. Việc dạy học của thái học chú trọng vào giảng giải, nghiên cứu, thảo luận. Bởi vì cả thầy và trò đều từng học thuộc kinh điển, cho nên việc đọc sách là vô cùng vui vẻ, lên lớp có thể không cần dùng sách giáo khoa, dẫu cho dẫn chứng trứ thuật cổ kim, họ toàn bộ đều đã thuộc nằm lòng. Thầy có thể đọc thuộc, trò cũng có thể đọc thuộc, hỏi trò câu này, đều biết nằm ở trang mấy dòng thứ mấy của cuốn sách nào, họ đều có thể nói ra được. Bởi vì bố cục trang của sách cổ đại Trung Quốc là cố định, nó không có dấu câu, mỗi trang 10 dòng, mỗi dòng 20 chữ. Bất luận là bản khắc của nhà nào, đều có thể tuân thủ quy củ này. Cho nên phiên bản các nhà tuy khác nhau, nhưng số dòng số trang là giống nhau, điều này còn khoa học hơn cả sách hiện đại. Việc in sách hiện đại, phiên bản khác nhau, thì số dòng số trang không đồng nhất, việc trích dẫn tự nhiên gặp khó khăn.
Phương thức bố cục trang in sách thống nhất của Trung Quốc thời cổ đại, khiến cho người đi học trong thiên hạ bất luận là ở Nam, Bắc, Đông, Tây, khi hỏi đến trang mấy dòng mấy chữ thứ mấy, đều có thể chuẩn xác không sai lệch, cho nên giáo sư thái học lên lớp không cần sách giáo khoa. Thầy giáo dạy học phần lớn là dẫn học trò đi du sơn ngoạn thủy, chú trọng khảo chứng di tích lịch sử mà làm sâu sắc thêm hứng thú học tập và sự thấu hiểu, chú trọng tài liệu dạy học sống. Cho nên thầy giảng đến khu vực mà bài văn của người xưa nói đến, liền dẫn học trò đi du ngoạn thực địa, đến hiện trường để xem, nghiên cứu thảo luận những di tích do người xưa để lại ở khu vực này, việc dạy học sống động, cho nên đọc sách mới có niềm vui; không giống như hiện nay học rất khổ sở! Khi nghiên cứu thảo luận có thể phát huy kiến giải của bản thân, cách nhìn của bản thân, để cầu sự thông suốt, đạt đến trí tuệ chân thật, học thuật phù hợp với công dụng xã hội của người hiện đại.
Những lý niệm giáo dục như thế này, thực sự rất đáng để chúng ta dung hội học thuật của phương Đông và phương Tây, lấy sở trường bù đắp sở đoản, hy vọng nhân dân toàn thế giới đều có thể tiếp nhận được sự giáo dục về luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ, khoa học, kiến lập nhận thức chung. Đây không những là hạnh phúc cả đời của chính mình, mà là hạnh phúc vô bờ bến cùng tồn tại cùng phồn vinh của toàn nhân loại. Khiến cho mỗi một người đều có thể từ trong nội tâm mình hóa giải sự xung đột đối với tất cả người, sự, vật, hóa giải những hiểu lầm, nghi ngờ, lo âu và mâu thuẫn đối với tất cả người, sự, vật; sau đó khiến cho thân tâm mình điều hòa, khỏe mạnh vui vẻ. Đại tự nhiên là hài hòa, vũ trụ là hài hòa, vạn vật là hài hòa, con người cũng đáng nên phải hài hòa, phối hợp với vũ trụ, hài hòa hợp tác với tất cả mọi người, tất cả vạn vật. Như vậy mới có thể chân thật hóa giải mọi xung đột trên thế gian, thực tiễn xã hội an định, thế giới hòa bình, thực tiễn lời dạy bảo “phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui” của Thích-ca Phật đà.
“Mở lớp dạy học” cải thiện phong khí xã hội
Chúng tôi dùng phương pháp mở lớp dạy học cổ xưa của phương Đông, làm thí nghiệm tại thị trấn Thang Trì. Trung tâm yêu cầu các giáo viên tự mình thực tiễn sự tu dưỡng của “Đệ Tử Quy”. “Đệ Tử Quy” tổng cộng có 113 điều, ý thú tương đồng với 55 điều của Ron Clark của Mỹ, nhưng nội dung phong phú hơn, rộng mở hơn. Nho và Đạo cũng đều có những điều răn cơ bản, giáo dục nền tảng của Đạo gia là “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên”, giáo dục nền tảng của Phật gia là “Thập Thiện Nghiệp Đạo”; mười nghiệp thiện là cương lĩnh, từ cương lĩnh này triển khai ra, đại khái cũng có hơn 100 điều mục. Nền giáo dục cơ bản của ba nhà, người mới học vỡ lòng bắt buộc phải nghiêm túc thực tiễn, thực tiễn một trăm phần trăm, từ nền tảng này lại tiếp tục nâng cao lên trên.
Các giáo viên của Trung tâm Giáo dục Văn hóa Lư Giang trong vòng 2 tháng đã đem 113 điều giáo dục của Nho gia thực tiễn, sau đó bắt đầu thử nghiệm dạy dỗ cư dân địa phương, khích lệ cư dân địa phương nam nữ già trẻ, các ngành các nghề cùng nhau học tập. Thị trấn nhỏ Thang Trì có 12 thôn trang; các giáo viên của trung tâm, ở trung tâm họ là học sinh, đi ra ngoài dạy dỗ dân chúng, họ chính là thầy giáo. Chúng tôi chia lớp đồng thời đến 12 thôn trang, luân phiên dạy học, không ngờ 2 tháng liền nhìn thấy hiệu quả. Trong thị trấn nhỏ sự xung đột giữa vợ chồng không còn nữa, vợ chồng không cãi nhau; mẹ chồng nàng dâu có thể chung sống hòa mục, xung đột cũng được hóa giải rồi; trước đây hàng xóm tranh chấp vì những chuyện nhỏ nhặt rất nhiều, hiện tại không còn nữa, đều có thể chung sống hòa mục, nhường nhịn lẫn nhau; trẻ con biết hiếu thuận cha mẹ. Tố chất nhân dân của toàn thị trấn được nâng cao, phong khí xã hội được cải thiện rồi. Những người buôn bán nói với chúng tôi, trước đây trong cửa hàng trộm cắp rất nhiều, nếu trông không chặt, thường xuyên mất đồ. Hiện tại sau khi trải qua 2 tháng giáo hóa của trung tâm, đồ đạc không canh chừng cũng sẽ không bị mất nữa.
Các tài xế taxi phản hồi rằng: “Trước đây ý niệm của chúng tôi rất không tốt, phàm là hành khách từ nơi khác đến luôn luôn ức hiếp họ, thu thêm một số phí, hoặc là đi đường vòng, chạy vòng vèo, chạy thêm vài vòng. Hiện tại chúng tôi biết bản thân trước đây đã sai rồi, đều thay đổi thái độ, đối đãi với khách hàng một cách vô cùng nhiệt tình, chân thành. Từng có một vị hành khách từ nơi khác đến, để quên túi xách trên xe, bên trong vẫn còn vài vạn nhân dân tệ tiền mặt. Nếu như trước đây, chúng tôi nhất định là tự mình tịch thu rồi, sẽ không trả lại cho họ. Nhưng hiện tại sau khi tiếp nhận giáo dục đạo đức của trung tâm, chúng tôi biết được đáng nên chăm sóc khách hàng, thế là mang chiếc túi xách này nguyên xi không đụng chạm đến gửi trả lại.”
Vị hành khách này là một ông chủ thương mại, sau khi ông nhìn thấy vô cùng cảm động nói: “Nơi đây lại có người tốt như thế này, nhặt được đồ vẫn có thể mang trả lại!” Người tài xế nói: “Chúng tôi là đã tiếp nhận sự giáo dục của trung tâm, không những tôi lái chiếc taxi này sẽ làm được, bất kỳ một vị tài xế taxi nào ở khu vực này của chúng tôi cũng đều sẽ làm được.” Ông chủ nghe xong rất cảm động. Đây chính là hiệu quả đạt được do mở lớp dạy học. Chi tiết cụ thể sẽ do giáo vụ trưởng của trung tâm là bà Dương Thục Phân báo cáo trước đại hội.
Từ kinh nghiệm dạy học nửa năm nay của thị trấn Thang Trì, đã củng cố thêm tín tâm chân thật “hóa giải xung đột, thúc đẩy xã hội an định, thế giới hòa bình” của chúng tôi. Chúng tôi tin tưởng sâu sắc, khẳng định “nhân dân là có thể dạy bảo cho tốt được”, “nhân chi sơ, tánh bản thiện” (con người sinh ra, bản tánh vốn thiện), nhà Phật giảng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Người người vốn dĩ là người tốt, nhân tính vốn thiện, bản tính đều là vốn thiện, đều là tốt. Vì sao hiện tại không tốt? Học theo thói xấu rồi, không có người dạy họ, cái gọi là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, chính là đạo lý này. Chỉ cần có sự giáo dục tốt, giáo dục mang tính chính diện, giáo dục tùy thuận tánh đức, người người đều có thể hoan hỷ tiếp nhận. Con người ai cũng không nguyện ý làm người xấu, đều nguyện ý làm người tốt. Đây là chân tướng sự thật mà chúng tôi nhìn thấy được từ một khoảng thời gian nửa năm ngắn ngủi tại Thang Trì.
Những sự việc thực tế như thế này rất nhiều, hôm nay hiếm có được cơ hội tốt như vậy, cùng mọi người tụ hội một đường tại trụ sở Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc, cùng nhau giao lưu học tập. Hy vọng chia sẻ những thành quả mở lớp dạy học của chúng tôi tại thị trấn nhỏ Thang Trì, cống hiến cho những bậc chí sĩ nhân nhân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, cùng nhau nắm tay hợp tác. Mở ra nền giáo dục về luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ, khoa học, giúp đỡ chúng sanh khổ nạn trên toàn cầu “phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui”. Những lý niệm, phương pháp và hiệu quả dạy học này, là sự gợi mở đến từ Phật đà và Khổng tử, có thể cung cấp cho Liên Hợp Quốc làm tài liệu tham khảo cho việc hóa giải xung đột, thúc đẩy xã hội an định, thế giới hòa bình. Hy vọng lấy một chút thành quả nhỏ bé này, thúc đẩy những bậc chí sĩ nhân nhân vì cầu hóa giải xung đột, thúc đẩy hòa bình thế giới, tăng trưởng tín tâm, tăng thượng nguyện lực. Chỉ cần đoàn kết tôn giáo, thúc đẩy phương pháp “mở lớp dạy học”, tất cả xung đột tự nhiên hóa giải, “xã hội hài hòa, thế giới hài hòa” không phải là khẩu hiệu, quyết định thực tiễn. Nguyện các bạn đồng luân của tôi nắm tay hợp tác, kế tục sau Thích-ca, Khổng tử, cũng có thể ngay trong đời này tạo ra cống hiến to lớn nhất đối với toàn nhân loại. Cuối cùng, tôi xin đại diện trung tâm, chí thành mời mọi người quang lâm Trung tâm Giáo dục Văn hóa huyện Lư Giang, tỉnh An Huy, Trung Quốc tham quan chỉ giáo. Cảm ơn mọi người!
Kính chúc các vị đại diện của các quốc gia Các vị khách quý tôn kính,
Thân thể khỏe mạnh Cát tường như ý
Thích Tịnh Không
Viện trưởng Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Giáo sư danh dự Đại học Queensland, Đại học Griffith Úc Châu
(Cẩn dịch: Hoàng Anh Việt)
Phước Huệ Viên Mãn
Nguyên văn Mặc bảo: [Phật là phước tuệ viên mãn, Đại thừa biểu thị đại trí tuệ, Vô Lượng Thọ biểu thị đệ nhất đại đức, trang nghiêm chính là chân thiện mỹ tuệ. Những điều này thảy đều do tất cả chúng sanh vốn tự đầy đủ, nhưng vì vọng tưởng chấp trước, mà không thể chứng được. Bậc Thánh Phật dạy người, tu tâm thanh tịnh, bình đẳng, từ bi; thực hành thập thiện, lục độ, lợi sanh, thì có thể tự chứng đại giác, gọi là thành Phật. Thế thì tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật, đây là Phật-đà. Tôn chỉ giáo dục của Phật-đà là như vậy. Kinh Đại thừa Vô Lượng Thọ, là sách trị yếu của Ngài, thế pháp Phật pháp thảy đều nằm trong đó. Trí tuệ, lý niệm, phương pháp, kinh nghiệm về cách vật trí tri thành ý chánh tâm, tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ, chân tướng xuất thế pháp, khoa học triết học cứu cánh viên mãn, cũng thảy đều nằm trong đó. Lấy không hết, dùng không cạn. Cần biết kinh Phật là sách đại trí tuệ, là sách đại phước đức. Tổ tiên của chúng ta là bậc đại phước tuệ, hiếu thân tôn sư trọng đạo, đã du nhập nền giáo dục Phật-đà hiếm có bậc nhất. Giáo hóa dẫn dắt con cháu thành Thánh thành Phật, ân đức như vậy, không biết lấy gì đền đáp, chúng ta nay may mắn được nghe, sao dám không tin nhận phụng hành. Tự lợi lợi tha, tín nguyện niệm Phật, cùng sanh Tịnh độ, đây gọi là người thật sự báo ân.]
Pháp thế gian và xuất thế gian không thể không có phước báo, Phật pháp ở thế gian, là để giúp đỡ tất cả chúng sanh lìa khổ được vui, không có phước thì khổ rồi, cho nên Phật luôn luôn trước tiên khuyên người tu phước. Ở thế gian và xuất thế gian, phước báo của ai là lớn nhất? “Trên trời dưới trời không ai bằng Phật”, không có ai có thể so sánh với Phật, Phật là phước tuệ cứu cánh viên mãn. Cổ Thánh tiên Hiền nói “lượng lớn phước lớn”.
Lượng nhỏ, dẫu có phước lớn, họ cũng hưởng không được lâu. Tâm lượng của Phật là “tâm trùm thái hư, lượng trùm pháp giới”, Ngài là tâm lượng vốn dĩ y nguyên của tự tánh. Đại sư Hiền Thủ trong “Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán” nói với chúng ta ba loại châu biến, đây là tánh đức, thứ nhất là “châu biến pháp giới”, thứ ba là “hàm chứa cả không và có”, cái lượng này chính nằm ở “hàm chứa cả không và có”, phước báo này lớn biết bao! Cho nên phước báo đại phú đại quý ở nhân gian và trên trời đều là tu trong cửa Phật.
Thành Phật gọi là Lưỡng Túc Tôn, lưỡng chính là trí tuệ, phước đức, túc chính là viên mãn, trí tuệ viên mãn, phước đức viên mãn, liền thành Phật rồi. Chúng ta học Phật chính là cầu phước cầu tuệ, phước tuệ viên mãn mới có thể phổ độ chúng sanh. Có tuệ không có phước, không độ được chúng sanh, có phước không có tuệ, cũng không độ được chúng sanh, nhất định phải phước tuệ viên mãn. Học Phật thật sự nắm bắt được thời gian, một ngày cũng không luống qua, mười năm thành công, chính là điều người xưa nói “mười năm đèn sách, một lần cử thế thành danh”. Người đọc sách thế gian là mười năm thành tựu, tu hành Phật pháp cũng là mười năm, mười năm này cắm rễ sâu chắc, thành tựu giới định trí tuệ của chính mình.
Giới là đức hạnh, định là tam muội, tuệ là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Thật sự tu hành y theo phương pháp này, mười năm không thể nào không có thành tựu, nếu như không có thành tựu, bạn đã dùng sai tâm rồi. Trong mười năm tuy là một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu, thế nhưng trong công phu của bạn nhất định có xen tạp, tâm không thanh tịnh, không bình đẳng, cho nên thành tựu liền không thù thắng.
Nếu như tâm địa của bạn thật sự là bảo trì thanh tịnh bình đẳng, thì thành tựu đó là chân thật, thành tựu đó là đáng để người ta tán thán. Hy vọng các bạn đồng học thật sự có chí hướng làm bậc Thánh, làm bậc Hiền, làm Bồ-tát, làm Phật, hãy nghiêm túc học tập mười năm liền thành công rồi. Hiện tại có đĩa quang, có chú giải giúp đỡ bạn, phải tin tưởng một kinh thông tất cả kinh thông. Bắt đầu từ một môn, một môn cắm rễ, không thể học quá nhiều, học quá nhiều thì học tạp mất rồi, tư tưởng lộn xộn, không thể đắc tam muội, không thể khai trí tuệ. Tuân thủ lời dạy bảo của người xưa, thì có thể thành công; nếu tự cho mình là thông minh, mười năm sẽ luống qua, thứ gì cũng không đạt được.
“Một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu”, phải chọn kinh điển Đại thừa. Vì sao vậy? Kinh điển Đại thừa mỗi một bộ kinh đều thông đạt tự tánh, nói cách khác, mỗi một pháp môn, mỗi một bộ kinh Đại thừa đều có thể giúp bạn minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ. Kinh Kim Cang nói: “Pháp môn bình đẳng, không có cao thấp”, pháp môn Đại thừa bình đẳng, không có cao thấp, bạn thích bộ nào, chỉ cần một môn thâm nhập đến cùng, thì có thể minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật, chứng được Phật quả.
Đại thừa biểu thị đại trí tuệ, trí tuệ của Đại thừa, chính là trí tuệ vốn đầy đủ của tự tánh, trí tuệ lớn cỡ nào? Có thể thấu suốt ngọn nguồn của tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, nói cách khác, đối với tất cả pháp thế gian và xuất thế gian triệt để thông đạt thấu rõ. Dùng lời tán mỹ Thần của tôn giáo thông thường, có một câu nói như vậy, “không gì không biết, không gì không thể làm, toàn tri toàn năng”, đây là ý nghĩa của Đại thừa. Có thể thấy không có trí tuệ thì không thể nào có đại đức, đại năng, đại phước. Từ đây có thể biết, trí tuệ là thứ nhất, trí tuệ có thể xuất sanh đại đức, đại năng, đại phước đức, đây chính là quan niệm giá trị mà chúng ta hiện nay nói. Quan niệm giá trị của Phật pháp là đại trí tuệ, học tập Phật pháp không cầu gì khác, là cầu trí tuệ, có trí tuệ, thì mọi thứ thảy đều đầy đủ.
Vô Lượng Thọ, “thọ” là một loại phước báo, cổ nhân chúng ta thường nói ngũ phước lâm môn, thứ nhất của ngũ phước là thọ. Tổ sư đại đức xưa nay giới thiệu Thế giới Tây phương Cực Lạc với chúng ta, nói đệ nhất đại đức của Tây phương Tịnh độ là gì? Tuổi thọ dài lâu. Phàm là người sanh đến Thế giới Tây phương Cực Lạc, tuổi thọ bằng với Phật. Đây là đệ nhất đức của Tây phương thế giới! Chỉ dựa vào điều này, Thế giới Tây phương Cực Lạc không thể không đi. Vô Lượng Thọ mà danh hiệu Phật hiển thị là chủ thể, nếu như không có tuổi thọ, thì tất cả vô lượng đều tan vỡ, ai đi hưởng thụ đây? Cho nên tuổi thọ là thể của tất cả vô lượng, có tuổi thọ, thì mọi vô lượng mới có thể đạt được sự thọ dụng.
Trang nghiêm, “trang là cung vậy, chánh vậy, thịnh sức vậy; nghiêm, tôn vậy, túc vậy, trang vậy. Có thể thấy hai chữ trang nghiêm, có thể dùng tục ngữ giải thích là dùng sự tôn trọng, cung kính, chánh túc v.v. thiện mỹ, mà trang sức nó”. Người thế gian chúng ta thường nói chân thiện mỹ, không có tuệ, chân thiện mỹ sẽ không viên mãn, thêm vào tuệ, chân thiện mỹ liền viên mãn rồi. Thế giới Cực Lạc, bốn chữ chân thiện mỹ tuệ thảy đều làm đến cứu cánh viên mãn, không suy yếu không biến đổi.
Thế gian này của chúng ta vì sao không có? Hoàn cảnh là do tâm tánh biến hiện ra, tâm của chúng ta không phải chân thiện mỹ tuệ. Tâm không chân, vọng tâm, hư tình giả ý, tâm không có chân; thiện, từ sáng đến tối khởi ác niệm, đánh vọng tưởng, lấy đâu ra thiện? Mỹ, thì càng không cần phải nói rồi, mê hoặc điên đảo, không có trí tuệ. Thế giới Tây phương Cực Lạc có sự thật này. Tu như thế nào? Dùng “một câu Di Đà, trang nghiêm tự tâm, thanh tịnh tự tâm”, chính là dùng một câu Phật hiệu này tu tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm giác ngộ.
Cho nên “thanh tịnh bình đẳng giác” thảy đều dùng một câu Phật hiệu này để tu, chân tâm dùng phương pháp A Di Đà Phật này để tu, thiện tâm cũng dùng A Di Đà Phật để tu, mỹ tâm, tuệ tâm thì dựa vào một câu A Di Đà Phật này, toàn bộ đều viên mãn đầy đủ. Pháp môn thù thắng như vậy, trong tất cả kinh luận thảy đều không tìm thấy. Trong tất cả kinh, có bộ chỉ đơn thuần dạy bạn tu tâm thanh tịnh, chưa chắc có thể đắc bình đẳng; có bộ dạy bạn tu tâm bình đẳng, chưa chắc có thể sanh trí tuệ; duy chỉ một câu A Di Đà Phật này, một bề tu thảy đều tu, điều này thật quá kỳ diệu rồi. Cho nên học Phật không tiêu cực, học Phật tuyệt đối không trốn tránh hiện thực, Phật pháp là cuộc sống chân thiện mỹ tuệ, là cuộc sống hạnh phúc an vui mà trong tâm mọi người đều hướng về.
Nói từ trên lý, trí tuệ đức tướng của chư Phật Như Lai là tất cả chúng sanh vốn tự đầy đủ. Thế Tôn nói trên Kinh Hoa Nghiêm: “Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng của Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng được”. Chỉ cần chúng ta đem vọng tưởng phân biệt chấp trước buông xuống, thì chẳng phải thành Phật rồi sao? Trí tuệ đức tướng của tự tánh liền hiện tiền, chân tướng của thế giới Cực Lạc chính là sự việc như vậy. Thế giới Cực Lạc, A Di Đà Phật, cùng với tất cả người vãng sanh, đều đem vọng tưởng phân biệt chấp trước buông xuống rồi, cho nên thế giới Cực Lạc là chỗ thành tựu từ tâm thanh tịnh tự tánh của A Di Đà Phật, đồng thời cũng là chỗ thành tựu từ tâm thanh tịnh tự tánh của chính mỗi một người vãng sanh. Tâm thanh tịnh của chính mình và tâm thanh tịnh của Di Đà là một tâm, một tự tánh thanh tịnh viên minh thể, từ một thể khởi lên hai tác dụng, không thể nghĩ bàn.
Chúng ta muốn ở trong một đời này thật sự đạt được lợi ích chân thật rộng lớn sâu mầu, nhất định phải tu tâm thanh tịnh, phải tu tâm bình đẳng, phải tu tâm từ bi, dùng phương pháp gì để tu? Dùng một câu Phật hiệu này, đem tâm xen tạp, tâm tán loạn, tâm ô nhiễm niệm rơi mất, khôi phục thanh tịnh, bình đẳng, giác của chính mình, như vậy mới có thể vãng sanh bất thoái thành Phật.
Hành môn có tự lợi, có lợi tha, phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, là tự lợi; đoạn mười ác, tu mười thiện, là tự lợi; vì người diễn thuyết là lợi tha. Tự lợi và lợi tha là một sự việc, không phải hai sự việc, là vĩnh viễn không thể tách rời. Việc bạn tự làm chính là làm tấm gương tốt cho người khác xem, tôi là đệ tử Phật, trong cuộc sống hàng ngày, đi đứng nằm ngồi đều có quy củ, đều có thể làm mô phạm, làm điển hình cho tất cả chúng sanh, đây chính là chân thật lợi lạc hữu tình, đây là sự nghiệp của Bồ-tát. Học hạnh Bồ-tát, bắt tay làm từ đâu? Bắt tay làm từ “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp”.
“Thập Thiện Nghiệp Đạo” là xây dựng trên nền tảng của “Đệ Tử Quy” và “Cảm Ứng Thiên”, giống như xây tòa nhà lớn, tầng thứ nhất là “Đệ Tử Quy”, tầng thứ hai là “Cảm Ứng Thiên”, tầng thứ ba là “Thập Thiện Nghiệp Đạo”, tầng thứ tư là “Sa-di Luật Nghi”. Không có tầng thứ nhất làm sao có tầng thứ hai? Không có tầng một, hai, đương nhiên liền không có tầng ba, bốn, lúc này mới biết được tính chất quan trọng của “Đệ Tử Quy” đối với việc học Phật. Nếu không, đem Phật pháp biến thành một loại tri thức, không phải trí tuệ, học một đời vẫn cứ là tri kiến phàm phu, tâm mà bạn dùng, khởi tâm động niệm là tâm luân hồi, tâm luân hồi tạo nghiệp luân hồi, làm sao có thể có thành tựu? Quả nhiên là đem bốn cái rễ cắm cho thật tốt, bộ Kinh “Vô Lượng Thọ” này, một môn thâm nhập, một đời không thay đổi, bám chặt không buông, thành tựu của bạn chư Phật đều tán thán! Bộ kinh này thông rồi, thì tất cả kinh thảy đều thông, pháp thế gian cũng thảy đều thông. Học vấn này, mỗi người đều có thể học, mỗi người đều có thể tu được.
Tứ Thư là kết tinh trí tuệ của tổ tiên chúng ta, đây là giảng về lý luận: đạo trung dung. Đạo trung dung ứng dụng ở những phương diện nào? “Đại Học” nói: “Cách vật, trí tri, thành ý, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” thảy đều không tách rời “Trung Dung”. Đạo trung dung quá lớn rồi, chính là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế mà kinh Đại thừa giảng, là chỗ thực hành của chư Phật và Pháp thân Bồ-tát, tự hành hóa tha, không gì là không viên mãn. Phật pháp Đại thừa hoàn toàn nằm trong bộ Kinh “Vô Lượng Thọ” này, nói đến “trí tuệ, lý niệm, phương pháp, kinh nghiệm, hiệu quả của cách vật, trí tri, thành ý, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, “Vô Lượng Thọ Kinh” thảy đều đầy đủ.
Bộ kinh này dùng ở pháp thế gian, giúp đỡ chúng ta một đời thành Phật; dùng ở pháp thế gian, nó có thể chỉ đạo bạn trị quốc, bình thiên hạ. Phân lượng của bộ kinh điển này đối với người hiện đại mà nói là vô cùng vừa vặn, không dài cũng không ngắn, nội dung phong phú. “Quần Thư Trị Yếu” là tinh hoa của văn hóa truyền thống, bộ “Vô Lượng Thọ Kinh” này là “Quần Thư Trị Yếu” của toàn bộ kinh Phật. Một đời này của chúng ta may mắn gặp được, phải nghiêm túc học tập, ở thế gian liền thành Thánh nhân, Hiền nhân; xuất thế gian, bạn liền thành Phật, thành Bồ-tát. Đây thật sự là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh mà Tiên sinh Phương Đông Mỹ nói, không có gì cao hơn điều này nữa.
Phật giáo là gì? Dùng lời của Tiên sinh Phương Đông Mỹ nói, là triết học cao nhất, khoa học cao nhất, mục tiêu cuối cùng mà khoa học và triết học theo đuổi, hóa ra chính là Phật pháp. Thật sự có thể giải quyết vấn đề, đối với cá nhân chúng ta mà nói, giải quyết vấn đề sanh tử, bệnh tật đau khổ. Nói đến vũ trụ, thế giới bao la, vũ trụ vô cùng tận, không có bờ mé, là do tự tánh biến hiện ra, là do tâm tưởng của chính mình sanh ra, không can dự gì đến người khác, hóa ra toàn bộ là việc của nhà mình.
Giáo dục Thánh Hiền và giáo dục khoa học kỹ thuật hoàn toàn không giống nhau, khoa học kỹ thuật không cần tâm chân thành, tâm cung kính, giáo dục Thánh Hiền thì cần. Đại sư Ấn Quang nói: “Một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”, bạn mang theo sự nghi ngờ, nghi ngờ càng nhiều càng rắc rối. Làm thế nào có thể khiến chúng ta không nghi ngờ? Đây là vấn đề lớn. Các nhà khoa học cận đại quả thực rất tài ba, kết luận mà họ nghiên cứu đạt được cùng với những gì giảng trên kinh Phật là hoàn toàn giống nhau; nói cách khác, nguồn gốc của vũ trụ mà trên kinh Phật giảng, đã được nhà khoa học chứng minh rồi. Phật giảng từ 3.000 năm trước, cùng với những phát hiện của nhà khoa học trong 30 năm gần đây, là hoàn toàn giống nhau.
Khoa học, vật lý học hiện tại, là phát triển theo hai phương hướng, một là hướng đến vô cùng lớn, nghiên cứu vũ trụ vĩ mô. Họ dùng thiết bị tinh vi hiện đại quan sát vũ trụ, vũ trụ mà họ có thể quan sát được, thực tế chỉ là 10% của toàn bộ vũ trụ, còn có 90% vũ trụ biến mất rồi. 90% biến mất rồi, đi về đâu? Họ không biết. Những gì họ có thể phát hiện, có thể nhìn thấy đều là có hình tướng. Phật nói, hình tướng của vũ trụ vĩ mô đến tột cùng, là cõi Thật Báo Trang Nghiêm. Cõi Thật Báo nâng cao thêm, là Thường Tịch Quang, Thường Tịch Quang không có hình tướng, họ nhìn không thấy. Chúng ta biết được, 90% đó quay về Thường Tịch Quang rồi, họ tìm không thấy. Ngược lại, là nghiên cứu cơ học lượng tử, chính là thế giới vi mô.
Phật nói rồi, giới hạn của thế giới vi mô là A-lại-da, là nguồn gốc của vũ trụ, là nguồn gốc y chánh trang nghiêm của mười pháp giới, dùng thức về ý có thể nhìn thấy. Giới hạn thật sự đã bị họ nhìn thấy rồi, tam tế tướng của A-lại-da, cảnh giới tướng chính là hiện tượng vật chất, hiện tượng tinh thần chính là chuyển tướng của A-lại-da, nghiệp tướng của A-lại-da chính là năng lượng. Nghiệp tướng rốt cuộc là gì, nhà khoa học chưa nói rõ ràng, trên kinh Phật giảng được rất rõ ràng. Cho nên, kinh Phật có triết học cứu cánh viên mãn, có khoa học cứu cánh viên mãn, nó thật sự là giáo dục khoa học triết học bậc cao, nó không phải là tôn giáo.
Phật Bồ-tát không phải là thần tiên, Phật Bồ-tát nếu dùng lời hiện đại mà nói, chính là nhà khoa học và nhà triết học. Phật là thầy giáo, chúng ta tiếp nhận sự dạy bảo của Ngài, Ngài là người sáng lập của học phái này. Những gì Phật giáo mang đến cho con người, quả thực giống như lời Tiên sinh Phương Đông Mỹ đã nói, là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh. Bạn thảy đều thông đạt thấu rõ, mảy may không mê hoặc, bạn sống ở thế gian này không có phiền não, không có âu lo, không có vướng bận, không có bất kỳ áp lực nào, cuộc sống mỹ mãn, hạnh phúc biết bao. Phật pháp là một môn đại học vấn, là một môn học vấn cứu cánh, viên mãn, triệt để.
Tổ tiên của chúng ta có đại trí tuệ có đại phước đức, trong dòng sông dài lịch sử 5.000 năm của dân tộc Trung Hoa, đời đời đều có Thánh Hiền xuất hiện, họ không những dùng đức dày che chở cho con cháu đời sau, khiến dân tộc Trung Hoa trường tồn không suy, mà còn lưu lại cho con cháu đời sau kho tàng trí tuệ, giáo hối và văn hóa vô cùng phong phú. Trong những kho tàng trí tuệ, giáo hối và văn hóa này, quan trọng nhất chính là nền giáo dục hiếu, hiếu thân tôn sư trọng đạo, đối với hiếu đạo, sư đạo thật sự có tâm chí thành cung kính.
Trong “Hiếu Kinh” của nhà Nho nói, “ôi hiếu, là cái gốc của đức, là chỗ sinh ra giáo hóa”. Giảng hiếu đạo là căn bản của đạo đức, giáo hóa cần phải bắt đầu từ dạy hiếu, là chí đức yếu đạo để Cổ Thánh tiên Vương làm hài hòa thiên hạ. Chính vì chúng ta có cội rễ của chữ hiếu, cho nên sau khi tổ tiên thỉnh Phật pháp đến nước ta, Phật pháp liền có được kết quả cắm rễ nở hoa, đồng thời phát huy rạng rỡ tại nước ta.
Trên Kinh Hoa Nghiêm của nhà Phật cũng nói: “Dạy người hiếu kính, ngầm ích muôn phương”, cho nên bậc Thánh Hiền của thời đại đó, ngày ngày giảng kinh, ngày ngày dạy học, thảy đều dạy tốt con người rồi, con người đều không có vọng tưởng, đều không có tạp niệm, khởi tâm động niệm đều có thể phù hợp tiêu chuẩn đạo đức. Tiêu chuẩn này chính là ngũ luân, ngũ thường, tứ duy, bát đức, ở trong Phật pháp chính là ngũ giới, thập thiện, lục độ, thập nguyện, tiêu chuẩn này, họ đều có thể phù hợp, thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc, tai nạn không khởi.
Lão tổ tông chúng ta hiểu được, lão tổ tông đưa ra “Dựng nước quản dân, dạy học làm đầu “. Các thiết chế chính trị của quốc gia thảy đều là phục vụ cho giáo dục. Tất cả vì giáo dục, thì xã hội an định, thiên hạ thái bình. Do đó quốc gia chúng ta đã từng có thời kỳ thái bình thịnh trị.
Cho nên muốn nhân dân hòa thiện, xã hội hài hòa, sự việc quan trọng hàng đầu chính là ra sức đề xướng nền giáo dục hiếu đạo. Bản thân thật sự có thể sức lực thực hành hiếu kính, tuyên dương hiếu đạo, hiếu tâm, thiện ý trùm khắp vũ trụ, toàn thể chúng sanh khắp hư không pháp giới đều có thể được lợi ích, huống hồ là Trái Đất! Đệ tử trong cửa Phật chúng ta, phải nỗ lực thực tiễn hiếu đạo, mới có thể không phụ lòng tổ tiên chúng ta, không phụ lòng sự dạy bảo ân cần của Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật pháp, là một vòng khâu vô cùng thù thắng trong văn minh tinh thần, đọc kinh Đại thừa, để chúng ta mới có nhận thức đối với sự từ bi của Phật Bồ-tát, trí tuệ của Phật Bồ-tát, sự thiện xảo phương tiện của Phật Bồ-tát, biết được sự chăm sóc của Phật Bồ-tát đối với chúng sanh thời Mạt pháp chúng ta, ân đức vô lượng, tâm tri ân của chúng xuất sanh. A Di Đà Phật trong đời quá khứ, đời đời kiếp kiếp cần khổ tu hành, phát 48 nguyện, thành tựu Thế giới Tây phương Cực Lạc, chính là vì một mình tôi, không phải vì người khác. Cho nên tôi phải tri ân, phải trực hạ thừa đương, điểm này quá quan trọng rồi! Ý niệm này thật thân thiết biết bao, như vậy mới gọi là một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật.
A Di Đà Phật thật sự không phải vì người khác, mà chính là vì ta. Ta trong quá khứ đời đời kiếp kiếp vô tri, không biết tri ân, không biết thiện tâm thiện nguyện của A Di Đà Phật là vì ta, không có nghiêm túc học tập, đã phụ lòng A Di Đà Phật, phụ lòng tổ tông. Hiện tại biết rồi, rõ ràng rồi, quyết định phải báo ân Phật, báo ân tổ tông, báo ân chính là quyết định phải vãng sanh Cực Lạc, quyết định phải thân cận Di Đà, đây là người thật sự báo ân.
(Cẩn dịch: Hoàng Anh Việt)
Làm Thế Nào Để Truyền Thông Trở Thành Thiên Sứ Hòa Bình
Lão giáo sư Tịnh Không giảng tại Diễn đàn Toàn cầu của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
Chủ đề diễn đàn: “Sức mạnh của hòa bình – Lấy kỹ thuật thông tin viễn thông thúc đẩy hòa bình”
Ngày 21 đến 23 tháng 1 năm 2007, đảo Bali, Indonesia
Kính thưa Ngài Abdul Waheed Khan, Phó Tổng Giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO,
Kính thưa Nữ hoàng Jordan Rania Al Abdullah bệ hạ,
Kính thưa Ngài Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono các hạ,
Kính thưa các vị khách quý cùng chư vị đại đức:
Xin chào mọi người!
Lần này Tịnh Không may mắn được đại hội mời tham gia Diễn đàn Toàn cầu của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc với chủ đề “Sức mạnh của hòa bình–Lấy kỹ thuật thông tin viễn thông thúc đẩy hòa bình”, vô cùng cảm ơn!
- Then chốt cho sự tồn vong của thế giới nằm ở truyền thông
Người xưa nói: “Nước có thể nâng thuyền, cũng có thể lật thuyền”. Truyền thông giống như nước, có thể cứu vãn thế giới, cũng có thể hủy diệt thế giới. Bản thân truyền thông là trung tính, không có thiện cũng không có ác. Nội dung mà người chủ trì phát sóng là chính diện, thì có thể cứu vãn thế giới. Nội dung phát sóng đa phần là tiêu cực, thì sẽ hủy diệt thế giới. Do đó, tôi đã từng nói chuyện với ông Lưu Trường Nhạc, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của đài truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng rằng, hiện nay có hai loại người chủ đạo việc hủy diệt thế giới và cứu vãn thế giới. Một là lãnh đạo quốc gia, hai là người chủ trì truyền thông. Có rất nhiều vị lãnh đạo quốc gia, những bậc chí sĩ nhân nhân đã cảnh giác sâu sắc rằng: Nội dung truyền thông bạo lực sắc tình, có sự nguy hại cực lớn đối với trật tự xã hội, sự an định của lòng người, đặc biệt là tàn hại thân tâm của thanh thiếu niên, ảnh hưởng sâu xa, đủ để hủy diệt dân tộc quốc gia, cho đến hủy diệt thế giới.
Điều khiến người ta lo âu sâu sắc là, nhiều năm nay, rất nhiều phương tiện truyền thông trên toàn cầu đều lấy việc phát sóng những nội dung tiêu cực như bạo lực sắc tình, sát, đạo, dâm, vọng v.v. làm chủ. Nội dung chính diện vô cùng thiếu thốn. Con người tai nghe mắt thấy, quen với việc theo đuổi sự kích thích, cuồng dã thành tính. Muốn chuyển đổi lòng người, cần phải có thời gian, khéo léo dẫn dắt; tuyệt đối không phải một sớm một chiều mà có thể thành tựu.
Thấy được tính chất quan trọng của truyền thông, 20 năm trước, chúng tôi đã thành lập “Thư viện Nghe nhìn Hoa Tạng” nhỏ bé, 10 năm trước, bắt đầu tận dụng mạng lưới internet để dạy học. Năm 2003 mới có đồng học phát tâm thành lập Đài Truyền hình Vệ tinh Hoa Tạng, đến nay đã được 4 năm. Tất cả các chương trình giảng dạy trên mạng lưới internet, truyền hình vệ tinh, đĩa quang, video, thảy đều không ngoài nội hàm giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ, khoa học của bậc Thánh Hiền.
Lấy sức mạnh dân gian để làm công tác giảng dạy từ xa, các nguồn lực như nhân lực, vật lực, tài lực v.v. của chúng tôi đều vô cùng ít ỏi. Nhưng điều khiến người ta cảm thấy an ủi là, mấy chục năm nay, sự nỗ lực này cũng đã tạo ra một số ảnh hưởng. Càng khẳng định thêm vai trò quan trọng mà phương tiện truyền thông đại chúng đóng góp đối với sự an định của xã hội, hòa bình của thế giới.
- Kiến nghị về tính khả thi của giáo dục truyền thông
Hội nghị lần này, chủ yếu là Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc có ý định ủng hộ giáo dục truyền thông, hy vọng thiết lập một cơ quan truyền thông hoàn toàn phát sóng những nội dung chính diện. Đây là một sự khởi đầu rất tốt, biểu thị những nhân sĩ trong xã hội rất xem trọng vấn đề về những giáo đạo tiêu cực hiện nay. Do đó nguyện đối với hội nghị lần này đóng góp chút sức lực nhỏ bé của mình, chân thành ủng hộ, hưởng ứng việc làm tốt đẹp này!
Trọng điểm của hội nghị lần này là việc thiết lập các thiết bị phần cứng, thuộc về bước thứ nhất. Nhờ sự có nhã ý mời của đại hội, Tịnh Không tuy tuổi đã hơn 80, nhiệm vụ giảng kinh dạy học mỗi ngày rất nặng nề, nhưng vẫn quyết định cử đại diện tham gia, cẩn thận hiến dâng chút thu hoạch của kẻ ngu này học được trong gần 50 năm qua, để cung cấp cho các đồng nghiệp tham gia hội nghị tham khảo.
Tịnh Không thường nói: Truyền hình vệ tinh trên mạng và truyền thông kỹ thuật cao, là thủ đoạn phương pháp. Làm thế nào để làm phong phú các thiết bị phần mềm, thì nên lấy việc thành lập nhóm chuyên môn, thu thập tài liệu, biên tập giáo trình Thánh Hiền, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tốt về giáo dục Thánh Hiền làm điều quan trọng nhất. Tịnh Không kiến nghị chư vị lãnh đạo quốc gia, những bậc chí sĩ nhân nhân nếu vì cứu vãn kiếp nạn của thế giới, phát tâm làm thật, thì nên có một tổ chức trù hoạch đẩy mạnh lâu dài, thảo luận thực tiễn nội dung phát sóng truyền thông ngày một đổi mới, đó nên là luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ, khoa học; đây mới thật sự là nội dung giáo dục trọng điểm.
Sau đó do các quốc gia cử một vị đại diện, thành lập nhóm thẩm tra. Thẩm tra nội dung mà các thầy cô giáo giảng nói, chỉ cần có lợi cho việc tịnh hóa lòng người, xã hội tường hòa, quốc gia an định, thế giới hòa bình, thì có thể phát sóng. Nhân viên của nhóm thẩm tra, cần phải mỗi ngày nghe các thầy cô giáo giảng bài, trường kỳ huân nhiễm giáo dục Thánh Hiền, thì mới không đến nỗi bị thiếu am hiểu. Nội dung giảng học sau khi trải qua sự thẩm tra của đại diện các nước, thì có thể phát sóng hướng đến toàn cầu. Không có bản quyền, hoan nghênh lưu thông. Bởi vì quyền sở hữu trí tuệ của Cổ Thánh tiên Hiền, nên thuộc về sở hữu chung của toàn nhân loại, tuyệt đối không phải là sở hữu riêng của một cá nhân nào.
Phát sóng nội dung giáo dục xã hội thuần tịnh thuần thiện, quan trọng nhất là ai đến dạy? Ai đến giảng? Tôn chỉ, nội dung, phương thức, hiệu quả của việc dạy học là gì? Do đó, thiết lập cơ quan chuyên môn để trù hoạch lãnh đạo, bồi dưỡng đội ngũ dạy học, bồi dưỡng nhân tài, biên soạn giáo trình, thiết lập chế độ thẩm tra, là sự việc lớn bức thiết nhất, quan trọng nhất. Nếu không dẫu cho đã thành lập đài truyền hình rồi, cũng dễ dàng rơi vào việc nói suông, không thể tạo ra hiệu ích thực chất. Cần phải thành lập một trung tâm bồi dưỡng giáo viên tốt, hoàn toàn cung cấp miễn phí những thứ cần thiết trong đời sống hàng ngày của thầy cô giáo, hộ trì các thầy cô giáo chuyên tâm học tập, mỗi ngày giảng bài.
- Sự khải thị từ cuộc thử nghiệm ở một thị trấn nhỏ
Tháng 11 năm 2005, chúng tôi tại thị trấn nhỏ Thang Trì, huyện Lư Giang, tỉnh An Huy, Trung Quốc, đã mở một trung tâm giáo dục văn hóa; làm điểm thử nghiệm cho nền giáo dục Thánh Hiền truyền thống của Trung Quốc. Các thầy cô giáo của trung tâm đa phần đều có kinh nghiệm giảng dạy, mà không có tâm danh lợi, lập chí “vì bậc Thánh xưa nối tiếp đạo học đã dứt, vì muôn đời mở ra thái bình”. Đối với cư dân thị trấn nhỏ làm ra sự giáo hóa mô phạm, nửa năm liền thu được hiệu quả vô cùng tốt đẹp. Nghe nói Liên Hiệp Quốc tại New York có ý định thành lập thành phố mô phạm về hòa bình thế giới tại Như Cao, tỉnh Giang Tô. Thế thì kinh nghiệm giảng dạy, thành quả giáo hóa của Lư Giang, có lẽ có thể cung cấp cho mọi người tham khảo.
Tịnh Không chân thành kính mời các vị lãnh đạo quốc gia, các chuyên gia học giả cùng các bậc chí sĩ nhân nhân có chí hướng đối với sự an định của xã hội, hòa bình của thế giới cùng nhau đến thị trấn Thang Trì, huyện Lư Giang, tỉnh An Huy, Trung Quốc để tham quan chỉ giáo. Tịnh Không sẽ dẫn dắt các thầy cô giáo của trung tâm cung cấp kinh nghiệm giảng dạy, nội dung giáo trình v.v., để làm tài liệu tham khảo cho việc thực tiễn hóa giải xung đột, thúc đẩy xã hội an định hài hòa.
Kinh Phật nói “cảnh tùy tâm chuyển”, “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”. Đạo lý này, chúng ta đã nhận được sự chứng minh trong báo cáo thí nghiệm về nước của nhà khoa học Nhật Bản là Tiến sĩ Masaru Emoto. Tiến sĩ Emoto thông qua hàng trăm ngàn lần thí nghiệm, đã chứng minh được nước có thể thấu hiểu ý niệm của con người, biết xem chữ viết, biết nghe âm thanh, do đó sinh ra các kết tinh (phản ứng) không giống nhau. Tinh thể nước dưới ý niệm và chữ viết thiện thì rất đẹp đẽ, mà tinh thể nước dưới ý niệm và chữ viết ác thì rất xấu xí. Lại phát hiện kết tinh sinh ra từ ý niệm “biết ơn” và “yêu thương” là đẹp nhất. Cho nên ông nói, “biết ơn, yêu thương” là cốt lõi của vũ trụ; lý niệm này tôi vô cùng tán đồng! Tiến sĩ Emoto còn làm một lần thí nghiệm, vào lúc 4 giờ 30 phút sáng ngày 25 tháng 7 năm 1999, tại khu vực vịnh hồ Biwa có mùi hôi khó ngửi, đã bị ô nhiễm suốt 20 năm qua, ông đã tập hợp 350 người, đối mặt với nước hồ làm cuộc cầu nguyện trong 1 tiếng đồng hồ. Để mọi người tập trung tâm niệm: “Nước hồ hãy sạch đi! Nước hồ hãy sạch đi!”. Trải qua vài ngày sau, nước hồ vốn dĩ ô trọc hôi thối, thật sự đã trở nên trong trẻo phẳng lặng. Ngay cả bản tin truyền hình cũng đều đưa tin, sự ô nhiễm của hồ Biwa nhiều năm nay không có cách nào giải quyết được, thì trong khoảng thời gian này lại có sự chuyển biến tốt lên một cách rõ rệt. Tuy rằng, sự sạch sẽ của nước hồ Biwa chỉ duy trì được nửa năm, nhưng thí nghiệm này đã mang lại cho chúng ta sự khích lệ rất lớn. Chúng tôi tin sâu, toàn thể vũ trụ là một cơ thể hữu cơ, nếu như có thể tận dụng truyền thông để đem giáo dục Thánh Hiền thúc đẩy phổ cập trên toàn cầu, khiến cho càng có nhiều người có thể thường giữ thiện tâm, thường giữ lòng biết ơn và tâm yêu thương, thường làm việc thiện, đồng thời thường vì Trái Đất mà chúng ta đang sinh sống, làm sự cầu nguyện hòa bình, thì ắt có thể hóa giải thiên tai nhân họa, khiến cho toàn bộ sinh thái tự nhiên khôi phục lại sự cân bằng, xã hội nhân văn hài hòa an định, cảnh tượng tốt đẹp lại tái hiện!
Kính chúc
Ngài Abdul Waheed Khan
Nữ hoàng Rania Al Abdullah bệ hạ
Ngài Susilo Bambang Yudhoyono các hạ, sự nghiệp chính trị hanh thông, thân thể khang thái!
Các vị khách quý cùng chư vị đại đức thân thể khỏe mạnh cát tường như ý!
Thích Tịnh Không AM
Tiến sĩ danh dự Đại học Hồi giáo Quốc gia Syarif Hidayatullah Indonesia
Tiến sĩ danh dự Đại học Nam Queensland, Đại học Griffith nước Úc
Viện trưởng Học viện Tịnh Tông Úc Châu
Giáo sư danh dự Đại học Queensland, Đại học Griffith nước Úc
Giáo sư thỉnh giảng Đại học Nhân Dân Trung Quốc
Sự Tốt Đẹp Thù Thắng Của Thế Giới Cực Lạc – Người Thật Sự Niệm Phật Nhất Định Vãng Sanh
“Kinh Vô Lượng Thọ” nói: “Vạn vật trong nước, trang nghiêm thanh tịnh sáng ngời đẹp đẽ, hình sắc đặc biệt thù thắng, tột cùng vi diệu, không thể cân lường.”
Cái đẹp của thế giới Cực Lạc, cái thiện của thế giới Cực Lạc, nói không hết được. Sự miêu tả của Thế Tôn trong “Tịnh Độ Ba Kinh” đối với Thế giới Tây phương Cực Lạc, chỉ lấy những gì tâm thức của chúng sanh có thể hiểu được, nêu ra đại khái, khiến cho chúng sanh mười phương, khởi tâm hâm mộ.
1. Nước không có ác đạo
Thế giới Cực Lạc không có ba ác đạo (tức là ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh). San tham là nhân của ngạ quỷ, sân khuể là nhân của địa ngục, ngu si là nhân của súc sanh. Chúng sanh Cực Lạc, nghĩ đến áo thì được áo, nghĩ đến ăn thì được ăn, thảy đều do biến hóa tạo ra, tự nhiên đầy đủ, không có tham. Thế giới Cực Lạc, đều là các bậc thượng thiện nhân cùng hội tụ một chỗ, tôn trọng lẫn nhau, hòa thuận yêu thương bảo vệ, không có sân. Sanh đến thế giới Cực Lạc, không rời việc thấy Phật, không rời việc nghe pháp, không rời việc thân cận cúng dường chúng tăng, thấy Phật nghe pháp không gián đoạn, tâm mở ý giải, trí tuệ sáng suốt, không có si. Tại Thế giới Tây phương Cực Lạc, không có ác nhân tham sân si, cho nên không có ba ác đạo.
2. Vàng ròng làm đất
Nhà ở của người thế giới Cực Lạc là cung điện bảy báu, trên đất là đất lưu ly, trên đường trải là vàng ròng, vàng ròng làm đất, rộng lớn bằng phẳng, ánh sáng trong suốt. Trên mặt đất có hàng cây bảy báu, ở giữa các hàng cây, liền có thể nhìn thấy cõi nước của vô lượng vô biên chư Phật mười phương. Không gian của cây báu không có phóng to, cõi nước mười phương không có thu nhỏ, cảnh giới này lại ngay ở trước mắt, không thể nghĩ bàn!
3. Hoa sen hóa sanh
Chúng sanh thế giới mười phương phát ra một tâm nguyện muốn cầu sanh Thế giới Tây phương Cực Lạc, trong ao sen bảy báu liền mọc ra một đóa hoa sen, trên hoa sen còn có tên của chính mình. Công phu niệm Phật càng sâu, hoa sen liền càng lớn, có một do-tuần, mười do-tuần, một trăm do-tuần, một ngàn do-tuần, có thể thấy lớn nhỏ không giống nhau, ánh sáng màu sắc không đồng nhất. Chúng ta muốn hoa sen rất lớn, rất thù thắng, phải làm thật mới được! Khi chúng ta lâm chung, A Di Đà Phật liền mang đóa hoa sen này đến tiếp dẫn, hoa sen không phải do A Di Đà Phật trồng, mà là do tịnh nghiệp của chính chúng ta biến hiện ra, ao sen bảy báu, nước tám công đức đều là hoàn cảnh tu học do A Di Đà Phật cung cấp cho chúng ta. Cho nên, người thật sự có trí tuệ, người triệt để giác ngộ, nên đem tất cả buông xuống, nghiêm túc niệm Phật.
Sanh đến thế giới Cực Lạc, từ trong hoa sen hóa sanh, cùng với những người khác của thế giới Cực Lạc giống nhau, đều là thân kim cang bất hoại, tướng mạo trang nghiêm, tuổi thọ vô lượng, thần thông đức năng gần như giống với Phật. Sự biến hóa khí hậu ở nơi đó là tùy tâm sở dục, tùy theo tâm nguyện của chính mình. Nhạc trời vang trên không trung, có những đóa hoa xinh đẹp thi nhau rơi xuống mặt đất, khắp nơi tỏa ra hương thơm kỳ diệu. Nơi đó không có bệnh tật đau khổ, không có phiền não, không có người sự vật bất thiện, an vui vô cùng.
Sanh đến thế giới Cực Lạc, A Di Đà Phật là thầy giáo của chúng ta, Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Đại Thế Chí, Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ-tát Phổ Hiền và các vị đại Bồ-tát khác là sư huynh của chúng ta, vừa đến Thế giới Tây phương Cực Lạc, liền có thể thân cận vô lượng vô biên chư Phật Như Lai, mỗi một vị Phật nói với bạn một câu pháp, liền có thể nghe được vô lượng vô biên diệu pháp; chư Phật thuyết pháp, quyết định khế cơ. Cho nên, đến thế giới Cực Lạc khai trí tuệ nhanh, khôi phục lại đức năng tướng hảo của chính mình, một đời thành tựu viên mãn Phật quả, không có bất kỳ một cõi nước Phật nào có thể so sánh với thế giới Cực Lạc.
Thế giới Cực Lạc là nơi tập hợp đại thành những điều tốt đẹp của tất cả thế giới mười phương, tất cả chư Phật Như Lai mười phương đồng thanh ca ngợi A Di Đà Phật, ca ngợi thế giới Cực Lạc, ca ngợi mỗi một người niệm Phật vãng sanh của mười phương, chúng ta vì sao lại không niệm Phật cầu vãng sanh chứ?
4. Trên không trang nghiêm
Gió thổi vào cây, cánh hoa sẽ bay xuống, trên không trung mưa hoa, đây là sự trang nghiêm trên không. Hoa rơi xuống mặt đất, tự nhiên liền trải thành tấm thảm giống như thảm hoa, tự nhiên xếp thành hoa văn, mềm mại sáng bóng. Bảy báu ở thế gian này của chúng ta đều rất cứng rắn, bảy báu của Tây phương thế giới là mềm mại, có thể dệt thành quần áo. “Như bông đâu-la, chân giẫm lên trên, lún sâu bốn ngón”, bạn đạp lên trên đó, nó sẽ lún xuống, chân nhấc lên, lại khôi phục rồi. Thời gian qua rồi, tự nhiên biến mất; qua một lát sau, lại rơi xuống hoa mới, sáu thời mưa hoa. Thế giới Tây phương Cực Lạc không có ngày đêm, không có năm tháng ngày, mỗi người đều vô lượng thọ, không suy yếu không già đi.
5. Vượt hơn mười phương
Thế giới Cực Lạc không có các thứ khổ, các loại nạn, hoàn cảnh địa lý thực sự quá tốt đẹp rồi, thật đúng như trên kinh đã nói “vi diệu kỳ lệ, thanh tịnh trang nghiêm, vượt hơn tất cả thế giới mười phương”. Vì sao vượt hơn thế giới của chư Phật mười phương? Thế giới của chư Phật mười phương là do nguyện lực của Phật và nghiệp thiện, ác, vô ký của chúng sanh biến hiện ra. Tây phương thế giới là do nguyện lực của Phật, và nguyện lực công đức của người vãng sanh thành tựu nên, là do tịnh nghiệp cảm ứng. Nhân không giống nhau, quả báo liền không giống nhau, cho nên vượt hơn tất cả cõi nước chư Phật mười phương.
Thế giới Ta-bà chúng ta đang cư trú, tràn đầy đau khổ tai nạn, chỉ có khổ không có vui, tất cả mọi niềm vui là hoại khổ, cái khổ thỉnh thoảng bị gián đoạn liền cảm thấy rất vui. Thực ra đó không phải là vui, là cái khổ tạm dừng, bạn liền cảm nhận được là vui, đây là mê hoặc điên đảo, không có làm rõ ràng chân tướng sự thật. Phật ở trên kinh hình dung nỗi khổ của cái chết, sự đau khổ khi thần thức rời khỏi thân thể, giống như con rùa sống bị lột mai vậy, cho nên khi lâm mạng chung vô cùng đau khổ. Nhưng người niệm Phật vãng sanh không chết, họ là sống sờ sờ nhìn thấy A Di Đà Phật đến rồi, hoan hoan hỷ hỷ đi theo A Di Đà Phật, thân thể không cần nữa. Sanh lão bệnh tử là nỗi khổ bên trong, trên từ đế vương, dưới đến ăn mày, mỗi người đều không thoát khỏi.
Thế giới Tây phương Cực Lạc “không có các thứ khổ, chỉ thọ hưởng các niềm vui”, không có khổ chính là vui, đây là cái duyên của Tây phương thế giới đặc biệt thù thắng. Nơi đó không có chúng sanh trong lục đạo tam đồ, cuộc sống hàng ngày chính là giảng kinh thuyết pháp, nghiên cứu thảo luận, đến thế giới mười phương trên cúng dường chư Phật, dưới hóa độ chúng sanh, không có những sự việc khác. Vĩnh viễn xa lìa các thứ khổ, tâm thanh tịnh đến tột cùng, sự thọ dụng cùng với A Di Đà Phật không có gì khác biệt.
6. Tổng kết
Đã biết được sự thù thắng của thế giới Cực Lạc, thì nên tin sâu phát nguyện, y giáo tu hành, một đời này của chúng ta chính là thân cuối cùng ở trong lục đạo luân hồi của thế giới Ta-bà này, đời sau không còn luân hồi nữa, siêu việt lục đạo rồi. Do đó, phải xem việc vãng sanh là sự việc lớn đệ nhất, những sự việc khác ở thế gian đều không đáng để nhắc đến. Chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay, một đời này gặp được pháp môn Tịnh độ, nếu như không nghiêm túc nắm bắt liền sẽ luống qua. Một đời này luống qua, tương lai lại gặp được cơ duyên này, không biết phải đợi đến kiếp nào, thật sự là “trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được”. Ý niệm gì cũng đều phải buông xuống, chỉ nắm bắt một câu Phật hiệu này, gia thân quyến thuộc (oan gia trái chủ) thân yêu nhất của bạn, bạn liền có năng lực độ hóa họ. Không thể nắm bắt cơ duyên này, ở trong lục đạo vĩnh viễn là oan oan tương báo, không bao giờ kết thúc. Vì sao không nắm bắt quang âm quý báu để thật tốt niệm Phật? Đem tất cả vọng niệm thảy đều niệm cho rơi rụng mất, chính là thật sự niệm Phật. Pháp môn Tịnh độ đối với công việc, cuộc sống của chúng ta không có chướng ngại, đi đứng nằm ngồi đều có thể niệm; lúc rảnh rỗi có thể niệm, lúc làm việc cũng có thể niệm, trong tất cả pháp môn tu hành, quả thực không có bất kỳ một pháp môn nào phương tiện như vậy.
Đời quá khứ chúng ta chưa được nghe đến Phật pháp, đã làm tổn hại đến vô lượng vô biên chúng sanh, đời nay may mắn được nghe đến pháp môn Tịnh độ, phải đem công đức đã tu học thảy đều hồi hướng cho oan gia trái chủ, hy vọng chúng ta niệm Phật, họ đừng đến quấy rối, tương lai chúng ta vãng sanh Thế giới Tây phương Cực Lạc, nhất định sẽ độ họ trước. Đồng thời cũng khuyên họ cùng với chúng ta cùng nhau phát Bồ-đề tâm, buông xuống sân hận, buông xuống ý niệm oan oan tương báo, cùng nhau chân thành niệm “Nam-mô A Di Đà Phật”, cầu vãng sanh Thế giới Tây phương Cực Lạc, vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ của lục đạo luân hồi, cùng chứng Vô thượng Bồ-đề.
Phụ lục: Làm thế nào niệm Phật
Niệm không phải là miệng niệm. Chữ “Niệm” (念), bên trên là chữ Kim (今 – hiện tại), bên dưới là chữ Tâm (心), kim tâm chính là cái tâm hiện tại, hiện tại trong tâm có Phật, gọi là niệm Phật. Trên chót lưỡi đầu môi niệm Phật, trong tâm không có Phật, thì không phải là niệm Phật.
Thế nào gọi là Phật? Đạo lý mà Phật giảng, lời giáo huấn mà Phật đã nói, cảnh giới mà Phật đã nói, hiện tại trong tâm tôi thật sự có, “niệm này ở ngay đây”, gọi là niệm Phật. Niệm Phật như vậy, mới thật sự có thể thành Phật. Phật nói: “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, trong tâm chúng ta có lời dạy bảo của Phật, có cảnh giới của Phật, là trong tâm thật sự có Phật, đương nhiên sẽ làm Phật. Niệm Phật phải niệm như vậy.
Phật hiệu là sinh khởi từ chỗ nào? Là từ tâm tin sâu phát nguyện, miệng niệm ra, tai nghe vào, trong tâm câu Phật hiệu rõ rõ ràng ràng, liền có thể nhiếp tâm, giúp đỡ chúng ta đoạn vọng tưởng, phục phiền não, có thể đắc định. Cái gọi là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”.
Câu Phật hiệu này phải niệm cho rõ ràng, từng chữ phân minh, chính là định tuệ đẳng trì, định tuệ đẳng học, là pháp môn vô thượng.
Phật ở trên “Kinh Hoa Nghiêm” nói với chúng ta, “y chánh trang nghiêm của mười pháp giới”, từ đâu mà đến? “Chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”. Trong tâm chúng ta nghĩ điều gì liền sẽ hiện cảnh giới đó. Từ đây có thể biết, trong tâm chúng ta nghĩ Phật, Phật liền hiện tiền, trên “Kinh Lăng Nghiêm” nói rất hay, “nhớ Phật niệm Phật, hiện tại tương lai, nhất định thấy Phật”, đây chính là nguyên lý niệm Phật thành Phật.
- Không đoạn phiền não, vãng sanh Thế giới Tây phương Cực Lạc, gọi là “đới nghiệp vãng sanh”. Mang theo là nghiệp cũ, không phải nghiệp mới; mang theo là nghiệp của quá khứ, không thể mang theo nghiệp hiện hành, như vậy mới có thể vãng sanh. “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, chớ tạo thêm tai ương mới”.
- Chí tâm niệm một tiếng “Nam-mô A Di Đà Phật”, có thể tiêu trừ 8 tỷ kiếp trọng tội sanh tử. Quan trọng là ở “chí tâm”, chí tâm chính là thành tâm. Tâm địa thanh tịnh, một vọng niệm cũng không có, dùng tâm thanh tịnh, tâm chí thành này niệm một tiếng Phật hiệu, có thể tiêu diệt 8 tỷ kiếp trọng tội sanh tử.
- Tâm của Phật, hạnh của Phật đều nằm ở trên kinh điển, cho nên hiểu rõ ý nghĩa của kinh điển, làm y theo lời của Phật, đây là học Phật.
- Mục tiêu thứ nhất của niệm Phật chính là phải niệm đến tâm thanh tịnh, từ sáng đến tối, niệm Phật trong tâm không đoạn tuyệt, “không nghi ngờ, không xen tạp, không gián đoạn”, thật sự làm được chín chữ này, đây chính là công phu thành phiến, quyết định vãng sanh.
(Cung kính trích lục từ tập bài giảng của Lão Hòa thượng Tịnh Không: 02-34-084, 01-03-253, 02-08-11, 01-03-214)
Cơ Học Lượng Tử Và Sự Ứng Dụng Của Phật Pháp
“Đại Kinh Giải” nói: “Bởi tâm tánh của chúng ta, lượng bằng với pháp giới, linh minh thấu suốt, vắng lặng thường hằng, dọc tột ba đời, ngang khắp mười phương.” Đây là chân tướng sự thật, tâm tánh của chúng ta, lượng bằng với pháp giới, pháp giới (chính là vũ trụ) không có bến bờ, vì sao vậy? Tâm tánh không có bến bờ, “cái lớn của nó không có bên ngoài, cái nhỏ của nó không có bên trong”, cái lớn không có bên ngoài chính là vũ trụ vĩ mô mà các nhà khoa học, nhà vật lý học hiện tại của chúng ta nói; cái nhỏ không có bên trong chính là cơ học lượng tử.
Khoa học hiện đại đã phát triển theo hai phương hướng này, một là thế giới vĩ mô, chuyên môn nghiên cứu đại vũ trụ; một là thế giới vi mô từ mặt trái ngược lại, thế giới vi mô chính là cơ học lượng tử, nghiên cứu nguồn gốc của vật chất. Thông thường chúng ta nói một tế bào, tế bào phân tích thêm thì biến thành phân tử, phân tử phân tích thêm là do nguyên tử cấu tạo thành. Nguyên tử phân tích thêm là do điện tử, hạt nhân nguyên tử cấu tạo thành, lại phân tích đến hạt cơ bản, lại phân tích đến quark, quark phân tích thêm gọi là lượng tử, lượng tử cũng gọi là photon nhỏ, hiện tại là phân tích đến đây thì dừng lại, không biết được tương lai có thể phân tích tiếp được hay không. Những phân tích này đã phát hiện ra hiện tượng vật chất hóa ra là một tướng hư ảo do những photon nhỏ này tích lũy liên tục phát sanh ra. Các nhà cơ học lượng tử nói với chúng ta, trong vũ trụ chỉ có: năng lượng, vật chất, thông tin, ba loại hiện tượng này, ngoài ra, thứ gì cũng đều không có.
3.000 năm trước, những gì Đức Phật phát hiện trong thiền định, còn lợi hại hơn nhà khoa học, nhà khoa học trước tiên từ trong toán học đạt được lý luận này, sau đó mới từ thiết bị quan sát được vật chất là từ đâu mà có? Từ không sanh có. Hơn nữa tốc độ của nó quá nhanh, trong sát-na liền không còn nữa, từ lúc sanh khởi đến lúc tiêu diệt gần như đồng thời, tốc độ quá nhanh rồi, nhanh đến mức chúng ta không có cách nào tưởng tượng. Ở trên kinh điển, Thích-ca Mâu-ni Phật hỏi Bồ-tát Di-lặc: “Tâm có sở niệm?”, khởi lên một ý niệm, một ý niệm này rất thô, đem nó phân tích ra có bao nhiêu niệm tế vi? Trong niệm tế vi có bao nhiêu hiện tượng vật chất? Có bao nhiêu hiện tượng tinh thần? Bồ-tát Di-lặc trả lời nói: “Một cái búng tay có 320 ngàn tỷ niệm”. Tôi đại khái một giây đồng hồ có thể búng 4 lần, tôi tin tưởng có người búng nhanh hơn tôi, vậy nếu búng 5 lần, một giây đồng hồ có bao nhiêu ý niệm (niệm tế vi)? Theo cách nói của Bồ-tát Di-lặc là có 1.600 ngàn tỷ, một giây đồng hồ có 1.600 ngàn tỷ niệm tế vi. Cũng chính là sự sanh diệt của hiện tượng vật chất mà nhà khoa học ngày nay nhìn thấy, thời gian của nó là một phần 1.600 ngàn tỷ giây, chính là một giây đồng hồ có 1.600 ngàn tỷ lần sanh diệt. Tốc độ sanh diệt như vậy làm sao có thể nắm bắt được? Cho nên phát hiện hiện tượng vật chất không phải là thật.
Vật chất sanh khởi như thế nào? Vật chất là thức về ý (ý niệm), ý niệm là tinh thần, hiện tượng tích lũy liên tục của tinh thần biến thành vật chất. Cho nên, trong vũ trụ chỉ có: năng lượng, vật chất, thông tin, ba loại hiện tượng này tồn tại, ba loại hiện tượng này chính là A-lại-da mà kinh Đại thừa giảng, A-lại-da mới là tạo vật chủ, y chánh trang nghiêm của mười pháp giới đều là do nó tạo ra. Nghiệp tướng của A-lại-da chính là năng lượng mà nhà khoa học nói; cảnh giới tướng của A-lại-da, chính là vật chất mà nhà khoa học nói; chuyển tướng (chuyển biến) của A-lại-da, chính là thông tin mà khoa học nói. Chẳng qua thông tin này, Thế Tôn đã từng giảng qua trên kinh, đây là thức thứ sáu về ý, thức thứ sáu về ý là chủ về phân biệt, năng lực phân biệt này vô cùng lớn mạnh, đối với bên ngoài có thể duyên đến hư không pháp giới, đối với bên trong có thể duyên đến A-lại-da, nhưng chính là không thể kiến tánh. Vì sao vậy? Bởi vì nó có phân biệt, có chấp trước. Làm thế nào mới có thể kiến tánh? Đem vọng tưởng phân biệt chấp trước buông xuống liền kiến tánh. Nhà khoa học tuy có được năng lực này, họ vẫn là phàm phu, họ không thể chứng quả A-la-hán, cũng không phải là Bồ-tát. Phật, Bồ-tát, A-la-hán thì phải làm sao để chứng được? Đó là phải buông xuống. Nhà khoa học chưa buông xuống. Buông xuống chấp trước liền chứng quả A-la-hán, buông xuống phân biệt liền chứng Bồ-tát, buông xuống khởi tâm động niệm chính là Phật-đà.
Cho nên, khoa học nghiên cứu như thế nào đi nữa, cũng không có cách nào vượt qua được những gì kinh điển đã nói, vì sao vậy? Dựa vào những máy móc, toán học này đều vẫn còn có giới hạn. Chỉ có đem khởi tâm động niệm, phân biệt chấp trước thảy đều buông xuống, thì chân tướng liền hiện tiền.
Khoa học hiện đại, đối với hiện tượng quan sát được tương đối thấu triệt, sự tồn tại của vật chất, chỉ là hiện tượng dao động mà thôi. Cơ học lượng tử, có thể giúp đỡ chúng ta lý giải những đạo lý này giảng trên kinh, cũng có thể nói khoa học đã làm ra một sự chứng minh cho kinh Phật, khiến cho chúng ta đối với chân tướng sự thật mà Phật giảng ngày càng rõ ràng, quả thực chứng minh đương thể giai không, trọn không thể được.
Các pháp đều là mộng huyễn bào ảnh, thời gian tồn tại của nó như sương như điện. Như sương là nói hiện tượng tương tục của nó, giống như giọt sương buổi sớm, rất ngắn ngủi. Điểm này chúng ta không thể không cảnh giác, cẩn thận lưu ý những người xung quanh chúng ta liền có thể phát hiện, tôi mỗi năm đi ra ngoài dạo một vòng rồi quay lại nơi đây, thì đồng tu cũ ở nơi đây liền có vài người ra đi rồi, tướng tương tục đó của họ liền đứt đoạn rồi, giọt sương đó liền không còn nữa. Đây là như sương giảng trên kinh. Nhìn xem dần dần sẽ luân phiên đến chính mình, làm sao có thể không cảnh giác! Như điện, đó là sự quan sát thâm nhập thêm một tầng, sát-na sanh diệt, đây hoàn toàn là nói chân tướng sự thật.
Thấu rõ chân tướng sự thật, quyết định sẽ không tạo nghiệp, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi có thể hiện tiền, nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên cũng có thể đạt được sự thọ dụng này. Cho nên phải biết được, chân tướng sự thật là “phi hữu phi vô”. Tất cả hiện tượng, tất cả các pháp này không thể nói nó có, bởi vì nó đương thể giai không, trọn không thể được; không thể nói nó không, nó sát-na sát-na tướng tương tục tồn tại. Con người sống mấy mươi năm, mấy mươi năm này là tướng tương tục rất ngắn ngủi đang tồn tại, cho nên không thể nói nó không, nhưng bạn cũng không thể nói nó có, bởi vì tướng hư ảo này không có tự tánh.
(cẩn dịch: Hoàng Anh Việt)
Sứ Mệnh Của Doanh Nhân
Năm 2001 tôi di dân đến Úc, trước sau có mười mấy lần nhận lời mời, đại diện trường học, đại diện nước Úc tham gia hội nghị hòa bình của Liên Hiệp Quốc, lúc này tôi mới hiểu được Liên Hiệp Quốc ngay từ năm 1970 đã triệu tập hội nghị hòa bình, nghiên cứu làm thế nào hóa giải xung đột. Hơn 30 năm nay, hội nghị này không biết đã mở bao nhiêu lần, thế nhưng tần suất xung đột mỗi năm một tăng lên, tai họa mỗi năm một nặng nề thêm, khiến cho rất nhiều chuyên gia học giả tham gia hội nghị gần như mất đi niềm tin đối với hòa bình. Sau khi tôi có duyên tham gia hội nghị, đã đem kinh nghiệm của Trung Quốc làm báo cáo trước đại hội.
Thâm Quyến có một Ngôi nhà Cực Lạc, tổng cộng có 7 gia đình, họ chí đồng đạo hợp, cùng chung sống với nhau, muốn khôi phục lại gia đình truyền thống xưa. Bảy gia đình này hợp lại cùng nhau, nam nữ già trẻ đều có, khẳng định chúng tôi là người một nhà. Họ còn hy vọng tiếp nhận thêm 3 gia đình nữa, 10 hộ gia đình nhóm thành một nhà, đem gia đạo, gia quy, gia học, gia nghiệp, gia phong truyền thống của chúng ta làm ra, giống như diễn kịch vậy diễn ra cho đại chúng xã hội xem. Điều này thật hiếm có, nếu như thật sự làm ra được, đây là vô lượng công đức. Vì sao vậy? Để người dân chúng ta hồi tưởng lại một chút, gia đình ngày trước tốt đẹp biết bao! Người hiện nay nói: Gia đình xưa của chúng ta không tốt, thế nhưng gia đình nhỏ kiểu mới vấn đề càng nhiều hơn, càng nghiêm trọng hơn, đem hai bên so sánh một chút, để chúng ta bình tĩnh quan sát suy ngẫm, rốt cuộc loại nào tốt? Thật sự làm được rồi, đây là ngôi nhà Hoa Hạ độc nhất vô nhị trên toàn thế giới.
Danh từ họ dùng là Ngôi nhà Cực Lạc, tôi đã đổi cho họ một chữ “Ngôi nhà Hỷ Lạc”. Ngôi nhà Hỷ Lạc, họ rất hoan hỷ, rất an vui. Hỷ lạc từ đâu mà đến? Từ việc giữ gìn quy củ mà đến. Đại gia đình quan trọng nhất chính là quy củ, chính là giáo dục, từ nhỏ phải dạy người mở rộng tâm lượng, không thể chỉ yêu gia đình nhỏ của chính mình, tôi chỉ yêu tôi, yêu cha mẹ anh em của tôi, những người khác đều không yêu, như vậy là không được. Gia đình thời xưa, 5 thế hệ cùng chung sống, bên trên có cha mẹ, ông nội, ông cố, ông bà sơ, bên trên là 5 thế hệ; bên dưới cũng là 5 thế hệ, có con trai, cháu nội, chắt nội. Từ trên xuống dưới tổng cộng 9 thế hệ cùng chung sống không chia nhà, gia đình kiểu Trung Quốc, trên toàn thế giới không có. Cho nên nếu họ không có chế độ, không có quy củ, gia đình này sẽ loạn mất!
Cho nên thời xưa, tề gia chính là trị gia, gia đình cai quản được ngay ngắn chỉnh tề thì bạn có thể trị quốc, quốc gia chính là sự mở rộng của gia đình, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nước ta thời cổ đại, xã hội an định, nhân dân giàu có, hạnh phúc an vui, gọi là thái bình thịnh trị. Từ đâu mà có? Từ gia đình mà có. Vì sao vậy? Giáo dục và phụng dưỡng người già là do gia đình chịu trách nhiệm. Hai sự việc này của nhân sinh là sự việc lớn, hoàn toàn do gia đình đến phụ trách, cho nên làm vô cùng nghiêm túc. Trẻ nhỏ là thế hệ sau của chính mình, không thể không nghiêm túc dạy cho tốt; người già là bậc trưởng bối của chính mình, già rồi, nghỉ hưu rồi, phải tận hiếu đạo, không thể không chăm sóc.
5.000 năm nay, Trung Quốc có dân số đông như vậy, cương vực rộng lớn như vậy, có thể trị an lâu dài, kiến lập nên quốc gia đại nhất thống, đây là điều mà người trên toàn thế giới vô cùng ngưỡng mộ. Lão tổ tông lưu lại một câu nói: “Dựng nước dẫn dắt dân, dạy học là đầu tiên”, chỉ cần làm tốt giáo dục, vấn đề gì cũng đều có thể giải quyết. Nước ta xem trọng nhất giáo dục gia đình, quốc gia đặt giáo dục lên hàng đầu, tất cả phục vụ cho giáo dục, gia đình cũng là như vậy. Gia đình thời xưa là đại gia đình, thông thường là 5 thế hệ cùng chung sống. Gia đình có khoảng 300 người là gia đình bình thường thông thường, nhân đinh hưng vượng có 700 đến 800 người. Một đoàn thể lớn như vậy, nếu như không có quy củ, không có đạo đức thì nó sẽ nhà tan cửa nát. Cho nên nhà có gia đạo, chính là ngũ luân, ngũ thường, tứ duy, bát đức, mỗi người đều cần phải tuân thủ.
Gia quy là do tổ tiên của chính mình định ra, “Đệ Tử Quy” là quy củ chung, nhà nhà đều cần phải tuân thủ. Chỗ không giống với nhà người khác, đó là sự nghiệp kinh doanh không giống nhau, gia đình này là làm quan, thì có quy củ của làm quan; gia đình kia là kinh doanh buôn bán, thì có quy củ của kinh doanh buôn bán. Mỗi nhà đều có gia học, tư thục chính là trường học cho con em trong gia đình, đều đặt ở trong từ đường, để trẻ nhỏ ngày ngày nhìn thấy bài vị tổ tông, hiểu được hiếu đạo. Gia đình là căn bản cho sự hài hòa xã hội mấy ngàn năm của chúng ta, giáo dục là trách nhiệm của gia đình, quốc gia chỉ là thi cử chọn nhân tài mà thôi. Việc dạy học của truyền thống, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Có thể tề gia thì có thể trị quốc, quốc gia cai trị tốt, thiên hạ sẽ thái bình thôi. Đây là kinh nghiệm trí tuệ vô cùng ưu tú vô cùng quý báu của cổ nhân, chúng ta nhất định phải có thể đem nó truyền lại đời sau.
Ngày nay, gia đình truyền thống thời xua – đại gia tộc cùng huyết thống không còn nữa, đã không có khả năng khôi phục lại nữa. Thế nhưng tinh thần gia đạo, gia quy, gia học, gia nghiệp của gia đình truyền thống thời xua vô cùng đáng quý, trong quá khứ đã duy trì thành công huyết mạch truyền thống 5.000 năm của chúng ta. Cho nên chúng tôi kỳ vọng xã đoàn, doanh nghiệp, đoàn thể tôn giáo có thể đem gia đạo, gia quy, gia học, gia nghiệp truyền thống thời xưa thảy đều kế thừa lại, như vậy chúng ta sẽ có thể phục hưng, sẽ có thể xây dựng nên thái bình thịnh trị. Trước đây gia đình dựa vào huyết thống để duy trì, hiện tại doanh nghiệp phải dựa vào đạo nghĩa để duy trì, ông chủ doanh nghiệp là vị đại gia trưởng, tất cả nhân viên đều là anh chị em của chính mình, cha mẹ của nhân viên là bác bác chú chú của chính mình, con em của nhân viên là cháu trai cháu gái của chính mình, phải xem thành người một nhà, phát tâm phụng dưỡng người già nuôi dạy trẻ nhỏ. Đối với cha mẹ của nhân viên phải phụng dưỡng, phải xây dựng viện dưỡng lão, không nhận người bên ngoài. Tương lai nhân viên già rồi công ty phụng dưỡng cho họ, vậy họ ở công ty sẽ có chỗ nương tựa, không có nỗi lo về sau, sẽ trọn đời toàn tâm toàn lực tận trung phục vụ cho công ty.
Dạy con, phải làm tốt trường học, doanh nghiệp mở trường tiểu học, mở trường trung học, con em của chính mình tự mình đến dạy. Phương pháp giảng dạy phải dùng phương pháp cổ xưa, đó chính là “đạo dạy học, quý ở sự chuyên nhất”, tuyệt đối không dùng phương thức sắp xếp thời khóa biểu đan chéo nhau hiện nay. Môn học chính một năm chỉ có thể học một môn, không thể mấy môn đan chéo nhau. Ví dụ như trường tiểu học hiện nay, tôi nghe nói có 4 môn học chính, một tiếng đồng hồ đầu dạy ngữ văn, tiếng thứ hai dạy toán học, ngữ văn vẫn chưa hấp thu vào, lại đổi chủ đề rồi, 6 năm tiểu học tốt nghiệp rồi, chỉ biết đối phó thi cử, thực tế trong đầu đều là mơ mơ hồ hồ. Đương nhiên, trường học mà chúng ta mở là lấy ngữ văn làm nền tảng, phải trước tiên dùng thời gian 2 năm đem ngữ văn của 6 năm thảy đều dạy xong, trong 2 năm, trong đầu học sinh chỉ có một môn học, trong cặp sách chỉ có một quyển sách, vô cùng nhẹ nhàng, vô cùng an vui. Năm thứ 3 dùng thời gian 1 năm, đem toán học của 6 năm tiểu học học xong trong 1 năm. Mỗi ngày chỉ có một môn học, để bạn mỗi ngày chỉ nghĩ một sự việc, trong đầu chỉ có một thứ, khẳng định thành tích tốt, phẩm đức tốt, thân thể tốt, sẽ không suy nghĩ miên man. Đây là phương pháp dạy học cổ xưa của chúng ta, phương pháp này tốt.
Công ty phải có thể đem già trẻ của nhân viên toàn bộ đều chăm sóc đến, một công ty chính là một gia đình, trong nhà có sự việc gì công ty đều gánh vác, trở thành một tổ chức đạo nghĩa. Nếu có thể truyền lại như vậy, đất nước chúng ta ngàn năm muôn đời trị an lâu dài không phải là làm không được. Tôi gặp được một số nhà doanh nghiệp, đều khích lệ họ làm như vậy, sự nghiệp nhất định sẽ phát đạt. Vì sao vậy? Nhân viên trung tâm nhất, một lòng một dạ phục vụ cho bạn. Vài năm trước, tôi ở Singapore gặp được nhà doanh nghiệp đại lục là ông Hồ Tiểu Lâm, tôi dạy ông ấy làm thực nghiệm, ông ấy một lời nhận lời ngay, ông ấy đã làm thành công rồi. Đối với việc cha mẹ người thân của nhân viên bị bệnh, ông ấy chăm sóc rất chu đáo, điều này khiến mọi người vô cùng mãn nguyện, ông chủ thật tốt, thật từ bi, thật sự yêu thương bảo vệ nhân viên. Dẫu là nhân viên làm sai sự việc phải nghỉ việc, trong nhà có khó khăn ông ấy cũng giúp đỡ.
Chỉ cần đã từng phục vụ ở công ty, bất luận thời gian ngắn dài, có khó khăn đều chăm sóc, điều này rất không dễ dàng. Tôi thường thường nhắc nhở ông ấy, mở trường học cho con em lên, mở một trường tiểu học, tốt nhất có thể mở đến trung học. Nền giáo dục 9 năm này phối hợp cùng giáo dục quốc gia, giáo dục quốc gia cần dạy những môn học gì, trường học của bạn thảy đều có, lại thêm vào môn học luân lý đạo đức. Thành tích mà ông Hồ Tiểu Lâm làm ra là mỗi năm một tăng lên, hơn nữa bản thân một chút cũng không bận tâm. Trước đây quản lý doanh nghiệp sứt đầu mẻ trán, hiện tại ông ấy vô cùng tự tại, chính là từ ông chủ đến nhân viên thảy đều ra sức thực hành “Đệ Tử Quy”, lấy “Đệ Tử Quy” để chỉ đạo sự nghiệp. Trước đây “Đệ Tử Quy” là để trị gia đình truyền thống của người xưa, hiện tại dùng “Đệ Tử Quy” để quản trị doanh nghiệp.
Hai năm trước, Thanh Đảo có một nữ doanh nhân họ Lưu, cũng làm rất thành công, tại Thanh Đảo đã tổ chức 3 lần diễn đàn doanh nghiệp. Nước ta nếu như có 20 nhà doanh nghiệp làm thành công, thì có thể dẫn dắt toàn xã hội, tôi tin tưởng dùng thời gian 1 năm thì có thể khôi phục lại trạng thái bình thường, khôi phục sự an định. Một quốc gia có thể làm được thì sẽ ảnh hưởng đến rất rất nhiều quốc gia. Sự thật chứng minh, doanh nghiệp dùng luân lý đạo đức truyền thống của Thánh Hiền để kinh doanh cũng kiếm được tiền như thường. Cho nên, tiền đồ của chúng ta là tươi sáng, hy vọng công ty như vậy ngàn năm muôn đời mãi mãi kinh doanh tiếp tục, đời đời kế thừa tinh thần gia đạo, tương lai trở thành thương hiệu lâu đời hàng ngàn hàng trăm năm. Đây là đặc sắc của văn hóa truyền thống, trên toàn thế giới không tìm thấy. Hy vọng mọi người phải nỗ lực, phải giác tỉnh, không thể chỉ vì chính mình, mỗi người vì chính mình là con đường diệt vong cùng nhau hủy diệt.
Doanh nhân nếu như đều có thể đem tinh thần của gia đình truyền thừa lại, đem bốn khoa mục gia đạo, quy củ, học tập và sự nghiệp làm cho tốt, chính là tề gia, họ đối với xã hội liền có ảnh hưởng chính diện, đối với sự hài hòa sẽ tạo ra sự cống hiến. “Tề gia trị quốc bình thiên hạ”, sự phục hưng của văn hóa truyền thống, có thể đưa thế giới này hướng đến an định, hòa bình, phồn vinh, đây là cống hiến vĩ đại nhất mà dân tộc Trung Hoa tạo ra cho nhân loại.
Cung kính trích lục từ bài giảng của Lão Pháp sư Tịnh Không
Nhu Cầu Bức Thiết Nâng Cao Đạo Đức Toàn Dân
Ngày nay chúng ta bàn về “giáo dục”, hoàn toàn không giống với kiến thức kỹ năng mà trường học hiện đại truyền thụ. Hàm ý chân thật của giáo dục, là khơi gợi sự thuần tịnh thuần thiện, tâm yêu thương chân thành vốn có của tự tánh mỗi một người, khiến cho nó mãi mãi được duy trì, đồng thời đem nó phát huy rạng rỡ. Nội hàm của nó có thể quy nạp thành bốn phương diện là giáo dục luân lý, giáo dục đạo đức, giáo dục nhân quả và giáo dục tôn giáo.
I. Giáo dục luân lý:
- Là nền giáo dục khiến cho họ hiểu rõ mối quan hệ chân thật giữa người với người. Ví dụ: cha con có tình thân ái, vợ chồng có sự khác biệt, vua tôi (người lãnh đạo và người bị lãnh đạo) có đạo nghĩa, lớn nhỏ có thứ tự, bạn bè có chữ tín.
- Là nền giáo dục bồi dưỡng mối quan hệ thân ái tốt đẹp giữa con người với nhau, là sự thực tiễn thành kính khiêm hòa.
II. Giáo dục đạo đức:
- Bồi dưỡng mối quan hệ nhân ái giữa người đó với tất cả mọi người, sự, vật. Ví dụ: Nền giáo dục đối xử bình đẳng, chung sống hòa thuận, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với tất cả con người, sự việc, sự vật.
- Là nền giáo dục bồi dưỡng sự nhận thức về mối quan hệ chân thật giữa con người và vạn vật đại tự nhiên, sau đó tự nhiên sinh khởi ý thức bình đẳng, bác ái, cùng tồn tại cùng phồn vinh, yêu thương bảo vệ sự cân bằng sinh thái.
- Là nền giáo dục bồi dưỡng sự nâng cao tu dưỡng nhân cách đức hạnh, cần biết “tu thân làm gốc”, “cầu mà không được, quay lại tìm ở chính mình”. Con người nên học làm người thiện chứ không phải là làm một người phú quý.
- Mục tiêu cuối cùng chính là nền giáo dục viên mãn dạy người “từ tập tánh bất thiện, quay về với bổn tánh vốn thiện”.
III. Giáo dục nhân quả:
- Nhân quả ba đời, từ tin mà hiểu, từ hiểu mà khiêm tốn cầu chứng, sau đó mới có thể đạt đến công dụng lớn lao của nền giáo dục này.
- Công dụng có bốn:
(1) Nền giáo dục thoát nghèo làm giàu.
(2) Nền giáo dục thoát khỏi ngu muội, khai trí tuệ.
(3) Nền giáo dục lìa khổ được vui.
(4) Nền giáo dục an phận giữ mình, không oán trời, không trách người, đoạn ác tu thiện, tích công lũy đức.
IV. Giáo dục tôn giáo:
- Nó là sự thăng hoa của ba loại giáo dục trước, là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sinh.
- Tôn giáo cần phải nhận thức sự bản địa hóa và hiện đại hóa. Bao dung, dung hợp các giáo phái không giống nhau, dùng định tuệ ở mức độ cao hóa giải mọi sự đối lập, mâu thuẫn, nghi kỵ, xung đột. Làm rạng rỡ lòng nhân từ bác ái vốn đầy đủ của tự tánh, để đạt đến việc chung sống hòa thuận, đối xử bình đẳng, là nền giáo dục sáng tạo ra cuộc sống hạnh phúc viên mãn vì xã hội, vì chúng sanh.
- Nền giáo dục nhận thức mối quan hệ giữa con người và sinh vật trong các không gian duy thứ khác nhau.
- Nền giáo dục nhận thức mối quan hệ giữa con người và chân tướng vạn vật trời đất.
Từ trên có thể biết, “giáo dục Thánh Hiền” quả thực là cái gốc tột cùng quan trọng để xây dựng xã hội hài hòa, thế giới hài hòa, khai sáng nhân sinh hạnh phúc. Con người nếu như không tiếp nhận nền giáo dục như vậy, dẫu cho giàu có bốn biển, tôn quý làm thiên tử, thì sinh mệnh cũng đánh mất đi ý nghĩa chân thật.
Phu tử Mạnh Tử vào thời xưa nói, con người không tiếp nhận nền giáo dục đạo đức nhân nghĩa, thì chẳng có gì khác biệt với cầm thú. Nhìn từ tình trạng hiện thực đạo đức luân vong, lòng người bại hoại, vấn đề xã hội tầng tầng lớp lớp xuất hiện ngày nay, lời của Mạnh Tử quả thực đáng để chúng ta suy ngẫm sâu sắc.
Đạo lý này, người xưa thấu hiểu được vô cùng triệt để. Nước ta vào thời đại Vương Mãng (thế kỷ thứ 1 Công nguyên), đã phát minh ra kỹ thuật bay lượn. Gia Cát Lượng thời Tam Quốc (thế kỷ thứ 3 Công nguyên), phát minh ra “trâu gỗ ngựa máy”, lấy vận chuyển bằng cơ khí thay thế sức người. Lại nhìn xem khi Trịnh Hòa bảy lần phụng mệnh đi sứ dạo biển trên đại dương, đối với thiên văn, tinh tượng, hàng hải, khai thác khoáng sản v.v., đều đã có kỹ thuật tiên tiến, thậm chí trên đội thuyền đều trang bị hỏa pháo để tự vệ!
Từ đây có thể biết, văn minh khoa học kỹ thuật của người xưa chúng a, phát triển sớm hơn so với châu Âu và châu Mỹ, hơn nữa thành tích rất rực rỡ. Vì sao cổ nhân chúng ta không cầu tiến bộ, không lưu truyền lại đời sau? Có phải là sự ích kỷ của người đi trước chăng? Tuyệt đối không phải vậy. Đây là trí tuệ ở mức độ cao của lão tổ tông chúng ta!
Các ngài hiểu rõ khoa học kỹ thuật nếu như không có sự định hướng của luân lý đạo đức, giáo dục tôn giáo, thì sẽ mang lại tai nạn to lớn cho nhân loại. Nói cách khác, khi văn minh vật chất vượt quá văn minh tinh thần, nhân loại rất nhanh liền sẽ đi đến chỗ diệt vong.
Tĩnh tâm quan sát mọi vấn đề của thế giới ngày nay, phàm là các vấn đề chính trị, kinh tế, cùng với các vấn đề xã hội tầng tầng lớp lớp xuất hiện như tự sát, ly hôn v.v., không có vấn đề nào mà không phải là do xem nhẹ luân lý đạo đức, giáo dục tôn giáo dẫn đến.
Lấy chính trị làm ví dụ, Khổng Tử nói: “Người còn thì việc chính trị hưng khởi, người mất thì việc chính trị tiêu diệt”. Người lãnh đạo thật sự có đủ đạo đức trí tuệ, bất luận là chế độ quân chủ, chế độ dân chủ, phân chia chính trị và tôn giáo hay hợp nhất chính trị và tôn giáo, đều sẽ mang lại hạnh phúc an vui cho nhân dân.
Nếu như người cầm quyền không có đủ luân lý đạo đức, không có tấm lòng làm lợi vạn vật cứu giúp thế gian, thì chế độ pháp luật có định ra nghiêm ngặt đến mấy, chu đáo đến mấy, cũng đều sẽ bị người ta lợi dụng, ngược lại mang đến tai họa cho nhân dân.
Do đó, điều kiện tiên quyết để thực hành chế độ dân chủ, là toàn dân đều có đủ trình độ đạo đức với tố chất cao. Như vậy mới có thể thật sự tuyển chọn bậc Hiền tài và người có năng lực, không đến nỗi tệ nạn nảy sinh đầy rẫy.
Nếu như đạo đức toàn dân không thể đạt đến tiêu chuẩn cao, vậy thì, chế độ quân chủ có khả năng càng làm lợi ích cho đại chúng hơn so với chế độ dân chủ. Bởi vì quân vương vì để củng cố chính quyền, ông ấy cần phải thỉnh mời người thầy giáo tốt nhất, để bồi dưỡng người kế thừa của ông ấy. Ông ấy cần phải chịu trách nhiệm đối với chính quyền của toàn bộ gia tộc. Do đó quả thực có thể tạo phước cho nhân dân; nếu không chính quyền của ông ấy rất nhanh liền sẽ bị người khác lật đổ.
Lại nhìn xem phương thức tuyển chọn nhân tài ở nước ta thời xưa, là do đế vương ủy thác quan viên địa phương mặc thường phục vi hành, tiến cử người có đức hạnh “hiếu, liêm” bảo lãnh cho vào học, dự bị cho ngày sau phục vụ cho nhân dân. Bởi vì họ ở nhà có thể tận hiếu, đối với quốc gia ắt có thể tận trung. Người liêm khiết có tiết tháo thì quyết định không tham ô.
Các quốc gia trên thế giới ngày nay, trên đến đơn vị chính phủ, dưới đến cơ quan tư nhân, tham ô, bất trung đều là vấn đề lớn nghiêm trọng nhất. Mà trung hiếu liêm khiết lại chính là giáo huấn căn bản của giáo dục truyền thống và tất cả giáo dục Thánh Hiền thế gian. Cho nên nói, Thánh Hiền là được dạy ra, phần tử khủng bố cũng là được dạy ra.
Ngày nay từ giáo dục gia đình, trường học cho đến xã hội, những gì dạy dỗ không gì không phải là cạnh tranh, nền giáo dục tự lợi tổn người, tổn hại xã hội, tổn hại lợi ích đại chúng. Những gì phương tiện truyền thông đại chúng phát sóng cũng đa phần là thông tin về tham, sân, si, mạn, sát, đạo, dâm, vọng. Đây là nền giáo dục bồi dưỡng ra các phần tử “khủng bố”, “động loạn”, thế giới làm sao có đạo lý không loạn cơ chứ.
Ý nghĩa của chữ “giáo” (教) là người trên làm người dưới noi theo; ý nghĩa của chữ “dục” (育) là cứu vãn lầm lỗi nuôi lớn điều thiện. Hôm nay những đứa trẻ nhìn thấy người lớn dùng thù hận báo thù để giải quyết vấn đề, tương lai chúng sẽ dùng bạo lực thù hận nhân lên gấp bội để xử lý vấn đề. Chiến tranh động loạn, thiên tai nhân họa; có thể nói không phải là do giáo dục có vấn đề mà gây ra sao? Cho nên biết “Dựng nước dẫn dắt dân, dạy học là đầu tiên”.
Tĩnh tâm quan sát xã hội hiện đại, với rất nhiều vấn đề phức tạp, hơn nữa có một số là những vấn đề bức bách hiện nay. Làm thế nào có thể hóa giải một cách thỏa đáng, mang lại niềm hạnh phúc thật sự lâu dài cho nhân loại! Ngoại trừ giáo dục ra, tất cả những thủ đoạn biện pháp khác chỉ có thể làm sự phụ trợ, không thể làm phương pháp chủ yếu để giải quyết vấn đề. Việc nâng cao luân lý đạo đức của nhân dân toàn cầu, quả thực là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu để cứu vãn thế giới!
Cung kính trích lục từ “Học Tập Tinh Thần Của Trịnh Hòa Bước Hướng Đến Hòa Bình Và Phồn Vinh Sự Khải Thị”
Bài giảng tại “Diễn Đàn Lãnh Tụ Tôn Giáo Đông Á” ở Jakarta ngày 12 tháng 2 năm 2006.
Kết Tinh Của Nước Và Phương Pháp Tiêu Tai Miễn Nạn
Phật ở trong “Kinh Hoa Nghiêm” nói với chúng ta, vũ trụ, vạn vật “chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”. Tâm là chân tâm, thức là vọng tưởng phân biệt chấp trước, chính là ý niệm. Y chánh trang nghiêm của mười pháp giới là do tâm hiện, vì sao lại có nhiều sự sai biệt như vậy? Là do thức biến. Ý niệm của mỗi người là biệt nghiệp, ý niệm của tất cả mọi người cùng nhau là cộng nghiệp, do cộng nghiệp cảm ứng. “Phẩm Tịnh Hạnh” nói: “Nếu các đại Bồ-tát khéo dùng tâm mình, liền được tất cả công đức thắng diệu”. Tâm tưởng thắng diệu nhất, là nghĩ Phật, nghĩ Bồ-tát, tụng kinh, niệm Phật, tâm thiện, niệm thiện, hành thiện. Tâm tưởng là cảm, tướng hiện ra là ứng, cảm ứng đạo giao.
Tiến sĩ Masaru Emoto của Nhật Bản làm thí nghiệm về nước, đối với một ly nước tràn đầy tâm yêu thương, kết tinh của nước đặt dưới kính hiển vi nhìn xem vô cùng đẹp đẽ; nếu là ác niệm: “Tôi ghét bạn, tôi hận bạn”, hoa văn phản ứng ra liền vô cùng khó coi. Từ thí nghiệm này liền hiểu rõ tất cả vạn vật, là do tâm hiện thức biến. Tâm chính là chân như bổn tánh, bổn tánh có đầy đủ thấy nghe hay biết, sắc thanh hương vị, không sanh không diệt.
Đã là tất cả vạn pháp là tâm hiện thức biến, nước cũng là một trong vạn pháp, nước đương nhiên cũng có thấy nghe hay biết, cho nên viết chữ, nói chuyện, mở âm nhạc cho nó nghe, nó sẽ hiểu được, sẽ nương theo cảnh giới bên ngoài mà có phản ứng sắc thanh hương vị. Nước như vậy, mỗi một sự vật đều là như vậy. Gạch đá, ngói vỡ, bùn cát, không gì là không có đầy đủ thấy nghe hay biết, không gì là không có đầy đủ sắc thanh hương vị. Cho đến mỗi một sợi lông cộng tóc, mỗi một tế bào trên thân thể của chính chúng ta, thảy đều có đầy đủ thấy nghe hay biết, sắc thanh hương vị. Khởi lên một thiện niệm, tế bào toàn thân đều vô cùng đẹp đẽ và hoàn thiện, thân thể khỏe mạnh! Ý niệm thiện, tâm thiện, hành vi thiện, tư tưởng thiện, ngôn hạnh thiện, có thể đem vi-rút trong thân thể hóa giải mất, nguyên lý là ở chỗ này, hoàn toàn không kỳ lạ. Thường khởi ác niệm, thân thể liền rất kém, bởi vì tế bào, lông tóc toàn thân đều biến thành hoại rồi.
Từ đây có thể biết, sự khỏe mạnh của thân thể không cần phải tẩm bổ, cái tâm thiện lành nhất chính là vật phẩm tẩm bổ vô thượng, có thể khiến thân thể khỏe mạnh, trường thọ. Tôi bảo dưỡng thân thể rất đơn giản, chính là “yêu thương, biết ơn”. Sống trong thế giới của sự biết ơn, yêu thương; có tâm đại từ bi, tâm biết ơn, thân thể làm sao có thể không tốt chứ?
Yêu thương và biết ơn, thể chính là tánh đức; muốn yêu thương, muốn biết ơn, đây là tu đức. Tánh đức và tu đức tương ứng, hiện tượng tốt đẹp khỏe mạnh liền sẽ hiện tiền. Nếu như trong tâm nghĩ về ba độc tham sân si, hiện tượng phản ứng ra liền xấu xí, hơn nữa là tai họa kịch độc, đây là tự mình làm tổn thương chính mình. Thiện niệm và ác niệm sai biệt rất lớn, ý niệm tốt, mới là thật sự tự yêu thương mình, thân tâm khỏe mạnh. Đại đa số con người hiện nay, tham tài, tham sắc, tham danh, tham lợi, chúng ta từ thí nghiệm kết tinh của nước biết được, kết tinh của tâm tham không tốt. Tâm hành không thiện, cảm triệu đến chính là Trái Đất ngày nay. Hiện tại Trái Đất đã xuất hiện vấn đề vô cùng nghiêm trọng, tài nguyên nước thiếu thốn, công nghiệp ô nhiễm, dân số không ngừng tăng trưởng, đây là do cộng nghiệp cảm ứng.
Sát nghiệp hiện nay quá nặng, chúng ta ngày ngày niệm Phật, tụng kinh, đem ác nghiệp này làm phai nhạt đi, có thể giảm bớt nghiệp cảm của ác nghiệp. Một niệm thiện tâm trùm khắp pháp giới, một ác niệm cũng là trùm khắp pháp giới. Hiện nay khoa học giảng về sóng ánh sáng, sóng điện từ v.v., nhưng bất kỳ loại sóng nào cũng đều không sánh bằng sóng tư tưởng (khởi tâm động niệm). Loại sóng này là trong chớp mắt trùm khắp pháp giới, là tần số mạnh nhất trong vũ trụ.
Chúng ta khởi tâm động niệm đối với tất cả vạn vật, bất luận xa gần, thảy đều có cảm ứng, hơn nữa cảm ứng mạnh yếu đều như nhau. Sóng trong vật lý có sự phân biệt cảm ứng xa gần mạnh yếu, sóng tâm lý thì không có. Cái lý, sự thật này phải rõ ràng thấu suốt. Bất kỳ một ý niệm nào của chúng ta cũng đều là trùm khắp pháp giới, siêu việt thời gian, không gian.
Tâm mọi người đều thiện, không có ác niệm, thế giới này liền biến thành thế giới Cực Lạc. Cực Lạc và thế giới này của chúng ta không có sự sai biệt, cũng giống như kết tinh của nước, kết tinh tốt đẹp và kết tinh xấu xí đều là nước, sự sai biệt là tâm niệm của chúng ta, là nghiệp cảm của chúng sanh chúng ta. Chúng ta cư trú ở nơi này lòng người thảy đều thiện, thế giới này liền mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, không gì là không thiện. Thế giới Cực Lạc “các bậc thượng thiện nhân cùng hội tụ một chỗ”.
Cho nên tâm của chúng ta nếu bất thiện, niệm Phật cũng không thể vãng sanh, bởi vì tần số không giống nhau, cảm ứng không giống nhau; cái thiện của chúng ta và cái thiện của Cực Lạc, tần số này tương đồng, mới có thể vãng sanh, cảm ứng đạo giao! Cũng giống như chúng ta xem tivi, đài phát thanh, kênh sóng không giống nhau, liền thu không được. Kênh sóng giống nhau liền thu được rồi. Ngày nay chúng ta nhìn không thấy Phật Bồ-tát, bởi vì tần số không tương đồng.
Từ đạo lý, chân tướng sự thật này chúng ta liền hiểu rõ, thế giới Hoa Tạng, thế giới Cực Lạc là do thiện niệm xứng tánh cảm ứng. Tam đồ là làm trái ngược tự tánh, là cảm ứng của ý niệm bất thiện. Trong đây không có mê tín, thật tướng của các pháp là như vậy.
Hiện tại tai nạn rất nhiều, hy vọng mọi người niệm Phật, tụng kinh nhiều hơn, hồi hướng cho toàn thế giới hóa giải tai nạn. Đừng cho rằng đây là chuyện nhỏ, phải hiểu được động tướng của sóng tâm lý, có sức mạnh rất không thể nghĩ bàn. Nhỏ, thì bản thân thân tâm khỏe mạnh; lớn, thì có thể giúp đỡ khu vực này, thế giới này giảm nhẹ tai nạn, thật sự là tự hành hóa tha, vô lượng công đức!
Dạy Học Làm Đầu
[Như Lai xuất hiện ở đời, khó gặp khó thấy. Kinh đạo của chư Phật, khó được khó nghe. Gặp được thiện tri thức, nghe pháp có thể hành, điều này cũng là khó. Nếu nghe kinh này, tin ưa thọ trì, là khó trong cái khó, không gì khó qua điều này.]
Thế Tôn thật là từ bi đến tột cùng, hết lần này đến lần khác khuyên gắng chúng ta, đem sự thật chân tướng này nói ra cho chúng ta.
Chúng ta xem chú giải của Niệm lão.
[Giải] Đoạn văn bên phải than thở nghe kinh tin nhận là khó trong cái khó, khiến người biết kinh khó nghe, sanh tâm kính trọng hi hữu.
“Bên phải”, là đoạn kinh văn bên phải này, “Than”, là than thở, “nghe kinh tin nhận là khó trong cái khó”. Đây là nói với ai? Không phải nói với người bình thường, cũng không phải nói với người học Phật, là nói với người tu Tịnh độ. Ý nghĩa này nhất định cần phải hiểu. Chúng ta được thân người, gặp được Phật pháp, gặp được Đại thừa, gặp được Tịnh độ, trong đời này có thể thành tựu hay không? Khó trong cái khó là nói điều này. Vì sao lại có khó như vậy, khi gặp được rồi mà vẫn không thể vãng sanh? Đối với Tịnh tông hiểu chưa đủ thấu triệt, tín tâm không kiên định, nguyện tâm không khẩn thiết, cảnh giới hiện tiền vẫn còn động tâm, thậm chí vẫn còn thối chuyển, vậy thì không được rồi.
Cho nên, nghe kinh tin nhận, khó trong cái khó. “Khiến người biết kinh khó nghe, sanh tâm kính trọng hi hữu”, thật không dễ dàng. Phật than thở như vậy, bởi vì sau khi gặp được, bạn liền gặp được việc trong đời này vĩnh viễn thoát khỏi lục đạo luân hồi, một đời có thể viên mãn chứng được Diệu Giác Phật quả, điều này thực sự là quá khó rồi, quá không dễ dàng rồi. Cho nên Phật nói duyên phận của chúng ta, không phải là công đức cúng Phật một đời, hai đời, ba năm đời, mà là trong đời quá khứ từng cúng dường vô lượng chư Phật Như Lai, được chư Phật Như Lai gia trì, mới có duyên phận thù thắng như vậy có thể gặp được, đặc biệt là gặp được bộ kinh điển này, “Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”.
Những năm đầu tôi ở Đài Trung theo thầy Lý học kinh giáo, thầy lúc đó liền chỉ thị tôi, nghe kinh nghiên cứu giáo lý cần phải cầu giáo lý, nếu giáo lý thông rồi, pháp thế xuất thế gian đều thông rồi. Giáo lý thông rồi chính là Đại khai viên giải mà bên Giáo hạ nói, cùng với Đại triệt đại ngộ trong Tông môn là cùng một cảnh giới; Tông môn dùng là tham cứu, Giáo hạ dùng là nghiên tập, phương pháp không giống nhau, cảnh giới đạt được giống nhau, thầy liền dạy tôi hướng đến mục tiêu này. Mục tiêu này nếu không đạt được, thì cầu tiếp theo, thông đạt giáo nghĩa, đó gọi là đại ngộ, đại ngộ là thông giáo nghĩa, triệt ngộ là thông giáo lý, giáo lý là kiến tánh. Điều này đối với sự tu học một đời của chính chúng ta coi như là thành tựu rất phi thường, người người đều có thể làm được, cho đến một câu Phật hiệu, nếu có thể thực sự đem muôn duyên buông xuống nhất tâm xưng niệm. Bạn xem “Vãng Sanh Truyện”, “Tịnh Độ Thánh Hiền Lục” ghi chép có bao nhiêu người ba năm, năm năm, biết trước giờ chết, tự tại vãng sanh, thụy tướng hi hữu, thành công rồi, họ đến Thế giới Cực Lạc làm Phật rồi. Tất cả pháp thế xuất thế gian họ thông hay không thông? Khẳng định thông rồi. Thông rồi vì sao không trụ thế? Duyên phận không giống nhau. Nếu đối với thế gian có duyên, họ liền phải trụ thế, giảng kinh dạy học, dẫn chúng huân tu; không có duyên, họ liền đến Thế giới Cực Lạc làm Phật rồi. Chỉ cần đến Thế giới Cực Lạc, họ nhất định ở mười pháp giới, chư Phật sát độ, phổ độ chúng sanh. Sự nghiệp của Bồ-tát, chính là giảng kinh dạy học. Đây là điều chúng ta cần phải tường tận, cần phải học tập.
Sự việc này khó hay không khó? Khó ở chỗ chúng ta có chịu buông xuống hay không, khó ở chỗ chúng ta có thể chân tín hay không, cần phải thật tin tưởng, cần phải thật buông xuống, cần phải chân chánh phát nguyện. Tứ Hoằng Thệ Nguyện, nói thật ra chỉ có cái đầu tiên là nguyện chân chánh, “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, giúp đỡ tất cả chúng sanh lìa khổ được vui, giúp đỡ tất cả chúng sanh phá mê khai ngộ, đây là mục tiêu cao nhất chúng ta học tập Phật pháp. Cần phải giúp đỡ người khác lìa khổ được vui, chính mình trước tiên cần phải lìa khổ được vui, chính mình khổ chưa lìa, vui chưa được, làm sao có thể giúp đỡ người khác? Chính mình chưa khai ngộ, liền không thể giúp đỡ người khác khai ngộ. Nguồn gốc của khổ vui là mê ngộ, mê rồi thì khổ, ngộ rồi thì vui. Cho nên phá mê khai ngộ là tổng phương hướng, tổng mục tiêu dạy học của chư Phật Bồ-tát. Trước thành tựu chính mình, sau thành tựu người khác. Chúng ta thấy cổ đại đức, chính mình chưa thành tựu, không thể đi ra ngoài dạy học. Như thế nào mới coi là thành tựu? Ít nhất là đại ngộ, bạn mới có thể đi ra ngoài tham học, điều này đã đem tiêu chuẩn hạ xuống một bậc rồi. Chúng ta ở trên kinh “Hoa Nghiêm” thấy, Thiện Tài đồng tử đi ra ngoài tham học, đó là minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ, đây là tiêu chuẩn tuyệt đối.
Ở nước ta hai ngàn năm nay, minh tâm kiến tánh, đó là người căn tánh thượng thượng, thượng trung hạ không có phần. Cho nên Tổ sư đem tiêu chuẩn này hạ xuống một bậc, đại ngộ liền có thể đi ra ngoài tham học, có thể đi ra ngoài tham học, từ trong tham học lại hướng lên nâng cao. Đây cũng là một phương pháp, dùng phương pháp này người thành tựu cũng không ít. “Truyền Đăng Lục”, “Ngũ Đăng Hội Nguyên”, trong hai bộ sách này có ghi chép có hai, ba ngàn người, đây đều là minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ. Thành tựu của Phật giáo ở nước ta không thể nghĩ bàn, vượt xa năm xưa ở Ấn Độ. Phật pháp quan trọng là “y giáo phụng hành”, “thọ trì đọc tụng, vì người diễn nói”, chúng ta chân chánh có thể đem ba câu này làm được rồi, đó mới là đệ tử Phật chân chánh.
Cho nên khó gặp khó thấy chúng ta đều gặp được rồi, cần phải trân trọng duyên phận của đời này, biết có được không dễ dàng, đừng dễ dàng bỏ lỡ cơ duyên của lần này. Then chốt chúng ta thành tựu ở thiện tri thức, chính là ở thầy, thầy không dễ gặp được. Chúng ta gặp được thiện tri thức, “có thể gặp không thể cầu”, đây là duyên phận. Thế nhưng thầy nói cho chúng ta biết, thầy muốn tìm một học trò chân chánh có thể thừa truyền, còn khó hơn học trò tìm thầy! Thực sự tìm không được thì làm sao đây? Dùng văn tự trứ thư lập thuyết truyền cho đời sau, hy vọng người có duyên ở đời sau đọc được sách của ngài, có thể hiểu ý của ngài, thừa truyền pháp này, đây gọi là đệ tử tư thục.
Thời xưa, Mạnh tử học tư thục nơi Khổng tử, Khổng tử đã qua đời, trước tác của Khổng tử lưu truyền ở thế gian, Mạnh tử nương Khổng tử làm thầy, đọc sách của Khổng tử, y giáo phụng hành, chỗ có khó khăn hướng học trò của Khổng tử thỉnh giáo. Mà thành tựu học tập của Mạnh tử, lại vượt qua những học trò năm xưa của Khổng tử lúc tại thế, người sau tôn Khổng tử là Chí Thánh, mà tôn Mạnh tử là Á Thánh. Đây là nói không gặp qua thầy, không thân cận qua thầy, theo trước thuật của thầy mà học, cũng có thể đạt được chân truyền.
Ở trong cửa Phật cũng có một ví dụ rất tốt, Đại sư Ngẫu Ích sư thừa Đại sư Liên Trì, thiện tri thức chân chánh mà trong tâm ngài bội phục nhất, thế nhưng Đại sư Liên Trì vãng sanh rồi, nhưng trước tác của Đại sư Liên Trì vẫn còn, ngài liền chuyên công, đây gọi là sư thừa. Học lời của một nhà, điểm này là bí quyết thành công. Không thể học tạp, không thể học nhiều, học tạp, học nhiều rồi, tinh thần, thời gian của bạn đều phân tán rồi, rất khó thành tựu.
Thành tựu trí tuệ chân thật không ở chỗ quảng học đa văn. Đại sư Lục tổ Huệ Năng chính là tấm gương tốt nhất, ở Hoàng Mai tám tháng, một bộ kinh cũng chưa từng nghe qua, một nén hương cũng chưa từng ngồi qua. Nói lên điều gì? Khai ngộ chân chánh không phải từ trên quảng học đa văn mà có được. Thế nhưng quảng học đa văn có cần thiết, khi nào? Sau khi khai ngộ, Giáo hạ là sau khi Đại khai viên giải, bạn mới có thể quảng học đa văn. Vì sao vậy? Cần phải ứng phó căn tánh khác nhau, chúng sanh mà bạn dạy, căn tánh không giống nhau, cho nên cần phải quảng học đa văn. Chúng ta vừa mở đầu liền đem con đường, trình tự điên đảo rồi, phiền phức liền lớn rồi. Trước sau có trật tự, không thể điên đảo, nhất định là cần phải theo thứ tự tuần tự, thành tựu chính mình.
Thầy Lý nói với tôi, quảng học ít nhất cần phải sau khi được tam muội. Đây là thật không có cách nào khác, người không có kiên nhẫn, luôn muốn học nhiều thêm một chút, ít nhất cần phải có năng lực có thể biện biệt chân vọng, tà chánh, thị phi. Không có loại năng lực này, quảng học đa văn đối với chính mình quyết định không có chỗ tốt, học đến cuối cùng đó chính là “học để ghi nhớ và hỏi”. Xem nhiều, nghe nhiều, nhớ nhiều, không có khai ngộ, học toàn là đồ của người khác, với chính mình không liên can, đối với chính mình tu học không có sự giúp đỡ. Đạo lý này hiện nay người hiểu không nhiều, hiện nay vừa bắt tay vào chính là quảng học đa văn, toàn bộ học là Phật học, Nho học, Đạo học, học là tri thức không phải trí tuệ. Nếu thật sự muốn học trí tuệ cần phải đi con đường cũ của tổ tông cũ mới được, phương pháp dạy học khoa học mới không thích dụng, phương pháp dạy học khoa học thích dụng cho khoa học, không thích dụng cho giáo dục Thánh Hiền, giáo dục Thánh Hiền có một bộ thể hệ của riêng nó, điều này không thể không tuân thủ.
[Giải] “Hưng thế”, xuất hưng ở đời. “Tư Trì Ký” nói: “Thân Phật sung mãn, tùy vật hiện hình. Thị sanh xướng diệt (thị hiện sanh diệt), chửng tiếp quần phẩm. Theo cõi Ta-bà sở kiến: đản dục vương cung, yếm thế tu hành, hàng ma thành Phật, nên gọi hưng thế.”
Pháp thân, chân thân của Phật xác thực là sung mãn vũ trụ, tất cả thời, tất cả xứ không đâu không có. Chúng ta thấy A Di Đà Phật, có phải là A Di Đà Phật từ Thế giới Cực Lạc đến đây? Không phải, A Di Đà Phật ngay tại hiện tiền, gặp duyên ngài liền hiện hình, duyên mất đi ngài liền không còn. Cho nên, tùy vật hiện hình. Chữ “vật” phạm vi lớn, nếu tùy người, trong mười pháp giới chỉ có pháp giới người; dùng chữ “vật”, đó liền mười pháp giới đều có.
Ở trong Pháp giới Tứ Thánh dễ hiện hình, vì sao vậy? Người ở đó tâm thanh tịnh, vọng tưởng tạp niệm ít, cơ hội thấy Phật nhiều, thế nhưng cũng là khó thấy khó gặp. Vì sao vậy? Họ không muốn thấy Phật. Đây là gì? Không biết áo nghĩa của Tịnh tông, không biết sự thù thắng của Tịnh tông, nguyên nhân ở chỗ này. Ở Nam Thiệm Bộ Châu của chúng ta, chính là trên Trái Đất mà người hiện nay nói đến, Thích-ca Mâu-ni Phật ba ngàn năm trước hiện thân giáo hóa chúng sanh, tuy muốn thấy, phiền não tập khí quá sâu, nghiệp lực quá nặng, đem duyên này chướng ngại mất, muốn thấy không thấy được, cho nên thật là “khó gặp khó thấy”.
“Thị sanh xướng diệt”, điều này không mất thời cơ, chúng sanh có cảm, Phật liền có ứng, liền đến thị hiện xuất sanh, giáo hóa chúng sanh, duyên không còn nữa ngài liền diệt. Đây chính là ý nghĩa thị hiện sanh diệt. “Chửng tiếp quần phẩm”, Phật ứng hóa ở thế gian, mục đích là chửng cứu, tiếp dẫn chúng sanh có duyên.
“Theo cõi Ta-bà sở kiến: đản dục vương cung”, đây là nói Thích-ca Mâu-ni Phật, ba ngàn năm trước xuất sanh ở vương cung Tịnh Phạn vương. “Yếm thế tu hành”, biểu diễn cho chúng ta xem. Bát tướng thành đạo, “hàng ma thành Phật”, hàng ma, nói đơn giản, buông xuống muôn duyên, muôn duyên là ma, có một thứ buông không xuống, một thứ này liền chướng ngại bạn, “nên gọi hưng thế”. Thị hiện buông xuống muôn duyên. Thế Tôn mười chín tuổi rời khỏi gia đình, trong đây có ý nghĩa rất sâu, buông xuống phiền não chướng, nhà là phiền não. Ba mươi tuổi ở dưới cây bồ đề thành đạo, là buông xuống sở tri chướng. Mười hai năm sở học đều buông xuống, như vậy mới đại triệt đại ngộ, hai loại chướng ngại này cần phải triệt để buông xuống. Cho nên, Phật pháp xác thực không quý ở đa văn, quý ở buông xuống. Mục đích nghe kinh ở đâu? Hiểu rõ sự thật chân tướng. Chân tướng là gì? Vạn pháp giai không, kinh “Bát-nhã” nói: “Tất cả pháp vô sở hữu, tất cánh không, bất khả đắc”, đây là chư pháp thật tướng. Thật rõ ràng, thật làm rõ ràng rồi, bạn tự nhiên buông xuống, không cần khuyên bạn. Buông xuống này liền gọi là thành Phật.
[Giải] Chữ “cái” nghĩa là thân Phật biến khắp pháp giới, không có đến đi; tam tế nhất như, vốn không sanh diệt. Chỉ vì ứng cơ độ hóa, nên hiện xuất sanh vương cung, xuất gia tu đạo, hàng ma thành Phật, đây tức là chỗ gọi hưng thế vậy.
“Nghĩa là thân Phật biến khắp pháp giới, không có đến đi, tam tế nhất như, vốn không sanh diệt”. Đây là tự tánh, đây là pháp thân, pháp thân chính là tự tánh, tự tánh chính là pháp thân. Pháp thân không có tướng, tùy theo cảm của chúng sanh, chúng sanh có cảm ngài liền có thể ứng. Chúng sanh hy vọng thấy tướng Phật, ngài liền hiện Phật, chúng sanh hy vọng thấy Bồ-tát, ngài liền hiện Bồ-tát, kinh “Lăng Nghiêm” nói: “Tùy theo tâm chúng sanh mà ứng theo mức họ biết”. Phật tuyệt đối không có khởi tâm động niệm, điểm này chúng ta cần phải có thể khẳng định, cần phải có thể tin tưởng. Thích-ca Mâu-ni Phật năm xưa thị hiện trụ ở thế gian bảy mươi chín năm, Phật có khởi tâm động niệm hay không? Không có. Phật có phân biệt chấp trước hay không? Không có. Nếu ngài khởi tâm động niệm, phân biệt chấp trước, ngài là phàm phu, liền thối chuyển rồi. Bạn nêu ra vấn đề hỏi ngài, ngài lập tức giảng cho bạn nghe, bạn không hỏi ngài, trong tâm ngài trống rỗng, một pháp cũng không có. Bạn nghĩ cái gì ngài liền hiện tướng đó, thị hiện của ngài là cảm ứng, chúng sanh không có cảm ngài liền không có hiện. Cho nên, ngài vốn dĩ không có sanh diệt, không có đến đi, không có thời gian, cũng không có không gian, thời gian, không gian là giả. Tam tế nhất như, tam tế là quá khứ, hiện tại, vị lai, đều không còn, nhất như, không sanh không diệt.
“Chỉ vì ứng cơ độ hóa, nên hiện xuất sanh vương cung, xuất gia tu đạo, hàng ma thành Phật”. Đây đều là biểu diễn, biểu diễn cho chúng sanh thế gian này xem, để họ xem hiểu rồi, tâm có sở cảm ngộ, mục đích ở chỗ này. Người căn tánh bén nhạy, vừa nhìn liền giác ngộ rồi, vấn đề giải quyết rồi; người căn tánh kém một chút, nhìn rồi vẫn không ngộ, lại hướng ngài thỉnh giáo, ngài lại vì bạn thuyết pháp. Cho nên, nguyên tắc giáo hóa chúng sanh của Phật, nói cho chúng ta biết “khai thị ngộ nhập”, đây là tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc phương pháp ngài sử dụng, dùng thiện xảo phương tiện đem cái tâm mê hoặc điên đảo của bạn mở ra, để bạn nhìn thấy chân tâm của bạn, chân tâm chính là Phật. “Đây tức là chỗ gọi hưng thế vậy”, Phật là vì nguyên nhân này xuất hiện ở thế gian.
[Giải] “Khó gặp khó thấy”. “Tịnh Ảnh Sớ” nói: “Nêu rõ gặp Phật khó. Sanh nhằm thời Phật, gọi đó là gặp. Mắt thấy gọi là thấy. Đây đều là khó. Kinh đạo của chư Phật, khó được nghe vân vân, nêu rõ pháp khó nghe. Trong đó trước nêu kinh giáo khó nghe. Tay được quyển kinh gọi là được. Tai nghe gọi là nghe. Cũng có thể lãnh tụng gọi đó là được. Tai xan (xan, thái thủ vậy) gọi là nghe. Những việc này đều khó.” Nên nói “Kinh đạo của chư Phật, khó được khó nghe”.
Đây là câu thứ hai trên kinh, khó gặp khó thấy. Đại sư Tuệ Viễn đời Tùy giải thích rất rõ ràng, gặp (trị) chính là gặp (ngộ), chúng ta gặp được Phật là một sự việc phi thường hiếm có. Vì sao vậy? Sanh nhằm thời Phật, bạn xuất sanh đến nhân gian, cùng thời đại với Phật, đây gọi là trị, chính là gặp được rồi. Cùng thời đại với Phật, bạn có gặp qua Phật chưa? Trên kinh nói đại thành Xá Vệ, Thích-ca Mâu-ni Phật ở đó giảng không ít kinh điển. Thành này ở thời cổ là thành lớn, cư dân mười vạn người, chỉ có một phần ba người gặp qua Phật; có một phần ba người nghe tên, không có gặp mặt; còn có một phần ba người ngay cả tên cũng chưa từng nghe qua. Sanh ở cùng thời đại với Phật, cùng sống ở một thành phố, không hẳn người người đều quen biết, người người đều biết, cho nên đây là việc khó. Gặp Phật đó là có phước báo lớn, người không có phước báo gặp không được. Gặp Bồ-tát, gặp A-la-hán, gặp thiện tri thức, đều cần phải có phước báo, có duyên phận, đây là nhắc nhở chúng ta cần phải trân trọng.
“Kinh đạo của chư Phật”, “Kinh” là kinh điển, “đạo” là phương pháp tu hành, con đường này. “Khó được nghe vân vân”, không dễ đạt được, không dễ nghe được.
“Tay được quyển kinh gọi là được”, bạn đạt được bộ kinh điển này. “Tai nghe gọi là nghe”, chúng ta nghe đến có người giảng bộ kinh này, nghe đến có người đọc tụng bộ kinh này. “Cũng có thể lãnh tụng gọi đó là được”, xưng tụng danh hiệu bạn nghe được, cũng gọi là được. “Tai xan”, xan là ý nghĩa chọn lấy, chúng ta nghe được rồi, đây chính là trong Đại thừa giáo thường nói “một lần thoảng qua tai vĩnh viễn làm hạt giống đạo”. Một câu Phật hiệu này bạn trong một đời nghe qua một lần, danh hiệu này in ở trong A-lại-da thức, đây là hạt giống của A Di Đà Phật. Hạt giống này vĩnh viễn sẽ không tiêu diệt, đời đời kiếp kiếp đều đi theo bạn. Không nhất định ở lúc nào, lai sanh hậu thế lại gặp duyên, lại nghe một tiếng A Di Đà Phật, ấn tượng của bạn liền càng sâu, đem hạt giống này ở trong A-lại-da thức liền khơi dậy. Cho nên mắt thấy tai nghe đều được lợi ích thù thắng vô tỷ, nhưng lợi ích này không ở đời này.
Đời này chúng ta đạt được lợi ích, bạn liền có thể nghĩ mà biết được, trong đời quá khứ đời đời kiếp kiếp từng học qua, nghe rồi hoan hỉ, nghe rồi thật phát nguyện, chân chánh cần phải đi đến Thế giới Cực Lạc. Nghe bộ kinh này, bộ kinh này giới thiệu Thế giới Tây phương Cực Lạc, còn đem Thế giới Cực Lạc cùng với thế giới này của chúng ta làm một cái so sánh, để ấn tượng của bạn càng sâu sắc, càng rõ ràng, bạn có chỗ chọn lựa. Chỉ có người triệt để thấu rõ, họ mới có sự chọn lựa chính xác, biết thế gian này chỉ có khổ không có vui. Người thế gian cho rằng là vui, nào biết đâu vui là nhân của khổ.
Thích-ca Mâu-ni Phật nhìn rõ ràng, nhìn minh bạch rồi, đem vương vị từ bỏ, vinh hoa phú quý từ bỏ, đi cầu đạo, cầu đạo gì? Đạo liễu sanh tử xuất tam giới. Thích-ca Mâu-ni Phật dùng pháp môn nào thành tựu đạo nghiệp? Chúng ta niệm kinh “Di Đà” đều mơ hồ lung tung, không có lưu ý, Đại sư Ngẫu Ích chỉ ra cho chúng ta, lúc này mới hoảng nhiên đại ngộ, Thích-ca Mâu-ni Phật là niệm A Di Đà Phật thành Phật. Trên kinh nói ngài ở đời ác ngũ trược, khó hành có thể hành, được A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vậy liền thành Phật rồi. Đời ác ngũ trược khó tin có thể tin, khó hành có thể hành, chính là pháp môn niệm Phật. Mọi người không tin tưởng, mọi người không chịu làm, ngài làm cho chúng ta một tấm gương, “Nhớ Phật niệm Phật, hiện tại tương lai nhất định thấy Phật”. Làm dáng vẻ cho chúng ta xem, chúng ta lúc này mới có thể tin tưởng, lúc này mới có thể phát tâm, lấy Thế Tôn làm tấm gương, nhận chân theo ngài học tập.
“Nên nói kinh đạo của chư Phật, khó được khó nghe”, đạt được không dễ, nghe được không dễ. Hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển, kỹ thuật in ấn đặc biệt phát triển, kinh điển in ấn số lượng lớn, đạt được dễ dàng. Sáu mươi năm trước lúc tôi học Phật, thấy kinh điển liền xúc động rất sâu. Vì sao vậy? Thật khó được. Chúng ta muốn có được một bộ kinh điển, đi đâu để tìm? Đến chùa viện tìm “Đại Tạng Kinh” để chép. Lúc đó không có photocopy, chỉ có tự mình chép tay, một bộ kinh có lúc chép một, hai tháng, làm gì có phương tiện như hiện nay! Giá thành rẻ như vậy, in ấn tinh mỹ như vậy, chúng ta cần phải đặc biệt trân trọng. Chúng ta là người từng trải, trải qua những ngày tháng gian khổ đó, cho nên đối với kinh điển phi thường trân quý. Người hiện nay không thấy qua hiện tượng này, cho rằng quá nhiều rồi, rất dễ đạt được, cho nên đều không xem trọng, đều không biết trân quý. Điều này có lẽ chính là trên kinh Phật nói, “phú quý học đạo khó”, họ đạt được quá dễ dàng, họ không trân trọng.
[Giải] “Gặp được thiện tri thức, nghe pháp có thể hành, điều này cũng là khó”. “Thiện tri thức”, “thiện” nói là đối với ta có ích, dẫn dắt ta vào đạo thiện. Tri nói là tri tâm. Thức nói là thức hình. Như “Pháp Hoa Văn Cú 4” nói: “Nghe danh gọi là tri, thấy hình gọi là thức, người này ích lợi đạo Bồ-đề cho ta, gọi là thiện tri thức.” Nên biết hai chữ “tri thức” này, là nghĩa tri tâm thức hình. Nên thiện tri thức cũng xưng thiện hữu. Cùng quen cùng biết dẫn dắt ta vào nẻo thiện, xưng là thiện hữu, tức thiện tri thức vậy. Lại “Viên Giác Kinh Đại Sớ 15” nói: “Khéo hay biết thật biết vọng, biết bệnh biết thuốc, gọi là thiện tri thức.” Là nói có thể liễu biệt chân vọng, thông đạt chân tế, biết căn cơ chúng sanh, ứng bệnh cho thuốc, gọi là thiện tri thức vậy. Lại “An Lạc Tập” y theo “Pháp Cú Kinh” nói: “Phật ngôn, thiện tri thức giả, năng thuyết thâm pháp. Vị không, vô tướng, vô nguyện. Chư pháp bình đẳng, vô nghiệp vô báo, vô nhân vô quả, cứu cánh như như, trụ ư thật tế. Nhiên ư tất cánh không trung, xí nhiên kiến lập nhất thiết pháp, thị vi thiện tri thức. Thiện tri thức giả, thị nhữ phụ mẫu, dưỡng dục nhữ đẳng Bồ-đề thân cố; thiện tri thức giả, thị nhữ nhãn mục, năng kiến nhất thiết thiện ác đạo cố; thiện tri thức giả, thị nhữ đại thuyền, vận độ nhữ đẳng xuất sanh tử hải cố; thiện tri thức giả, thị nhữ hoàn thằng, năng vãn nhữ đẳng xuất sanh tử cố dã.” Kinh ấy lại nói: “Tất cả chúng sanh muốn được A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cần phải thân cận thiện tri thức, thưa hỏi pháp yếu.” Lại “Pháp Hoa Kinh Diệu Trang Nghiêm Vương Phẩm” nói: “Thiện tri thức, là nhân duyên lớn. Sở dĩ hóa đạo khiến được thấy Phật, phát tâm A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.”
“Gặp được thiện tri thức, nghe pháp có thể hành, điều này cũng là khó”. Gặp được thiện tri thức chân chánh, nghe được thuyết pháp, có thể đi tu hành, điều này khó. Chúng ta hồi tưởng mười năm ở Đài Trung, thầy Lý giảng kinh xác thực tôi một buổi cũng không bỏ qua, giảng ở đâu tôi đều theo đến đó, chúng tôi là thường tùy chúng, có mười mấy người. Thầy giảng kinh từng chữ từng câu đều là vì tôi giảng, chúng tôi là tâm thái như vậy, cho nên có thể học được một chút đồ vật. Thầy là giảng cho người khác, không phải giảng cho tôi, vậy tôi không phải cái gì cũng không học được? Mười năm đó không phải theo luống công rồi? Cho nên bạn có thể học được bao nhiêu đồ vật, nói lời thành thật, Thích-ca Mâu-ni Phật đã nói, đệ tử về sau kết tập thành kinh điển, lưu truyền cho đời sau, chúng ta ngày nay đạt được, mở quyển kinh ra từng chữ từng câu là vì tôi nói, không phải vì người khác nói, không liên can với người khác, tôi mới có thể xem hiểu kinh, mới có thể thể hội được ý nghĩa.
Có một lần tôi cùng trưởng lão Mahathir nói chuyện phiếm nói đến, tôi nói với ông ấy tôi đọc “kinh Koran” tôi là tâm thái gì, tôi là tín đồ Hồi giáo kiền thành nhất. Nếu không phải là tín đồ Hồi giáo kiền thành nhất, ý nghĩa của “kinh Koran” bạn không thể lãnh hội. Tôi đọc “Cựu Ước Tân Ước”, đọc “Kinh Thánh”, tôi là tín đồ Cơ Đốc kiền thành nhất, tôi mới tường tận nó nói cái gì. Đây chính là Tổ Ấn Quang nói, “một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Bạn đọc tụng, bạn nghe giảng, một chút tâm thành kính cũng không có, bạn cái gì cũng không đạt được.
Chư Phật Như Lai, Pháp thân Đại sĩ giảng kinh dạy học, là lấy tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chân thành, tâm từ bi phổ vì tất cả chúng sanh, tất cả chúng sanh ai ai cũng đều có phần. Họ có thể tiếp nhận bao nhiêu, đó là vấn đề tâm thái của họ, Tổ Ấn Quang nói, bạn có mấy phần thành kính, bạn liền được mấy phần lợi ích. Tôi từng dùng Huệ Năng và Thần Tú làm ví dụ. Đại sư Thần Tú theo Ngũ tổ thời gian lâu dài, luôn có mười mấy hai mươi năm, trở thành đại đệ tử dưới tòa Ngũ tổ. Pháp của Ngũ tổ không truyền cho ông ấy, truyền cho một Huệ Năng mà mọi người căn bản không quen biết, nguyên nhân gì? Thần Tú đối với Ngũ tổ có một trăm phần cung kính, đạt được là một trăm phần lợi ích; Huệ Năng đối với Ngũ tổ là một vạn phần cung kính, ông ấy đạt được là một vạn phần lợi ích, cho nên y bát truyền cho ông ấy, không truyền cho Thần Tú.
Bạn liền nghĩ đến, điều này cùng với việc ở bên thầy thời gian dài ngắn không có quan hệ, nghe kinh bao nhiêu cũng không có quan hệ. Có thể nói, Ngũ tổ thuyết pháp, Thần Tú không khuyết một buổi; mà Ngũ tổ thuyết pháp, Đại sư Huệ Năng một buổi cũng chưa từng nghe qua, chỉ là cuối cùng triệu kiến, nửa đêm canh ba ở trong phòng phương trượng, giảng đại ý kinh “Bát-nhã” cho ông ấy, ông ấy trong một đời chỉ nghe một tiết học này, chúng ta ước chừng không quá hai giờ đồng hồ, ông ấy được vạn phần lợi ích! Đạo lý này nhất định cần phải hiểu. Tổ sư đại đức, cổ Thánh tiên Hiền không ai không dạy chúng ta, trực hạ thừa đương, câu này quan trọng. Phật đối với ai nói? Đối với tôi nói; Khổng tử đối với ai nói? Đối với tôi nói, trực hạ thừa đương bạn liền toàn bộ đạt được.
Bạn cần phải khách sáo, cần phải không dám nhận, không muốn, vậy được rồi, bạn cái gì cũng không đạt được. Sự gia trì của Phật Bồ-tát, sự gia trì ân đức của tổ tông đều là thật, đều không phải là giả, cũng xem tâm thái của bạn là gì. Sức mạnh gia trì cùng với tâm thái của bạn nhất định tỷ lệ thuận, bạn cần phải thật tin, cần phải chân chánh có thể lý giải, chân tín thâm giải, bạn mới có thể đạt được. Nếu bạn phát tâm y giáo tu hành, vì người diễn nói, sức mạnh gia trì đó liền lớn, thường thường vượt khỏi sự mong đợi của bạn. Vì sao vậy? Bạn không vì chính mình, bạn vì người khác, vì chúng sanh. Tâm thái này cùng tâm thái của Phật Bồ-tát hoàn toàn tương đồng. Phật Bồ-tát không có vị nào là vì chính mình, đều là vì tất cả chúng sanh.
“Thiện tri thức, thiện nói là đối với ta có ích, dẫn dắt ta vào đạo thiện”, đối với ta có chỗ tốt, có lợi ích, có thể dẫn dắt ta hướng đến đạo thiện, đây là thiện. “Tri nói là tri tâm. Thức nói là thức hình”. Tri là gì? Tâm tâm tương ấn, tôi cùng người này chí đồng đạo hợp; thức, quen biết họ, quen biết hình trạng của người này, người quen biết họ này, hợp lại gọi là thiện tri thức. “Pháp Hoa Văn Cú 4, nghe danh gọi là tri”, đây lại là một cách giải thích, “thấy hình gọi là thức”, tôi nghe nói tên của người này, chưa từng gặp mặt, đây là tri; gặp mặt qua, đây là thức. “Người này ích lợi đạo Bồ-đề cho ta”, ích là lợi ích, ích cũng là tăng trưởng, họ có thể giúp tôi tăng trưởng đạo nghiệp Bồ-đề, người này chính là thiện tri thức của tôi.
“Nên biết hai chữ tri thức này, là nghĩa tri tâm thức hình, nên thiện tri thức cũng xưng thiện hữu. Cùng quen cùng biết dẫn dắt ta vào nẻo thiện, xưng là thiện hữu”. Kinh “Hoa Nghiêm” ngũ thập tam tham, Thiện Tài đồng tử đối với năm mươi ba vị thiện tri thức đều xưng là thiện hữu. Xác thực cùng quen cùng biết, dẫn dắt ta vào nẻo thiện. Thiện trong các điều thiện, điều thiện vô dữ luân tỷ là gì? Là Thế giới Tây phương Cực Lạc. Ngày nay A Di Đà Phật, Thích-ca Thế Tôn dẫn dắt chúng ta đến Thế giới Cực Lạc, đây là đại thiện vô tỷ, chúng ta nếu như quen biết hai người này, hai người này là đại thiện tri thức của chúng ta, là thiện hữu chân chánh của chúng ta, chúng ta cần phải thân cận các ngài. Ngài ở đâu? Đọc tụng kinh điển chính là thân cận ngài, chia sẻ tâm đắc học tập chính là thân cận ngài. Cổ nhân có chỗ gọi là “tế thần như thần tại”, tâm này biết bao thiện! Chúng ta mở quyển kinh ra, đối mặt kinh văn, giống như A Di Đà Phật đang ở trước mặt tôi nói với tôi những lời này, Thích-ca Phật ở trước mặt giới thiệu cho tôi. Cần phải dùng tâm như vậy để đi đọc tụng, đi thọ trì, bạn mới thực sự đạt được lợi ích.
Trong kinh điển từng chữ từng câu hàm chứa vô lượng nghĩa. Vô lượng nghĩa chúng ta có thể nhìn thấy bao nhiêu? Bạn nếu như xem thường Thích-ca Mâu-ni Phật, xem thường Khổng tử, đó là thời đại phong kiến, thời đại lạc hậu, bạn muốn nói họ như vậy. Vậy chúng ta ngày nay thậm chí một ý nghĩa chính xác cũng không nhìn thấy, chỗ nhìn thấy toàn là lệch lạc, toàn là tà. Vì sao vậy? Tâm chúng ta tà, tâm chúng ta lệch, tâm lệch nhìn ra lệch, tâm tà nhìn ra tà, không có chánh niệm, cho nên đồ chánh bạn một chút cũng không nhìn thấy. Còn có gì đáng để kiêu ngạo? Tâm nếu là chánh, thái độ của bạn cũng chánh rồi, hành vi của bạn cũng chánh rồi. Bạn có mấy phần chánh, đều biểu hiện ra bên ngoài. Người chân chánh có học vấn, có đạo hạnh, bạn giấu không được, người ta liếc mắt một cái liền nhìn thấu rồi, không nói mà thôi. Cho nên gặp chân tri thức cần phải dùng chân tâm, luôn phải có mấy phần thành ý, bạn mới chân chánh gặp được, chân chánh được lợi ích, bằng không mà nói, gặp được cũng bằng như không gặp được.
“Viên Giác Kinh Đại Sớ 15 nói, khéo hay biết thật biết vọng, biết bệnh biết thuốc, gọi là thiện tri thức”, đây là từ trên đối trị mà nói. Vì sao xưng họ thiện tri thức? Họ biết chân vọng, phàm phu không biết. Đạo đức nhân nghĩa lễ là chân, tham sân si mạn nghi là vọng, họ biết, chúng ta không biết. Chúng ta biết liền quyết định không làm, vọng liền sẽ buông xuống. Tham sân si mạn vẫn là yêu thích, vẫn là luyến tiếc buông xuống, bạn tốt! Đạo đức nhân nghĩa lễ, không để ý nó, hình như đối với tôi không có quan hệ gì, không có chỗ tốt gì, bài xích, cự tuyệt, đây là gì? Không biết chân, không nhận ra vọng, không biết bệnh, cũng không nhận ra thuốc. Bệnh phát tác, biết khổ rồi, vì sao mắc bệnh không biết, làm thế nào để trị căn bệnh này cũng không biết. Thời đại này, người như vậy quá nhiều quá nhiều rồi. Nếu là chân chánh học Phật, thật sự đem kinh nghe hiểu, nghe minh bạch, thật sự y giáo phụng hành, tâm thái của bạn hoàn toàn không giống nhau. Thế giới Ta-bà này là vọng, Thế giới Cực Lạc là chân. Lục đạo luân hồi là bệnh, niệm Phật cầu sanh Tịnh độ là thuốc. Bạn thật làm minh bạch, bạn có thể không làm sao? Chúng ta không thật buông xuống, vẫn còn rất nhiều vướng bận, vẫn còn rất nhiều tạp niệm, đó là gì? Ngu si, mê hoặc. Cho nên thật quay đầu không dễ, thật khó.
“Là nói có thể liễu biệt chân vọng”, liễu là tường tận, biệt là phân biệt, chân chánh tường tận phân biệt đâu là chân, đâu là vọng. “Thông đạt chân tế”, chân tế là chân tánh, minh tâm kiến tánh, gọi là thật tế. “Biết căn cơ chúng sanh”, biết căn tánh của chúng sanh, “ứng bệnh cho thuốc”. Chúng ta lần này hạ quyết tâm, ứng bệnh cho thuốc, đem tất cả kinh giáo đều dừng lại, không giảng nữa, chuyên giảng bộ kinh “Vô Lượng Thọ” này, chuyên giảng bộ chú giải này của Hoàng Niệm lão. Vì sao vậy? Đây là thuốc hay, thật có thể trị bệnh. Nếu chúng ta đem bộ kinh này nghe hiểu, nghe minh bạch rồi, có thể y giáo phụng hành, xác thực có thể giải quyết vấn đề hiện tiền của chúng ta. Khẳng định có thể giúp chúng ta phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, giúp chúng ta điều chỉnh quan hệ nhân sự, chúng ta với tất cả người đều có thể chung sống hòa mục, hóa giải xung đột. Chính chúng ta tốt rồi, gia đình tốt rồi, xã hội liền tốt rồi, quốc gia liền tốt rồi, thế giới mới có thể khôi phục trật tự bình thường, nó thật sự là thuốc A-già-đà. Nếu thật giác ngộ rồi, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, vậy vấn đề gì cũng giải quyết rồi, đời sau đến Thế giới Cực Lạc làm Phật rồi, chân chánh được đại viên mãn. Đây gọi là thiện tri thức chân chánh.
“Lại An Lạc Tập y theo Pháp Cú Kinh nói, Phật ngôn, thiện tri thức giả, năng thuyết thâm pháp”. Những thứ nào là thâm pháp? “Vị không, vô tướng, vô nguyện. Chư pháp bình đẳng, vô nghiệp vô báo, vô nhân vô quả, cứu cánh như như, trụ ư thật tế. Nhiên ư tất cánh không trung, xí nhiên kiến lập nhất thiết pháp, thị vi thiện tri thức”. Đây là thật sự nói sâu sắc. Không, vô tướng, vô nguyện là trong pháp đại tiểu thừa gọi là đại tam không tam muội. Người có thể chứng được đại tam không tam muội, đây là bậc Thánh nhân! Có thể thỉnh được người này đến làm thầy, đây là hy vọng duy nhất trong tâm của các gia trưởng thời cổ đại. Người thầy như vậy tâm lượng của họ là chư pháp bình đẳng, là Bồ-tát, phàm phu không làm được! Đổi lời mà nói, kiến tư phiền não, trần sa phiền não đoạn rồi, mới có thể đến cảnh giới này, công phu của họ ở A-la-hán, ở trên Bích-chi-phật, thật không phải là người bình thường.
“Vô nghiệp vô báo, vô nhân vô quả, cứu cánh như như, trụ ư thật tế”, bốn câu này là người minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Ai là người như vậy? Thích-ca Mâu-ni là người như vậy. Loại người này minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật rồi, đây là chân thiện tri thức trong Đại thừa giáo. Người thầy như vậy thật sự là có thể gặp không thể cầu, ở chỗ cổ nhân chúng ta nói đại Thánh nhân, Nghiêu Thuấn Vũ Thang họ có thể đảm đương nổi. Tâm địa thanh tịnh bình đẳng, chí công vô tư, chân chánh có thể làm được tác chi quân, tác chi thân, tác chi sư, là cảnh giới của Pháp thân Bồ-tát. Có ta liền không bình đẳng, chỉ cần có ta, bình đẳng liền không thấy nữa, chỉ cần có ta liền có nghiệp có báo, liền có nhân có quả.
“Nhiên ư tất cánh không trung, xí nhiên kiến lập nhất thiết pháp”, đó là gì? Tất cánh không là tự tánh, Tịnh tông chúng ta nói Thường Tịch Quang, đây là cảnh giới do Phật đích thân chứng được, đây là chứng được Phật quả cứu cánh viên mãn. Phật Bồ-tát đại từ đại bi, chúng sanh có cảm, ngài nhất định có ứng. Chúng ta cầu một người thầy tốt, cái loại tâm chân thành vì gia đình, vì quốc gia, vì tộc quần, vì nhân loại thiên hạ mưu cầu hạnh phúc, Phật Bồ-tát liền có cảm ứng. Trong tâm chúng ta thực sự đang cầu, Phật Bồ-tát liền ứng hóa xuất hiện ở thế gian, nên lấy thân gì được độ, ngài liền hiện thân đó.
Trụ tất cánh không trong kiến lập tất cả pháp, đây là gì? Chí công vô tư. Trong Đại thừa kinh giáo thường nói, “tất cả pháp vô sở hữu, tất cánh không, bất khả đắc”, Phật Bồ-tát các ngài khế nhập cảnh giới này, thị hiện ở thế gian giúp tất cả chúng sanh lìa khổ được vui. Dùng thủ đoạn gì? Dùng dạy học làm đầu. Khổ từ đâu mà đến? Khổ từ mê hoặc mà đến, bạn đối với chân tướng vũ trụ nhân sanh không biết, mê mà không giác, cho nên họ liền sanh phiền não, liền tạo nghiệp, liền thọ báo, khổ đến như vậy đó. Đạo giải quyết khổ là gì? Chính là giáo dục, giúp họ giác ngộ, giúp họ tường tận chân tướng vũ trụ nhân sanh.
Thích-ca Mâu-ni Phật xuất hiện ở thế gian, vì chúng ta giảng kinh dạy học bốn mươi chín năm, vì chúng ta nói có, nói không, cuối cùng nói không có là một không phải hai. Đây chính là kiến lập tất cả Phật pháp. Phật pháp sơ cấp, sơ học, nói có cho bạn, bạn hiểu, có nhân có quả, có nghiệp có báo, có lục đạo luân hồi, có mười pháp giới. Những chúng sanh này hiện tiền sinh sống ở trong đó, bạn nói cho họ họ rất quen thuộc, họ hoàn toàn có thể tiếp nhận. Sự dạy học của Phật là từ từ đem họ hướng lên nâng cao, bốn mươi chín năm giảng kinh dạy học, mười hai năm trước là tạo dựng nền tảng, giáo A Hàm, trước đem người làm cho tốt. Người đều làm không tốt, làm sao có thể thành Phật? Không có cái lý này. Trong giáo Tiểu thừa, dạy bạn làm thế nào làm một người tốt, phân lượng này phi thường lớn. Lão tổ tông dạy chúng ta ngũ luân ngũ thường, tứ duy bát đức, đây là cốt lõi của giáo dục Thánh Hiền, mấy ngàn năm nay đời đời kiếp kiếp đều phụng hành, cho nên xã hội an định, nhân dân hạnh phúc, chính trị xuất hiện đại trị, thời thịnh trị, là giáo dục thành tựu, không phải cái khác.
Rời khỏi giáo dục liền sai rồi, rời khỏi giáo dục quyết định sẽ đi xuống dốc, quyết định sẽ hướng đến diệt vong. Một gia đình có thể hưng vượng lên hay không, dựa vào giáo dục. Bạn làm thế nào đem con cái của bạn dạy cho tốt, đời sau thành tựu của chúng ở trên bạn? Trong thành tựu quan trọng nhất là đức hạnh, không phải quyền vị, không phải tài phú. Thứ đó là dễ nhìn, mây khói qua mắt, thời gian rất ngắn liền tiêu thất. Chân chánh vĩnh hằng, có thể chịu được thử thách, là đạo đức. Bạn có đem con cái trong nhà dạy cho tốt hay chưa? Từ nhỏ dạy chúng thể hội được đạo đức, nhận chân học tập, đoạn ác tu thiện, tích công lụy đức. Chúng lại dạy con cái của chúng, đời đời kiếp kiếp, gia đình của bạn làm gì có cái lý không hưng vượng!
“Thiện tri thức giả, thị nhữ phụ mẫu, dưỡng dục nhữ đẳng Bồ-đề thân cố”. Điều này ví dụ nói, người không thể không có thiện tri thức, không thể không thân cận thiện tri thức. Trong Phật pháp thường nói, thân mạng của chúng ta được từ cha mẹ, ân nuôi dưỡng của cha mẹ, ân đức này cùng với Phật là bình đẳng. Tịnh nghiệp tam phước là nguyên tắc chỉ đạo tu hành thành Phật tối cao của Bồ-tát Phật pháp Đại thừa, câu đầu tiên chính là “hiếu dưỡng cha mẹ”, câu thứ hai “phụng sự sư trưởng”, có thể nói hiếu thân tôn sư là căn bản thành tựu của tất cả pháp thế xuất thế gian. Không hiếu cha mẹ, không kính sư trưởng, pháp thế xuất thế gian đều sẽ không thành tựu, đây là cội gốc lớn. Bạn xem ở đây cũng là câu đầu tiên dùng ví dụ này, thiện tri thức là cha mẹ của chúng ta, pháp thân huệ mạng của chúng ta, thân Bồ-đề chính là pháp thân huệ mạng, được từ thầy. Thân mạng được từ cha mẹ, huệ mạng được từ thầy, ân đức của thầy cùng cha mẹ là bình đẳng, sao có thể không kính thầy? Cho nên thiện tri thức là thầy, thầy cùng cha mẹ giống nhau, nuôi dưỡng pháp thân huệ mạng chúng ta.
“Thiện tri thức giả, thị nhữ nhãn mục, năng kiến nhất thiết thiện ác đạo cố”. Con người ở trên ngũ quan, mắt quan trọng nhất, không có mắt cái gì cũng nhìn không thấy. “Năng kiến nhất thiết thiện ác đạo cố”, bạn có trí tuệ, bạn mới chân chánh nhìn ra cái gì là thiện, cái gì là ác. Tổ tông, Thánh Hiền, Phật Bồ-tát tuy thường thường nói, chúng ta cũng có thể nói ra được, tương ưng với tánh đức là thiện, trái nghịch với tánh đức là ác. Tánh đức là gì? “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”, đây là lão tổ tông nói, Thánh nhân nói. Cái thiện này không phải thiện của thiện ác, thiện của thiện ác là đệ nhị nghĩa rồi, đây là đệ nhất nghĩa, cái thiện này là khen ngợi nhân tánh tốt tột cùng rồi, viên mãn tột cùng rồi, một chút tì vết cũng tìm không thấy.
Phật dạy chúng ta học tập mục tiêu cuối cùng là gì? “Tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật”, câu này của Phật cùng với lão tổ tông chúng ta nói bổn tánh bổn thiện là một ý nghĩa. Lão tổ tông chúng ta dạy người, người người đều có thể thành Thánh nhân, Phật pháp là người người đều có thể làm Phật. Mục đích chúng ta học Phật ở đâu? Thành Phật, không phải làm cái khác, học Phật chính là thành Phật đi vậy. Lão tổ tông chúng ta, thành Thánh thành Hiền, Thánh Hiền quân tử là ba học vị của văn hóa truyền thống, học vị cao nhất là Thánh nhân, học vị thứ hai là Hiền nhân, học vị thứ ba là Quân tử. Phật giáo cũng là ba học vị, học vị cao nhất là Phật đà, học vị thứ hai là Bồ-tát, học vị thứ ba là A-la-hán. Người người có thể thành Phật, nên thành Phật, cũng chính là bạn thọ giáo dục, nên lấy được học vị cao nhất, điều này không thể không biết.
Cho nên thiện tri thức giống như nhãn mục, bạn mới có thể biết cái gì là thiện, cái gì là ác. Trong đệ nhất nghĩa của thiện, ngũ luân, ngũ thường, tứ duy, bát đức, thiện; đệ nhị nghĩa, trong cửa Phật giảng thập thiện, ngũ giới, tam quy, thập thiện. Ngược lại thập ác, thập ác là ác, sát, đạo, dâm, vọng, trong vọng có bốn loại, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham, sân, si, đây là ác. Bạn phải nhận thức, thứ này không phải chuyện tốt, tuyệt đối mang đến cho bạn tai nạn. Bạn nếu như làm sát đạo dâm vọng, bạn nếu như làm tham sân si mạn, bạn quyết định là có tai nạn, sẽ chịu tai nạn. Bạn có thể ngược lại, không sát, không đạo, không dâm, không vọng ngữ; không lưỡng thiệt, lưỡng thiệt là châm ngòi thị phi; không ỷ ngữ, ỷ ngữ là hoa ngôn xảo ngữ lừa gạt người khác; không ác khẩu, nói chuyện thô lỗ; không tham, không sân, không si, bạn quyết định mang lại lợi ích. Lợi ích thứ nhất, thân tâm khỏe mạnh, bạn tự tại an vui, mang đến cho bạn gia đình nhất định là hạnh phúc mỹ mãn, mang đến cho xã hội an định hòa bình, mang đến cho quốc gia trường trị cửu an, mang đến cho thiên hạ là thái bình, hài hòa, bạn cần phải nhận thức.
“Thiện tri thức giả, thị nhữ đại thuyền, vận độ nhữ đẳng xuất sanh tử hải cố”. Sanh tử hải chính là lục đạo luân hồi, chúng ta lưu lạc trong lục đạo vô lượng kiếp, đời đời kiếp kiếp ra không khỏi. Thế nhưng xác thực có rất nhiều không biết sự thật chân tướng, vĩnh viễn không có nghĩ đến tôi muốn xuất ly lục đạo. Gặp thiện tri thức, nghe sự dạy bảo của thiện tri thức, biết được sự thật chân tướng, muốn cầu xuất ly, tìm không thấy lối thoát. Lối thoát có, tám vạn bốn ngàn pháp môn nhà Phật thường nói, pháp môn nào cũng có thể giúp bạn xuất ly. Thế nhưng căn tánh mỗi người không giống nhau, người căn tánh bén nhạy thì được, họ y theo phương pháp này tu học, có thể đi ra, người căn tánh kém một chút thì không được, tu định không đạt được định, được định không thể khai trí tuệ, chiếm đại đa số, xác thực số ít người thành tựu rồi. Bạn nói người tu hành các đời bao nhiêu? Có mấy người thành tựu? Không gặp được pháp môn Tịnh độ, không gặp được pháp môn niệm Phật, gặp được rồi, đối với đạo lý này làm không rõ ràng, làm không minh bạch, đối với pháp môn này liền bán tín bán nghi, không có nhận chân tu học, cơ hội lại để vuột mất ngay trước mắt, điều này chiếm tỷ lệ rất lớn. Nếu thật làm rõ ràng, làm minh bạch rồi, không khó, tổng cương tu học của Tịnh tông liền tám chữ, “phát tâm Bồ-đề, một hướng chuyên niệm”, bạn liền thành công.
“Thiện tri thức giả, thị nhữ hoàn thằng”. Hoàn thằng là dải lụa buộc nút ấn thời cổ, thứ này rất nhẹ, cũng rất đẹp, thế nhưng lực kéo của nó rất lớn, rất kiên cố, nó có thể kéo vật rất nặng, cho nên nói “năng vãn nhữ đẳng xuất sanh tử cố dã”, đây đều là ví dụ, nó có thể đem bạn kéo đến liễu sanh tử xuất tam giới. Điều này ví dụ phi thường hay, nói lên chúng ta học Phật nhất định phải nương tựa thiện tri thức, không nương thiện tri thức chân chánh mà học, chúng ta đời này được lợi ích không nhiều. Chân chánh được đại lợi ích, nhất định phải nương thiện tri thức.
“Kinh ấy lại nói, tất cả chúng sanh muốn được A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cần phải thân cận thiện tri thức, thưa hỏi pháp yếu”. Kinh này chính là “Kinh Pháp Cú” dẫn trong “An Lạc Tập”, A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề dịch nghĩa sang chính là Vô Thượng Bồ-đề, tất cả chúng sanh muốn chứng được Vô Thượng Bồ-đề, Vô Thượng Bồ-đề là thành Phật, “cần phải thân cận thiện tri thức, thưa hỏi pháp yếu”, bạn muốn thành tựu, bạn không thể không thân cận thiện tri thức, xin thiện tri thức dạy bảo bạn pháp môn quan trọng tu hành, phương pháp quan trọng. Phương pháp quan trọng không gì qua được khán phá buông xuống, bạn thật sự nhìn phá được, thật sự buông xuống được, vậy mới được. Không có sự chỉ điểm của thiện tri thức, tự mình muốn đi lần mò, quá khó khăn, phi thường dễ dàng lần mò vào ngã rẽ. Cho nên sự chỉ điểm của thiện tri thức quá quan trọng, không thân cận thiện tri thức, làm sao có thể thành tựu? Đây là sư thừa tự cổ chí kim mà cổ nhân chúng ta nói, bạn là kế thừa của người thầy nào, không có sư thừa, bế môn tạo xa, rất ít có thành tựu. Những khai thị quan trọng này, chúng ta cần phải thường thường ghi nhớ trong tâm, cần phải thường thường trong cuộc sống hằng ngày khởi lên công phu quán chiếu, chúng ta mới sẽ không bị hoàn cảnh bên ngoài mê hoặc.
“Lại Pháp Hoa Kinh Diệu Trang Nghiêm Vương Phẩm nói: Thiện tri thức là nhân duyên lớn, sở dĩ hóa đạo khiến được thấy Phật, phát tâm A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.” Đây dẫn dụng kinh “Pháp Hoa” nói, vì sao cần phải thân cận thiện tri thức? Thiện tri thức là nhân duyên lớn. Thiện tri thức có thể giúp chúng ta phát tâm Bồ-đề, thiện tri thức là gì? Thầy. Tôi rất may mắn, tôi học Phật là Giáo sư Phương khải mông, Chương Gia Đại sư đắp gốc cho tôi, hoàn thành trong tay thầy Lý, tôi theo thầy Lý học kinh giáo mười năm, theo Chương Gia Đại sư ba năm. Mười ba năm này chuyên công, bằng như học trường chuyên khoa vậy. Cho nên thiện tri thức là nhân duyên lớn, không có ba người thầy này, thiếu một người, tôi đều không thể thành tựu. Cho nên tôi một đời này vĩnh viễn cảm tạ ba người thầy này.
[Giải] “Muốn chứng Bồ-đề, nên cầu thiện hữu. Đạo cầu bạn nên như kinh Viên Giác nói: Chúng sanh thời mạt thế, sắp phát đại tâm, cầu thiện tri thức, muốn người tu hành, nên cầu tất cả người chánh tri kiến. Tâm không trụ tướng, không trước cảnh giới Thanh văn Duyên giác. Tuy hiện trần lao, tâm hằng thanh tịnh. Thị hiện có các lỗi, tán thán phạm hạnh. Không khiến chúng sanh nhập phi luật nghi. Cầu người như vậy, tức được thành tựu A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.”
“Muốn chứng Bồ-đề, nên cầu thiện hữu. Đạo cầu bạn nên như kinh Viên Giác nói: Chúng sanh thời mạt thế, sắp phát đại tâm, cầu thiện tri thức, muốn người tu hành, nên cầu tất cả người chánh tri kiến. Tâm không trụ tướng, không trước cảnh giới Thanh văn Duyên giác.” Đây là nói thời kỳ mạt pháp, chính là thời đại hiện đại chúng ta này, chúng ta muốn học Phật, chúng ta “muốn chứng Bồ-đề”, chứng Bồ-đề chính là thành Phật đạo, then chốt này là ở thầy. “Nên cầu thiện hữu”, thiện tri thức, thiện hữu trên kinh nói này đều là thầy, cần cầu thầy tốt. Nếu cầu được thầy tốt thật sự, bạn khẳng định có thành tựu, cho nên quan hệ giữa thầy và học trò phi thường mật thiết. Thầy và học trò là duyên phận, có thể gặp không thể cầu. Sự việc này là cùng với thiện căn phước đức nhân duyên trong đời quá khứ có quan hệ mật thiết, không có ngẫu nhiên, không có nhân duyên, vĩnh viễn sẽ không tụ hội.
“Đạo cầu bạn”, đoạn kinh văn này trên kinh “Viên Giác” có giảng, hoàn toàn là nói thời đại hiện đại chúng ta này, chúng sanh mạt thế. Chúng ta không cầu A-la-hán, không cầu Bích-chi-phật, cũng không muốn sanh thiên, chúng ta muốn cầu làm Bồ-tát, muốn xuất ly lục đạo luân hồi, muốn xuất ly mười pháp giới, chúng ta phát cái tâm này, chính là “phát đại tâm”, đại tâm là gì? Là cầu Đại thừa, tu Bồ-tát đạo, đây là phát đại tâm. Chúng ta cầu thiện tri thức, chúng ta muốn tu hành, chúng ta muốn ở trong đời này có một kết quả tốt; kết quả này, chính là lý tưởng của chúng ta, nguyện vọng của chúng ta có thể thực hiện. Đương nhiên thầy tốt nhất là người chân chánh khai ngộ, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, đây là thiện tri thức đệ nhất đẳng, đây chính là “tất cả người chánh tri kiến”. Cái gì là chánh tri kiến? “Tâm không trụ tướng”. Tâm không trụ tướng này, chính là trên kinh “Kim Cang” nói buông xuống tứ tướng, “ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng”, bốn tướng này buông xuống rồi; tâm không trụ tướng, tâm mới chân chánh thanh tịnh; tâm cần phải trụ tướng, trong tâm liền có tướng, có tướng tâm liền không thanh tịnh.
Đại sư Huệ Năng nói “vốn không một vật, chỗ nào dính bụi bặm”, chính là tâm không trụ tướng. Chân tâm là vắng lặng, trong chân tâm không có tướng. Hiện nay nhà khoa học nói rất cụ thể, cái gì là tướng? Tướng là hiện tượng, nhà khoa học đem hiện tượng trong vũ trụ quy nạp thành ba đại loại, hiện tượng vật chất, hiện tượng tinh thần, hiện tượng tự nhiên. Tâm ba loại tướng này đều không có, đây là chân tâm. Chân tâm khởi tác dụng có vô lượng trí tuệ, vô lượng đức năng, vô lượng tướng hảo. Phật trên kinh “Hoa Nghiêm” nói, “tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng của Như Lai”, chính là chỉ điều này.
Tâm nếu là trụ tướng, tâm liền bị ô nhiễm. Ô nhiễm này liền gọi là vọng tâm, vọng tâm cùng chân tâm là một tâm, thật sự là một không phải hai. Trụ tướng liền gọi là vọng tâm, không trụ tướng liền gọi là chân tâm, trong tâm sạch sẽ gọn gàng, cái gì cũng không có, đây chính là chân tâm, có một thứ đồ vật chính là vọng tâm. Thứ đồ vật nào? “Ta”, có ta đó là cội nguồn của sự ô nhiễm. Ta là sự việc như thế nào? Chân tâm vừa có hiện tượng chấn động, hiện tượng chấn động này phi thường nhanh, tần số phi thường cao, phiền thường nhanh. Chính là Bồ-tát Di Lặc nói, “trong một cái búng tay có 320 ngàn tỷ danh niệm”, tần số trong một cái búng tay, số lần chấn động là 320 ngàn tỷ. Chính là nói chân tâm nổi lên gợn sóng, gợn sóng này phi thường phi thường vi tế, không những chúng ta không biết, Phật trong Đại thừa giáo nói, định công từ Thất địa Bồ-tát trở về trước vẫn chưa thể phát hiện, đến Bát địa trở lên liền toàn bộ nhìn thấy rồi.
Chấn động này liền gọi là vọng tâm, liền không gọi là chân tâm, theo vọng tâm liền hiện ra một cái ta; vốn dĩ không có ta, liền hiện ra một cái ta rồi. Vọng tâm này gọi là A-lại-da, danh từ tiếng Phạn, ý nghĩa của A-lại-da là ý nghĩa hàm tàng, chính là bao la vạn tượng, hiện tượng gì cũng ở trong đó, đều ở trong đó xuất hiện. Chúng ta vô tri, chấp trước, thủ tướng, đây chính là trụ tướng, lấy một phần kiến phần của A-lại-da. Kiến phần của A-lại-da vô lượng vô biên vô số vô tận, họ chỉ lấy một phần, một phần đó làm cái gì? Làm ta. Chúng ta hiện nay nói linh hồn, lấy một phần đó làm ta, không biết toàn bộ A-lại-da là ta, chỉ lấy một phần này, bạn nói có hỏng bét hay không? Bạn xem biến pháp giới hư không giới hiện tượng vật chất toàn bộ là tướng phần của A-lại-da, chấp trước thân này gọi là thân ta. Đều là chấp trước một chút điểm làm ta, không biết toàn bộ là ta, quên mất rồi, toàn bộ là ta. Cho nên người giác ngộ chân chánh, họ là tâm thái gì? Biến pháp giới hư không giới tất cả pháp đều là ta, vậy thật sự giác ngộ rồi.
Thật sự là ta, từ trong đây lại sanh khởi rồi, liên đới phát sanh, ba cái phiền não, đây là gốc rễ của phiền não. Bạn xem, có ta, theo ta liên đới khởi lên, ngã ái liền khởi lên, ngã ái là gì? Tâm tham; ngã si, ngu si, ngu si là gì? Sự thật chân tướng không minh bạch rồi; thứ ba, ngã mạn, ngạo mạn, ngạo mạn chính là một phần của sân khuể. Cho nên, tham sân si đi theo ra, tham sân si gọi là câu sanh phiền não, nó không phải là học được. Ban đầu mê kiến tướng nhị phần của A-lại-da cho là ta, nó liền đi theo khởi lên, cắm rễ thâm sâu, cần phải biết cội nguồn của phiền não này, sự lợi hại của nó. Như vậy xem ra, càng mê càng sâu, càng lún càng sâu, trụy lạc xuống dưới, càng lún càng sâu. Trụy lạc đến sâu nhất, địa ngục Vô gián, trụy lạc đến cạn, Pháp giới Tứ Thánh, toàn bộ trụy lạc rồi.
Do đó, chúng ta chân chánh muốn học Phật, trước tiên bạn nhất định cần phải biết, tâm không thể trụ tướng. Chúng ta vô lượng kiếp đến nay đã trụ tướng, chấp trước một phần kiến phần của A-lại-da làm ta, đó chính là linh hồn, đi đầu thai ở trong lục đạo, giở trò những thủ đoạn này; chấp trước hiện tượng vật chất một phần này làm cơ thể của ta, cần phải hiểu đây là toàn bộ sai rồi. Bạn dùng tâm này, dùng thân này tạo vô lượng vô biên tội nghiệp, quả báo, tạo tác tội nghiệp nó có phản ứng, phản ứng chính là quả báo, quả báo chính là lục đạo luân hồi. Cho nên, lục đạo luân hồi từ đâu mà đến? Tự bạn tạo, thiện nghiệp, bất thiện nghiệp của bạn hỗn hợp tạo thành. Thiện nghiệp là hai đạo nhân thiên, bất thiện nghiệp là súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, toàn bộ là chính bạn tạo, bên ngoài thật sự không có, trong tự tánh xác thực không có.
Chúng ta hiện nay học Phật minh bạch đạo lý này, nhất định phải đem một câu kinh văn này của kinh “Kim Cang” thời thời khắc khắc mang ra làm căn cứ quán chiếu, tôi cần phải y theo câu này để làm quán chiếu. Câu kinh văn này chính là “phàm tất cả tướng đều là hư vọng”, bạn thường thường nghĩ điều này. Nghĩ điều này thì sao? Từ từ bạn liền có thể đem tướng buông xuống rồi, bạn liền có thể quay về tâm không trụ tướng, như vậy mới có thể phản bổn hoàn nguyên. Chúng ta không thể xem thường cổ nhân, cổ nhân làm được rồi, tâm không trụ tướng, chúng ta so với họ kém xa rồi. Tâm của cổ nhân thanh tịnh, tâm thanh tịnh sanh trí tuệ; chúng ta hiện nay tâm tạp loạn, tâm tạp loạn sanh phiền não. Phiền não không thể giải quyết vấn đề, trí tuệ có thể giải quyết vấn đề. Thích-ca Mâu-ni Phật mười chín tuổi buông xuống phiền não chướng, ba mươi tuổi buông xuống sở tri chướng, chúng ta có bản lĩnh này hay không? Buông xuống phiền não chướng được đại tự tại, buông xuống sở tri chướng khai đại trí tuệ. Trí tuệ, đức năng, tướng hảo đều là trong tự tánh vốn dĩ cụ túc, không phải từ bên ngoài đến. Sở học bên ngoài là tri thức, từ trong nội tâm phát ra bên ngoài đó là trí tuệ, trí tuệ có thể giải quyết tất cả vấn đề. Năng lượng đó của trí tuệ không thể nghĩ bàn, những nhà vật lý học lượng tử gần đây mới phát hiện.
Tâm không trụ tướng này là điều kiện đầu tiên, cũng chính là thầy thật có thể buông xuống được. Từ chỗ nào mà xem? Thầy không có tự tư tự lợi, thầy không có danh văn lợi dưỡng, thầy không có tham sân si mạn, đây là thầy tốt, đây là thiện tri thức chân chánh. Họ đối với tự tư tự lợi, danh văn lợi dưỡng, tham sân si mạn không có buông xuống, họ là phàm phu, cùng tôi không khác mấy. Xem người từ chỗ này mà xem, không phải nghe họ giảng, thứ họ giảng họ có làm được hay không? Chỗ này giảng, có thể nói không thể hành, đây không phải thiện tri thức.
Phía trước chúng ta học qua, trên kinh “Nhân Vương” nói, kinh “Nhân Vương Bát-nhã” giảng pháp vận của Thích-ca Mâu-ni Phật, giảng rất hay, chánh pháp, tượng pháp, mạt pháp. Cái gì gọi là chánh pháp? Có người giảng kinh, có người tu hành, có người chứng quả. Giảng kinh, họ nghe kinh nghe rồi khai ngộ, minh bạch rồi, chân chánh minh bạch rồi họ tự nhiên buông xuống, buông xuống liền gọi là tu hành. Tu hành không có gì khác, từ sơ phát tâm đến quả vị Như Lai, chính là buông xuống. Giống như tòa lầu năm mươi hai tầng vậy, tôi buông xuống tầng thứ nhất, tôi liền lên tầng thứ hai, buông xuống tầng thứ hai tôi liền lên tầng thứ ba, chính là sự việc như thế này. Bạn đem năm mươi mốt tầng bên dưới toàn bộ buông xuống, bạn liền đến tầng trên cùng, năm mươi hai tầng rồi, không buông xuống không lên được. Trí tuệ giúp bạn buông xuống, trí tuệ nói cho bạn biết, bạn hiện nay chưa hề viên mãn, bên trên vẫn còn, còn phải hướng lên trên, lại buông xuống.
Tôi sơ học Phật, liền hướng Chương Gia Đại sư thỉnh giáo vấn đề này, làm thế nào để tôi rất nhanh liền có thể khế nhập cảnh giới? Thầy nói cho tôi sáu chữ, “nhìn phá được, buông xuống được”. Thật vậy, nhìn phá giúp bạn buông xuống, buông xuống lại giúp bạn nhìn phá, cho nên liền hai câu này tương phụ tương thành, từ sơ phát tâm đến quả vị Như Lai. Nhìn phá là trí tuệ, là học vấn, buông xuống là công phu. Buông không xuống, bạn không thể hướng lên nâng cao, bạn vĩnh viễn đứng ở chỗ này, nhất định phải buông xuống. Bạn tìm thiện tri thức liền từ chỗ này đi quan sát, tế tâm đi quan sát bạn liền sẽ không nhận sai người. Bạn xem “tâm không trụ tướng”, nói lên tâm họ thanh tịnh bình đẳng, thanh tịnh bình đẳng nhất định giác ngộ, đại triệt đại ngộ, đây là chân thiện tri thức, là thầy tốt.
Cầu được thầy tốt thật sự, bạn khẳng định có thành tựu. Thế nhưng ở thời đại này người có tu đã không nhiều, người có chứng không còn nữa. Vậy làm thế nào đây? Không còn cách nào đành cầu thứ theo, cầu thứ theo chính là có thể chân chánh lý giải nghĩa kinh, có thể tu hành không có chứng quả, thứ họ học được họ vẫn có thể làm được. Nếu thật sự không có, họ làm không được, thế nhưng họ giảng không giảng sai, cũng được. Họ làm không được, chính chúng ta có thể làm được, đây là tốt nhất, đây chính là cổ nhân gọi là “trò giỏi hơn thầy”. Học trò thành tựu vượt qua thầy, thầy có thể nói không thể hành, học trò có thể nói có thể hành, đây cũng là một thầy tốt. Sợ nhất là thầy tri kiến bất chánh, vậy người này liền không thể theo họ, cho nên then chốt ở tri kiến. Như “Đại Sớ” nói: Người hoại kiến tuy không hoại hạnh, không kham làm đạo nhãn cho chúng sanh”, đây là chọn lựa thiện tri thức, tri kiến đệ nhất, hành vi của họ vẫn là thứ theo, quan trọng nhất họ là chánh tri chánh kiến, đây là thầy tốt, “tuy hoại hạnh mà không phá kiến, thế thì chân thắng phước điền của nhân thiên”, phước điền thù thắng chân chánh.
Đại sư Thiên Thai từng nói qua, Đại sư Trí Giả, ngài giảng “có thể nói không thể hành”, thứ ngài nói một chút cũng không sai, tương ưng với chỗ kinh điển giảng, tương ưng với chỗ Tổ sư nói, ngài không làm được, “quốc chi sư dã”, người này có thể làm quốc sư. Vì sao vậy? Ngài nói không sai, cùng với Thánh Hiền, cùng với Phật Bồ-tát giảng không có hai dạng, có thể làm quốc sư. Nếu như nói “có thể nói lại có thể hành, quốc chi bảo dã”, đó là cấp quốc bảo. Ngài có thể nói đến, không có làm được, bạn cần nghe lời của ngài đi làm, bạn được chỗ tốt, bạn được lợi ích, chính ngài làm được làm không được không có quan hệ. Từ đây có thể biết, chân thiện tri thức quan trọng nhất là tri kiến chính xác, họ có một chút tật xấu nhỏ, có một chút tập khí, điều này không hề gì, vô thương đại nhã.
Văn nhân xác thực có tập khí này, không tu biên bức, rất tùy tiện, không quá gò bó những lễ tiết đó. Họ là gì? Họ tự do quen rồi, thế nhưng thứ họ giảng giảng rất hay, là thật, đây là quốc sư; họ lại có thể chân chánh có thể làm được, đó chính là quốc bảo. Đại sư Trí Giả nói cho chúng ta biết. Quốc bảo tìm không thấy, có thể tìm được quốc sư liền không tệ, họ làm không được, chúng ta nỗ lực làm, làm được vượt qua họ, đây chính là trong dạy học gọi là thanh xuất ư lam, học trò vượt qua thầy. Vượt qua thầy là gì? Thầy không làm được, học trò làm được rồi, đây liền vượt qua thầy. Vượt qua thầy, thầy hoan hỉ, thầy không có tâm đố kỵ, thầy mong sao học trò mỗi người đều vượt qua mình. Vì sao vậy? Phong khí mới có thể đoan chánh. Trong xã hội người tốt nhiều rồi, người thật làm nhiều rồi, xã hội này có tiến bộ, xã hội tường hòa, xã hội này mới trường trị cửu an.
Nếu học trò đều không bằng thầy, thầy sẽ rơi nước mắt, vì sao vậy? Đời sau không bằng đời trước, sẽ hướng đến diệt vong; đời sau tốt hơn đời trước, vậy hướng đến hưng vượng. Tâm người làm thầy, tâm người làm cha mẹ, đều hy vọng thế hệ sau vượt qua chính mình, đây là thiện tri thức chân chánh. Nếu nói thế hệ sau không bằng chính mình, đây liền không phải thiện tri thức. Thế hệ sau không bằng tôi, thế hệ sau nữa lại không bằng thế hệ sau, đây liền diệt rồi, điều này quá đáng sợ rồi. Thời cổ ở nước ta, người làm quan đội mũ, các bạn xem trên sân khấu kịch hát hí kịch, đó là thật, không phải là giả. Trước kia làm quan đội mũ gọi là tiến hiền quan, phía sau cao phía trước thấp, giống như một bậc thềm đi lên. Phía trước là chính mình, phía sau là lớp người sau, thế hệ sau, hy vọng thế hệ sau cao hơn tôi. Mũ đội trên đầu, bảo bạn niệm niệm không quên dụng tâm bồi dưỡng thế hệ sau, thế hệ sau vượt qua tôi, quốc gia mới có tiền đồ, mới có hy vọng. Nếu tôi là cao nhất, đều không bằng tôi, xong rồi, vậy liền đáng buồn rồi, đạo lý này không thể không hiểu.
[Giải] Lại “Đại Luận” nói: “Đối với các bậc tôn sư, tưởng như Thế Tôn. Nếu có thể khai thích nghĩa sâu, tháo cởi nghi kết, tắc tận tâm kính đó, không nghĩ lỗi khác. Như bao rách đựng báu, không được vì cớ bao xấu, không lấy bảo ấy. Lại như đi đêm đường hiểm, người ác cầm đuốc, không được vì cớ người ác, không lấy sự chiếu sáng ấy. Bồ-tát cũng lại như thế. Ở nơi thầy được trí tuệ quang minh, không chấp lỗi người.” Nên kinh ấy tóm lại nói: “Cầu người như thế, tức được thành tựu A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề”. Nghĩa là người như thế là thiện tri thức chân thật. Ở nơi chân thiện tri thức có thể tri có thể cầu, nên tất chứng Bồ-đề vậy.
“Lại Đại Luận nói”, “Đại Luận” là “Đại Trí Độ Luận”, “đối với các bậc tôn sư, tưởng như Thế Tôn. Nếu có thể khai thích nghĩa sâu, tháo cởi nghi kết, tắc tận tâm kính đó, không nghĩ lỗi khác”. Thật cầu thiện tri thức là tâm thái loại này. Chúng ta từng gặp qua, những năm đầu tôi ở Đài Loan cầu học, thầy Phương Đông Mỹ của tôi có người phê bình ông ấy, nói ông ấy một đồng không đáng. Những người nào? Người cùng quê, người quê Đồng Thành, họ biết, từ nhỏ nhìn thấy ông ấy lớn lên, phê bình ông ấy. Tôi nếu như tin lời của họ, chẳng phải xong rồi sao! Tôi nói sự phê bình của các anh, anh cũng chưa nhìn thấy, anh là nghe người khác nói; tôi ngày nay với thầy Phương là mỗi tuần gặp mặt một lần, tôi chính mắt nhìn thấy ông ấy. Tôi theo Chương Gia Đại sư, phê bình cũng rất nhiều: Chương Gia Đại sư, hòa thượng chính trị, ông ấy hiểu cái gì? Bạn sao lại theo ông ấy học? Theo thầy Lý, người xuất gia nói đó là tứ bảo, không đúng như pháp. Nếu nghe những người này, chúng ta đã sớm tiêu rồi.
Hội tập bản của Hạ Liên lão, là lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam thầy của tôi đưa cho tôi, mi chú bản của ngài đưa cho tôi. Tôi ở các nơi trong và ngoài nước giảng bổn này, Đài Loan có người phản đối, trên Đại lục phản đối nhiều hơn. Có người nói với tôi: Áp lực quá lớn, pháp sư có muốn đừng giảng bổn này nữa không? Đổi bổn khác giảng đi! Tôi nói không được, tôi nếu không kiên trì tiếp, người ta một câu nói liền đem tôi tiễn đến chỗ chết đi, sẽ không bao giờ ngóc đầu lên được nữa, Tịnh Không pháp sư phản thầy bạn đạo. Tội danh này nặng! Bất luận họ phản đối thế nào, tôi vẫn kiên trì, tôi tuyệt đối không phản thầy, tôi tuyệt đối không bạn đạo. Các người phê bình tùy các người phê bình, tôi không để trong lòng, tôi không nghe không hỏi. Tôi ngày ngày giảng bộ kinh này, ngày ngày học bộ kinh này, tôi ở đây đạt được lợi ích; bạn không đạt được lợi ích, bạn không biết. Bất luận bạn giữ lý do gì phản đối, kinh này là thầy đưa cho tôi, tôi tin tưởng thầy, tôi vĩnh viễn cảm ân thầy, kỷ niệm thầy.
Mãi cho đến Quốc gia khẳng định bộ kinh này rồi, mới không có người nói chuyện. Tôi thấy Cục Tôn giáo Quốc gia in Tịnh độ ngũ kinh, “Vô Lượng Thọ Kinh” chính là hội tập bản của Hạ Liên Cư. Quốc gia thừa nhận rồi, Quốc gia có trí tuệ, Quốc gia thông minh. Không những chúng ta cần phải kiên trì hoằng dương bổn này, vì sao vậy? Hạ lão hội tập, mười năm công phu, lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ chú giải, sáu năm công phu, mang theo bệnh. Hạ lão chưa từng gặp mặt, Niệm lão là bạn cũ, ông ấy lớn hơn tôi mười mấy tuổi, đối với tôi phi thường coi trọng. Dụng tâm khổ não của hai người này, nếu không có người đứng ra hoằng dương, bị chôn vùi đi, không có người biết, thật đáng tiếc biết bao. Tôi chính là không nhận phó chúc của thầy Lý, tôi thấy hai vị lão nhân này đối với bộ kinh này hạ công phu lớn như vậy, nếu không đem nó tuyên dương, phát dương quang đại, làm sao xứng đáng với hai vị lão nhân này? Bộ kinh này, bộ chú giải này, đối với chúng sanh chín ngàn năm thời mạt pháp mà nói, quan trọng hơn bất cứ thứ gì.
Cho nên tôi ngày nay thà đem “Hoa Nghiêm” buông xuống, tôi toàn tâm toàn lực đến hoằng dương bổn này. Trọn những năm tháng còn sống của tôi, một năm giảng một bộ, mỗi lần giảng một bộ ước chừng cần một ngàn hai trăm giờ đồng hồ, lợi ích chân thật. Lợi ích chân thật nhất là tôi đạt được, tín tâm của tôi quyết định được sanh Thế giới Cực Lạc. Hai vị họ đều vãng sanh rồi, ngày nay việc này giao cho tôi, tôi quyết định được sanh, điều này tôi có tín tâm, đây là lợi ích chân thật. Cho nên, cầu học, tu đạo một cái tâm thái quan trọng nhất, chính là đối với thầy, “đối với các bậc tôn sư”, đối với thầy, “tưởng như Thế Tôn”. Chúng ta cần phải đem thầy xem là Phật hiện tại, hóa thân của Thích-ca Phật, hóa thân của A Di Đà Phật, chúng ta chân chánh được lợi ích. Nếu chúng ta đem ông ấy xem là người bình thường của thế gian, học giả bình thường, không có tâm cung kính, thậm chí còn có phê phán, vậy chúng ta liền có tội, bạn làm sao có thể học được đồ vật?
Tôi còn nghe được một số đồng tu nói với tôi, một số người xuất gia bên cạnh tôi, nghe tôi giảng kinh, họ lúc nghe tâm không ở đó, sau khi xuống hỏi họ, “Sư phụ là giảng cho người khác, không phải giảng cho chúng ta”. Bạn nói tôi có biết hay không? Tôi đã sớm biết rồi. Hiện nay là dân chủ, tự do, mở cửa, cha không thể quản con cái, thầy không thể quản học trò. Thời đại này đề xướng là nhân quyền, bạn cần nghiêm khắc quản giáo chúng, bạn xâm phạm nhân quyền của con cái, bạn cần quản học trò, bạn cũng xâm phạm nhân quyền của chúng, quyết định không cho phép. Cho nên hiện nay gia đình, chúng ta thấy rất nhiều người làm cha mẹ, gặp mặt tôi kể khổ, con cái không dễ dạy.
Rất nhiều thầy giáo trường học đến kể khổ với tôi, học trò không dễ dạy. Tôi dùng Phật pháp khuyên đạo họ, “hằng thuận chúng sanh, tùy hỉ công đức”, bạn không tùy thuận thì làm thế nào? Bạn ngày nay học trường sư phạm, bạn đến trường học lên lớp, bạn chỉ có hằng thuận. Bạn cần cảm thấy lương tâm bất an, từ chức, không dạy nữa. Cho nên tôi có rất nhiều trường học thỉnh mời tôi, tôi không đi, vì sao vậy? Tôi dạy không được, học trò không nghe. Không bằng tự mình đóng cửa lại lão thật niệm Phật, đọc kinh, niệm Phật, cuộc sống này tự tại biết bao, quyết định vãng sanh Tịnh độ. Thế giới này khi nào cần, chính là mọi người muốn Phật pháp, muốn lời dạy của Thánh Hiền, chúng ta lại đến. Họ khi nào có ý niệm này, chúng ta lại đến, gọi là nương nguyện lại đến, không gấp gáp ở đời này. Lúc họ không thích chúng ta liền rời đi, họ thích chúng ta liền lại đến. Ở thế gian này cũng là như vậy, họ không thích bạn, chúng ta mau rời đi, thích bạn lại đến, chỗ nào thích thì đến đó, rất tự tại. Ngày ngày hoan hỉ, pháp hỉ sung mãn, thường sanh tâm hoan hỉ, đây là Phật dạy cho chúng ta, đây là sự hưởng thụ cao nhất của học Phật. Tất cả pháp thế xuất thế gian buông xuống, một môn thâm nhập, trường thời huân tu. Một con đường, Thế giới Tây phương Cực Lạc, một mục tiêu, thân cận A Di Đà Phật, những thứ khác không phải chỗ chúng ta cầu, cũng không phải chúng ta hy vọng.
Cho nên nghe giáo, tôi thân cận thầy có thể được một chút đồ vật, ngày nay nghĩ lại với tâm thái có quan hệ. Tôi nghe giảng, thầy từng chữ từng câu là vì tôi giảng, tôi không cho rằng ngài vì người khác giảng, ngài chính là nói với tôi. Tôi theo thầy Phương, thật vậy, học trò chỉ có mình tôi, ông ấy không nói với tôi thì nói với ai? Tôi theo Chương Gia Đại sư ba năm, học trò cũng là một mình tôi, chúng tôi mỗi tuần gặp mặt một lần, học một tiết. Chỉ có theo thầy Lý, thầy Lý là mở một lớp, bạn học trong lớp có hai mươi mấy người. Tuy là một lớp bạn học, lúc tôi đi học, thầy từng chữ từng câu nói với tôi, tôi toàn bộ đem nó thu nhặt lại. Không có nói là giảng cho người khác, xưa nay không có quan niệm này. Một số học trò sao có thể có loại quan niệm này? Giảng cho người khác, không phải giảng cho tôi, quan niệm này rất hiếm có. Tôi nếu như không phải tự mắt nhìn thấy, tự tai nghe thấy, bạn nói cho tôi tôi đều không tin. Hiện nay thật vậy, thầy Phương nói, tiên sinh không giống tiên sinh, học trò không giống học trò. Dạy học nếu phá sản, thế giới liền đáng thương rồi, đó chính là ngày tận thế của thế giới mà nhà tiên tri nói đến rồi, vì sao vậy? Dạy học không còn nữa.
“Nếu có thể khai thích nghĩa sâu”, ý nghĩa rất sâu trong kinh Phật, có thể giảng rõ ràng, giảng minh bạch “tháo cởi nghi kết”, sự hoài nghi của chúng ta, kết là chỗ chúng ta không thể thông suốt, không thể thông qua, vì chúng ta giải trừ rồi, chúng ta thật sự được thọ dụng, “tắc tận tâm kính đó, không nghĩ lỗi khác”, cho dù họ có lỗi lầm gì, không cần đi nghĩ những điều này. Đây là chúng ta thường nói, khuyên gắng mọi người, người người chúng ta có một lương tâm, ghi nhớ, tâm của bạn là lương tâm, là phi thường lương thiện. Bạn cần đem lương tâm của bạn đi thu gom những rác rưởi của người bình thường này, những tội nghiệt này, để trong tâm của bạn, bạn liền sai rồi, lương tâm của bạn biến thành thùng rác của người tạo tác ác nghiệp. Bạn là người thông minh sao? Người thông minh sao lại chịu đem lương tâm của chính mình đi chứa rác rưởi của người khác? Chúng ta cần đem trong lương tâm của chúng ta chứa đựng lời dạy của bậc Thánh Hiền, cần chứa tất cả thiện ngôn thiện hạnh của người thiện, mới có thể giúp chúng ta nâng cao, mới có thể giúp chúng ta thành tựu. Cho nên, chúng ta đối với những người này cần phải tận tâm, cần yêu thương bảo vệ, cần hướng họ học tập. Họ có tật xấu tập khí gì, có lúc là đại quyền thị hiện, phàm phu nhìn không hiểu. Họ ở chỗ đó độ hóa chúng sanh, người căn tánh không giống nhau dùng phương pháp không giống nhau.
Điều cuối cùng của tứ nhiếp pháp gọi là đồng sự, điều này thông thường lúc chúng ta giảng đều có một chút kiêng dè, không dám nói tỉ mỉ, nói tỉ mỉ sợ người khác nghe sai rồi, hiểu sai ý. Cho nên tôi giảng đến đồng sự, tôi đều nói chúng ta cùng Phật đồng sự, cùng Bồ-tát đồng sự, tôi không dám giảng cùng người thế gian đồng sự. Người thế gian đồng sự, người này thích khiêu vũ, bạn ngày ngày cùng anh ta khiêu vũ, người đó thích đánh mạt chược, bạn ngày ngày cùng anh ta đánh mạt chược, đó gọi là đồng sự. Có phải như vậy không? Đúng vậy, Bồ-tát có thể làm. Vì sao vậy? Ngài cần độ những người đó, bạn không cùng ở một chỗ với anh ta, bạn làm sao độ được anh ta? Khiêu vũ khiêu rất đẹp, người người đều ngưỡng mộ. Chị từ đâu mà học được vậy? Tôi học từ chỗ A Di Đà Phật. A Di Đà Phật? Đúng, sân khấu lớn ở Thế giới Cực Lạc. Như vậy đem anh ta đưa vào trong cửa Phật rồi, đây gọi là chân thiện tri thức. Đánh mạt chược đều thắng tiền, không có ván nào thua. Bạn từ đâu mà học được vậy? Tôi học từ A Di Đà Phật. Có trí tuệ! Cho nên họ có thể từ phương diện này đem người đưa về con đường chánh, đây là một điều cuối cùng trong tứ nhiếp pháp, quá cao minh rồi! Nhưng bạn không có bản lĩnh này bạn đi học, vậy bạn chính là bị người ta, không phải bạn đưa người, bị người ta đưa chạy mất rồi; thật sự có bản lĩnh này có thể được.
Điều cuối cùng của tứ nhiếp pháp, đó là chư Phật Bồ-tát độ những chúng sanh tạo ác này, dùng những thủ đoạn phi thường này. Cho nên nói là chúng ta thấy họ tạo ác, có lẽ họ ở trong đó chính là cần độ những chúng sanh đó, dùng những thủ đoạn phi thường này. Cho nên, chúng ta không thể nào cho rằng họ là ác, bởi vì chúng ta nghĩ cái ác của họ, đem ác niệm của chúng ta kéo lên, đây là tuyệt đại tuyệt đại sai lầm. Vĩnh viễn không ghi nhớ cái ác của bất cứ người nào, duy trì chính mình thuần tịnh thuần thiện. Việc ác không xem, lời ác không nghe, tuyệt đối không để ở trong tâm, tâm của chúng ta mới vui vẻ, mới tự tại, thuần tịnh thuần thiện, không có ác niệm, không có ấn tượng của ác ở trong đó.
“Như bao rách đựng báu, không được vì cớ bao xấu không lấy bảo ấy”. Bao là một cái túi, cái giỏ. Cái bao này rất rách nát, thế nhưng trong đó đựng báu vật vô giá. Bao rách này là gì? Người thầy này hình như có một chút hoặc là phá giới, hành vi không tốt lắm, bạn thấy rồi bạn liền không theo ông ấy học nữa, sai rồi. Người ta một bụng học vấn, chánh tri chánh kiến, bạn nhìn thấy một chút xíu, bạn cảm thấy không vừa ý, bạn liền không học nữa, ai chịu thiệt thòi? Chính mình chịu thiệt thòi lớn rồi. Ngay cả Thích-ca Mâu-ni Phật, ngay cả Khổng tử đều có người phê bình, chúng ta thân cận những thiện tri thức đó, không thể sánh với Thế Tôn, không thể sánh với Khổng tử. Khổng tử, Phật đều có người phê bình ngài, đều có người phản đối ngài, đều có người mắng ngài. Những người thầy này của chúng ta bị người phê bình, bị người nhục mạ, chúng ta liền thọ nhận thì thôi. Có thể giải thích thì giải thích, không thể giải thích liền gật đầu, bạn nói đều đúng, nhưng tôi vẫn là cần thân cận, tôi vẫn là cần theo ông ấy học tập. Tôi quyết định không thể bởi vì bạn phê bình, tôi liền không đi học nữa, vậy tôi đi đâu để học? Những người phê bình này kém xa thầy. Cho nên chính mình cần phải có trí tuệ, cần phải có trạch pháp, không thể vì người khác nói lỗi lầm của thầy, chúng ta liền không theo ông ấy học, thiệt thòi này chịu quá lớn rồi, đó mới gọi là sai lầm tột cùng.
“Lại như đi đêm đường hiểm”, đường hiểm là con đường nhỏ rất nguy hiểm, “người ác cầm đuốc”, người này không phải là một người tốt, hoặc giả là một người vô tri, người không hiểu lễ số, người không được thọ giáo dục, anh ta cầm bó đuốc đi ở phía trước, anh ta soi đường cho bạn. Bạn vì người này không có tri thức, không muốn ánh đèn này soi, bạn đi đường rơi vào trong hố bạn không thể trách người. Những ví dụ này đều là nói cho chúng ta biết, ghi nhớ “nhân phi Thánh Hiền, thục năng vô quá”, đây Khổng tử nói. Người nào không có lỗi lầm? Bạn ở thế gian tìm một người không có lỗi lầm, quyết định tìm không được, người có lỗi lầm họ cũng có lương tâm. Tìm một người hoàn toàn ác, một người cả đời không có một ý niệm tốt, không có làm một việc tốt, cũng tìm không được. Thế là chúng ta đối với sự quan sát của thiện tri thức, đối với sự thủ xả của thiện tri thức, trong tâm liền có định liệu rồi. Tự mình đích thân cảm thụ là thật, người khác phê bình, hoặc là cố ý, hoặc là vô ý, chúng ta nghe mà như không nghe, nhìn mà không thấy là được, tuyệt không chịu ảnh hưởng của những thứ này, vậy là đúng rồi.
“Bồ-tát cũng lại như thế, ở nơi thầy được trí tuệ quang minh, không chấp lỗi người.” Phật Bồ-tát ở trong ác đạo có hay không? Có. Ngài cần đến ngạ quỷ đạo, ngài hiện thân ngạ quỷ, ngài cùng quỷ hòa cùng một chỗ, đây là gì? Đồng sự nhiếp cuối cùng trong tứ nhiếp pháp. Người này đọa địa ngục rồi, ngài cần đi độ người đó, ngài nhất định hiện thân địa ngục, không hiện thân đồng loại bạn không độ được họ. Nó là một con súc sanh, bạn đi độ nó, cũng cần hiện thân đồng loại. Nó biến thành một con heo, Bồ-tát cũng cần biến thành một con heo, heo cùng heo ở một chỗ. Nó đọa vào thân con kiến, Bồ-tát cũng cần biến thành một con kiến, cùng nó ở một chỗ, mới có thể câu thông, mới có thể giáo hóa nó. Phật Bồ-tát tầm thanh cứu khổ, ở tất cả chúng sanh hiện thân đồng loại, giống như trên kinh “Lăng Nghiêm” nói, “tùy theo tâm chúng sanh mà ứng theo mức họ biết”, không phải tùy ý của chính mình, tùy họ. Đây là tứ nhiếp pháp đến cứu cánh, đều là thuộc về trong đồng sự nhiếp.
Bồ-tát đến nhân gian này của chúng ta, Thích-ca Mâu-ni Phật đến, nhất định thị hiện thân tướng của chúng ta. Bồ-tát đến Trung Quốc, chỗ chúng ta biết được, Đại sư Trí Giả, Thích-ca Mâu-ni Phật tái lai; Đại sư Thiện Đạo, A Di Đà Phật tái lai. A Di Đà Phật tái lai, chúng ta ít nhất biết được ba vị, Thiện Đạo là đúng, Đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ là đúng, hòa thượng Phong Can là đúng. Ba vị này thân phận bại lộ rồi, không có bại lộ chúng ta không biết. Phó Đại sĩ, Bồ-tát Di Lặc tái lai, Bố Đại hòa thượng, Bồ-tát Di Lặc tái lai. Phật Bồ-tát ở Trung Quốc ứng hóa rất nhiều, thân phận không lộ ra nhiều, thân phận lộ ra ít. Vẫn là người Trung Quốc thiện căn sâu dày, tổ tông tích đức.
Ngày nay nói lời thành thật, hai trăm năm gần đây đem lời dạy của tổ tông lơ là rồi. Điều này ở thời cổ, đây là bất hiếu, không hiếu cha mẹ, không kính tổ tiên chính là không hiếu cha mẹ; không kính thầy, Phật pháp là sư đạo, Khổng Mạnh là sư đạo. Không kính thầy, không hiếu cha mẹ, vậy sẽ phải chịu trừng phạt, tai nạn là trừng phạt. Tuy trừng phạt vẫn là yêu thương bảo vệ, cha mẹ trừng phạt con cái, làm gì có cái lý không yêu thương bảo vệ! Thầy trừng phạt học trò cũng là yêu thương bảo vệ. Đối với tổ tiên cần phải có tâm hiếu thuận, đối với thầy cần phải có tâm thành kính, chúng ta mới chân chánh có thể học được đồ vật. Cho nên tốt nhất là, chân chánh học Phật, trong tâm không thể có ác niệm, không thể có lời ác, không thể có hành vi ác. Phàm là tất cả bất thiện toàn bộ buông xuống, người khác nói cũng không cần để ý tới, vĩnh viễn duy trì thanh tịnh bình đẳng giác của chính mình, liền đúng rồi.
Đối với tất cả người tâm hành bất thiện, tha thứ cho họ, quyết định không cần so đo. Chúng ta bị người làm tổn thương, còn phải cảm ân họ, vì sao vậy? Thế tôi tiêu nghiệp chướng, đây đều là thật. Tôi cảm ân họ, nghiệp chướng của tôi liền tiêu rồi, tôi nếu như so đo với họ, cần cùng họ biện bác, tương lai còn cần báo thù, vậy phiền phức lớn rồi. Vì sao vậy? Thế giới Cực Lạc đi không được, cần cùng họ ở trên thế giới này đời đời kiếp kiếp oan oan tương báo, giở trò những thủ đoạn này. Thủ đoạn này hai bên đều đau khổ, hà tất chứ? Cho nên, dùng tâm tình cảm ân chúng ta nâng cao trên diện rộng, họ đến giúp đỡ chúng ta nâng cao, thành tựu nhẫn nhục ba-la-mật của chúng ta, việc tốt, quyết định không phải việc xấu. “Nên kinh ấy tóm lại nói”, tổng kết trên kinh, “cầu người như thế, tức được thành tựu A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề”. Bạn có thể thân cận người chánh tri chánh kiến, hành vi của họ không cần đi quản họ, chánh tri chánh kiến bạn liền có thể đạt được Vô thượng Bồ-đề. “Nghĩa là người như thế là thiện tri thức chân thật. Ở nơi chân thiện tri thức có thể tri có thể cầu”, bạn có thể biết người này chân thiện tri thức, bạn có thể theo họ cầu học, “nên tất chứng Bồ-đề”, bạn quyết định thành tựu.
[Giải] “Đại Sớ” lại nói: “Chỉ bảo khéo thờ minh sư, minh sư tất đích thân gặp việc chỉ dạy. Cũng đồng Thiện Tài ở chỗ Văn Thù phát tâm Bồ-đề rồi, hỏi Bồ-tát hạnh. Văn Thù cũng không nói đủ. Chỉ bảo thân cận thiện hữu, bèn chỉ Tỳ-kheo Đức Vân, triển chuyển bảo đi vậy.” Lại nói: “Nên Kinh Pháp Cú dùng 21 ví dụ, ví cho thiện tri thức, là cha mẹ, mắt sáng, chân cẳng, thang ghế (chữ 橙 đồng âm chữ 凳), ẩm thực, áo báu, cầu cống, tài bảo, nhật nguyệt, thân mạng vân vân. Sau kết lại nói: Thiện tri thức, có vô lượng công đức như thế, cho nên bảo các ngươi thân cận. Đại chúng nghe xong, cất tiếng gào khóc. Tự niệm khoáng kiếp được thiện tri thức thủ hộ. Ngày nay gặp được Như Lai, cho đến chưa từng báo ân, vô tâm thân cận. Nói lời ấy rồi, lại cất thân gào khóc.” Nên “Viên Giác Kinh Phổ Giác Phẩm” phổ khuyến nói: “Chúng sanh mạt thế muốn người tu hành, phải nên tận mạng cúng sự thiện hữu, thờ thiện tri thức.” Mà cung kính thiện tri thức, đầu tiên ở chỗ như giáo phụng hành, điều này cũng rất khó. Nên nói “nghe pháp có thể hành, điều này cũng là khó”.
Đoạn bên dưới, “Đại Sớ lại nói: Chỉ bảo khéo thờ minh sư”, chữ minh này không phải là danh khí lớn, danh khí lớn chưa chắc có học vấn thật sự, thực học, điều này cần đặc biệt chú ý, đừng bị danh khí làm lỡ chính mình. Trong kinh Phật giảng minh sư là chữ minh của quang minh, chữ minh này là gì? Có trí tuệ, chân chánh có trí tuệ, chân chánh có học vấn, bạn đi thỉnh giáo họ. “Minh sư tất đích thân gặp việc chỉ dạy”, người thầy này dạy bạn, ông ấy nhất định có thiện xảo phương tiện, giúp bạn khai ngộ. “Cũng đồng Thiện Tài ở chỗ Văn Thù phát tâm Bồ-đề rồi, hỏi Bồ-tát hạnh. Văn Thù cũng không nói đủ, chỉ bảo thân cận thiện hữu, bèn chỉ Tỳ-kheo Đức Vân, triển chuyển bảo đi vậy.” Đây là thiện xảo phương tiện của thiện tri thức, Thiện Tài đồng tử thầy của ngài là Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, ngài ở dưới hội thầy được căn bản trí. Căn bản trí là gì? Giống như Đại sư Huệ Năng ở hội Ngũ tổ thành tựu vậy, minh tâm kiến tánh, điều này ngài đạt được rồi. Lại hướng lên trên, thầy bảo ngài đi tham học, không cần trụ ở chỗ của tôi, ở chỗ tôi tốt nghiệp rồi. Vì sao vậy? Bạn có năng lực phân biệt thị phi thiện ác, bạn có năng lực này, sau khi có năng lực này, người người đều là thầy. Người thiện, theo họ tu thiện; người ác, nhìn thấy ác hành của họ, chính mình phản tỉnh có hay không, có tắc cải chi, vô tắc gia miễn. Thiện ác toàn bộ là thầy, không có ai không phải là thầy, thành tựu vô lượng trí tuệ của bạn.
Ngũ thập tam tham thật sự là như vậy, trong đó đại biểu tạo ác, Thắng Nhiệt Bà-la-môn ngu si, Cam Lộ Hỏa vương đại biểu phẫn nộ, đại biểu tham sân si, còn có một dâm nữ Phạt-tô-mật-đa là kỹ nữ, đại biểu tham. Ba người này đại biểu tham sân si, Thiện Tài đồng tử đều cần phải đi tham phỏng. Bạn xem tham phỏng ba người này, Thiện Tài đồng tử có lễ kính, lễ kính chư Phật, không có tán thán. Tham phỏng bất cứ một người thầy nào có lễ kính, có tán thán, chỉ có ba người này có lễ kính, không có tán thán, bạn tinh tế mà xem. Vì sao không có tán thán? Bởi vì chỗ họ biểu hiện cùng tánh đức không tương ưng, người bình thường không thể học, cần lấy đó làm răn đe liền đúng rồi. Không thể học tham sân si, cần có thể từ chỗ này quay đầu, vậy liền thành tựu rồi, đại thành tựu. Ba người này là người nào? Đều là chư Phật tái lai thị hiện, dùng phương pháp này độ hóa loại chúng sanh đó. Cần phải dùng phương pháp này, không dùng phương pháp này bạn liền không vào được không khí của họ, bạn liền không có cách nào tiếp xúc với họ, dùng thủ đoạn này. Nhập vào cảnh giới của họ, Thiện Tài đồng tử cảm thấy thanh lương tự tại, Phật Bồ-tát thị hiện.
Cho nên Thiện Tài lúc này tốt nghiệp rồi, hỏi Bồ-tát hạnh làm thế nào thực tiễn? Thực tiễn trong đời sống, thực tiễn trong công việc, thực tiễn trong đối nhân xử thế, học vấn chân thật. Bồ-tát Văn Thù không có nói với ngài, bảo ngài đi thân cận thiện hữu, hoàn toàn mở cửa rồi. Trước khi chưa khai ngộ không thể rời khỏi thầy, sau khi khai ngộ, thầy sẽ không để bạn ở chỗ ngài ở thêm một ngày, nhất định bảo bạn đi ra ngoài tham phỏng. Trước khi chưa khai ngộ, chỉ nghe một mình thầy, đồ vật của người nào giảng không thể nghe, sách của người nào không thể xem, quy củ phi thường nghiêm ngặt. Sau khi khai ngộ giải phóng hoàn toàn, bạn cái gì cũng có thể xem, cái gì cũng có thể nghe. Vì sao vậy? Bạn chỉ có được lợi ích, bạn sẽ không mê hoặc, bạn có loại năng lực này. Bạn xem nhiều, nghe nhiều, tiếp xúc nhiều, bạn liền cái gì cũng biết rồi, không gì không biết. Bát-nhã vô tri, không gì không biết.
Dạy học thời cổ đều dùng phương pháp này, tôi đến Đài Trung thân cận thầy Lý, thầy Lý đối với tôi dùng phương pháp này. Cùng ngài gặp mặt, những người ngồi ở đó còn có mấy người, tôi nhớ là ở phòng khách Thư viện Từ Quang, phòng khách không lớn, ước chừng chỉ lớn bằng phòng thu âm này của chúng ta. Thầy liền đưa ra điều kiện với tôi: Chú muốn theo tôi học tập, bái tôi làm thầy, tôi có ba điều kiện, chú có thể tiếp nhận, chú ở lại, tôi dạy chú; chú không thể tiếp nhận, chú liền đi tìm bậc cao minh khác. Ba điều kiện nào? Điều thứ nhất, từ hôm nay trở đi, những thứ chú học lúc trước, bất kể là Chương Gia Đại sư dạy, tiên sinh Phương Đông Mỹ dạy, cho đến chú là, tôi nhất khái không thừa nhận. Tất cả từ đầu học lại, chú theo tôi học, tôi dạy chú. Điều kiện thứ hai, từ hôm nay trở đi chỉ có thể nghe một mình tôi giảng kinh, bất cứ người nào giảng kinh không được nghe. Điều kiện thứ ba, từ hôm nay trở đi những văn tự chú xem này, không được tôi cho phép không thể xem, ngay cả kinh Phật cũng không thể. Điều kiện này rất hà khắc, hình như thầy không xem ai ra gì, ngông cuồng tự đại, tôi xưa nay chưa từng tiếp xúc qua một người như vậy. Thế nhưng nghĩ lại một chút, đến đây rồi, hơn nữa lão cư sĩ Chu Kính Trụ giới thiệu, không phải người bình thường. Lão cư sĩ cùng thầy Lý bạn tốt cùng năm, nói với tôi, đối với Phật học, đối với Nho học tạo nghệ rất sâu. Pháp sư Sám Vân tiến cử, giới thiệu tôi. Tôi vừa nghĩ như vậy, được rồi, tiếp nhận, ba điều kiện đều tiếp nhận. Sau khi tiếp nhận, thầy nói rồi, có kỳ hạn. Ngài nói có kỳ hạn, bao lâu? Năm năm, năm năm cần phải tuân thủ. Năm năm sau, chú học thành công rồi, liền mở cửa rồi, chú cái gì cũng có thể xem, cái gì cũng có thể nghe, trong vòng năm năm không cho phép.
Nói thật ra, tôi ở đó ba tháng hiệu quả liền lộ ra, vì sao vậy? Đầu óc thanh tịnh rồi, không thể xem, không thể nghe, chỉ nghe một mình ngài, liền đơn thuần rồi. Tâm thanh tịnh liền có trí tuệ, thật có hiệu quả. Mới biết phương pháp này vi diệu, ngài làm sao nghĩ ra cách này? Nửa năm sau, tôi liền phục rồi, một chút nghi hoặc cũng không có. Năm năm sau, tôi liền thưa với thầy, năm năm mãn kỳ rồi, ngài nói thế nào? Tôi nói thưa thầy, con lại làm thêm năm năm. Ngài liền mỉm cười, tôi lại tuân thủ thêm năm năm, tôi tuân thủ phương pháp này năm năm. Về sau liền mở cửa rồi, bạn cái gì cũng có thể xem, cái gì cũng có thể nghe, vì sao vậy? Bạn có năng lực biện biệt thị phi tà chánh, bạn sẽ không mắc lừa. Vì sao trước tiên không cho bạn xem? Bạn không có năng lực này, bạn xem cái này cũng tốt, cái đó cũng tốt, bạn rất dễ dàng phân tâm, rất dễ dàng lạc mất phương hướng. Cho nên đây gọi là gì? Sư thừa, thời cổ nói sư thừa chính là điều này.
Mãi cho đến hình như là năm 1997, tôi đến Singapore, gặp được Pháp sư Diễn Bồi, đây cũng là một vị pháp sư giảng kinh thuyết pháp, ngài giảng Duy thức. Chúng tôi cũng là bạn cũ, bởi vì đều là người giảng kinh, đặc biệt thân thiết. Ngài mời tôi đến đạo tràng của ngài nói khai thị cho tín đồ của ngài, một giờ đồng hồ. Sau khi giảng xong, ngài tiếp đãi tôi, mời tôi ăn cơm, chúng tôi liền nói chuyện phiếm, nói đến tình hình năm xưa tôi gặp mặt thầy Lý trải qua này, ngài liền bật cười. Ngài nói ngài xuất gia từ rất nhỏ, làm tiểu sa-di, theo Pháp sư Đế Nhàn, Pháp sư Đế Nhàn cũng là dùng phương pháp này dạy ngài, cũng là ba điều kiện này. Tôi mới hoảng nhiên đại ngộ, hóa ra không phải chuyên lợi của thầy Lý Bỉnh Nam, mới biết đời đời kiếp kiếp ở Trung Quốc tổ tổ tương truyền chính là điều này.
Bạn đối với thầy không phục, không nghe lời, người ta dạy bạn làm gì? Dạy luống công. Hoàn toàn tin tưởng, không có lời thứ hai dễ nói, điều kiện trước tiên nói rõ. Thế nhưng, Pháp sư Diễn Bồi không có thành tựu, vì sao vậy? Ngài trốn đi mất rồi, không nói với thầy liền chạy đi mất. Chạy đến Hạ Môn, ngài đi thân cận Pháp sư Thái Hư, Pháp sư Thái Hư ở đó mở Phật học viện. Thật đáng tiếc! Ngài nếu không rời khỏi Pháp sư Đế Nhàn, ngài là tổ sư thế hệ tiếp theo của Thiên Thai tông. Cho nên sự bỏ đi không lời từ biệt này, đi như vậy, rất xót xa. Chúng tôi mới hoàn toàn minh bạch đạo lý này, tôi nói tôi còn không tệ, thầy năm năm tôi còn thêm năm năm, gốc rễ mới cắm vững chắc. Hiện nay tìm học trò này tìm không được nữa. Bạn nghĩ bạn đưa ra điều kiện này, bạn có gì tài giỏi? Người cao minh hơn bạn nhiều vô kể, tôi hà tất phải thân cận bạn, chịu sự ràng buộc của bạn? Không còn nữa, đại khái sư thừa có lẽ đến thế hệ tôi liền dừng lại, phía sau không còn nữa. Ai có thể chịu được ba điều này?
Cho nên minh liễu thật tướng chư pháp, nhất định cần phải có thiện tri thức, chính là thầy tốt. Tiêu chuẩn của thầy nhất định cần cầu có tu có chứng, chân chánh minh tâm kiến tánh, Thiền tông nói, Giáo hạ giảng nhất định cần Đại khai viên giải, trong niệm Phật cần Lý nhất tâm bất loạn. Danh xưng không giống nhau, cảnh giới hoàn toàn tương đồng, dùng giai vị kinh “Hoa Nghiêm” mà nói, đều là Viên giáo Sơ trụ trở lên. Những người này họ đã siêu việt mười pháp giới, trụ Cõi Thật Báo Trang Nghiêm của chư Phật Như Lai. Chỗ đó người tu hành có bốn mươi mốt giai cấp, cũng chính là nói, Thập trụ Bồ-tát, Thập hạnh Bồ-tát, Thập hồi hướng Bồ-tát, Thập địa Bồ-tát của Viên giáo, bốn mươi thứ vị này, cộng thêm một Đẳng giác, đều ở chỗ này tu hành. Đây là thiện tri thức chân chánh của nhân thiên, thiện tri thức này thật khó gặp, không dễ dàng.
Gặp không được thì làm thế nào? Bất đắc dĩ mà cầu tiếp theo, vậy tìm người có tu có học, họ không có chứng quả. Chân chánh có tu có học, học nhất định có sư thừa, tôi theo thiện tri thức này, họ theo ai học, nhất định cần biết sư thừa. Trên kinh giảng cho chúng ta rất minh bạch, thiện tri thức quan trọng nhất vẫn là ở trên hành trì, họ có thể buông xuống tự tư tự lợi, buông xuống danh văn lợi dưỡng, buông xuống tham sân si mạn, chưa chứng quả, điều này cần chú ý. Chứng quả đó là đại thiện tri thức đệ nhất đẳng, chưa chứng quả. Đối với những việc này so với người bình thường là buông xuống rất nhiều rất nhiều, cho nên tâm họ thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, đối với kinh giáo họ mới có thể khế nhập. Nếu những điều này không buông xuống, họ ở trên kinh giáo dụng công phu nhiều hơn, chúng ta biết đều là tri thức, không phải trí tuệ. Trí tuệ là từ tâm thanh tịnh, tâm chân thành, tâm từ bi sanh. Người thầy này xác thực cụ bị điều kiện này, chúng ta thân cận ngài liền không sai rồi.
Hiện tiền chúng ta tìm không thấy chân thiện tri thức, có thể tìm cổ nhân. Phương pháp này là năm xưa lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam dạy cho tôi, lúc đó tôi vẫn chưa xuất gia. Ngài nói cho tôi hai ví dụ phi thường rõ rệt, trong thế pháp Mạnh tử, Mạnh phu tử tư thục Khổng tử. Đây chính là thầy của Mạnh tử là ai? Khổng tử. Nhưng thời đại Mạnh tử đó, Khổng lão phu tử đã qua đời, làm sao tìm ngài? Trứ thuật của Khổng lão phu tử vẫn lưu lại ở nhân gian, còn có những học trò theo Khổng lão phu tử học này. Cho nên, ông liền chuyên đọc sách của Khổng tử, chuyên học Khổng tử, chỗ có nghi nan tìm học trò của Khổng tử, hướng họ thỉnh giáo, ông thật học thành công rồi. Thành tựu của ông vượt qua trên những đệ tử đó của Khổng tử, bạn xem đời sau tôn xưng Khổng tử là Chí Thánh, Mạnh phu tử là Á Thánh. Những người khác đều không có, xưng Mạnh tử Á Thánh, ông học thành công rồi. Đây chính là trước mắt không có thầy, tìm cổ nhân, phương pháp này tốt! Đây là chúng ta có thể ở thời đại chánh pháp. Trong cửa Phật ví dụ điển hình nhất là Đại sư Ngẫu Ích, Đại sư Ngẫu Ích học với ai? Học với Đại sư Liên Trì. Nhưng lúc đó Đại sư Liên Trì đã vãng sanh, trước tác của Đại sư Liên Trì vẫn lưu lại ở thế gian, ngài liền tư thục Liên Trì, học rất giống. Đại sư Liên Trì là Tổ sư đời thứ tám của Tịnh tông, Ngẫu Ích là Tổ sư đời thứ chín. Chúng ta minh bạch đạo lý này là được.
Đại thừa kinh luận, cổ đại đức có rất nhiều chú giải, có thể theo một người học, cũng có thể theo nhiều người cùng nhau học. Nhưng thứ lớp bạn cần phải biết, trước tiên nhất định là theo một người học. Vì sao vậy? Bởi vì Phật pháp là cầu trí tuệ, không phải tri thức. Tập hợp rất nhiều người cùng một chỗ quảng học đa văn, đây là tri thức, không khai trí tuệ, điều này nhất định phải biết. Học lời một nhà, đó sẽ khai trí tuệ, vì sao vậy? Tâm của họ là định, họ giữ quy củ, không loạn làm. Ba, bốn năm, người căn tánh trung bình thông thường, ba, bốn năm họ liền được tam muội. Chúng ta học “Kinh Vô Lượng Thọ” được là niệm Phật tam muội, nếu bạn học “Kim Cang Bát-nhã”, bạn liền được Kim Cang tam muội, bạn học “Kinh Pháp Hoa” liền được Pháp Hoa tam muội, học “Kinh Hoa Nghiêm” chính là Hoa Nghiêm tam muội. Tam muội là được định, sau khi đạt được định, ứng nên cũng ở trong khoảng ba, bốn năm liền khai ngộ rồi, không thể đại triệt đại ngộ cũng nên là đại ngộ, trí tuệ khai rồi. Sau khi trí tuệ khai rồi chúng ta lại quảng học đa văn, quảng học đa văn quảng học như thế nào? Vẫn là một môn. Ví dụ học “Kinh Vô Lượng Thọ”, giống như Niệm lão ngài có thể đem kinh luận, tổ sư đại đức có liên quan có thể giải thích kinh văn toàn bộ đều sưu tập lại, đây chính là quảng học đa văn, làm tấm gương tốt nhất cho chúng ta. Tổng kết mà nói, chuyên công, quảng học đều là một con đường, một mục tiêu, họ mới có thể thành công. Không phải học rất nhiều kinh điển, vậy liền học loạn rồi.
Năm xưa thầy Lý đem lời này dạy cho tôi, cụ phi thường khiêm tốn, nói với tôi, cụ nói tôi chỉ có thể dạy chú năm năm. Sau năm năm tôi tìm ai? Ngài giới thiệu thầy của ngài, Đại sư Ấn Quang. Đại sư Ấn Quang đã không còn, vãng sanh rồi, “Văn Sao” của Đại sư Ấn Quang vẫn còn. Lúc đó “Văn Sao” chỉ có chánh biên, tục biên lưu thông ở Đài Loan, bốn cuốn, hai biên chánh tục. Thầy đưa cho tôi, bảo tôi đọc, làm đệ tử tư thục của Đại sư Ấn Quang. Bạn xem xem lão nhân khiêm tốn biết bao! Ngài dạy tôi nửa đoạn trước, thầy của nửa đoạn sau liền giới thiệu cho tôi rồi. Hiện nay rất nhiều đồng học trong cửa Phật biết được, Đại sư Ấn Quang là Bồ-tát Đại Thế Chí tái lai. Có khả năng hay không? Chúng ta quan sát tỉ mỉ hành trạng một đời của Tổ Ấn Quang, xác thực rất giống Bồ-tát Đại Thế Chí, Đại Thế Chí đại biểu trí tuệ.
Chúng ta tu Tịnh độ, giáo, y “Kinh Vô Lượng Thọ”, y chú giải của Hoàng Niệm lão; hành, y Đại sư Ấn Quang, cụ là tấm gương của chúng ta, là mẫu mực của chúng ta. Thường thường đọc “Văn Sao”, bạn xem xem những thư tín đó trong “Văn Sao”, đều là một số tín đồ đương thời có một số bệnh nan y, của hành môn, của giải môn, hướng ngài thỉnh giáo. Ngài rất cẩn thận, rất tỉ mỉ, nói phi thường cặn kẽ, nói thấu triệt. Thường thường nghe cụ khai thị, đối với bản thân chúng ta, đối với tất cả đồng học học Phật có lợi ích lớn. “Văn Sao” là văn chương hay, có thể đem nó coi như cổ văn để niệm.
Thầy Lý yêu cầu chúng tôi học cổ văn, niệm một trăm bài, học thuộc một trăm bài cổ văn, chúng ta chọn cái hay của “Văn Sao”, thế học, Phật học toàn bộ đều học được rồi. Có cơ duyên này, thật sự có đồng học phát tâm, có thể người có cùng chí hướng lập thành một tiểu tổ, “Tiểu tổ nghiên tập Văn Sao”, chuyên học Pháp sư Ấn Quang, rất tuyệt! Ngài cự ly chúng ta gần nhất, thứ giảng hoàn toàn có thể khế hợp căn cơ hiện tiền. Lời lão nhân nói, thâm nhập thiển xuất, ngài thông Tông thông Giáo, Nho Thích Đạo toàn thông, thầy tốt, chúng ta cần phải thân cận. Hiện nay “Văn Sao” xuất bản đủ rồi, bản bìa cứng hình như có bảy, tám cuốn, một bộ, chúng ta một đời là đủ rồi. Có một bộ “Kinh Vô Lượng Thọ”, chú giải, một bộ “Ấn Quang Đại Sư Văn Sao”, quyết định sanh Tịnh độ, lúc vãng sanh, Di Đà, Quan Âm, Thế Chí đến đón. Cho nên, thầy là nhân vật then chốt chúng ta có thể thành tựu hay không, chúng ta cần phải biết chọn thầy. Thầy Lý đem thầy của ngài là Đại sư Ấn Quang giới thiệu cho tôi, tôi cũng đem Pháp sư Ấn Quang giới thiệu cho mọi người, chúng ta đều là đệ tử tư thục của Đại sư Ấn Quang.
Đại Sớ lại nói, phía dưới tiếp tục giảng, chúng ta phát tâm Bồ-đề một hướng chuyên niệm rồi, tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc tu hành của Tịnh tông chúng ta nắm được, cũng giống như trên “Kinh Hoa Nghiêm”, giống như Thiện Tài đồng tử, hỏi Bồ-tát hạnh. Câu này là lời sống, Bồ-tát Văn Thù không có khai thị với ngài, chỉ bảo ngài đi tham phỏng, đi tham học. Trí tuệ thật sự khai rồi, Thiện Tài đồng tử ở hội Bồ-tát Văn Thù được căn bản trí, cũng chính là chúng ta thường giảng là đại triệt đại ngộ rồi. Sau khi đại triệt đại ngộ, có năng lực biện biệt chân vọng, thị phi, thiện ác, bạn có năng lực phân biệt này rồi. Thầy đối với bạn hoàn toàn mở cửa, người nào bạn cũng có thể tiếp xúc, đồ vật gì bạn cũng có thể xem, không giống hạn chế như ngày trước, nghiêm ngặt như vậy. Bạn có năng lực rồi, bạn sẽ không học cái xấu, đồ vật tốt bạn sẽ tiếp nhận, đồ vật không tốt bạn sẽ đào thải, bạn có năng lực này. Diện bạn tiếp xúc càng rộng càng tốt, thành tựu hậu đắc trí của bạn, hậu đắc trí là gì? Không gì không biết. Vừa nhìn liền biết, vừa nghe liền biết, vừa tiếp xúc liền biết rồi, bạn mới có thể độ hóa chúng sanh, độ hóa chúng sanh cần hậu đắc trí, không gì không biết.
Hậu đắc trí từ đâu mà có? Từ căn bản mà đến, giống như một thân cây vậy, không có căn bản thì lấy đâu ra cành lá, cành lá là sinh trưởng từ trên căn bản. Người bạn tiếp xúc, việc bạn tiếp xúc, đây là duyên, tiếp xúc càng nhiều trí tuệ của bạn liền càng lớn. Quảng học đa văn, thành tựu hậu đắc trí viên mãn của chính mình, cho nên bảo ngài thân cận thiện hữu. Ngũ thập tam tham của Thiện Tài đồng tử, năm mươi ba vị thiện tri thức này đại biểu các ngành các nghề, nam nữ già trẻ trong xã hội, bạn đi xem ngũ thập tam tham, nó là ý nghĩa này. Cho nên, ngũ thập tam tham ở đâu? Chính là xã hội hiện tiền từ sáng đến tối, bạn ở trong đời sống, công việc tất cả người sự vật bạn tiếp xúc, đó liền gọi là ngũ thập tam tham. Sống động! “Hoa Nghiêm” ở đâu? “Hoa Nghiêm” hóa ra ngay ở thế gian này của chúng ta, “Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm” chính là đời sống thực tế của chúng ta, bạn toàn bộ liền biết rồi.
“Lại nói: Nên Kinh Pháp Cú dùng 21 ví dụ, ví cho thiện tri thức, là cha mẹ, mắt sáng”, điều này phía trước chúng ta đọc qua, “chân cẳng, thang ghế, ẩm thực, áo báu, cầu cống, tài bảo, nhật nguyệt, thân mạng vân vân”. Đều dùng điều này để ví dụ thiện tri thức, chúng ta ở trong đời sống hằng ngày không thể rời khỏi nó. Chân cẳng là đi đường, bạn không có nó chúng ta vận hành bằng cách nào? Thang ghế là giúp chúng ta lên cao, nâng cao, không có nó chúng ta thăng lên không được. Ẩm thực là sống mạng, thiện tri thức là nuôi sống pháp thân huệ mạng của chúng ta, không có thiện tri thức liền giống như không có ẩm thực, pháp thân huệ mạng giữ không được. Cho nên những điều này đều dễ hiểu. Áo báu, cầu cống, tài bảo, nhật nguyệt, thân mạng, vẫn chưa nói hết, hai mươi mốt cái, phía sau liền không cần nói nữa, dùng một chữ vân vân. Cuối cùng tổng kết “nói: Thiện tri thức có vô lượng công đức như thế, cho nên bảo các ngươi thân cận”, thiện tri thức có công đức nhiều như vậy, cho nên Phật Bồ-tát bảo chúng ta cần phải biết thân cận.
“Đại chúng nghe xong, cất tiếng gào khóc”, điều này chịu cảm động, sau khi nghe xong thật sự cảm nhận được cảm động. “Tự niệm khoáng kiếp được thiện tri thức thủ hộ”, khoáng kiếp là từ vô lượng kiếp đến nay, Phật cùng Pháp thân Bồ-tát là thiện tri thức của chúng ta, chưa từng rời khỏi chúng ta, bất luận chúng ta ở đạo nào, bất luận chúng ta làm những gì, ngài đều đang thủ hộ. Bạn đang tạo nghiệp thọ báo, ngài ở đó nhìn. Nhìn rồi, vì sao không kéo một cái? Bạn có thể quay đầu ngài liền kéo bạn, bạn không thể quay đầu ngài không kéo bạn. Vì sao không kéo bạn? Cần phải biết, tam ác đạo là tiêu ác nghiệp, Phật Bồ-tát không thể tiêu ác nghiệp của chúng ta, tự mình tạo tự mình cần gánh vác, vậy mới hợp lý. Phật Bồ-tát chỉ có thể giúp bạn giác ngộ, vừa giác ngộ nghiệp đó tiêu rất nhanh. Nhưng giác ngộ cần có điều kiện, bạn cần có thể tin, bạn cần có thể hiểu, bạn cần có thể hành, bạn không có ba điều kiện này không được. Tam thiện đạo là tiêu phước báo, chính là bạn đã làm một số việc tốt, làm việc tốt cần tiêu, làm việc xấu cũng cần tiêu. Vì sao vậy? Trong tự tánh thiện ác đều không có, chỉ cần có nghiệp đó chính là ô nhiễm, tâm của bạn liền không thanh tịnh. Cho nên, tam thiện đạo tiêu thiện nghiệp, tam ác đạo tiêu ác nghiệp, thiện ác toàn bộ tiêu trừ, bạn liền thành Phật rồi. Thế nhưng phiền phức ở đâu? Tiêu nghiệp họ lại tạo nghiệp, sự việc này liền phiền phức, đổi lời mà nói, liền vĩnh viễn đều tiêu không hết. Một người đọa trong lục đạo, đời đời kiếp kiếp làm luân hồi, nguyên nhân chính ở chỗ này. Chỉ tiêu không tạo thì tốt rồi, tiêu rồi họ còn phải tạo, không thể không tạo.
Phật dạy cho chúng ta một phương pháp phi thường xảo diệu, giảng cái gì? Chính là phía trước nói, tâm không trụ tướng. Phương pháp này vi diệu, tạo ác không trụ tướng tạo ác, tu thiện không trụ tướng tu thiện, vĩnh viễn để tâm của chính mình thanh tịnh, đây là người nào? Bồ-tát! Bồ-tát ứng hóa ở thế gian chúng ta, ngài cũng hành thiện, làm bao nhiêu việc tốt, ngài cũng tạo ác. Thế nhưng bạn cần hiểu, người ta hành thiện, trong A-lại-da không rơi hạt giống thiện; ngài tạo ác, trong A-lại-da không rơi hạt giống tạo ác. Vì sao vậy? Ngài đã chuyển A-lại-da thành Đại viên kính trí, một vị chân tâm, ngài không phải vọng tâm. Chân tâm không tạo nghiệp, chân tâm tùy duyên. Bạn xem trên “Hoàn Nguyên Quán” giảng hay biết bao, Đại sư Hiền Thủ giảng cho chúng ta, tùy duyên diệu dụng, diệu dụng chính là không chấp tướng, lìa tất cả tướng, tức tất cả pháp. Phàm phu lại phiền phức rồi, họ chấp tướng. Chúng ta ở trong hiện tượng học một cái gì? Học không chấp tướng, hai bên thiện ác đều không chấp. Vậy chúng ta niệm Phật vãng sanh Thế giới Cực Lạc, không phải cõi Đồng Cư, cũng không phải cõi Phương Tiện, đó là sanh Cõi Thật Báo Trang Nghiêm, vì sao vậy? Bạn đã thành Pháp thân Bồ-tát rồi.
Học như thế nào? Trước tiên học đạm bạc, đừng quá nhận chân, sự việc gì tùy duyên, cái gì cũng tốt, đây là chúng ta quay đầu, chân chánh quay đầu liền từ chỗ này bắt tay làm. Quá khứ chúng ta đối với việc gì cũng rất nhận chân, rất so đo, không làm như vậy không được, hiện nay chúng ta nâng cao một bước, nâng cao cái gì? Tàm tạm thôi, đều có thể, đừng coi nó là một sự việc gì to tát. Chỉ có một sự việc chân chánh to tát, chính là niệm A Di Đà Phật. Ngoại trừ sự việc này nhận chân ra, những thứ khác đều có thể không cần quan tâm nữa, có hay không đều tốt. Với người nào nói chuyện cũng đều là A Di Đà Phật, họ nói rất nhiều, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, tôi có nghe lọt hay không không biết. Họ cũng rất hoan hỉ, tưởng tôi nghe lọt rồi, kỳ thực tôi một câu cũng không nghe lọt, toàn nghe là A Di Đà Phật. Đối với họ có chỗ tốt, tiếng tiếng A Di Đà Phật rót vào trong nhĩ căn của họ. Họ nói với chúng ta lời đều không khẩn yếu, đều là sự việc thế gian, đó đều là giả, đều là không, chúng ta tiếng tiếng A Di Đà Phật đây là hạt giống kim cang. Đạo lý này cần phải hiểu, loại đạo lý này ứng dụng ở trong đời sống hằng ngày, công phu của bạn từ từ liền đắc lực rồi.
Đặc biệt là hiện nay, chúng ta xem tin tức tai nạn, hàng tháng tăng lên. Đây là sự cảnh giác tốt nhất đối với chúng ta, học Phật chúng ta cần thật làm, không thể làm giả nữa, không thể có thiên tà nữa, cần nhận chân nỗ lực. Chúng ta cần ở một thời gian nhất định niệm Phật niệm đến công phu thành phiến. Nhất tâm bất loạn không có nắm chắc, công phu thành phiến thì có thể, chỉ cần bạn đừng so đo nữa, bạn liền có thể làm được. Đời sống hằng ngày được chăng hay chớ, muôn duyên buông xuống nhất tâm niệm Phật, thời gian một năm là đủ rồi. Cũng chính là thời gian một năm này của tôi quyết tâm thủ Thế giới Cực Lạc, tôi nhất định cần làm được. Cần phải nhẫn tâm! Phía trước cùng chư vị báo cáo qua, Pháp sư Oánh Kha đời Tống ba ngày ba đêm có thể đem A Di Đà Phật niệm đến, thời gian một năm của chúng ta vẫn không đủ sao? Thật làm! Không làm giả nữa.
Đại sư Liên Trì lúc tuổi già, đó cũng là một vị thông Tông thông Giáo, hiển mật viên dung, lúc tuổi già chuyên môn làm một bộ kinh, chính là “Kinh A Di Đà”. Cụ nói, “tam tạng mười hai bộ, nhường cho người khác ngộ”, tôi không làm nữa, pháp còn cần bỏ, huống hồ phi pháp, ngài thật bỏ rơi rồi. Tuổi già liền một bộ kinh, một câu Phật hiệu, cái gì cũng không còn nữa. Làm cho chúng ta xem, làm tấm gương cho chúng ta. Chúng ta đọc sách, thấy có một sự việc như vậy, nên học tập, không làm nữa, trong tâm ngoại trừ A Di Đà Phật ra cái gì cũng không có. Thấy người nào đều là người tốt, thấy việc gì đều là việc tốt. Việc tốt việc xấu không cần để trong tâm, trên tâm chỉ có A Di Đà Phật, ngoại trừ A Di Đà Phật ra cái gì cũng không có, bạn nói chúng ta có thể không thành công sao? Quyết định thành tựu.
Phật hộ niệm chúng ta là thật, chúng ta có lỗi với Phật Bồ-tát. Phật Bồ-tát chưa từng rời khỏi chúng ta, giống như từ mẫu chiếu cố hài nhi vậy, hài nhi không hiểu, giống như chúng ta vậy, Phật Bồ-tát chiếu cố chúng ta, chúng ta hồ đồ, không biết cảm ân. “Ngày nay gặp được Như Lai, cho đến chưa từng báo ân, vô tâm thân cận. Nói lời ấy rồi, lại cất thân gào khóc”. Ngày nay gặp Thích-ca Mâu-ni Phật rồi, cho đến chưa từng báo ân, vì sao chưa từng báo ân? Không biết ân đức. Tri ân bạn mới có thể báo ân, bạn không tri ân, tâm báo ân của bạn sanh không khởi. Không những không biết báo ân, đối với thiện tri thức làm sao đây? Vô tâm thân cận. Thiện tri thức ở đó đợi bạn, đợi bạn quay đầu, chúng ta mê ở ngũ dục lục trần, chính là không quay được đầu. Mê hoặc điên đảo, không hiểu sự thật chân tướng. Nói lời ấy rồi, sau khi lời nói xong rồi, tâm tàm quý, tâm sám hối khởi lên, cất thân gào khóc.
“Mà cung kính thiện tri thức, đầu tiên ở chỗ như giáo phụng hành, điều này cũng rất khó, nên nói nghe pháp có thể hành, điều này cũng là khó”. Đây là sự thật. Chúng ta ngày nay đối với thầy không biết cung kính, đối với thầy nảy sanh một loại gì? Nảy sanh một loại tình chấp, không có thành kính. Đại sư Ấn Quang dạy chúng ta, đối với thiện tri thức cần phải hiểu thành kính, một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích, bạn không biết thành kính bạn liền không đạt được lợi ích. Hai chữ thành kính quá quan trọng! Tâm chân thành cung kính. Có tâm chân thành cung kính, nhất định có thể như giáo phụng hành, thiện tri thức dạy tôi, tôi nhất định nhận chân nỗ lực đem nó làm được, bạn mới thực sự được thọ dụng. Trong bổn kinh nói ba cái chân thật, chân thật chi tế, đó là chân như tự tánh, đó là thật tướng lý thể, trí tuệ chân thật, lợi ích chân thật, không có tâm thành kính bạn không đạt được. Bạn cần có tâm thành kính, bạn nhìn thấy trên kinh này từng chữ từng câu, không chỉ kinh như vậy, chú giải cũng như vậy. Kinh luận là Phật nói, một trăm lẻ một loại tổ sư đại đức này, cộng thêm chín loại ngoại quốc là một trăm mười loại, đó đều là người khai ngộ, không phải phàm nhân, đều là chân chánh tu hành được định khai huệ.
Chúng ta gặp được nhiều thiện tri thức như vậy, so với Thiện Tài đồng tử kinh “Hoa Nghiêm” còn may mắn hơn, Thiện Tài đồng tử mới gặp năm mươi ba người. Vấn đề là chúng ta có nghe hiểu hay không, có đem nó để trong tâm hay không, có thật làm hay không, ứng dụng ở trong đời sống hằng ngày của chúng ta hay không. “Nghe pháp có thể hành, điều này cũng là khó”, đây là thật.
[Giải] Bởi thiện tri thức khó gặp khó biết, nay may cầu được, nếu đối với chỗ chỉ dạy của thiện tri thức kia, không thể tin nhận vâng làm, thì lương y bó tay. Như thế thì gặp đồng chưa gặp. Nên đối với lời dạy của thiện tri thức, nên nghe mà có thể tin, tin mà có thể hành. Đó là rất khó vậy. Trên sáng tỏ gặp Phật, nghe kinh, gặp thiện tri thức, nghe pháp có thể hành, đều cực kỳ khó được, rất là hi hữu. Nhưng cái khó của ba điều trên này, không quá cái dưới “nếu nghe kinh này, tin ưa thọ trì”, đây bèn là cái khó có thể trong những cái khó có thể, nên nói “khó trong cái khó”. Sự hi hữu khó được của nó, càng không có gì qua khỏi điều này, nên nói “không gì khó qua điều này”. Vì sao vậy? Như “Tịnh Ảnh Sớ” nói: “Nghĩa khác pháp khác, xứ xứ tuyên thuyết. Khai hiển Tịnh độ, dạy người vãng sanh, riêng một kinh này, là điều khó nhất.”
Lại “Hội Sớ” nói: “Nếu nghe kinh này, là tri thức văn huân vậy. Tin ưa thọ trì, là vãng sanh chánh nhân. Nghĩa là tin ưa bổn nguyện, thọ trì danh hiệu, pháp này siêu vượt các giáo vậy; lợi ích vượt qua các thiện vậy; các căn cơ thông nhập báo độ vậy (các loại căn cơ thảy đều sanh báo độ); một đời thành biện vậy. Tất nương túc thiện nhiều kiếp, vượt qua việc các nạn. Nên nói trong cái khó vân vân.” Y theo ý hai sớ, nếu người đối với diệu pháp đệ nhất hi hữu, khó nghe khó tin một đời thành biện này, có thể nghe, có thể tin, có thể thọ, có thể trì, nên biết người ấy, tất là nhiều kiếp huân tu, trồng sẵn thiện căn, khó có hi hữu, vượt hơn tất cả. Nên nói “khó trong cái khó, không gì khó qua điều này”. Đây không phải bảo pháp môn khó tu, vì chỉ người như thế, có thiện căn phước đức nhân duyên hi hữu như thế, rất là khó được vậy.
“Bởi thiện tri thức khó gặp khó biết”, không dễ gặp được, gặp được bạn lại không nhận biết, “nay may cầu được”, ngày nay rất may mắn, bạn cầu được rồi. Bạn ở đâu cầu được? Bổn kinh này chính là bạn cầu được rồi. Kinh, Phật là thiện tri thức của bạn, Thích-ca Mâu-ni Phật; chú giải, có nhiều tổ sư đại đức ở đây đang nói chuyện với bạn, chia sẻ với bạn, bạn cần phải nhận biết. “Nếu đối với chỗ chỉ dạy của thiện tri thức kia, không thể tin nhận vâng làm, thì lương y bó tay, như thế thì gặp đồng chưa gặp”. Đây là thật, gặp được rồi không thể tin tưởng, không thể tiếp nhận, làm không được. Lương y bó tay là ví dụ, bạn mắc bệnh nặng, hiện nay thực sự có một bác sĩ giỏi có thể cứu bạn, bạn không tin ông ấy, không chịu uống đơn thuốc ông ấy kê, ông ấy liền bó tay hết cách, như vậy gặp được và không gặp được không có hai dạng.
“Nên đối với lời dạy của thiện tri thức, nên nghe mà có thể tin, tin mà có thể hành, đó là rất khó vậy”, đây là thật khó. Chúng ta gặp được, chữ “giáo” (lời dạy) dùng ở chỗ này dùng rất hay, nên đối với lời dạy của thiện tri thức. Thích-ca Mâu-ni Phật bốn mươi chín năm giảng kinh dạy học lưu lại kinh điển, đây là lời dạy của thiện tri thức, trứ thuật của lịch đại tổ sư đại đức, vì chúng ta phân tích, giải thích, để chúng ta thật sự nghe minh bạch, nghe hiểu rồi, có thể khế nhập, đây cũng đều là thiện tri thức. Nghe rồi có thể tin hay không, đây đích thực là một việc khó lớn nhất ngày nay. Không tin, người hiện nay thích hoài nghi, điều này phổ biến, đi đến toàn thế giới bạn đi xem thử, người nào không có hoài nghi? Hoài nghi đầu tiên là hoài nghi chính mình. Bạn xem ngay cả chính mình cũng không tin rồi, họ có thể tin cha mẹ họ không? Cha mẹ có thể tin con cái không? Bạn có thể tin thầy bạn không? Có thể tin bạn bè bạn không? Người sống ở thế gian cô đơn biết bao, một người có thể tin cậy cũng không có, bạn nói thật đáng thương. Bạn có thể tin Phật Bồ-tát không? Bạn có thể tin tổ tông không? Có thể tin cổ Thánh tiên Hiền không? Có thể tin những điển tịch mà họ lưu lại không? Nếu như không tin liền xong rồi. Sau khi tin rồi thì sao? Sau khi tin rồi thật chịu học, thật làm, vậy bạn liền thành Thánh thành Hiền, thành Phật thành Bồ-tát rồi.
Cửa ải lớn nhất ngày nay chính là chữ “tín”, tín xác thực là hạn chót cuối cùng của tất cả pháp thế xuất thế gian. Cũng chính là nói, trên kinh Phật giảng, trên kinh “Hoa Nghiêm” nói, “tín vi đạo nguyên công đức mẫu”. Tín tâm là gì? Là cội nguồn bạn tu đạo, thành đạo, bạn không có thứ này liền không có nữa, tất cả đều xong rồi. Mẹ của tất cả công đức, nó có thể sanh tất cả công đức, công đức thế xuất thế gian, chữ tín này quan trọng biết bao. Tịnh độ, bạn có thể vãng sanh Thế giới Cực Lạc hay không, có thể thân cận A Di Đà Phật hay không, có thể ở trong đời này thành Phật hay không, then chốt chính là chữ tín này, bạn có tin hay không.
Tịnh độ tông liền ba chữ, tín, nguyện, hành, thật tin, tôi thật muốn đến Thế giới Cực Lạc, tôi thật niệm A Di Đà Phật, ba điều kiện này cụ túc bạn liền thành công rồi. Ba điều kiện này không dung nạp có bất cứ thứ gì xen tạp ở trong đó, xen tạp liền hỏng rồi. Cho nên, chúng ta có cảnh giác cao độ, có trí tuệ chân thật, những thứ xen tạp đó toàn là giả, không có một cái nào là thật, chúng ta mới đem những tạp niệm đó toàn bộ buông xuống. Trong tâm chúng ta chỉ cần một ý niệm “A Di Đà Phật”, ngoài A Di Đà Phật ra cái gì cũng không có, như vậy liền đúng rồi. Đem một đời này, bởi vì căn tánh chúng ta không bén nhạy, kém xa cổ nhân, quyết định đừng tham nhiều, cần học cổ nhân, quyết định là một môn thâm nhập, trường thời huân tu. Nếu cần học, sau khi khai ngộ học tiếp, đây là phương pháp tổ tổ tương truyền thời cổ đại. Không khai ngộ không cho phép xem kinh luận khác, sau khi thật sự đại triệt đại ngộ thầy mới mở cửa. Đây là chân thiện tri thức, đây không phải thầy bình thường.
“Trên sáng tỏ”, trở lên nói rõ, gặp Phật khó, nghe kinh cũng khó, gặp thiện tri thức cũng khó, nghe pháp có thể hành cũng khó, “đều cực kỳ khó được, rất là hi hữu”, họ đều có thể làm được, người như vậy ít có. “Nhưng cái khó của ba điều trên này, không quá cái dưới ‘nếu nghe kinh này, tin ưa thọ trì’, đây bèn là cái khó có thể trong những cái khó có thể, nên nói khó trong cái khó”, thật vậy. Bên trên giảng bốn sự việc, gặp Phật, nghe kinh, gặp thiện tri thức, nghe pháp có thể hành, khó. Nếu nghe bộ kinh này, nghe được bộ kinh này, tin, ưa, thọ trì bộ kinh này thì càng khó rồi, so với phía trước còn khó hơn. Vì sao vậy? Bộ kinh này thật sự là tin tưởng, hoan hỉ, thọ trì, chúc mừng bạn, bạn đời này thành Phật rồi. Đây là thật, một chút cũng không giả. Chúng ta tâm tâm niệm niệm chính là muốn ở trong đời này đi làm Phật, ở thế giới này làm Phật không có hy vọng, vì sao vậy? Hoàn cảnh tu học không tốt, can nhiễu quá nhiều. Thế giới Cực Lạc là hoàn cảnh tu học lý tưởng nhất, chỗ đó không có người can nhiễu, lục căn của bạn tiếp xúc toàn là pháp giới thuần tịnh, Thế giới Cực Lạc một dải đều là âm thanh niệm Phật. Cho nên ở trong hoàn cảnh đó không có một người nào không thành tựu, ở trong hoàn cảnh đó không có một người nào thối chuyển. Vì sao chúng ta không buông xuống được thế gian này? Đối với Thế giới Tây phương Cực Lạc nhận thức vẫn là chưa đủ thấu triệt, vẫn là có nghi vấn. Cứ như vậy, chúng ta bắt buộc phải làm nó cho thật rõ ràng, làm cho thật minh bạch, đó chính là bộ kinh này cần phải giảng tỉ mỉ, cần phải giảng thường xuyên, cần phải giảng liên tục không gián đoạn. Hiện nay lợi dụng công cụ khoa học có thể làm được, nhiều lần nghe nhiều.
Sau khi nghe hiểu, bốn chữ này làm được, thật có rồi, chính là tin ưa thọ trì thật có rồi, kinh này liền có thể không cần niệm nữa, bộ chú giải này có thể không cần xem nữa, một câu Phật hiệu niệm đến cùng. Nếu vẫn còn hoài nghi, vẫn chưa buông xuống, bộ kinh này là nhất định cần phải đọc, nhất định cần phải nghe. Kinh là gì? Giúp chúng ta đoạn nghi sanh tín, giúp chúng ta phá mê khai ngộ, mục đích giáo kinh ở chỗ này. Nghi lự của chúng ta đoạn mất rồi, tín tâm, nguyện tâm của chúng ta khởi lên rồi, một câu Phật hiệu liền được, không tìm phiền phức nữa. Ngay cả kinh này cũng không cần nữa, liền một câu Phật hiệu này liền thành công, pháp môn này chính là đơn giản như vậy, chính là dễ dàng như vậy. Bảo đảm bạn vãng sanh, hơn nữa lúc bạn đi sẽ phi thường tự tại, biết trước giờ chết, bạn thích đứng đi thì đứng đi, thích ngồi đi thì ngồi đi, không có ai không được mãn nguyện. Sự việc này là thật, chúng ta đích thân nhìn thấy, sự việc này là người ta giả vờ không ra, quyết định không phải giả. Cho nên, có nhiều thiện tri thức như vậy biểu diễn cho chúng ta xem, làm chứng chuyển cho chúng ta.
Chúng ta xem tiếp đoạn văn dưới, “sự hi hữu khó được của nó, càng không có gì qua khỏi điều này”, nên nói “không gì khó qua điều này”, đây chính là nghe đến pháp môn Tịnh tông, nghe đến kinh điển này, tin ưa thọ trì, đây là sự việc phi thường phi thường khó. “Vì sao vậy? Như Tịnh Ảnh Sớ nói: Nghĩa khác pháp khác, xứ xứ tuyên thuyết. Khai hiển Tịnh độ, dạy người vãng sanh, riêng một kinh này, là điều khó nhất”. Đây giảng những kinh khác, giảng cho bạn đạo lý vũ trụ nhân sanh, giảng phương pháp cho bạn, bởi vì Phật vì chúng ta khai hiển tám vạn bốn ngàn pháp môn, ngàn kinh muôn luận xứ xứ đều đang giảng; thế nhưng giảng vãng sanh Tịnh độ chỉ có kinh này. Hiện nay chúng ta biết, chuyên giảng vãng sanh chỉ có ba bộ kinh, “Kinh Vô Lượng Thọ” là kinh đệ nhất, “Kinh A Di Đà” là tiểu bổn của “Kinh Vô Lượng Thọ”, “Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật” là chuyên môn giảng phương pháp, giảng nguyên lý, giảng nguyên lý chính là “thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật”, đây là giảng đạo lý cho bạn, sau đó giảng phương pháp cho bạn. Ba bộ kinh chuyên giảng Thế giới Cực Lạc.
“Lại Hội Sớ nói: Nếu nghe kinh này, là tri thức văn huân vậy. Tin ưa thọ trì, là vãng sanh chánh nhân. Nghĩa là tin ưa bổn nguyện, thọ trì danh hiệu, pháp này siêu vượt các giáo vậy, lợi ích vượt qua các thiện vậy, các căn cơ thông nhập báo độ vậy (các loại căn cơ thảy đều sanh báo độ), một đời thành biện vậy”, điều này liền thật khó rồi. Đây là pháp sư Nhật Bản trong “Hội Sớ” nói, nghe kinh, đây là tri thức văn huân. Tri, biết Thế giới Cực Lạc, biết A Di Đà Phật, đây gọi là tri thức. Chúng ta nghe trên kinh nói, hoặc giả là nghe tổ sư đại đức tuyên giảng, chúng ta biết được có Thế giới Cực Lạc, có A Di Đà Phật, đây là văn huân. Tin ưa thọ trì là vãng sanh chánh nhân, nếu chúng ta không tin, hoặc là bán tín bán nghi, hoặc là tin rồi, luyến tiếc thế gian này, đối với thế gian này có tình cảm, không muốn rời khỏi, chữ “ưa” này liền không còn. Thọ trì, không muốn niệm Phật, vẫn là tạp niệm, vọng niệm chúa tể ý thức của bạn. Cần phải biết, trong tâm chứa đầy tạp niệm, những thứ này là làm luân hồi.
Lục đạo luân hồi từ đâu mà đến? Phân biệt chấp trước mà đến. Chấp trước là kiến tư phiền não, trên kinh đại tiểu thừa đều nói, kiến tư phiền não đoạn rồi, thật buông xuống, lục đạo luân hồi liền không còn. Lục đạo là giả, không phải thật. Đại sư Vĩnh Gia nói “Chứng Đạo Ca” rất rõ ràng, rất minh bạch, ngài nói “mộng lý minh minh hữu lục thú, giác hậu không không vô đại thiên”. Mộng là gì? Không có giác ngộ, vẫn đang làm phân biệt chấp trước. Kiến tư, kiến là kiến giải của bạn, tư là tư tưởng của bạn, hoặc là mê hoặc; đổi lời mà nói, bạn đối với tất cả sự việc vạn pháp của vũ trụ, toàn nhìn sai rồi, toàn nghĩ sai rồi. Sai ở đâu? Thế gian này là một giấc mộng, sau khi mộng tỉnh cái gì cũng không có, bạn ở trong đó cách nhìn này cách nhìn kia, toàn sai. Sai là sai, đúng cũng sai, không có gì là không sai, bất luận bạn nghĩ như thế nào cũng toàn bộ đều là sai. Cho nên, bạn đem thứ này buông xuống, liền tỉnh mộng, sau đó mới biết nằm mộng toàn sai rồi, không có điều nào là đúng. Bạn nếu đúng, đúng liền siêu việt luân hồi, bạn có thể siêu việt luân hồi không?
Bạn phải biết, chỉ có một câu A Di Đà Phật đó có thể siêu việt luân hồi, trong tất cả pháp chỉ có một câu pháp này là đúng, bạn biết không? Nắm bắt một câu pháp này, tôi liền con đường này, đối với tất cả người hoan hoan hỉ hỉ. Vì sao vậy? Kết thiện duyên, đừng kết ác duyên, kết ác duyên lúc chúng ta vãng sanh oan gia trái chủ đến tìm phiền phức, có lúc chịu sự can nhiễu liền vãng sanh không thành. Với tất cả người kết thiện duyên, người thiện với họ kết thiện duyên, người ác cũng với họ kết thiện duyên, người phỉ báng tôi, người sỉ nhục tôi, người hãm hại tôi, tôi đều với họ kết thiện duyên. Chỉ cần tôi biết được, Phật đường nhỏ này của tôi đều cho họ cúng bài vị trường sanh, chúng ta ngày ngày giảng kinh ngày ngày hồi hướng cho họ, kết thiện duyên, không kết ác duyên. Trong tâm không có ác niệm, hy vọng chân chánh làm được thuần tịnh thuần thiện, tự thọ dụng này tốt biết bao. Đây mới là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sanh, thuần tịnh thuần thiện, đây chính là học Phật rồi mới thật sự biết làm người.
Chúng ta chỉ có một phương hướng, một mục tiêu, quyết định không thay đổi, một câu Phật hiệu niệm đến cùng. Niệm niệm là tâm thanh tịnh, tôi thấy được một người, Chương Gia Đại sư. Cụ ngài là niệm chú, trong hai mươi bốn giờ không có ngừng qua. Tôi theo ngài ba năm, mỗi tuần một giờ đến hai giờ, nghe ngài khai thị, ngài vừa giảng xong, trong miệng ngài niệm thầm, kim cang trì, bạn xem miệng ngài đang cử động, không có âm thanh. Bất luận ở lúc nào bạn đều có thể nhìn thấy, có thể thấy tâm ngài thanh tịnh, ngài không có tạp niệm. Đó là tu thành, công phu này không phải là ngẫu nhiên, chúng ta cần phải học tập. Vãng sanh chánh nhân phải ghi nhớ, tin ưa thọ trì. Tin ưa bổn nguyện, thọ trì là danh hiệu, danh hiệu chỉ có bốn chữ, A Di Đà Phật, Đại sư Liên Trì cả đời liền niệm bốn chữ.
“Pháp này siêu vượt các giáo vậy”, các giáo này là pháp môn khác trong Phật pháp, tám vạn bốn ngàn pháp môn, siêu vượt nó. “Lợi ích vượt qua các thiện”, tất cả việc thiện thế xuất thế gian đều không bằng niệm Phật thiện, bạn muốn tu việc thiện đệ nhất thế xuất thế gian, bạn liền niệm A Di Đà Phật, thiện trong các thiện, vô dữ luân tỷ. Một câu Phật hiệu này niệm tốt rồi, bạn đến Thế giới Cực Lạc. Đến Thế giới Cực Lạc không gian hoạt động của chúng ta liền lớn rồi, lớn đến mức độ nào? Không thể nghĩ bàn, biến pháp giới hư không giới, bạn muốn đến đâu tự do tự tại, ý niệm vừa nghĩ liền đến rồi. Đến những nơi nào? Đến chư Phật sát độ. Kinh “Di Đà” giảng mười vạn ức cõi nước Phật, không chỉ, vô lượng vô biên vô số vô tận, bạn có thể phân nhiều thân như vậy, đi thân cận tất cả chư Phật Như Lai. Cúng dường là tu phước, cúng Phật tu phước, nghe kinh là tu huệ, cho nên đến Thế giới Cực Lạc làm cái gì? Cầu phước cầu huệ, tu phước tu huệ, phước huệ viên mãn bạn chính là Nhị Túc Tôn, Nhị Túc Tôn là Phật, thành Phật rồi, đến Thế giới Cực Lạc liền làm việc này. Sau đó lại từ Thế giới Tây phương Cực Lạc đến mười pháp giới trong chư Phật sát độ, đi làm gì? Độ chúng sanh. Giúp đỡ những chúng sanh này quay đầu, giúp đỡ những chúng sanh này giác ngộ, cũng dạy bảo những chúng sanh này niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, rất nhanh thành tựu của họ liền giống như chúng ta. Người của Thế giới Cực Lạc làm là sự việc này, đây là sự nghiệp của họ, cầu phước cầu huệ, tu phước tu huệ, giúp đỡ chúng sanh, thực sự là toàn tâm toàn lực giúp đỡ chúng sanh, thành tựu chúng sanh. Cho nên đạt được lợi ích, lợi ích đạt được vượt qua các điều thiện.
“Các căn cơ thông nhập báo độ”, đủ loại căn cơ, báo độ là Cõi Thật Báo Trang Nghiêm. Chỉ cần có thể y giáo phụng hành, bạn thật sự có thể một câu Phật hiệu này không gián đoạn, niệm niệm nghĩ A Di Đà Phật, nghĩ Thế giới Cực Lạc, bạn vãng sanh quyết định là Cõi Thật Báo. Niệm của bạn không thuần, tín của bạn không thật, nguyện không thiết, bình thường cũng niệm Phật, niệm không nhiều, pháp thế gian vẫn chưa bỏ, đến lúc lâm chung, nếu vận khí của bạn tốt, có người thế bạn trợ niệm nhắc nhở bạn, vãng sanh Thế giới Cực Lạc sanh cõi Phàm Thánh Đồng Cư. Bạn xem xem, bạn vì sao không chuyên tâm? Bạn vì sao không đem chuyện linh tinh ném đi? Bạn nghĩ những thứ này làm gì? Cái gì cũng không nghĩ nữa, cái gì cũng không niệm nữa, tôi sanh Cõi Thật Báo Trang Nghiêm, thượng thượng phẩm vãng sanh, vừa đi hoa nở thấy Phật, liền được vô sanh pháp nhẫn. Vô sanh pháp nhẫn là Bồ-tát Thất địa trở lên, học nhảy lớp, không phải học từ lớp một. Làm được, không phải làm không được! Làm không được vậy thì hết cách, việc này chúng ta làm được, chỉ cần bạn chịu buông xuống, cái gì cũng không quản nữa. Từ sáng đến tối niệm Phật, ngây ngây ngốc ngốc, giống như một vẻ mê hoặc điên đảo, thậm chí người khác đều xem thường bạn, mắng bạn mê tín, sao học Phật lại học thành ra bộ dạng này, họ thượng thượng phẩm vãng sanh; người thông minh lanh lợi, cũng niệm Phật, hạ hạ phẩm vãng sanh, không giống nhau! Một đời thành biện, chúng ta một đời này liền đem sự việc này thành tựu rồi, làm thỏa đáng rồi.
“Tất nương túc thiện nhiều kiếp, vượt qua việc các nạn, nên nói trong cái khó vân vân”, đây là khó trong cái khó, chính là ý nghĩa này. Cho nên, người này trong một đời có thể thành tựu, thật có thể buông xuống, liền nói rõ họ trong đời quá khứ nhất định là thiện căn phước đức nhân duyên nhiều đời nhiều kiếp, họ mới được, mới có thể tất cả khó hành có thể hành, khó nhẫn có thể nhẫn, họ toàn làm được rồi, khó trong cái khó họ đều có thể thông qua. “Y theo ý hai sớ”, căn cứ ý nghĩa chú giải của hai vị đại đức phía trước, “nếu người đối với diệu pháp đệ nhất hi hữu, khó nghe khó tin một đời thành biện này”, điều này liền nói về bộ kinh này, nói về trì danh niệm Phật, “có thể nghe, có thể tin, có thể thọ, có thể trì, nên biết người ấy, tất là nhiều kiếp huân tu, trồng sẵn thiện căn, khó có hi hữu, vượt hơn tất cả”. Họ nếu không phải trong đời quá khứ có thiện căn vô cùng thâm hậu, điều này làm không được, họ có thể làm được liền khẳng định túc căn thâm hậu của họ. Vì sao hiện nay như vậy? Họ là nhất thời mê hoặc, cho nên họ lại đi luân hồi rồi, chính là một niệm cuối cùng nghĩ đến sự việc khác, điều này là rất có thể. Đời này lại gặp được rồi, sau khi gặp được thật minh bạch, thật nghĩ thông rồi, cái gì là thật? Thật buông xuống, liền chứng minh túc thế thiện căn của họ thâm hậu, muôn duyên buông xuống, không làm nữa.
“Nên nói khó trong cái khó, không gì khó qua điều này”, khó trong cái khó họ thông qua, đột phá rồi, họ một đời này thành tựu rồi. “Đây”, mấy câu phía sau này Niệm lão nói phi thường quan trọng, bên trên chúng ta học đến những khai thị này của Tổ sư đại đức, “không phải bảo pháp môn khó tu”, pháp môn dễ tu, “vì chỉ người như thế, có thiện căn phước đức nhân duyên hi hữu như thế”, điều này khó được. Vì sao vậy? Họ thật tin, họ thật minh bạch, thật giác ngộ rồi. Lục đạo luân hồi thế gian thật buông xuống rồi, không muốn làm lục đạo luân hồi nữa, tập khí của lục đạo luân hồi cũng thu liễm rồi. Nhất tâm chuyên niệm A Di Đà Phật, nhất tâm chuyên cầu Thế giới Cực Lạc, nhất tâm chuyên cầu thân cận A Di Đà Phật, đến Thế giới Cực Lạc đi làm đệ tử Di Đà. Tiếp nhận sự giáo hối của A Di Đà Phật, tiếp nhận sự giáo hối của tất cả Như Lai mười phương ba đời, có thể ở cùng một lúc. Ở Thế giới Cực Lạc, thân của chính mình ở giảng đường của Di Đà Phật nghe kinh văn pháp không rời đi, có thể phân vô lượng vô biên thân, vô số vô tận thân, đi tham phỏng tất cả chư Phật Như Lai mười phương ba đời, cúng dường, nghe pháp, phước huệ song tu. Cảnh quan loại này hi hữu vô tỷ, ngay ở trước mắt chúng ta, đưa tay là có thể lấy được, có cần hay không? Nếu bạn thật cần, bạn liền phải thật buông xuống. Nghĩ xem tôi trong một đời này sự việc nào khó buông xuống nhất trước tiên đem nó buông xuống, khó buông xuống nhất trước tiên buông xuống, dễ dàng thì dễ xử lý rồi. Ngàn vạn đừng cái dễ buông tôi buông, cái khó buông từ từ tính, vậy liền thật khó rồi, một đời này có thể vãng sanh hay không khó nói chắc. Đem cái khó buông xuống nhất của tôi tôi trước tiên buông xuống, thứ khác không khó liền rất dễ dàng, cho nên trình tự này không thể điên đảo.
Thành Phố Thị Phạm Hài Hòa
Ngày nay toàn bộ thế giới hỗn loạn là điều trong lịch sử từ trước đến nay chưa từng có. Có rất nhiều người, bao gồm một số nhà lãnh đạo quốc gia, hỏi tôi nguyên nhân là gì? Cách nhìn của tôi là chế độ pháp luật không có vấn đề, mà là nhân tâm hư hỏng rồi. Nhân tâm làm sao hư hỏng rồi? Chúng ta đã vứt bỏ đi giáo dục rồi. Hiện nay trường học nhiều như vậy, chỗ dạy là làm việc, chứ không dạy làm người. Phương Đông từ xưa đến nay, giáo dục đầu tiên là dạy làm người, cuối cùng là dạy làm việc. Khổng Tử dạy học bốn khoa, thứ nhất là đức hạnh, làm người. Thứ hai là ngôn ngữ, miệng là cửa ngõ của họa phước, phải biết nói chuyện, không biết nói chuyện, không những tự mình chuốc họa, còn sẽ liên lụy một nhà, liên lụy một nước, thật đáng sợ! Thứ ba là chính sự, chính là làm việc. Thứ tư là văn nghệ, sự hưởng thụ tinh thần đặt ở cuối cùng. Hiện nay chúng ta hai điều phía trước không dạy nữa, chỉ dạy chính sự, sùng thượng giải trí, hơn nữa giải trí gần như toàn bộ đều là tiêu cực, thời cổ ngụ giáo ư lạc (gửi giáo dục vào giải trí), văn nghệ giải trí cũng là giáo dục. Ngày nay xã hội biến thành hình dáng này, nguyên nhân ở chỗ bốn khoa dạy học đã thiếu đi đức hạnh, không có đức hạnh, nhân tâm hư hỏng rồi. Con người, chỉ cần tâm tốt thì hành vi liền tốt, cho dù chế độ không tốt, họ cũng làm việc tốt. Nếu nhân tâm hư hỏng rồi, chế độ có tốt hơn nữa, cũng theo đó mà làm việc xấu. Cho nên cổ nhân nói, chế độ cố nhiên quan trọng, nhân tâm càng quan trọng hơn, đây là điều chúng ta không thể không biết.
Ngày nay xã hội này, làm sao để cứu vãn? Thế giới còn có thể có hòa bình chăng? Chỉ cần có thể đem bốn sự việc này làm cho tốt, thế giới sẽ hòa bình. Bốn sự việc nào? Thứ nhất, quốc gia với quốc gia đối xử bình đẳng, chung sống hòa mục; thứ hai, chính đảng với chính đảng; thứ ba, tộc quần với tộc quần; thứ tư, tôn giáo với tôn giáo. Bốn điều này đều có thể làm được đối xử bình đẳng, chung sống hòa mục, thì thế giới hài hòa, thiên hạ thái bình liền xuất hiện rồi. Tuy vấn đề này phi thường nan giải, phi thường khó khăn, nhưng bắt tay từ tôn giáo liền có cách. Rốt cuộc trên Trái Đất người tín ngưỡng tôn giáo chiếm đa số, tôn giáo nếu như có thể chung tay hợp tác, sẽ ảnh hưởng chính trị, bởi vì rất nhiều quốc gia là do dân bầu, sẽ ảnh hưởng tộc quần, sẽ ảnh hưởng chính đảng.
Chúng ta ở Singapore làm đoàn kết tôn giáo làm được rất thành công, nhưng chỉ là bước đầu. Làm thế nào mới đến nơi đến chốn? Giáo sĩ truyền giáo của các tôn giáo cần phải học tập lẫn nhau kinh điển của đối phương, chân chánh học tập kinh điển liền sẽ phát hiện, phương hướng, mục tiêu của tất cả tôn giáo gần như đều là nhất trí, như vậy đối với tôn giáo khác mới có thể khởi tâm tôn kính, mới sẽ không bài xích, mới có thể hợp tác, mới có thể chân chánh chung sống hòa mục. Giáo dục hiện nay không có luân lý, không có đạo đức, không có nhân quả, giáo dục tôn giáo vừa vặn có thể bù đắp sự thiếu hụt của giáo dục hiện nay. Cho nên giáo dục tôn giáo cần phải cùng giáo dục trường học hiện nay kết hợp thành một thể, tương trợ bù đắp cho nhau, đem con người dạy cho tốt, như vậy vấn đề liền có thể giải quyết. Ngoài phương pháp này ra, tôi không nghĩ ra phương pháp thứ hai.
Trước đây Liên Hiệp Quốc đều bài xích tôn giáo, không qua lại với tôn giáo, duy trì khoảng cách. Năm 2006 chúng ta ở Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) tại Paris tổ chức một lần hoạt động, hoạt động này là do Liên Hiệp Quốc phát khởi, chúng ta đã đem tôn giáo đưa vào trong đó rồi. Đại biểu mười tôn giáo của Singapore và Úc Châu, ở hội trường lớn tay trong tay cầu nguyện vì hòa bình thế giới, mọi người nhìn thấy rồi, mới biết trong tôn giáo có hòa bình. Tôi đem chỗ ngồi của mười đại biểu tôn giáo này xếp ở hàng thứ nhất, để mọi người cảm nhận tôn giáo hòa mục, đối xử bình đẳng là thật không phải là giả. Sau khi chúng ta tổ chức hoạt động này, chân chánh để họ nhìn thấy tôn giáo có thể đoàn kết, có thể chung sống hòa mục, điều này cũng làm cho Liên Hiệp Quốc đổi mới nhãn quan. Mãi cho đến hiện nay, Liên Hiệp Quốc vẫn niệm niệm không quên, vẫn hy vọng chúng ta lại đi tổ chức một lần nữa. Tổng thư ký lúc bấy giờ khen ngợi hoạt động của chúng ta, trật tự, nội dung đều là tốt nhất. Cho nên, không phải làm không được, mà là cần phải nỗ lực đi làm. Ở xã hội ngày nay chỉ nói thôi thì không được, nhất định cần phải làm ra hình dáng cho người ta xem. Lần đó chúng ta có thành tích mà thị trấn nhỏ Thang Trì làm ra, mọi người nhìn thấy rồi, hiện nay ông ấy lại muốn tôi đi tổ chức lại một lần nữa, tôi không có thứ gì cho ông ấy xem, cho nên lời mời của ông ấy tôi không dám tiếp nhận.
Tôi cảm thấy sự việc gì cũng đều là thiên ý, chúng thần đang an bài, Phật Bồ-tát đang gia trì, là năng lực không thể nghĩ bàn đang khống chế, không phải sức người có thể làm được.
Kỷ niệm mười năm Tịnh Tông Học Viện Úc Châu, đã tổ chức một hoạt động, phạm vi của hoạt động này rất nhỏ, chỉ giới hạn ở thành phố nhỏ Toowoomba này. Chúng ta ở thành phố nhỏ này sống mười năm, trong mười năm này, đã tạo dựng nền móng của sự hòa mục, làm như thế nào? Mời khách ăn cơm. Bữa tiệc tối ấm áp vào mỗi thứ Bảy của học viện chúng ta, miễn phí chiêu đãi thị dân, người thích đến đều đến ăn cơm, đến nghe giảng đạo. Tôi ở đây không chuyên môn giảng Phật pháp, tôn giáo nào cũng giảng, tôn giáo thế giới là một nhà, hy vọng tôn giáo đều có thể đoàn kết lại, thành tích tốt nhất của chúng ta nên nói là đem nhân dân của thành phố nhỏ đoàn kết lại rồi. Thành phố nhỏ này chỉ có mười vạn người, biểu hiện mười năm của chúng ta, tấm gương làm ra, được cư dân đồng tình. Cư dân Toowoomba cái khác không biết, họ hiểu được người của Tịnh Tông Học Viện đều là người tốt. Chúng ta ở đó sống mười năm, chỉ đạt được một câu nói như vậy, cho nên mọi người đều phi thường hoan hỉ. Vì thế, tôi liền nghĩ đến, tôn giáo của Toowoomba cần có thể đoàn kết lại trở thành người một nhà, mọi người là pháp lữ, là đồng tu, không phải oan gia đối đầu, không có báo oán, đòi nợ, trả nợ, mà là đồng tham đạo hữu, để Toowoomba trở thành đạo tràng, điều này tốt đẹp biết bao! Tất cả chúng ta cư trú ở thành phố này, đem thành phố này biến thành Thế giới Cực Lạc, đem thành phố nhỏ này xây dựng thành một thành phố thị phạm hài hòa đa nguyên văn hóa thế giới, đây liền rất có ý nghĩa. Có thể làm được hay không? Có thể, bắt tay làm từ chính mình.
Trung Quốc lớn như vậy, mới có năm mươi sáu tộc quần, mà mười vạn người của Toowoomba có hơn tám mươi tộc quần, đây là điều tôi không nghĩ tới. Toowoomba có hơn một trăm loại ngôn ngữ, có mười mấy loại tôn giáo, thật sự là vùng đất hội tụ của đa nguyên văn hóa. Một phần tư những người có tín ngưỡng tôn giáo của chúng ta, đem tâm yêu thương của chúng ta mở rộng ra, để người khác biệt tộc quần, khác biệt ngôn ngữ, khác biệt văn hóa, ở đây chung sống hòa mục, chân chánh cảm nhận thành phố này là thành phố của tình yêu thương, là thành phố hài hòa. Để người người ở Toowoomba đều có tâm yêu thương, đều có thể quan tâm xã hội, quan tâm đại chúng, chiếu cố đại chúng, tương trợ hợp tác, làm một thành phố thị phạm hài hòa cho toàn thế giới, đây là điều rất có ý nghĩa, ý nghĩa so với Thang Trì của chúng ta càng thù thắng hơn.
Chúng ta không chỉ cần phải đoàn kết trên hình thức, càng cần phải đoàn kết trên giáo nghĩa. Làm bằng cách nào? Đọc kinh điển. Chúng ta không chỉ cần phải quen thuộc kinh điển của bổn tông, kinh điển của tôn giáo khác chúng ta cũng niệm. Sau khi học rồi mới biết, Thần thánh của mỗi tôn giáo nói đều là một đạo lý chung, hướng về một phương hướng chung, đó chính là dạy chúng ta phải yêu người, phải xả kỷ vì người, không có một tôn giáo nào là tự tư tự lợi. Chúng ta học tập lẫn nhau, có nền tảng lý luận rồi, như vậy liền có thể kiến hòa đồng giải, kiến lập nhận thức chung.
Tiến thêm một bước hy vọng mỗi tôn giáo đều quay về giáo dục, kinh điển cần phải giảng giải tường tận, mỗi tôn giáo mỗi ngày giảng kinh tám giờ đồng hồ, tôi tin tưởng thành phố Toowoomba này, một năm sau chính là thành phố thị phạm hài hòa tôn giáo của toàn thế giới. Tôn giáo là người một nhà, mọi người chúng ta đồng tâm đồng đức, một phương hướng, một mục tiêu, đem Toowoomba xây dựng thành thiên đường, xây dựng thành Thế giới Cực Lạc. Đợi sau khi dạy học của chúng ta đi vào quỹ đạo, tôi đề nghị tại Toowoomba kiến thiết một đài truyền hình giáo dục tôn giáo, mỗi ngày đem nội dung dạy học của chúng ta phát sóng hướng ra toàn thế giới. Để người toàn thế giới đều biết tôn giáo ở Toowoomba chung sống hòa mục, nhân dân tương thân tương ái, tương trợ hợp tác, để người yêu chuộng hòa bình của toàn thế giới đều đến Toowoomba học tập, đều đến Toowoomba tham quan du lịch, mang lại lợi ích thực tế cho Toowoomba. Người của Toowoomba chỉ cần làm tốt ngành dịch vụ, thu nhập liền phi thường khả quan. Người ta sau khi tham quan học tập, liền ở khắp nơi kiến lập khu đô thị hài hòa, Trái Đất từ từ liền hướng đến tốt đẹp. Tôi hỏi những bạn bè tôn giáo này, mọi người có bằng lòng hợp tác hay không? Từng người đều bằng lòng hợp tác. Chúng ta tuyệt đối không thể làm đối lập, tuyệt đối không thể tự tán hủy tha, cần phải đoàn kết nhất trí, khai sáng sự hài hòa. Đài truyền hình vệ tinh này trong tương lai, do chính quyền thành phố chủ trì, do đại biểu tôn giáo đứng ra kinh doanh quy hoạch, mỗi một tôn giáo đều có thể cử người đến giảng kinh dạy học. Điểm thị phạm đầu tiên trên thế giới xuất hiện rồi, nhất định sẽ sản sanh ảnh hưởng rất lớn, sẽ từng bước thúc đẩy toàn thế giới khôi phục an định hài hòa.
Kiến lập thành phố thị phạm như vậy, cần chúng ta nhận chân thực tiễn tu học của Tịnh độ, khai đạo giáo hóa chúng sanh cải tà quy chánh, quay về tự tánh. Chúng ta dẫn dắt đại chúng chuyển phiền não thành Bồ-đề, dẫn dắt đại chúng phá mê khai ngộ, dẫn dắt đại chúng chuyển phàm thành Thánh, đây là sự nghiệp tốt đẹp biết bao!
Tôi nêu ra chủ đề này để thảo luận, mọi người hưởng ứng phi thường nhiệt liệt, mỗi một tôn giáo đều có ý nguyện này, hơn nữa đều rất chân thành. Cơ Đốc giáo cũng cởi mở rồi, hiện nay cũng từ bỏ thành kiến, hoan hỉ tiếp nhận người khác, tiếp nhận tôn giáo khác biệt. Mọi người đều hoan hỉ, đều muốn thật làm, điều này quá tốt rồi, đây là một cơ duyên phi thường tốt.
Tôi đề nghị Toowoomba, bốn tháng tụ hội một lần, một năm ba lần. Nội dung chính là mỗi tôn giáo đem tâm đắc tu học của chính mình trong bốn tháng này, đưa ra báo cáo chia sẻ. Tất cả chúng ta ở cùng một chỗ chia sẻ lẫn nhau, học tập lẫn nhau, để nâng cao chính mình, nâng cao văn hóa hiếu thành, văn hóa tôn giáo. Cho nên mọi người không thể giải đãi, bởi vì mỗi bốn tháng cần phải làm báo cáo một lần, cần phải có thành tích đưa ra, liền cần phải thật làm, cần phải không ngừng nâng cao cảnh giới của chính mình. Tôn giáo đối với người đời làm ra cống hiến, mọi người đối với tôn giáo liền sẽ tôn kính, không nói tôn giáo là mê tín nữa. Sự việc này rất có ý nghĩa, rất có giá trị, đây là giúp đỡ thế giới tiêu trừ xung đột, xúc tiến an định hòa bình.
Giáo hoàng Thiên Chúa giáo Benedict XVI mời tôi đến Vatican, tôi vốn dĩ không muốn đi, nhưng nghĩ lại giáo dục tôn giáo quan trọng, tôn giáo nếu không quay về giáo dục, không có tiền đồ, hy vọng có thể đem lý niệm này truyền đạt ra ngoài. Diện tích Vatican không lớn, chỉ có năm mươi mẫu Anh, là một thị trấn nhỏ, cư dân không đến một ngàn người. Tôi khuyên ngài, có thể đem tinh thần của Thiên Chúa giáo, văn hóa của Thiên Chúa giáo thực tiễn ở khu dân cư nhỏ này hay không? Chân chánh có thể đem tinh thần và văn hóa của Thiên Chúa giáo làm được, thực tiễn vào đời sống, công việc, đối nhân xử thế, để Vatican biến thành thiên đường của Thiên Chúa giáo, đi đến nơi đó chính là bước vào thiên đường, nhìn thấy thiên đường. Thành Rome cũng không lớn, Rome có bao nhiêu nhà thờ? Có hơn bốn trăm. Đó chính là hơn bốn trăm trường học, nếu mỗi trường học mỗi ngày đều đang lên lớp dạy học, thời gian một năm, thành Rome liền biến thành thánh thành của Thiên Chúa giáo trên Trái Đất, thiên đường của Thiên Chúa giáo liền ở Rome, để mọi người có thể nhìn thấy thiên đường chân chánh, tốt biết bao! Tôi truyền đệ thông điệp này, hy vọng họ có thể làm, cần có thể đem người trẻ tuổi dìu dắt lên. Nhưng người trẻ tuổi cần phải dạy, không có sự giáo dục của luân lý, đạo đức, nhân quả thì không thể hưng giáo. Thiên Chúa giáo nếu có thể dẫn đầu, làm một điểm thị phạm dạy học văn minh tinh thần Thiên Chúa giáo của toàn thế giới, tôn giáo khác cũng sẽ làm. Như vậy liền có thể đem tôn giáo toàn thế giới đoàn kết lại, đem tôn giáo hướng về giáo dục, Trái Đất liền được cứu rồi, xã hội có thể hài hòa.
Cần phải nhận thức được không có giáo dục xã hội liền sẽ hướng đến diệt vong, chỉ có quay về trên con đường giáo dục của bậc Thánh Hiền mới là một con đường sống.
Một Thể Cộng Đồng Sinh Mệnh
Một ý thức trách nhiệm, vì hòa bình thế giới cùng nhau nỗ lực
Ngày 15 tháng 8 năm 2006 tại “Diễn đàn Hòa bình Thế giới” ở Jakarta
Kính thưa Ngài Tổng thống, kính thưa các vị lãnh đạo các nước, kính thưa các vị lãnh tụ tôn giáo, kính thưa toàn thể quý khách: Chào mọi người!
Lần này nhờ sự thỉnh mời của đại hội, tham gia “Diễn đàn Hòa bình Thế giới” do “Hiệp hội Muhammadiyah” cùng “Hiệp hội Đa nguyên Văn hóa Indonesia” phối hợp chủ trì. Chí thành cảm tạ! Sự hòa bình an định của thế giới cùng đời sống hạnh phúc của nhân dân, là nguyện vọng chung của toàn nhân loại từ xưa đến nay. Đặc biệt ở ngày nay khi thiên tai nhân họa ngày càng thường xuyên, hòa bình an định càng là sự mong mỏi sâu sắc nhất trí của đại chúng toàn cầu. Tịnh Không học tập giáo hối của bậc Thánh triết năm mươi lăm năm, dạy học bốn mươi tám năm, xin dâng lên tấm lòng thành ngu muội này, không quản thấp kém, đưa ra báo cáo tâm đắc, kính mong Ngài Tổng thống cùng chư vị đại thiện tri thức chỉ giáo.
Từ thế kỷ hai mươi đến nay, Trái Đất đã trải qua hai cuộc đại chiến thế giới, các nước trên thế giới đã ký kết rất nhiều điều khoản hòa bình, các chuyên gia học giả đưa vào số lượng lớn nguồn lực nhân lực, vật lực, khai hội, thảo luận. Sau sự kiện 11 tháng 9, Tịnh Không cũng từng đại diện Úc Châu, các trường đại học nhận lời thỉnh mời tham gia qua bảy lần diễn đàn hòa bình, trong đó bao gồm năm lần hội nghị của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc cùng “Diễn đàn Toàn cầu Perdana” của trưởng lão Mahathir. Tháng mười năm nay, trụ sở UNESCO tại Paris thỉnh mời Thái Lan và Tịnh Tông Học Viện Úc Châu ở Paris tổ chức “Hoạt động hoan khánh ngày lễ Vesak năm 2550” với thời hạn ba ngày. Thế nhưng hội nghị, diễn đàn, có thực sự có thể mang đến hòa bình cho thế giới, mang đến hạnh phúc an vui cho nhân dân hay không? Mở tin tức thời sự hằng ngày ra thì biết, nhỏ đến cá nhân, gia đình, lớn đến quốc gia, xã hội, cho đến tộc quần, tôn giáo, đủ loại xung đột, mâu thuẫn, chiến tranh, động loạn ngày càng diễn biến dữ dội. Quả thực khiến người ta cảm thấy phi thường đau lòng! Tĩnh tâm suy nghĩ, “ngày tận thế của thế giới” mà rất nhiều vị tiên triết dự ngôn! Tịnh Không cho rằng, ngày tận thế của thế giới không đồng nghĩa với Trái Đất hủy diệt, mà là nhân tâm bại hoại, cha con tàn sát lẫn nhau, anh em bất hòa, gặp gỡ không có tình yêu thương, thảo mộc giai binh; người sống ở đời, lo âu khủng bố, khổ không thể nói, đây mới là dấu hiệu “ngày tận thế” chân chánh.
Tĩnh tâm tự hỏi, thế giới hòa bình an định, nhân dân hạnh phúc an vui, quả thật là xa vời không thể chạm tới sao? Ngày nay rất nhiều quốc gia hao phí số lượng lớn nguồn vốn phát triển vũ khí khoa học kỹ thuật cao, nhưng đối mặt với chiến tranh du kích của phần tử khủng bố, lại phòng không thắng phòng. Hoặc có quốc gia lấy phát triển kinh tế làm mục tiêu trung tâm, lại vì thiếu hụt sự giáo hóa luân lý đạo đức, nhân tâm tham lam, chế tạo ra càng nhiều vấn đề xã hội hơn. Rất nhiều mâu thuẫn xung đột, khiến rất nhiều bậc nhân sĩ có chí hướng đối mặt với hòa bình thế giới đã mất đi tín tâm! Thế nhưng, Tịnh Không từ trong lời dạy bảo của bậc Thánh triết hiểu được, tin sâu thế giới vũ trụ vốn dĩ hài hòa, vạn vật cũng là sinh ra hòa mục, tánh nó vốn thiện! Nhưng tuyệt đối không phải là thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế cho đến khoa học kỹ thuật có thể đạt đến. Chỗ gọi là “kiến quốc quân dân, tu thân làm gốc, dạy học làm đầu”, an bang định quốc, chỉ có mở trường giảng bài, thúc đẩy giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ, là có thể nhanh chóng thu được lợi ích thực tế hữu hiệu nhất! Triệt để hóa giải mâu thuẫn, xung đột, khủng bố, chiến tranh, cũng cần lấy dạy học giảng bài; khơi gợi tánh đức thuần tịnh lương thiện, từ hòa nhân nhượng vốn có trong tâm tánh con người, mới là căn bản. Từ trong lịch sử chúng ta biết được, tất cả bậc Thánh triết phương Đông và phương Tây đều là những người làm công tác tình nguyện của giáo dục hòa bình; Muhammad dạy học khoảng chừng hai mươi bảy năm, Thích-ca Mâu-ni dạy học bốn mươi chín năm, Chúa Jesus thuyết pháp ba năm, Khổng lão phu tử thời xưa dạy học năm năm. Tất cả giáo dục Thánh Hiền, không gì không lấy “nhân từ bác ái, thành kính khiêm hòa” làm tông chỉ, dạy bảo tất cả đại chúng “từ bỏ tự tư ngạo mạn, phẫn nộ tham lam, đố kỵ oán hận; tôn trọng lẫn nhau, tương kính tương ái, chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng”.
Tháng 10 năm 2005, Tịnh Không nhận lời thỉnh mời đến Kuala Lumpur giảng diễn hai ngày, thính chúng hơn một vạn sáu ngàn người. Trong khoảng thời gian đó nhờ sự an bài của ngài Tan Sri Lee Kim Yew, có cơ duyên được gặp mặt với trưởng lão Mahathir. Trong cuộc trò chuyện hơn một giờ đồng hồ, Tịnh Không nhắc đến vấn đề thế giới hiện nay cực kỳ phức tạp, nếu có thể hóa giải mâu thuẫn xung đột giữa những quốc gia khác biệt, những phe phái khác biệt, những tộc quần khác biệt, những tôn giáo khác biệt, khiến họ chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng, đoàn kết hợp tác, thì tất cả vấn đề tự nhiên hóa giải. Nhưng bốn điều này, đều không dễ làm được. Chỉ có bắt tay từ đoàn kết tôn giáo là khá dễ, tôn giáo thế giới đều lấy tâm yêu thương cứu đời làm chỗ cầu, nếu có thể đoàn kết tất nhiên ảnh hưởng sự đoàn kết hợp tác của ba điều kia. Trưởng lão đối với lời nói này bày tỏ sự tán đồng sâu sắc. Cần biết, người lãnh đạo thành công, chính là chỗ cổ nhân gọi là “người hòa giải”. Ông ấy có thể hóa giải sự phân tranh đối lập, mâu thuẫn xung đột của tất cả những phe phái, tộc quần, tôn giáo khác biệt. Khiến văn hóa phát triển đa nguyên mà cầu đồng tồn dị, cộng tồn cộng vinh, cho nên có thể rủ áo khoanh tay mà làm cho thiên hạ thái bình. Lại lấy hoàn cảnh xã hội hài hòa an định, làm nền tảng của phát triển giáo dục, kinh mậu, khoa học kỹ thuật, thì sự trù phú phồn vinh của quốc gia tất sẽ theo đó mà đến.
Người làm công tác hòa bình, cần phải nhận thức sâu sắc “nhân tánh bổn thiện”, chỉ có trước tiên hóa giải xung đột mâu thuẫn trong nội tâm của chính mình, triệt để buông xuống tự tư tự lợi, lấy tâm yêu thương chân thành đối xử tất cả người, sự, vật, mới có thể hóa giải tất cả xung đột mâu thuẫn bên ngoài, đạt được hòa bình an định. Lý luận này, có thể từ trong thí nghiệm tinh thể nước của Tiến sĩ Masaru Emoto Nhật Bản những năm gần đây thu được sự chứng minh. Tiến sĩ Emoto ở trong mấy mươi vạn lần thí nghiệm đã phát hiện, tâm niệm “tình yêu thương” và “cảm ân”, có thể khiến nước sản sanh tinh thể đẹp nhất! Nước là khoáng vật, còn được như vậy, huống hồ là động thực vật cụ bị linh tánh, lại huống hồ là nhân loại thân làm động vật bậc cao nhất!
Đặc biệt là nhà lãnh đạo quốc gia, ngạn ngữ cổ có câu: “Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa”. “Nhân hòa” là khóa đề quan trọng nhất của toàn nhân loại trước mắt. Ở đại thời đại dân chủ tự do mở cửa, người lãnh đạo tất định là bậc Thánh triết đại trí đại nhân đại dũng. Càng nên chủ động bái phỏng người lãnh đạo của các phe phái khác biệt trong toàn quốc (đặc biệt là lãnh tụ phái phản đối, càng cần chủ động bái phỏng thỉnh giáo), cùng các lãnh tụ tôn giáo, người lãnh đạo các tộc quần, dung hợp ý kiến, tiêu trừ hiểu lầm lẫn nhau, hóa giải đối lập, xúc tiến hợp tác mật thiết, dốc sức cầu sự đoàn kết. Lấy Indonesia làm ví dụ, Indonesia là một đất nước nghìn đảo, Ngài Tổng thống nếu có thể một năm ít nhất làm một lần chuyến đi thăm hỏi tuần tra, khảo sát dân tình các nơi, tăng tiến tình hình bên dưới thông đạt lên trên, cũng làm tham khảo cho việc thi hành chính sách cải cách.
Mỗi năm ít nhất có một lần “bữa tiệc tối ấm áp” thỉnh mời đại biểu của từng phe phái, tôn giáo, tộc quần khác biệt ở các nơi trong toàn quốc cùng sứ tiết các nước tham gia, tổ chức hoạt động đoàn kết hài hòa vào ngày lễ lớn của quốc gia, mục đích ở chỗ dung hợp tình cảm toàn dân, khiến sự hóa giải hiểu lầm đối lập có thể được thực tiễn, để đạt thành toàn dân đoàn kết nhất trí. Khuyến khích các phe phái, tôn giáo, tộc quần tổ chức đoàn xuất quốc thăm hỏi, nâng cao sự học tập đa nguyên văn hóa. Người tham gia có thời gian mười mấy ngày cùng sinh sống với nhau, giao lưu học tập, tăng tiến sự thấu hiểu sâu sắc lẫn nhau. Đối với hóa giải hiểu lầm, xúc tiến hợp tác mật thiết lẫn nhau, có hiệu quả nhất.
“Kiến quốc quân dân, dạy học làm đầu”, kiến lập một quốc gia, lãnh đạo nhân dân toàn quốc, giáo dục là đệ nhất. Nếu muốn quốc gia chân chánh trường trị cửu an, cần biết đề xướng giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ, khoa học cho toàn dân là phi thường quan trọng, đây chính là giáo dục tôn giáo thần thánh. Có thể do quốc gia hưng biện “Đại học Tôn giáo” hoặc “Đại học Đa nguyên Văn hóa” để bồi huấn nhân tài sư phạm của giáo dục tôn giáo. Có được giáo viên tốt, mới có thể thực tiễn giáo dục luân lý đạo đức toàn dân. Lại lợi dụng khoa học kỹ thuật cao, phương pháp dạy học từ xa phổ cập giáo dục đạo đức toàn dân. Chỉ cần nhân dân đều có thể học tập, đều có thể giác ngộ, tuân thủ giáo hối của Thánh Hiền, người người bình đẳng, mỗi mỗi đệ nhất, không có địch đối, mỗi một phe phái đều là đệ nhất, mỗi một tôn giáo đều là đệ nhất, mỗi một tộc quần đều là đệ nhất, không có đệ nhị, xã hội tự nhiên hài hòa an định!
Ngày nay, là thời khắc then chốt toàn nhân loại cứu vong đồ tồn. Hóa giải mâu thuẫn xung đột, sải bước hướng đến hòa bình thế giới, thật là sự kỳ vọng tự đáy lòng của toàn nhân loại. Cổ Thánh tiên triết xưa nhấn mạnh, “Vũ trụ thanh tịnh, quốc gia an định, gia đình hòa mục, con người an vui, thảy đều lấy tu thân làm gốc, dạy học làm đầu.” Thế giới trước mắt khẩn cấp cần hóa giải xung đột, xúc tiến hài hòa, mà chúng ta cần phải biết, cội nguồn của xung đột ở chỗ gia đình không hài hòa, mà cội nguồn tầng thứ sâu hơn ở sự xung đột giữa giác và mê của chính mình, sự xung đột giữa bổn tánh và tập tánh. Bổn tánh là thiện, mà tập tánh là tham sân si mạn. Cho nên, chúng ta chỉ có từ chính thân mình bắt tay vào, buông xuống tranh danh đoạt lợi, tích cực đề xướng giáo dục nhân nghĩa, từ bi, khoan thứ, giác ngộ. Cống hiến lớn nhất của Thích-ca Mâu-ni Phật đối với nhân loại, chính là ngài từ bỏ vương vị phú quý, vì người đời sau làm ra dáng vẻ “không tranh”. Trọn cả một đời, làm công tác giáo dục của đa nguyên văn hóa, giúp đỡ chúng sanh “phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui”. Phương pháp ngài sử dụng chính là “mở lớp dạy học”. “Thế giới hài hòa, làm từ tâm ta”, Thích-ca Mâu-ni Phật cùng tất cả Thần thánh phương Đông và phương Tây vì nhân loại làm ra sự thị phạm tốt nhất, chúng ta nên biết, nên học.
Hình thức dạy học của Thánh triết phương Đông và phương Tây tuy mỗi vị không giống nhau, nhưng nội dung của nó đều không rời khỏi “đạo đức”. “Đạo” là quy luật của đại tự nhiên, sự hài hòa vốn dĩ; “đức” là tùy thuận tự nhiên và hài hòa. Lý thể của đạo đức chính là “tình yêu thương”, mà khởi điểm nguyên sơ của “tình yêu thương” là “phụ tử hữu thân”. “Tình yêu thương” thực tiễn ở thế gian là “Thánh Huấn”, ở văn hóa truyền thống là “Đệ Tử Quy”, ở trong Phật pháp là “Thập Thiện Nghiệp Đạo”. Giáo dục của “tình yêu thương” bắt đầu từ thai giáo, xem trọng đồng mông dưỡng chánh, dạy người một đời hoàn toàn tùy thuận pháp tắc tự nhiên, đạt đến tột cùng, nhận thức cội nguồn của đại vũ trụ, dung hòa làm một thể với đại vũ trụ.
Lý niệm hài hòa một thể loại này chính là nền tảng lý luận thân ái hài hòa của các quốc gia, tộc quần, phe phái, tôn giáo. Tịnh Không ở Singapore đoàn kết chín đại tôn giáo, cũng là dựa trên lý niệm loại này – trong vũ trụ chỉ có một vị Chân thần, Chân thần chính là “tình yêu thương”. Mà hóa thân ở những tôn giáo khác biệt, do đó tất cả tôn giáo đều là người một nhà. Chín đại tôn giáo của Singapore hiện nay thân thiết như tay chân, chứng minh “tôn giáo là có thể đoàn kết”! Mà đoàn kết tôn giáo cần phải kiến lập trên nền tảng học tập lẫn nhau của giáo dục tôn giáo, tôn trọng lẫn nhau, tương trợ hợp tác, mới có thể chân chánh bền lâu và sâu sắc.
Gần đây, tôi ở quê hương là thị trấn nhỏ Thang Trì, huyện Lư Giang, Trung Quốc làm thử nghiệm, kiến lập một “Trung tâm giáo dục đa nguyên văn hóa”, lấy “Đệ Tử Quy” của Nho gia làm tài liệu giảng dạy, bồi dưỡng giáo viên của giáo dục đạo đức, yêu cầu giáo viên trăm phần trăm thực tiễn sự học tập luân lý đạo đức; đồng thời mở lớp dạy học, dạy bảo cư dân đương địa, để thu được công phu dạy và học cùng tiến bộ, tự hành hóa tha. Nửa năm nay hiệu quả rõ rệt, thôn dân đã nhận được sự cảm hóa và khơi gợi cực kỳ lớn, đủ loại chuyển biến phát ra từ nội tâm, những sự tích cảm động về thiện niệm, thiện ngôn, thiện hạnh giống như măng mọc sau mưa thi nhau nhú lên.
Đúng như trấn trưởng thị trấn nhỏ mặt mày hớn hở nói với chúng tôi, sau khi thầy giáo dạy hiếu đạo, trong thôn có sự biến hóa “hai nhiều hai ít”: Gia đình hòa mục nhiều lên, mẹ chồng nàng dâu bất hòa ít đi; trẻ nhỏ hiếu thuận hiếu học nhiều lên, láng giềng cãi cọ ít đi. Một vị cán bộ cũng vui vẻ nói, trước đây khi mọi người có mâu thuẫn bất đồng, phương pháp giải quyết phi thường thô bạo. Hiện nay mọi người có thể ngồi xuống, tâm bình khí hòa nói chuyện giải quyết; giữa người với người hài hòa hơn nhiều rồi. Cho dù có tranh chấp mâu thuẫn, khi người hòa giải nói: “Các vị không phải đều đã nghe bài giảng của ‘Đệ Tử Quy’ rồi sao? Sao còn ồn ào chứ?” Hai bên nghe xong liền sẽ lộ vẻ mặt hổ thẹn, rất ngại ngùng mà quay đầu rời đi. Bởi vì các thầy giáo từng dạy họ ở trong đời sống thực tiễn lời giáo hối “ngôn ngữ nhẫn, phẫn tự mẫn”. Những sự lệ như vậy, không đếm xuể. Khu thử nghiệm dạy học này, vì chúng ta chứng minh “nhân dân là có thể dạy cho tốt được”!
Tịnh Không hy vọng đem điều tâm đắc của kẻ ngu muội này, cống hiến cho bậc chí sĩ nhân nhân của toàn thế giới, chúng ta ứng nên tăng trưởng tín tâm, tăng thượng nguyện lực, cùng nhau chung tay hợp tác, triển khai giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ, khoa học, giúp đỡ chúng sanh khổ nạn toàn cầu “phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui”, hóa giải xung đột, xúc tiến xã hội an định, thế giới hòa bình!
Cẩn thử Kính chúc
Ngài Tổng thống chính cung khang thái
Chư vị đại thiện tri thức cát tường như ý. Cảm ơn!
Thích Tịnh Không AM
Viện trưởng Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Tiến sĩ danh dự Đại học Hồi giáo Quốc gia Syarif Hidayatullah Indonesia
Giáo sư danh dự Đại học Queensland, Đại học Griffith Úc Châu
Giáo Dục Tôn Giáo Là Điều Cần Thiết Cho Đời Nay
Hội nghị Thường vụ lần thứ 25 của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới
Ngày 14 tháng 11 năm 2010 tại Sri Lanka
Kính thưa Hội trưởng, Tổng Thư ký, chư vị trưởng lão, chư vị khách quý, xin chào mọi người!
Chủ chỉ của Hội nghị Thường vụ Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới lần này nằm ở việc thông qua giáo dục của Phật đà, hóa giải xung đột mâu thuẫn, khôi phục thế giới hài hòa an định. Tịnh Không học tập giáo dục của Phật đà 59 năm, thể hội sâu sắc, muốn cứu giúp thế giới ngày nay, cần phải khôi phục giáo dục tôn giáo. Toàn thế giới có hơn một nửa dân số tín phụng tôn giáo, nếu có thể dưới sự dẫn dắt của trưởng lão các tôn giáo, nhận chân học tập giáo dục phổ quát về luân lý, đạo đức, nhân quả của Phật đà Thánh Hiền, tiến tới cầu chứng giáo dục khoa học và triết học của Đại thừa, thực tiễn tinh thần chân thành từ bi, khiêm ái hòa kính, nhân nghĩa trung thứ, thì rất nhiều tai nạn, mâu thuẫn xung đột của thế giới, xác thực có thể hóa giải hữu hiệu.
◎ Tín ngưỡng tôn giáo trước tiên nên xem trọng nội hàm giáo dục
Danh từ “tôn giáo” này, sự giải thích ý nghĩa của nó trong tiếng Trung là:
“Tôn” có ba loại ý nghĩa: chủ yếu, quan trọng, tôn sùng.
“Giáo” có ba tầng hàm nghĩa: giáo dục, dạy học, giáo hóa.
Gộp lại mà nói, “tôn giáo” chính là giáo dục chủ yếu, dạy học quan trọng, giáo hóa đáng được tôn sùng.
* Giáo dục tôn giáo
Tông chỉ: Giác ngộ thấu triệt thật tướng của chư pháp (nhận thức đất trời cùng ta đồng cội nguồn, vạn vật cùng ta là một thể).
Hiệu quả: Viên mãn cứu cánh phước huệ (kính yêu chúng sanh, phát tâm phục vụ cho tất cả chúng sanh).
Từ đây có thể biết, giáo dục tôn giáo, thực sự là kim chỉ nam để đạt đến xã hội hài hòa, nhân sanh hạnh phúc. Trong quá khứ thầy của tôi là Đại sư Chương Gia từng nói: “Phật pháp trọng thực chất, không trọng hình thức.” Nếu chỉ xem trọng hình thức bên ngoài, đối với nội hàm thực chất của giáo nghĩa kinh điển không thể hiểu sâu, thì thường thường dừng lại ở sự nhiệt tình tín ngưỡng, dễ bị những kẻ có dụng tâm lợi dụng.
Nội hàm giáo dục của Phật đà Thánh Hiền, bao gồm năm loại lớn: luân lý, đạo đức, nhân quả, triết học, khoa học. Ba điều trước là giáo dục phổ quát, bất luận nam nữ già trẻ, các ngành các nghề, đều nên nhận chân học tập. Hai điều sau thì thuộc về phạm trù nghiên cứu sâu của số ít người. Trong quá khứ thầy của tôi là Giáo sư Phương Đông Mỹ lúc giới thiệu Phật pháp cho tôi đã nói, “Phật là đại triết, là Thánh triết, Phật pháp là đỉnh cao nhất của triết học thế giới, học Phật là sự hưởng thụ cao nhất của nhân sanh”. Mà những năm gần đây, khoa học không ngừng phát triển, đặc biệt là cơ học lượng tử, đã dần dần chứng minh chân tướng vũ trụ mà Phật đà nói vào 2.500 năm trước. Thật đúng như Einstein từng nói: “Nếu như tương lai có một môn học có thể thay thế môn khoa học, vậy thì môn học duy nhất này chính là Phật giáo.” “Nếu như có một tôn giáo có thể đáp ứng nhu cầu của khoa học hiện đại, lại có thể cùng nương tựa cùng tồn tại với khoa học, đó chắc chắn là Phật giáo.” Chỉ có không ngừng thâm nhập kinh giáo, chúng ta thành tín, Phật giáo không chỉ là “đỉnh cao nhất của triết học thế giới”, mà cũng là “đỉnh cao nhất của luân lý, đạo đức, nhân quả, khoa học” thế giới. 20, 30 năm sau, ắt có thể được người đời phổ biến khẳng định nó là khoa học bậc cao.
◎ Cứu vãn thế giới cần phải khôi phục giáo dục tôn giáo
Hai năm nay, chúng ta học tập “Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán” của Đại sư Hiền Thủ triều Đường Trung Quốc, càng thấu triệt liễu giải vũ trụ vạn pháp vốn là một thể, đều là tự tánh hiển hiện. Một niệm sanh khởi, vạn vật đồng thời đốn hiện, một có tất cả có, một diệt tất cả diệt, tuyệt đối không có thứ lớp trước sau. Giống như hình ảnh tivi biến hóa khôn lường, nhưng đều không ngoài một cái màn hình giống nhau. Hình ảnh không giống nhau, là bởi vì sự dao động của tần số không giống nhau. Sự dao động của tần số, có thể ví von suy lường là tâm niệm; tâm niệm dấy khởi, thì vạn vật theo đó hiển hiện. Cho nên Phật nói: “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”.
Quan sát tất cả ưu bi khổ não, kiết hung họa phước của nhân loại, đủ loại xung đột mâu thuẫn của thế gian, các loại thiên tai địa biến của Trái Đất, đều là do không tường tận chân tướng vũ trụ nhân sanh, vọng sanh tình chấp, phân ta phân người, từ mâu thuẫn xung đột của tự tâm, mở rộng đến mâu thuẫn xung đột đối với tất cả người, sự, vật, cho đến toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên. Cho nên tai biến nổi lên khắp nơi, diễn biến càng ngày càng dữ dội. Bám sát thực tế mà luận, thiên tai cũng là do nhân tâm cảm triệu nên. Phật nói: Thủy tai là quả, tâm tham là nhân. Hỏa tai là quả, sân khuể là nhân. Phong tai là quả, ngu si là nhân. Động đất là quả, ngạo mạn bất bình là nhân. Nếu muốn hóa giải tai biến xung đột, cần phải bắt tay làm từ thân tâm của tự ngã, chân chánh khẳng định tất cả chúng sanh vốn dĩ là một thể, vạn pháp vốn dĩ hài hòa, được như vậy thì tâm chân thành từ bi, khiêm hòa kính ái tự nhiên sanh khởi. Kinh “Vô Lượng Thọ” nói: “Nơi Phật đi qua (nơi giáo dục Phật đà phổ cập), quốc gia, ấp, làng, xóm đều được giáo hóa. Thiên hạ hòa thuận, mặt trời mặt trăng trong sáng. Mưa gió thuận hòa, tai nạn bệnh dịch không nổi lên. Đất nước sung túc nhân dân an lạc, binh khí vô dụng. Sùng thượng đạo đức hưng khởi lòng nhân, nỗ lực tu hành lễ nhượng. Đất nước không có đạo tặc, không có hàm oan ức hiếp. Kẻ mạnh không hiếp đáp kẻ yếu, ai nấy đều có chỗ của mình.” Cho nên biện pháp căn bản cứu cánh nhất để hóa giải tai nạn, chính là “siêng tu giới định huệ, dập tắt tham sân si”. Đủ loại hình thức pháp hội, đều thuộc về cầu nguyện, tuy có hiệu quả, nhưng không cứu cánh. Chỉ có phổ cập giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, triệt để chuyển hóa nhân tâm, mới có thể cứu vãn tất cả vấn đề phức tạp của Trái Đất, trị cả ngọn lẫn gốc.
◎ Khôi phục giáo dục tôn giáo cần phải xem trọng giới luật
Trước khi Phật diệt độ, dạy bảo đệ tử nên “lấy khổ làm thầy, lấy giới làm thầy.” Ngày nay đệ tử Phật muốn suy nghĩ khôi phục giáo dục tôn giáo, quang đại giáo hối của Phật đà, cần phải bắt tay làm từ căn bản, nghiêm trì giới luật. Sự học tập giới luật, như “Kinh Phật Tạng” nói, “không học Tiểu thừa trước học Đại thừa sau, không phải đệ tử Phật.” Nói lên Tiểu thừa là nền tảng của Phật pháp Đại thừa, cho nên sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, người tu hành đối với Tiểu thừa phi thường xem trọng. Đặc biệt đến thời đại Tùy Đường, mười đại tông phái trong cửa Phật trăm hoa đua nở, bao gồm tám tông Đại thừa, cùng hai tông Tiểu thừa là Thành Thật, Câu Xá. Về sau vì sự dạy học của hai nhà Nho, Đạo của văn hóa vốn có Trung Quốc, cùng tinh thần Phật pháp rất có thể tương phụ tương thành, nước sữa hòa hợp. Tiểu thừa ở Trung Quốc tự nhiên bị sự dạy học của hai nhà Nho, Đạo thay thế, dần dần suy yếu.
Điển tịch ba nhà Nho Thích Đạo rộng lớn mênh mông, suy xét căn bản của nó, gốc rễ của Nho gia là “Đệ Tử Quy”, gốc rễ của Đạo gia là “Cảm Ứng Thiên”, gốc rễ của Phật gia là “Thập Thiện Nghiệp”, chúng xuất gia thì cần thêm vào “Sa-di Luật Nghi”. Bốn loại giáo dục này, là trí tuệ đức năng vốn có trong tâm tánh của tất cả chúng sanh, không phân quốc gia, dân tộc, tôn giáo, nam nữ già trẻ, các ngành các nghề, nếu có thể nhận chân tu học, đều có thể đạt được lợi ích chân thật. Chân chánh thực tiễn, chính là nghiêm trì giới luật. Giới luật tinh nghiêm, tâm địa tự nhiên thanh tịnh an định. Nếu không thể bắt tay làm từ giáo dục cắm rễ, mà học tập kinh điển, giống như cây không gốc, nước không nguồn, hoa trong bình, lầu các trên không, chỉ thành nghiên cứu học thuật, thực khó đạt được lợi ích chân thật lìa khổ được vui, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành Thánh. Phật nói “giới có thể sanh định, định có thể khai huệ”, sự tu học của pháp thế xuất thế gian, đều không ngoài nguyên lý nguyên tắc này.
◎ Mở lớp dạy học lâu dài thiết lập khuôn mẫu thử nghiệm
Quan sát thế giới ngày nay tai biến phát sinh nhiều, xung đột mâu thuẫn thường thấy không hiếm, chúng ta thể hội sâu sắc, xác thực chỉ có sự đoàn kết hợp tác của tôn giáo đa nguyên, mới có thể hóa giải đủ loại mâu thuẫn xung đột, khôi phục xã hội an định, cứu vãn nguy cơ Trái Đất. Mà sự đoàn kết hợp tác của tôn giáo đa nguyên, cần phải lấy giáo dục tôn giáo làm căn bản, mỗi tôn giáo thâm nhập kinh điển sở học, giao lưu học tập lẫn nhau, tìm điểm chung gác lại bất đồng, đoàn kết hợp tác mới có thể sản sinh hiệu quả bắt nguồn xa chảy dài, trải qua thời gian dài càng thêm mới mẻ.
Nhận thấy điều này, năm nay chúng ta làm thử nghiệm tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu, khai giảng khóa trình tôn giáo đa nguyên, cung thỉnh trưởng lão Hồi giáo Singapore là ông Haniff vì chúng ta giảng giải “Kinh Koran” cùng “Thánh Huấn”, trưởng lão Cơ Đốc giáo Úc Châu là ông Peter vì chúng ta giảng giải “Kinh Thánh”. Lại nữa, Hiệp hội Giáo dục Phật đà Hồng Kông, bắt đầu từ năm nay, mỗi ngày khóa trình dạy học 8 giờ đồng hồ, ngày ngày không gián đoạn. Hy vọng mượn điều này để ném gạch nhử ngọc, kêu gọi các tôn giáo ngoài cầu nguyện tôn giáo ra, càng có thể nhận chân xem trọng giáo dục tôn giáo, mở lớp dạy học, lâu dài không gián đoạn, thông qua đài truyền hình vệ tinh mạng internet hướng nhân dân toàn cầu tuyên diễn nội hàm của giáo dục thần thánh. Đồng thời thiết lập một điểm thử nghiệm, do giảng sư tôn giáo lấy mình làm gương, dẫn dắt toàn dân cùng nhau học tập giáo dục chân thành từ bi của Phật đà, Chân chủ, Thượng đế, Thần thánh. Giống như trong quá khứ chúng ta từng làm thử nghiệm tại thị trấn nhỏ Thang Trì Lư Giang Trung Quốc, trong vòng nửa năm, dân phong cải thiện rõ rệt, thực là một bằng chứng xác thực.
Đầu năm ngoái, bộ phim “2012” phát sóng toàn cầu, đem đến cho chúng ta sự cảnh báo rất lớn. Đời nay mất đi đạo của nó, dân phong bại hoại, đạo đức luân táng, thân là đệ tử Phật, chúng ta đối với thông điệp này, không thể lơ là. Để giúp đỡ thế giới tiêu tai miễn nạn, chỉ có tự mình nhận chân đoạn ác tu thiện, làm hết bổn phận. Học tập Thích-ca Mâu-ni Phật cả đời giảng kinh dạy học, bổn phận quan trọng nhất của đệ tử Phật ngày nay, không gì qua được mở lớp dạy học, tự hành hóa tha. Sự hoằng dương phổ biến của giáo dục tôn giáo, thực sự là đại sự nghiệp không thể chậm trễ của thế giới ngày nay. Lão tẩu Tịnh Không 84 tuổi, kính xin đem chút tâm đắc nông cạn này, cúng dường chư vị nhân giả đại đức, kính mong chỉ giáo!
Kính chúc
Đại hội thành công viên mãn, pháp duyên thù thắng
Chư vị trưởng giả phước thọ khang ninh, cát tường như ý
Thích Tịnh Không, ngày 2 tháng 11 năm 2010
Viện trưởng Tịnh Tông Học Viện Úc Châu, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Hiệp hội Giáo dục Phật đà Hồng Kông
Tiến sĩ danh dự Đại học Hồi giáo Syarif Hidayatullah Indonesia
Đa Nguyên Văn Hóa
Thế giới ngày nay đã bước vào thời đại dân chủ, tự do, mở cửa, thông tin phát triển, giao thông tiện lợi, Trái Đất dường như biến thành một ngôi làng — “làng Trái Đất”, điều này nói lên nhân dân cư trú trên Trái Đất, qua lại càng ngày càng mật thiết rồi.
Quan hệ mật thiết như vậy, theo đó mà đến là sự xung đột và mâu thuẫn với các tộc quần, truyền thống văn hóa, phương thức sinh hoạt, hình thái ý thức, tín ngưỡng tôn giáo khác biệt trước đây, đây là một loại hiện tượng tự nhiên.
Hiện tượng này cần lấy phương thức hợp lý để tiêu trừ, mới có thể đạt đến tộc quần khác biệt, đa nguyên văn hóa tôn trọng lẫn nhau, quan tâm lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, tương trợ hợp tác, cùng nhau sáng tạo phúc lợi xã hội của văn minh đa nguyên toàn nhân loại, đây là mục tiêu cùng hướng tới của người lãnh đạo các giai tầng trên toàn thế giới, cùng với bậc chí sĩ nhân nhân.
Đoàn Kết Tôn Giáo Là Nền Tảng Của Thế Giới Hài Hòa An Định
Tháng 6 năm 2008 giảng tại hội nghị “Tôn giáo và Bạo lực Chính trị” ở Indonesia
Kính thưa chủ tịch đại hội, các vị chuyên gia học giả, khách quý trong và ngoài nước: Xin chào mọi người!
Trong những năm qua, Tịnh Không từng nhiều lần nhận lời thỉnh mời đến thăm đất nước quý vị. Lần này nhờ sự thỉnh mời của đại hội, tham gia diễn đàn “Tôn giáo và Bạo lực Chính trị”, được cùng chư vị nhân nhân trưởng giả có chí hướng vì hòa bình thế giới cùng nhau trau dồi học hỏi, chí thành cảm tạ! Lại là thăm lại chốn xưa, bái phỏng bạn cũ, trong lòng cảm thấy vô cùng thân thiết.
Đoàn kết tôn giáo là nền tảng của thế giới hài hòa an định
Từ năm 1998 đến năm 2001, Tịnh Không sống ở Singapore. Hiểu được chính phủ Singapore phi thường xem trọng việc chung sống hòa mục, bình đẳng tương trợ và phát triển hài hòa của đa nguyên tôn giáo, chủng tộc. Trong ba năm này, Tịnh Không có duyên, đặc biệt chủ động bái phỏng chín đại tôn giáo của Singapore, giao lưu tiếp xúc với các lãnh tụ tôn giáo. Chúng tôi tài trợ các hoạt động từ thiện của các tôn giáo, cùng nhau thảo luận giáo nghĩa thánh điển; cùng nhau tổ chức bữa tiệc tối ấm áp quy mô lớn, thỉnh mời người già, trẻ mồ côi của các tôn giáo, tộc quần cùng nhau vui đón đêm Giao thừa; càng ở trong đêm giao thừa thiên niên kỷ, chân thành nắm tay cầu nguyện cho hòa bình thế giới; đồng thời tổ chức đoàn tôn giáo viếng thăm Trung Quốc, hai bên đã kiến lập tình hữu nghị thâm hậu.
Năm 2000, Tịnh Không di dân đến Úc Châu. Lại gặp thắng duyên, nhiều lần nhận lời thỉnh mời đến Indonesia, bái phỏng các lãnh tụ tôn giáo, đồng thời cùng trưởng lão Wahid của đất nước quý vị vừa gặp đã thân. Tịnh Không hiểu sâu sắc nhân dân Indonesia tuy tín phụng Hồi giáo chiếm đa số, nhưng đối với tôn giáo khác vẫn duy trì phi thường hài hòa hữu hảo, bao dung tiếp nhận, thực là khó được.
Tịnh Không từng bái phỏng nguyên Tổng thống của đất nước quý vị là trưởng lão Wahid, bà Megawati, cựu Thủ tướng Malaysia là trưởng lão Mahathir, cùng các nhà lãnh đạo quốc gia như Tổng thống Mỹ Bush; cũng từng tham gia mười lần hội nghị hòa bình quốc tế. Nội dung cuộc trò chuyện, đều lấy “hóa giải xung đột mâu thuẫn, xúc tiến thế giới hài hòa an định” làm chủ đề, hướng các nhà lãnh đạo các nước cùng các chuyên gia học giả thế giới đưa ra kiến nghị. Bàn đến việc hóa giải rất nhiều xung đột mâu thuẫn của thế giới hiện nay, đạo hóa giải, Tịnh Không cho rằng nếu có thể bắt đầu từ đoàn kết tôn giáo, đề xướng giáo dục toàn dân “luân lý, đạo đức, nhân quả” thần thánh, ắt có thể ảnh hưởng sự hợp tác hài hòa trên các phương diện quốc gia, chính đảng và tộc quần, thì việc hóa giải xung đột có thể được thực tiễn. Các nhà lãnh đạo các nước cùng các chuyên gia học giả, đều có thể đồng ý với thiển ý này. Đặc biệt là trưởng lão Mahathir, ngày hôm sau sau khi hội kiến liền thỉnh mời tham gia và làm diễn giảng chủ đề trong “Diễn đàn Hòa bình Toàn cầu Perdana” do ngài tổ chức tại Kuala Lumpur vào tháng 12 năm 2005.
Nền tảng của đoàn kết tôn giáo
Tịnh Không học tập thánh giáo 57 năm, dạy học 50 năm, hiểu sâu sắc tất cả Thánh triết tôn giáo của phương Đông và phương Tây, đều lấy “nhân từ bác ái, thành kính khiêm hòa” làm tông chỉ dạy học của mình. Mà danh xưng “tôn giáo”, ở xã hội hiện đại, càng nên dành cho nó sự định nghĩa chính xác. Mở từ điển tiếng Trung ra, chữ ‘Tông’ có nghĩa là căn bản, chủ yếu, tôn sùng. Thì “Tôn giáo” nên là “giáo dục căn bản, chủ yếu, sự dạy học đáng được tôn trọng, đáng được đề cao”. Sự phát triển của các tôn giáo trên thế giới, tuy vì các điều kiện nhân văn, lịch sử, địa lý v.v… mà có sự khác biệt, nhưng mục tiêu, phương hướng dạy học của nó là nhất trí, nội dung đều có thể quy nạp thành năm đại khoa “luân lý, đạo đức, nhân quả, triết học, khoa học”. Do đó đa nguyên tôn giáo đương nhiên có thể đoàn kết, vốn dĩ chính là đoàn kết rồi.
Thế nhưng, người tín ngưỡng tôn giáo cần phải thâm nhập thánh điển sở học của tôn giáo mình, chân chánh minh bạch như “Chân chúa xác thực là nhân từ” của Hồi giáo, “Thượng đế yêu người đời” trong Kinh Thánh, cùng những lời giáo hối như “lấy từ bi làm gốc, lấy phương tiện làm gốc” của Phật đà, triệt để thực tiễn trong đời sống hằng ngày, thì đa nguyên tôn giáo mới có thể chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng. Đổi lời mà nói, đoàn kết tôn giáo nếu không lấy giáo dục tôn giáo làm nền tảng, rất khó chân chánh kiến lập nhận thức chung. Thật đúng như lời của hai vị trưởng lão Wahid và Mahathir đã nói, xung đột mâu thuẫn tôn giáo trên thế giới ngày nay, thực chất là vì bản thân tín đồ tôn giáo tuy có sự cuồng nhiệt tôn giáo, nhưng phần nhiều không minh bạch giáo lý, khó tránh khỏi rơi vào sùng bái mù quáng, bị số ít người có dụng tâm kích động lợi dụng, không may tạo thành đủ loại sự kiện bạo lực. Ở thời khắc then chốt này, lãnh tụ các tôn giáo nếu có thể dẫn dắt tín chúng, trường kỳ thâm nhập học tập thánh huấn kinh điển sở tín ngưỡng, thể hội sâu sắc tông chỉ dạy học “nhân từ bác ái, thành kính khiêm hòa” của Thánh triết; tìm điểm chung gác lại bất đồng, cùng tồn tại cùng phồn vinh, nhất định sẽ mang lại cống hiến vĩ đại cho hòa bình thế giới, hạnh phúc an vui của nhân loại.
Căn bản của việc hóa giải xung đột mâu thuẫn
Năm 2002, đại diện Giáo sư Học viện Hòa bình Đại học Queensland thay mặt Hiệu trưởng đến thăm, nói đến sự chấn động của sự kiện 11 tháng 9 đối với hòa bình an định của thế giới. Hy vọng thỉnh mời Tịnh Không tham gia buổi tọa đàm của đoàn Giáo sư Học viện Hòa bình trường đó, tìm kiếm đạo giải quyết. Tịnh Không lấy lý niệm giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả của Thánh Hiền phương Đông, tìm ra cội nguồn của mâu thuẫn xung đột thế giới ngày nay, đưa ra kiến nghị. Cổ ngữ có câu: “Hành hữu bất đắc, phản cầu chư kỷ” (Làm việc không đạt kết quả, phải tự xét lại mình). Dạy bảo chúng ta phàm là gặp phải khó khăn chướng ngại, cần phải tự ngã phản tỉnh; bởi vì khó khăn chướng ngại không phải tìm kiếm bên ngoài, nên từ nội tâm của chính mình mà phản tỉnh. Chỉ có từ nội tâm của chính mình tìm kiếm cội nguồn, mới có thể chân chánh giải quyết vấn đề; nếu một mực rong ruổi tìm cầu bên ngoài, thì vấn đề vĩnh viễn không cách nào triệt để hóa giải, có lúc ngược lại còn phức tạp hóa, sản sinh tác dụng phụ lớn hơn. Đạo lý này, chúng ta từ việc Mỹ tấn công Iraq, đến việc nhân dân toàn cầu ngày nay bị bao trùm trong sự lo âu thời thời đề phòng phần tử khủng bố tập kích, không khó để thể hội. Cẩn thận quan sát lịch sử cổ kim trung ngoại, những phương pháp vũ lực, quân sự, kinh tế cho đến hội nghị thảo luận v.v…, xác thực rất khó chân chánh triệt để hóa giải tất cả xung đột mâu thuẫn, đạt đến quốc gia trên thế giới trường trị cửu an.
Thực tế, ngay từ ba ngàn năm trước, Thánh triết phương Đông liền dạy bảo chúng ta, hy vọng hóa giải tất cả xung đột mâu thuẫn, trước tiên cần hóa giải sự đối lập giữa nội tâm của chính mình với tất cả người, sự, vật. Nội tâm chính mình đối với tất cả người sự vật nếu quả thật không có đối lập mâu thuẫn, hoài nghi lo âu, thì tự nhiên sẽ không sản sinh xung đột. Đặc biệt là người học tập giáo dục tôn giáo, làm công tác hòa bình, nên có sự nhận thức “toàn bộ vũ trụ là một thể”. Đây là sự thật chân tướng. Tất cả chúng sanh cùng chính mình, giống hệt như quan hệ của thân thể và các cơ quan, tế bào. Thân thể là chính mình, tất cả chúng sanh là tế bào trên thân chúng ta, tất cả tộc quần là cơ quan trên thân chúng ta, không nên có mảy may đối lập. Người khác xung đột với ta, ta không thể xung đột với họ; người khác đối lập với ta, ta không thể đối lập với họ. Điều này quá quan trọng rồi! Nếu không phải người thâm nhập học tập giáo dục Thánh Hiền, minh bạch sự thật chân tướng, thì xác thực không từ đâu biết được. Chỉ có người giác ngộ chân chánh, vĩnh viễn không còn tồn tại đối lập trong tâm. Người khác có xung đột, đối lập, là họ tự vạch vòng tròn; đối với ta mà nói, tuyệt đối không có bất kỳ giới hạn nào. Giống như bọt nước trong biển lớn, giữa bọt nước với bọt nước dường như mỗi cái độc lập, kỳ thực đều không rời khỏi biển lớn; chỉ có biển lớn mới có thể bao dung vô hạn vĩnh hằng. Chân chánh minh bạch đạo lý này, việc hóa giải đủ loại xung đột bạo lực trong gia đình, xã hội cho đến quốc tế hoàn toàn không khó khăn.
Nhận thức chân tướng vũ trụ
Nhà khoa học hiện đại phát hiện, trong vũ trụ không có lớn nhỏ, trong vật chất nhỏ hơn nữa đều hàm tàng thông tin của toàn thể; gọi nó là “lý thuyết toàn ảnh” (Holographic principle). Đây là nhà khoa học vận dụng sóng ánh sáng hiển tướng, phát hiện một bức ảnh cho dù bị xé vụn thành rất nhiều mảnh nhỏ, mỗi một mảnh vụn cũng đều có thể hiển ra đồ án của bức ảnh hoàn chỉnh. Giống như một người từ trong nhà quan sát cảnh bên ngoài, toàn bộ khung cửa sổ với một miếng nhỏ nào đó của cửa sổ, thậm chí một lỗ nhỏ, đều có thể nhìn rõ cảnh tướng bên ngoài nhà, hiệu quả hoàn toàn giống nhau. Lý thuyết toàn ảnh vì chúng ta mở ra một góc nhìn mới, hóa ra mỗi một cục bộ của thế giới, đều bao hàm toàn bộ thế giới. Giống hệt như chúng ta ở trong “Kinh Hoa Nghiêm” nhìn thấy, cho dù là đem vũ trụ bao la vô ngần nghiền thành vi trần vô lượng vô biên, mỗi hạt vi trần đều bao hàm toàn bộ vũ trụ; thế giới trong vi trần với hư không pháp giới bên ngoài lớn như nhau.
Một vi trần là bộ phận, toàn bộ vũ trụ là toàn thể. Trong bộ phận có thông tin của toàn thể, hiện tượng của toàn thể; trong mỗi hạt vi trần, cũng bao hàm viên mãn toàn thể của pháp giới. Cho nên tất cả pháp không có lớn nhỏ, trước sau, không có xa gần, đi đến, đây là “chư pháp thật tướng”. Trong chân tướng, chúng ta khẳng định “vũ trụ vốn là một thể, vạn vật đều là chính mình”. Chân chánh nhận rõ chân tướng vũ trụ, bất luận đối với người, đối với tất cả vạn vật, thái độ tự nhiên không giống nhau! Bởi vì chúng ta khẳng định “tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật”. “Kinh Hoa Nghiêm” nói: “Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng của Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng được”. Cổ nhân cũng nói: “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”. “Phật”, “Như Lai” là tiếng tôn xưng của Ấn Độ cổ đại đối với người triệt để thấu rõ sự thật chân tướng vũ trụ. Giống hệt như ý nghĩa cổ đại tôn xưng người thông đạt sự vật là “Thánh”, “Hiền”, “Quân tử” là giống nhau.
Giáo dục quay về bổn thiện
“Tự tánh của tất cả chúng sanh đều là bổn giác bổn thiện”, chỉ vì sự nhiễm trước của phiền não tập khí, cho nên cùng bổn giác bổn thiện viên mãn càng cách càng xa. Mà giáo dục Thánh Hiền tôn giáo, chính là giáo dục dạy bảo chúng ta quay về bổn giác bổn thiện. Lấy giáo dục Thánh Hiền phương Đông mà nói, nó là giáo dục của đạo đức. Cái gì là “đạo”? “Đạo” chính là quy luật tự nhiên, sự vận hành của tự nhiên. Như một năm bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ ràng, đó là sự vận tác của đại tự nhiên. Trên nhân luân, “luân lý” là “đạo”; cha con, vua tôi, vợ chồng, anh em, bạn bè, năm loại quan hệ này không phải thuộc về sự phát minh sáng tạo của bất cứ người nào, hoàn toàn thuộc về tự nhiên nhi nhiên; không chỉ con người có, vạn vật đều có.
Tùy thuận “đạo” chính là “đức”. Làm thế nào tùy thuận? Tuân theo pháp tắc của đại tự nhiên, mùa xuân sinh trưởng, mùa hạ lớn lên, mùa thu thu hoạch, mùa đông cất giữ, sống cuộc sống khỏe mạnh nhất, đây là “đức”. Đối với nhân luân mà nói, “cha con có tình thân, vua tôi có tình nghĩa, vợ chồng có sự khác biệt, lớn nhỏ có thứ tự, bạn bè có chữ tín”. Đây là bổn phận làm người cần phải làm tròn.
Mà điểm gốc của ngũ luân chính là “phụ tử hữu thân” (cha con có tình thân), “thân ái”! Do đó mục tiêu đầu tiên của giáo dục truyền thống, chính là hy vọng tình thân ái cha con trong một đời vĩnh hằng duy trì mà không bị mất đi. Mục tiêu thứ hai, thì là đem “tình thân ái cha con” phát dương quang đại, mở rộng đến yêu gia đình, yêu gia tộc, yêu xóm làng xóm giềng, yêu xã hội quốc gia. Cuối cùng thì là chỗ nói trên “Đệ Tử Quy”: “Phàm là người, đều phải yêu”, siêu việt giới hạn của quốc gia, chủng tộc, tôn giáo, lấy tâm yêu thương chân thành đối xử với tất cả chúng sanh. Chân chánh có tình yêu thương, chúng ta liền không nỡ làm tổn thương tất cả chúng sanh, liền biết tôn trọng bao dung tộc quần khác biệt, liền có thể làm được khoan thứ lượng giải lỗi lầm của người khác. Đạo lý này phi thường quan trọng!
Thế nhưng, chúng ta biết giáo dục có tốt hơn nữa, trên xã hội này vẫn sẽ có người bất thiện. Đạo lý này trên kinh Phật giảng rất rõ ràng, giảng rất nhiều. “Nhân quả” thông ba đời. Một người trong đời quá khứ nhiễm phải rất nhiều tập khí bất thiện, đời này cho dù tiếp nhận sự giáo dục lương hảo, làm dịu đi những ác nghiệp này, nhưng có lúc vẫn sẽ phát tác. Cho nên Thánh Hiền dạy học, trước tiên lấy giáo dục luân lý đạo đức làm nền tảng, sau đó phụ trợ bằng giáo dục nhân quả. Chân chánh học tập giáo dục luân lý đạo đức, con người sẽ không làm việc xấu, không nỡ làm việc xấu; thông đạt giáo dục nhân quả, thì không dám làm việc xấu. Do đó giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả nếu có thể chân chánh phổ cập, trên xã hội tự nhiên người thiện nhiều, người ác ít; người thiện có thể tha thứ người làm ác, người làm ác cũng sẽ có mức độ, trong lòng còn sự xấu hổ, không dám quá đáng.
Từ đây có thể biết, giáo dục tôn giáo cùng giáo dục Thánh Hiền, đều là giáo dục viên mãn giúp đỡ tất cả chúng sanh quay về bổn giác bổn thiện, là kim chỉ nam dẫn dắt tất cả chúng sanh hướng đến nhân sanh hạnh phúc mỹ mãn. Đủ loại bạo lực xung đột của thế giới ngày nay, cội nguồn của nó chính là người phương Đông đã đánh mất giáo dục Thánh Hiền, người phương Tây đã coi nhẹ giáo dục tôn giáo. Phương pháp trị quốc bình thiên hạ của cổ Thánh tiên vương phương Đông, trước tiên xem trọng việc lấy mình làm gương, tuyên dương giáo dục toàn dân về luân lý, đạo đức, nhân quả của Thánh Hiền; tất cả các thiết chế văn nghệ, kinh tế, quân sự v.v…, thì làm phụ trợ cho giáo dục. Lý niệm “kiến quốc quân dân, tu thân làm gốc, dạy học làm đầu”, đã trải qua sự khảo nghiệm lịch sử hàng ngàn năm, xác thực đáng để bậc chí sĩ nhân nhân làm công tác hòa bình thế giới hiện đại tham khảo. Chỉ có chân chánh đề xướng giáo dục thần thánh, đoàn kết tôn giáo, mới là nền tảng hóa giải mâu thuẫn xung đột, khôi phục thế giới hòa bình an định. Chỉ có chủng tộc hòa mục, tôn giáo đoàn kết, mới có thể chân chánh đạt đến xã hội an định, thế giới hòa bình, nhân dân hạnh phúc mỹ mãn.
Đề nghị biện pháp cụ thể
Tịnh Không trong diễn giảng chủ đề của hội nghị hòa bình quốc tế đã nhiều lần đưa ra phương thức có thể mở lớp dạy học, đề xướng giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả của Thánh triết. Xin do Liên Hiệp Quốc hoặc lãnh tụ các nước làm chủ đạo, thỉnh mời (bồi huấn) giáo viên ưu tú của các tôn giáo, thông qua đài truyền hình vệ tinh mạng internet, mỗi ngày hướng toàn thế giới tuyên dương văn hóa truyền thống ưu lương của các tộc quần, giáo dục của tình yêu thương, phổ cập toàn dân. Dự tính không quá ba năm, đối với việc thực tiễn xã hội hài hòa, thế giới hài hòa ắt có thể sản sinh hiệu quả rõ rệt.
Tháng 10 năm 2006, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc tại trụ sở Paris, đã tổ chức “Hoạt động hoan khánh ngày lễ Vesak năm 2550”, thỉnh mời Tịnh Tông Học Viện tham gia đồng tổ chức. Tịnh Không nhận lời thỉnh mời tham gia hoạt động, tại đại hội đã đưa ra báo cáo: “Nhân dân là có thể dạy cho tốt được”, “Tôn giáo là có thể đoàn kết”. Hai việc này, mong mỏi sâu sắc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc sáng lập “Đại học Tôn giáo Thế giới”, “Đại học Đa nguyên Văn hóa Thế giới”, trường kỳ mở lớp dạy học, thông qua đài truyền hình vệ tinh mạng internet dạy bảo toàn dân giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, có thể đạt được thành hiệu viên mãn. Thì xung đột hóa giải, xã hội an định, thế giới hài hòa ắt có thể thực hiện.
Tịnh Không cảm tạ đại hội thỉnh mời, cẩn thận đem thiển ý nông cạn, dâng hiến chư vị nhân nhân đại đức, để làm tham khảo, kính mong chỉ giáo!
Kính chúc:
Đại hội thành công viên mãn
Chư vị nhân nhân trưởng giả thân thể khỏe mạnh
Tịnh Không AM
Tiến sĩ danh dự Đại học Hồi giáo Quốc gia Syarif Hidayatullah Indonesia
Tiến sĩ danh dự Đại học Griffith, Đại học Queensland Úc Châu
Viện trưởng Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Tôn Giáo Là Giáo Dục, Nên Quay Về Dạy Học
Hai chữ “tôn giáo” (tông giáo 宗教) là gọi tắt của “Tông môn Giáo hạ”, đây là danh từ chuyên dùng của cửa Phật. Phật giáo Trung Quốc có mười tông phái, “Tông” là chỉ Thiền tông, “Giáo” là chỉ chín phái khác ngoài Thiền tông.
Hai chữ tôn giáo, “tôn”, có ý nghĩa là chủ yếu, quan trọng, tôn sùng; “giáo”, có ý nghĩa là giáo dục, dạy học, giáo hóa; hai chữ gộp lại chính là giáo dục chủ yếu, dạy học quan trọng, giáo hóa đáng được tôn sùng. Ý nghĩa là nói một người ở thế gian, bạn không thể không học tập, hai chữ tôn giáo không có bất kỳ sự mê tín nào, cùng mê tín hoàn toàn không dính dáng, nó là sự dạy học phá mê khai ngộ, là giáo dục lấy trí tuệ cầu giải thoát.
Truy tìm nguồn gốc, hai chữ tôn giáo này là từ tiếng nước ngoài dịch sang, ngữ văn thời cổ đại ở nước ta vốn dĩ không có danh từ này, người xưa dùng hai chữ này để dịch, quá vi diệu rồi! Đây là đại trí tuệ, là học vấn chân thật. Họ vì sao không dịch thành danh từ khác, mà dịch thành hai chữ tôn giáo? Bởi vì theo cách nhìn của cổ nhân chúng ta, người sáng lập của tất cả tôn giáo trên thế giới đều đáng được tôn sùng, kinh điển của họ đều là đồ tốt. Từ trên bản dịch của từ tôn giáo, chúng ta có thể nhìn ra tâm lượng của người xưa chúng ta rất lớn, đối với tất cả văn hóa ưu tú đều giữ thái độ tán thưởng và khẳng định.
Cổ nhân nói “danh không chánh thì ngôn không thuận”, người học Phật chúng ta cần có tinh thần sứ mạng, tinh thần trách nhiệm, cần phải chánh danh cho Phật giáo, cũng cần chánh danh cho tất cả tôn giáo, cần đem ý nghĩa chân chánh của danh từ này giảng rõ ràng, giảng minh bạch.
Thích-ca Mâu-ni Phật xuất thân vương tử, ngài từ nhỏ sống cuộc sống cẩm y ngọc thực, là người thừa kế vương vị duy nhất. Nhưng ngài giác ngộ rồi, kiên quyết từ bỏ vương vị, xuất gia cầu đạo. Việc đầu tiên sau khi ngài khai ngộ chính là giảng học, “giảng kinh hơn ba trăm hội, thuyết pháp bốn mươi chín năm”, ngày ngày dạy học, không một ngày gián đoạn, lấy đó làm vui không biết mệt mỏi. Dùng lời hiện nay mà nói: Thích-ca Mâu-ni Phật là một người làm công tác giáo dục nghĩa vụ xã hội, là người thầy căn bản nhất của chúng ta; chúng ta tự xưng là đệ tử Phật, đệ tử Phật chính là học trò của Phật; quan hệ giữa chúng ta và Phật là quan hệ thầy trò. Chỗ này làm gì có nửa điểm mê tín? Cùng tôn giáo như chỗ nói hiện nay làm gì có nửa điểm dây dưa?
Thích-ca Mâu-ni Phật cả đời làm hoạt động dạy học, không có đạo tràng cố định, Phật cả đời chưa từng xây dựng đạo tràng. Quốc vương đại thần, trưởng giả, cư sĩ thời bấy giờ chủ động trao tặng hội trường cho ngài, ngài đều không tiếp nhận, ngài chỉ là mượn dùng một khoảng thời gian, ở trong đó giảng kinh dạy học. Hoạt động dạy học vừa kết thúc, những hội trường này liền trả lại người ta. Ngài đi khắp nơi giảng học, dấu chân trải khắp Ngũ Ấn Độ, phía nam ngài từng đến đảo Tích Lan (Sri Lanka hiện nay). Phật làm ra sự thị phạm tốt nhất cho chúng ta, dùng thời gian bốn mươi chín năm, dùng hành động thực tế nói cho chúng ta biết: Phật giáo là dạy học, phổ độ chúng sanh tuyệt đối không rời khỏi dạy học. Dạy học còn thì Phật giáo còn, dạy học không còn thì Phật giáo diệt vong. Cho nên chúng ta cần chân chánh hiểu rõ tôn giáo, liền sẽ hiểu được nó xác thực là sự giáo dục tốt nhất, đối với chúng ta có lợi ích to lớn. Chúng ta mở kinh Phật ra, bất luận Đại thừa Tiểu thừa, trong đó giảng triết học, giảng khoa học, giảng luân lý, giảng đạo đức, giảng nhân quả, năm phương diện này Phật giáo đều giảng đến tột đỉnh cao, cứu cánh viên mãn. Rất nhiều đề tài nan giải của triết học, khoa học, giới học thuật không có cách nào giải quyết, thế nhưng ở trong kinh Phật đều giảng rất rõ ràng, rất tỉ mỉ, rất thấu triệt.
Phật năm xưa dạy học là khẩu thuật, bạn nghe minh bạch rồi, nghe rõ ràng rồi, liền chiếu theo đó mà làm, đây gọi là y giáo phụng hành. Cho nên, câu nói cuối cùng của tất cả kinh điển, đều có – tín thọ phụng hành. Bốn chữ này, chính là đối với lời thầy giảng cần phải kiên tín không nghi, đích thân thực hành, đem nó quán triệt đến mọi phương diện của đời sống, đây mới gọi là học Phật; nếu chỉ niệm kinh, không thực tiễn nghĩa lý kinh giáo, chỉ mưu cầu hình thức, làm sự sùng bái ngẫu tượng mù quáng, làm danh văn lợi dưỡng, đó liền gọi là mê tín.
Theo sử ghi chép, năm Vĩnh Bình thứ mười đời Hán Minh Đế (năm 67 Công nguyên), Phật giáo tiếp nhận lời mời của nhà Hán chính thức truyền vào Trung Quốc. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, vừa tiếp xúc với triều đình và dân chúng Trung Quốc, lập tức nhận được sự hoan nghênh. Bởi vì Phật giáo cùng văn hóa truyền thống bản địa phi thường khế cơ, cùng giáo dục Nho gia trên nền tảng phi thường tương tự. Giáo dục truyền thống của Trung Quốc là kiến lập trên nền tảng hiếu thân tôn sư, mà dạy học của Phật pháp cũng là kiến lập trên nền tảng hiếu thân tôn sư. Từ đó Phật giáo ở Trung Quốc bén rễ, đâm chồi, nở hoa, kết trái, thành tựu vượt xa Ấn Độ.
Phật giáo ở triều Đường hình thành giáo dục chính quy, đây chính là chế độ tòng lâm. Chế độ tòng lâm là đặc sắc của Phật giáo Trung Quốc, tòng lâm chính là đại học Phật giáo hiện nay. Chủ tịch của tòng lâm chính là hiệu trưởng đại học, hòa thượng Thủ tọa tương đương với trưởng phòng giáo vụ, Duy-na tương đương với trưởng phòng huấn đạo, Giám viện tương đương với trưởng phòng tổng vụ, mười tông phái liền giống như mười phân khoa đại học, sự phân công dạy học của nó cùng với đại học hiện đại hoàn toàn tương đồng, chỉ là xưng hô không giống nhau mà thôi. Cho nên nó là một cơ quan học thuật hoàn chỉnh, cùng tôn giáo mê tín hoàn toàn không dính dáng.
Ở Trung Quốc, tự viện am đường chính là trường học của Phật giáo. Ý nghĩa vốn dĩ của tự (chùa) là gì? Tự là cơ quan làm việc của chính phủ cổ đại Trung Quốc, cơ quan này trong chính phủ địa vị là cao nhất, là bộ phận cấp một của quốc gia, trực tiếp do hoàng đế chưởng quản, hơn nữa thiết lập vĩnh viễn, không thể biến đổi. Chỗ Tể tướng cai quản xưng là bộ, bộ là có thể thay đổi, có thể thiết lập thêm, cũng có thể thủ tiêu, nhưng tự thì không thể, tự là cơ cấu quốc gia mang tính vĩnh cửu. Ví như Hồng Lô Tự mà chúng ta đọc đến trên sách lịch sử, Hồng Lô Tự quản cái gì? Quản ngoại giao. Trước kia Tể tướng không quản ngoại giao, ngoại giao là do hoàng thượng quản. Quan trưởng của tự gọi là khanh, chỗ gọi là tam công cửu khanh, họ đều là trực tiếp làm việc cho hoàng thượng. Tam công là cố vấn của hoàng thượng, cửu khanh là chín vị quan trưởng làm việc dưới trướng ngài. Hoàng thượng thời cổ đại trị lý quốc gia, ban đầu thiết lập có chín tự, sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, hoàng đế đặc biệt xem trọng, lại tăng thêm một Phật tự, tổng cộng mười cái, phi thường viên mãn. Trong Phật tự có chức sự Phương trượng (hoặc là xưng Trụ trì), Phương trượng là hiệu trưởng, bên dưới ngài có ba bộ phận: Thủ tọa là trưởng phòng giáo vụ, Duy-na là trưởng phòng huấn đạo, Giám viện là trưởng phòng tổng vụ, bạn xem với biên chế trường học hiện nay của chúng ta có phải là giống nhau không! Danh xưng không giống nhau, sự thật hoàn toàn giống nhau, cho nên Phật tự là cơ cấu giáo dục cấp quốc gia.
Do hoàng thượng dẫn đầu, bá tánh tôn kính hoàng thượng, cho nên giáo dục của Phật giáo ở Trung Quốc phổ cập nhanh hơn, rộng hơn, ảnh hưởng lớn hơn so với Nho Đạo. Mãi cho đến những năm đầu nhà Thanh tự viện đều là hội trường dạy học, cao nhân các đời lớp lớp xuất hiện, thật sự có học vấn, có đức hạnh. Trước kia xuất gia không dễ dàng, phải tham gia kỳ thi quốc gia, còn khó hơn thi tiến sĩ, vì sao vậy? Cửa ải cuối cùng của kỳ thi này cần thông qua hoàng thượng phỏng vấn. Người xuất gia được tôn làm thầy của trời người, hoàng thượng cần khảo sát bạn có tư cách hay không? Ngài nếu cảm thấy bạn không tệ, đức hạnh, học vấn của bạn có thể làm thầy của ta, ngài mới phát văn bằng cho bạn, văn bằng này gọi là độ điệp. Lấy được độ điệp rồi bạn mới có thể xuất gia, không có độ điệp mà xuất gia là phạm pháp. Trước kia người xuất gia ngoài việc ở phương diện học vấn thông thường cần bình đẳng với tiến sĩ ra, còn phải thi thêm kinh điển của Phật giáo, cho nên tố chất người xuất gia cao, địa vị trên xã hội nhận được sự tôn trọng. Đáng tiếc chế độ này bị hoàng đế Thuận Trị phế bỏ rồi. Vừa phế bỏ này, tệ nạn liền nảy sinh rồi, người nào cũng có thể xuất gia, tố chất tuột dốc không phanh. Cho nên Đại sư Ấn Quang đối với sự việc này do hoàng đế Thuận Trị làm ra, vĩnh viễn không tha thứ, chỉ trích đó là sai lầm tột cùng.
Ngày nay, chúng ta làm thế nào mới có thể khôi phục Phật giáo? Tôi từng cùng Cục trưởng Cục Tôn giáo Quốc gia Trung Quốc nói chuyện qua, cùng Triệu Phác lão cũng nói qua vấn đề này. Tôi nói, nên do quốc gia sáng lập một trường đại học tôn giáo mang tính tổng hợp, mỗi tôn giáo thành lập một học viện, như Học viện Phật giáo, Học viện Hồi giáo, Học viện Thiên Chúa giáo, Học viện Cơ Đốc giáo, dùng văn bằng tốt nghiệp đại học thay thế độ điệp, không phải người tốt nghiệp từ đại học này, không thể làm giáo sĩ truyền giáo, không thể tham gia sự vụ tôn giáo. Phác lão nghe xong kiến nghị của tôi rất hoan hỉ, nhưng ông ấy tuổi tác đã cao, lực bất tòng tâm, cho nên sự việc này chưa thể thực hiện, lão nhân gia ngài liền ra đi rồi, đây là một sự việc rất đáng tiếc. Tôi hy vọng sự việc này trong tương lai sẽ có người làm, để tôn giáo bước lên con đường giáo dục, dạy học.
Khi tôi cùng đoàn thăm viếng tôn giáo của Malaysia đến thăm Vatican, từng giao lưu qua với Giáo hoàng, cùng một số vị Giám mục trong Giáo đình, nghe báo cáo của họ. Hồng y Tauran nói với tôi, ở thời đại hiện nay, người tín ngưỡng tôn giáo năm nay ít hơn năm trước, người không tin tôn giáo năm sau nhiều hơn năm trước, họ rất lo âu. Lúc giao lưu, tôi cũng làm báo cáo, tôi nói vì sao năm xưa lúc Giáo chủ sáng lập tôn giáo, có nhiều người tin tưởng như vậy, nhiều tín chúng như vậy đều có thể y giáo phụng hành? Bởi vì có sự dạy học tốt. Giáo dục quan trọng, dạy học chủ yếu, giáo hóa đáng được tôn sùng, ai lại không hoan hỉ? Cho nên đời đời kiếp kiếp kéo dài đến ngày nay, Thiên Chúa giáo trên toàn thế giới sở hữu tín đồ vượt quá 1 tỷ, nếu cần gộp chung lại với Cơ Đốc giáo (họ vốn dĩ là một nhà), thì vượt quá 2 tỷ, đây là quần thể tôn giáo lớn nhất trên thế giới. Hồi giáo, tín đồ ít nhất cũng vượt quá 1 tỷ 300 triệu, Phật giáo ít hơn một chút, ước chừng khoảng 600, 700 triệu, ba tôn giáo này gộp lại nhân số chiếm hai phần ba dân số toàn thế giới. Hiện nay tôn giáo quả thực đang ngày một suy thoái. Vì sao lại suy thoái? Mọi người đã hiểu sai hàm nghĩa của tôn giáo, không tiến hành dạy học hữu hiệu. Tôn giáo nhất định phải khôi phục về giáo dục, mới có thể thật sự có cống hiến đối với xã hội, mới không còn là mê tín nữa.
Chúa Jesus năm xưa tại thế dạy ba năm, Muhammad tại thế dạy hai mươi bảy năm, Thích-ca Mâu-ni dạy bốn mươi chín năm, họ có tên có họ, có xuất thân có lai lịch, vị nào lại không phải đi con đường dạy học! Đều là những người thầy phi thường tốt, thật có đức hạnh, thật có học vấn, điểm này chúng ta nhất định phải biết. Thích-ca Mâu-ni Phật là tấm gương mẫu mực của giáo dục tôn giáo. Lúc Thích-ca Mâu-ni Phật tại thế, ngày ngày lên lớp, bạn có nghi vấn tùy lúc nêu ra, Phật giải đáp cho bạn, cho nên kinh Phật chúng ta nhìn thấy đều là thể hỏi đáp. Chúng ta cần phải minh bạch, những bậc đại Thánh đại Hiền trong lịch sử này, dụng tâm giáo hóa chúng sanh của họ là một, mục tiêu đều tương đồng, chỉ là phương pháp, danh nghĩa không giống nhau. Cho nên, giữa mỗi một tôn giáo hiện nay, ứng nên tìm điểm chung gác lại bất đồng, đồng tâm đồng đức, hỗ trợ lẫn nhau làm phong phú thêm sự dạy học của chính mình, không ngừng nâng cao cảnh giới của chính mình, cùng nhau chung tay, giúp đỡ xã hội này hóa giải nguy cơ, đặc biệt là hóa giải các loại xung đột xã hội, xúc tiến thế giới an định hòa bình. Tôn giáo như vậy đối với thế giới, đối với nhân loại có chỗ tốt, ai không ủng hộ! Ai không tán thán! Một số sự nghiệp khác phái sinh theo tôn giáo cũng có thể cùng tồn tại, không cần cố ý đi thay đổi nó.
Bản chất của Nho, Thích, Đạo là học thuật, là giáo dục. Nội dung dạy học của ba nhà Nho Thích Đạo, có luân lý, có đạo đức, có nhân quả, có triết học, có khoa học, chỉ là trên phân lượng có chút khác biệt. Dạy học của Nho gia phân lượng luân lý giảng nhiều hơn một chút, dạy học của Đạo gia giáo dục nhân quả giảng nhiều hơn một chút, mà Phật pháp đối với phương diện triết học, khoa học có sự ấn chứng tương đối phong phú. Năm môn học ba nhà đều có, cùng xem trọng là luân lý, đạo đức, nhân quả, nhận định đây là giáo dục nền tảng, là giáo dục cắm rễ.
Ngày nay tôn giáo xuất hiện vấn đề, vấn đề xuất hiện ở đâu? Quá mức xem trọng hình thức, cầu nguyện, lơ là sự dạy học. Những kinh sám Phật sự trong cửa Phật, bao gồm Tam Thời Hệ Niệm mà chúng ta đề xướng, đều thuộc về cầu nguyện. Cầu nguyện có tác dụng hay không? Nhà khoa học nói với chúng ta một cách minh xác, có tác dụng. Thế nhưng cầu nguyện trị ngọn không trị gốc, lâm thời cứu cấp có thể dùng, muốn xã hội đạt được trường trị cửu an, muốn chúng ta đạt được lợi ích vĩnh hằng chân thật, vẫn là cần thực tiễn giáo dục tôn giáo. Biện pháp tốt nhất là sáng lập đại học tôn giáo, cần bao dung đa nguyên tôn giáo, để mỗi một tôn giáo đều phát huy tác dụng, giúp đỡ chúng ta nâng cao chất lượng cuộc sống, mang đến thông điệp an định hòa bình cho toàn nhân loại.
Ở trong xã hội hiện thực, toàn bộ thế giới đều phổ biến cho rằng tôn giáo là mê tín, đối với xã hội không có sự cống hiến chân chánh, định đem tôn giáo triệt để vứt bỏ. Hy vọng mỗi một tôn giáo đều quay về với dạy học, kinh điển không phải bảo chúng ta chỉ niệm niệm mà thôi, kinh điển cần phải giảng giải tường tận, nhận chân học tập, nhiệt tình tuyên truyền, cần đem đạo lý trong kinh điển biến thành tư tưởng của chúng ta, dùng kinh điển để quy phạm hành vi đời sống của chúng ta, chân chánh làm được “học vi nhân sư, hành vi thế phạm” (học làm thầy người, hành làm gương đời), như vậy tôn giáo đối với toàn bộ xã hội liền có thể khởi đến tác dụng giáo dục dẫn dắt rất tốt. Đem giáo dục chủ yếu, giáo dục quan trọng, giáo hóa đáng được tôn sùng của nhân loại tìm về lại, từ trong kinh điển tuyển chọn lời dạy bảo về luân lý, đạo đức, nhân quả, học sâu giảng thấu, tuyên truyền rộng rãi. Bắt tay làm từ tự thân, để ảnh hưởng xã hội, dẫn dắt quần chúng, chỉ đạo mọi người giải quyết tất cả vấn đề. Tôi tin tưởng, con người có tín ngưỡng tôn giáo rồi, phong khí của xã hội này mới có thể đạt được sự xoay chuyển căn bản, toàn bộ nhân loại mới được cứu, Trái Đất mới được cứu.
Ngày nay, Phật giáo bị bóp méo thành chỗ gọi là phong kiến mê tín, đây là sự đại bất hiếu của người làm học trò như chúng ta! Chúng ta sao có thể xứng đáng với thầy của chính mình? Cho nên, tất cả đệ tử Phật có sứ mạng có trách nhiệm, cần giải oan cho thầy. Giải oan như thế nào? Trước tiên, chính chúng ta lấy mình làm gương, nhận chân học tập kinh điển, không tham gia bất cứ hoạt động mê tín nào, đi đầu đi trên con đường giáo dục Phật đà, nỗ lực khôi phục hình tượng Phật giáo chánh tri chánh kiến chánh giác. Chúng ta nhận chân học tập kinh điển, đem nó thực tiễn vào chỗ chân thực của đời sống, ảnh hưởng xã hội, dẫn dắt đại chúng, tiến bước về phương hướng này chính là dát vàng cho Phật; ngược lại, nếu chúng ta biểu hiện không tốt, thậm chí đi ngược lại lời giáo hối của Phật, để người có dụng tâm tạo cớ, công kích Phật giáo, chính là bôi đen Phật, chúng ta liền có tội lỗi.
Bắt tay từ hai chữ tôn giáo, định nghĩa lại đối với tôn giáo, để nó quay về vị trí dạy học hợp lý hợp pháp, để nó phát huy đầy đủ tác dụng cứu đời lợi người, là nhiệm vụ cấp bách của chúng ta.
Chúng ta nhất định phải ghi nhớ di huấn của bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, lấy giới làm thầy, lấy khổ làm thầy, lấy thiện tâm thiện hạnh không lười biếng của chính mình bao dung cảm hóa tất cả chúng sanh, đem hai chữ hòa kính đặt ở vị trí thứ nhất trong đối nhân xử thế, cùng tôn giáo trên toàn thế giới chung tay đồng hành, triệt để hóa giải tai nạn của thế gian này.
Thư Gửi Thủ Tướng Malaysia Najib
Kính gửi Ngài Thủ tướng Najib các hạ:
Xa cách mấy tháng, luôn luôn tưởng nhớ. Cuối năm ngoái, thừa mông các hạ quang lâm lễ động thổ “Viện Hán Học Malaysia”, trong bài diễn văn đã dành sự đánh giá cao độ đối với văn hóa hài hòa Trung Hoa, khiến ba ngàn người tham dự tại hội trường vô cùng cảm kích và phấn chấn, đã làm ra một sự thị phạm tốt nhất cho việc tôn trọng lẫn nhau và giao lưu giữa các nền văn hóa cổ truyền thống trên toàn cầu. Tịnh Không vô cùng cảm phục!
Tinh hoa văn hóa năm ngàn năm của cổ Thánh tiên Hiền, toàn bộ đều uẩn tàng ở trong “Tứ Khố Toàn Thư”, trí tuệ cứu cánh viên mãn của Phật đà thì uẩn tàng ở trong “Đại Tạng Kinh”. Những kinh điển này đều xiển thuật sâu sắc giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, thực tiễn vào tu thân, tề gia, trị quốc, thế giới hài hòa. Tổng kết lại trí tuệ, lý niệm, phương pháp, kinh nghiệm cùng hiệu quả của mấy ngàn năm nhân ái trung thứ, xã hội hài hòa đại đồng, phi thường đáng để người hiện đại chúng ta học tập. Những điển tịch này đều được ghi chép bằng văn ngôn văn, cho nên muốn thừa truyền, hoằng dương trí tuệ Thánh Hiền này, cần phải bồi dưỡng nhân tài giáo viên tốt về văn ngôn văn. Tịnh Không nhiều năm mong cầu, năm ngoái mới có được hai quyển sách “Quốc Học Trị Yếu” và “Quần Thư Trị Yếu”, đây là tinh hoa trong tinh hoa, ngay lập tức in lại một vạn bộ tặng cho mười phương, có thể làm giáo trình tiêu chuẩn cho văn ngôn văn của Viện Hán Học, Tịnh Không rất sẵn lòng in tặng cung cấp cho những người bạn nhiệt tâm học tập Hán học ở các khu vực trên toàn thế giới.
Chúng tôi càng hoan nghênh giáo viên bản địa Malaysia đến cùng nhau học tập văn ngôn văn, Tịnh Không từng hai lần viếng thăm nước Anh, tham phỏng Viện Hán Học của các trường Cambridge, London, được thấy thầy trò đều học có thành tựu, tiêu tốn thời gian không quá ba năm, liền có năng lực dùng văn ngôn văn đọc kinh điển Hán học cổ, viết luận văn.
Tiến sĩ Toynbee nhà sử học trứ danh nước Anh từng nói qua: Có thể giải quyết vấn đề xã hội thế kỷ 21, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Đại thừa. Đại thừa cũng ở Trung Quốc, có thể dự kiến thế giới trong tương lai ắt sẽ đón chào một đại thời đại Hán học phục hưng, tạo phước cho nhân loại, mà sự phục hưng của Hán học truyền thống tất nhiên cần giáo viên tốt rộng khắp, do đó sự bồi dưỡng giáo viên tốt là công đức vĩ đại ban ân cho nhân loại không gì sánh kịp! Mà công đức này chính là thuộc về các hạ. Tịnh Không kiền thành chúc nguyện Malaysia quốc thái dân an! Vĩnh viễn không có tai nạn!
Tịnh Không thân thể tạm an, hiện tại ở Hồng Kông mỗi ngày giảng kinh bốn giờ đồng hồ, đọc kinh bốn giờ đồng hồ, đồng thời cầu nguyện Thần thánh tất cả tôn giáo, tổ tông che chở, phục hưng giáo dục Thánh Hiền truyền thống của tổ tiên các tộc, hóa giải thiên tai nhân họa toàn cầu.
Kính chúc
Ngài Thủ tướng chính cung khang thái, quốc vận hưng long, vô lượng quang thọ, phổ chiếu toàn cầu
Toàn gia sáu thời cát tường, mọi sự như ý
Lão nhân tám mươi sáu tuổi Tịnh Không kính trình
Ngày 19 tháng 4 năm 2012
(cẩn dịch: Hoàng Anh Việt)
Đoàn Kết Tôn Giáo, Hoằng Dương Giáo Dục Luân Lý Đạo Đức; Hóa Giải Xung Đột, Xúc Tiến Thế Giới Hài Hòa An Định
Ngày 2 tháng 1 năm 2007
Diễn đàn “Tôn giáo Thế giới và Theo đuổi Chung sống Hòa bình” của Đại học Quốc gia Singapore
Kính thưa Phó Thủ tướng Hoàng, kính thưa Hiệu trưởng, kính thưa trưởng lão Syed Hassan cùng các vị đại biểu tôn giáo, các vị khách quý: Chào mọi người!
Lần này Tịnh Không nhờ sự thỉnh mời của đại hội, tham gia “Diễn đàn Tôn giáo Thế giới và Theo đuổi Chung sống Hòa bình”, vô cùng cảm tạ! Đoàn kết tôn giáo, hóa giải mâu thuẫn xung đột, xúc tiến hòa bình thế giới, không chỉ là điều nhân tâm trên toàn thế giới hướng tới, đối với Singapore mà nói, càng mang ý nghĩa sâu sắc. Nhiều năm nay, sự đoàn kết của đa nguyên tôn giáo, chủng tộc của Singapore, đã thiết lập tấm gương mẫu mực lương hảo trên toàn thế giới. Đặc biệt là sự trưng bày tại trụ sở Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc tại Paris vào tháng 10 năm 2006, càng nhận được sự tôn kính và tán thán phổ biến của các sứ tiết các nước, bạn bè quốc tế.
Trong quá khứ, Tịnh Không từng viếng thăm nguyên Tổng thống Mỹ Bush, nguyên Tổng thống Indonesia là trưởng lão Wahid, bà Megawati và nguyên Thủ tướng Malaysia là trưởng lão Mahathir cùng các nhà lãnh đạo quốc gia khác; cũng từng tham gia qua chín lần hội nghị hòa bình quốc tế. Nội dung cuộc trò chuyện, đều lấy “hóa giải xung đột mâu thuẫn, xúc tiến thế giới hài hòa an định” làm chủ đề, hướng các nhà lãnh đạo các nước cùng các chuyên gia học giả thế giới đưa ra kiến nghị. Bàn đến vô số xung đột mâu thuẫn của thế giới hiện nay, đạo hóa giải, Tịnh Không cho rằng nếu có thể bắt tay làm từ đoàn kết tôn giáo, ắt có thể ảnh hưởng sự hợp tác hài hòa trên các phương diện quốc gia, chính đảng và tộc quần, hóa giải xung đột. Các nhà lãnh đạo các nước cùng các chuyên gia học giả thế giới, đều có thể đồng ý thiển ý này. Đặc biệt là trưởng lão Mahathir, ngày hôm sau sau khi hội kiến liền thỉnh mời tham gia “Diễn đàn Hòa bình Toàn cầu Perdana” do ngài tổ chức tại Kuala Lumpur vào tháng 12, đồng thời làm diễn giảng chủ đề.
Trong quá khứ tham gia hội nghị hòa bình quốc tế, người tham dự đối với lý niệm “lấy mở lớp dạy học thúc đẩy giáo dục luân lý đạo đức, hóa giải xung đột, xúc tiến thế giới hài hòa an định” mà Tịnh Không đưa ra đều bày tỏ sự tán đồng, nhưng cho rằng điều này chỉ là lý tưởng mà không có cách nào thực hiện. Để kiến lập tín tâm của các hội viên quốc tế, cần phải do thử nghiệm để chứng minh; thế là vào tháng 11 năm 2005, chúng ta ở thị trấn nhỏ Thang Trì, An Huy, Trung Quốc, thành lập “Trung tâm Văn hóa Giáo dục”, bồi dưỡng giáo viên, thúc đẩy giáo dục luân lý đạo đức toàn dân cho cư dân đương địa, hy vọng ba năm có thể thấy thành hiệu. Trung tâm dạy học chưa đến nửa năm, đã đạt được hiệu quả thức tỉnh lương tri lương năng của nhân dân; dân phong Thang Trì cải thiện rõ rệt, thành quả thật là điều ban đầu chưa lường đến được! Thử nghiệm này đã thành công ngoài dự liệu rồi! Đã kiên định tín tâm của chúng ta.
Tháng 7 năm 2006, nhờ sự thỉnh mời của Phó Đại sứ Thường trực Thái Lan tại UNESCO, Tiến sĩ Chariya Pattarawit, cùng với trụ sở UNESCO đồng tổ chức hoạt động lớn mạnh “Hoan khánh ngày lễ Vesak năm 2550”. Tịnh Không tham gia hoạt động mục đích chủ yếu có hai; một là hướng Liên Hiệp Quốc báo cáo “tôn giáo là có thể đoàn kết tương trợ hợp tác”. Sự hòa mục đoàn kết của mười đại tôn giáo Singapore, đã làm tấm gương mẫu mực tốt nhất cho sự đoàn kết hợp tác của tôn giáo thế giới. Hai là hóa giải xung đột, khôi phục an định hòa bình, cần phải dùng phương pháp mở lớp dạy học của Thích-ca Khổng tử mới có thể thực hiện.
Thế là, trong quá trình hội nghị tại Paris, chúng ta đã khắc phục tầng tầng lớp lớp khó khăn chướng ngại, thỉnh mời đại biểu của chín đại tôn giáo Singapore, vào lúc khai mạc đại hội ở trên sân khấu nắm tay cùng nhau cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Đồng thời hướng trụ sở UNESCO cùng sứ tiết đại biểu 192 nước, bạn bè đại chúng giới thiệu thành tựu của nhân dân Thang Trì học tập giáo dục luân lý đạo đức truyền thống “Đệ Tử Quy”. Đại biểu các tôn giáo và nhân sĩ tham dự không ai không chuyên tâm nghe giảng, phản hồi lương hảo. Chúng ta chân thành hướng bạn bè quốc tế chứng minh “tôn giáo xác thực là có thể đoàn kết!”, “nhân dân xác thực có thể dạy cho tốt được!” Do sự thúc đẩy của hai sự việc này, nếu có thể nỗ lực dành cho sự đẩy mạnh, tin tưởng sẽ hỗ trợ rất lớn cho việc hóa giải tất cả xung đột, xúc tiến xã hội an định và hòa bình thế giới. Sau hội nghị, nhờ Phó Đại sứ Thái Lan và phái đoàn nhận lời mời cùng dùng bữa. Đại sứ cùng đồng nghiệp đối với hội nghị lần này vô cùng mãn ý, tán thán nội dung hội nghị cùng trật tự lương hảo, bầu không khí hài hòa, trước nay chưa từng có. Đặc biệt là hình tượng mười đại tôn giáo đoàn kết hòa mục, tương kính tương trợ, càng khiến ấn tượng của đại biểu các nước đối với sự đoàn kết của đa nguyên tôn giáo đổi mới hoàn toàn.
Sau hội nghị ở Paris, Tịnh Không cùng phái đoàn nhận lời thỉnh mời thăm viếng hai trường London, Cambridge (năm ngoái từng thăm viếng hai trường London, Oxford); cùng các giáo sư, nghiên cứu sinh của Viện nghiên cứu Hán học tiến hành giao lưu diễn giảng mỗi nơi một giờ đồng hồ, hết sức hoan hỉ. Cảm nhận sâu sắc học giả châu Âu hiện nay tuy nhiệt tâm đối với Hán học, nhưng chỉ dừng lại ở thảo luận học thuật, chưa được thọ dụng chân thật. Nên lúc giảng bài, đặc biệt nhấn mạnh “Nho học, Phật học, Đạo học” cùng “học Nho, học Phật, học Đạo” hoàn toàn không giống nhau. Chỉ ở trong đời sống hằng ngày chân chánh học Nho, học Phật, học Đạo, mới được phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, niềm vui sướng tột cùng của nhân sanh pháp hỉ sung mãn. Đổi lời mà nói, lòng nhân từ bác ái của Thánh triết, cần phải dựa vào ngôn hạnh tư tưởng của chính người học tập, thực tiễn vào đối nhân xử thế, mới có thể chân chánh phát dương quang đại. Lời giáo hối của điển tịch thần thánh, cũng là để chúng ta bắt tay làm từ việc chuyển biến chính mình (như tứ tuyệt của Khổng tử: vô ý, buông xuống vọng tưởng; vô tất, buông xuống phân biệt; vô cố, buông xuống chấp trước; vô ngã, buông xuống tự tư). Lập chí làm Thánh Hiền, ứng nên trước tiên từ trong chỗ sâu của nội tâm chính mình hóa giải sự đối lập và xung đột đối với tất cả người, sự, vật, mới có thể thể hội được chân nghĩa “học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” (học mà thường ôn tập, chẳng phải vui sao).
Cổ ngữ nói: “Kiến quốc quân dân, dạy học làm đầu”. Đoàn kết tôn giáo, cũng cần phải kiến lập trên nền tảng học tập lẫn nhau của giáo dục tôn giáo, mới có thể trải qua thời gian dài mà càng thêm mới mẻ. Nội dung của tất cả giáo dục thần thánh cổ kim trung ngoại, không gì không lấy “nhân từ bác ái, thành kính khiêm hòa” làm tông chỉ của nó. Nhìn quanh tình hình quốc tế hiện nay, tín đồ tôn giáo phần nhiều không thể chân chánh học tập giáo nghĩa của nó. Ngược lại bị người có dụng tâm kích động lợi dụng, tạo thành xung đột đối lập, xã hội động loạn, khiến người than thở. Nhân sĩ xã hội thông thường, không chỉ đối với tôn giáo phần nhiều có sự hiểu lầm, đối với luân lý đạo đức càng xem như giày rách, khinh thường không thèm nhìn. Dẫn đến trật tự toàn cầu ngày nay đại loạn, tỷ lệ phạm tội, tự sát tăng lên nhanh chóng, độ tuổi đột ngột giảm xuống. Đủ loại hiện tượng như thế này, không gì không khiến người ta cảm thấy lo âu sâu sắc và đau lòng.
Từ đây có thể biết, muốn đạt đến đoàn kết tôn giáo, trước tiên ứng nên đặc biệt xem trọng sự học tập điển tịch tôn giáo, hiểu sâu ý nghĩa của nó, đồng thời tuyên dương phổ biến. Tín đồ tôn giáo ứng nên chú trọng đem lời giáo hối thần thánh thực tiễn vào trong đời sống hằng ngày, chứ không phải chỉ tồn tại hình thức. Hơn nữa, giữa các tôn giáo càng ứng nên học tập lẫn nhau, thấu hiểu lẫn nhau, tìm điểm chung gác lại bất đồng; mới có thể chân chánh làm được chung sống hòa mục, cùng tồn tại cùng phồn vinh. Tịnh Không học tập thánh giáo 56 năm, cảm nhận sâu sắc muốn ở đại thời đại này tìm kiếm nơi an thân lập mạng, chỉ có mỗi ngày học tập điển tịch Thánh Hiền, không dám có mảy may lơ là giải đãi. Đồng thời từ đó thể hội, cốt lõi mà tất cả Thần thánh thế xuất thế gian sở giáo sở học, chính là “tâm yêu thương chân thành”; lấy giáo dục luân lý, đạo đức, nhân quả, trí tuệ, khoa học, khơi gợi tánh đức thuần tịnh thuần thiện vốn có trong tự tánh tất cả chúng sanh, thể hiện vào trong đời sống hằng ngày, đối nhân xử thế. Như Ấn Độ giáo nói: “Lấy nhân từ hóa giải phẫn nộ, lấy thiện đối xử ác hành”. “Kinh Koran” nhấn mạnh: “Chân chúa xác thực là nhân từ”. “Kinh Thánh” nói: “Thần yêu người đời”. “Khổng nói thành nhân, Mạnh nói thủ nghĩa”. Do Thái giáo nói: “Sự việc tuyệt diệu nhất mà một người có thể làm, chính là tha thứ lỗi lầm của người khác”. Phật nói: “Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa”. Lời giáo hối của thần thánh không gì không phải là dạy người tồn tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt, làm người tốt. Tiến tới đem tâm yêu thương chân thành mở rộng đến vạn vật đất trời, cùng chúng sanh của tất cả các chiều không gian khác biệt, chung sống hòa mục, tương kính tương ái, thì lý tưởng đại đồng của nhân loại hạnh phúc, xã hội hài hòa mới có thể chân chánh thực tiễn.
Giáo sư Toynbee nhà triết học lịch sử nước Anh vào thập niên 70 từng nói, “vấn đề xã hội thế kỷ 21, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Đại thừa có thể giải quyết”. Bám sát thực tế mà luận, tất cả giáo dục luân lý đạo đức của thần thánh đều là chân lý vạn cổ thường tân, siêu việt thời không; tuyệt đối không phải loại phế liệu của thời đại cũ bị bọn học thức thiển cận chỉ trích. Quan sát người chấp chánh các đời cổ kim trung ngoại, phàm là người khéo vận dụng giáo dục tôn giáo, luân lý đạo đức tịnh hóa nhân tâm, làm thuần hậu dân phong, không ai không khiến chính trị thanh minh, xã hội hài hòa, mà đạt đến trường trị cửu an. Cổ nhân nói: “Làng trăm nhà, mười người trì ngũ giới, thì mười người thuần túc cẩn trọng. Ấp ngàn nhà, trăm người trì thập thiện, thì trăm người hòa mục. Lấy phong giáo này, giữ khắp thiên hạ. Thì số hộ hàng ngàn hàng vạn, người nhân hàng triệu. Mà có thể hành một điều thiện thì bỏ một điều ác. Bỏ một điều ác thì dứt một hình phạt. Một hình phạt dứt ở nhà. Muôn hình phạt dứt ở nước. Thật có thể rủ áo khoanh tay mà làm cho thái bình vậy”. Cho nên biết, “đoàn kết đa nguyên tôn giáo, thực tiễn giáo dục tôn giáo, thúc đẩy giáo dục luân lý đạo đức toàn dân” thực là sức mạnh to lớn không thể xem nhẹ để hóa giải xung đột, thế giới hài hòa! Như lịch sử năm ngàn năm của Trung Quốc, lấy sự giáo hóa của ba nhà Nho Thích Đạo, nước sữa hòa hợp, bám rễ sâu vào nhân tâm. Trẻ em từ nhỏ học tập giáo dục đời sống như quét tước ứng đối v.v… ở trong nhà, tạo dựng nền tảng nhân cách. Lại đến trường học tập điển tịch, bước vào xã hội tiếp xúc tất cả các buổi biểu diễn văn nghệ, đều không rời khỏi tánh đức của hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ, nhân ái hòa bình, khiến nhân tâm hướng về thuần tịnh quang minh. Đây là nguyên nhân trường trị cửu an năm ngàn năm của Trung Quốc. Trong đó lấy “Đệ Tử Quy” của Nho, “Thập Thiện Nghiệp” của Phật, “Cảm Ứng Thiên” của Đạo; càng là căn bản của văn hóa truyền thống, là khóa trình tất tu. Mãi đến ngày nay, vẫn mang tính thực dụng sâu sắc. Thâm nhập thiển xuất, dễ dàng bắt tay vào nhất. Đáng để nhận chân học tập, phổ biến thúc đẩy.
Hưng biện giáo dục, trước tiên xem trọng giáo viên. Bồi dưỡng giáo viên, thân giáo càng quan trọng hơn ngôn giáo. Người làm sự nghiệp giáo dục, ứng nên biết lời giáo hối của Thánh triết, quy phạm của luân lý đạo đức, chỉ có thông qua sự nỗ lực thực tiễn của bản thân, mới có thể chân chánh cảm hóa nhân tâm, sản sinh ảnh hưởng. Chúng ta từ thử nghiệm dân phong cải thiện rõ rệt trong vòng một năm ở thị trấn nhỏ Thang Trì Trung Quốc, hiểu sâu sắc, Thang Trì có thể trong thời gian ngắn nhận được hiệu quả dạy học rõ rệt như vậy, một trong những nhân tố quan trọng của nó, chính là do thầy giáo trung tâm lấy mình làm gương, chân chánh thực tiễn sự học tập của “Đệ Tử Quy” mà đạt được. Ngày nay hiện tượng loạn lạc trên toàn cầu diễn ra dồn dập, chỉ có giáo dục có thể cứu đời! Chúng ta tin sâu, giáo dục luân lý đạo đức thần thánh xác thực có thể trị cả ngọn lẫn gốc, hữu hiệu nhanh chóng hóa giải tất cả xung đột mâu thuẫn, khôi phục thế giới an định hòa bình. Cổ nhân nói: “Vi vãng thánh kế tuyệt học, vi vạn thế khai thái bình” (Vì thánh hiền đời trước kế thừa tuyệt học, vì vạn đời sau mở ra thái bình), “tục Phật huệ mạng, hoằng pháp lợi sanh” (nối tiếp huệ mạng Phật, hoằng pháp lợi sanh). Chư vị nhân nhân chí sĩ tại tọa, ngày nay vừa vặn gặp thời điểm của nó! Nhiệm vụ cấp bách, nằm ở bồi dưỡng giáo sĩ truyền giáo bậc cao của các tôn giáo cùng đội ngũ giáo viên cấp bậc đại sư của giáo dục luân lý đạo đức. Hy vọng đạo thống của Thánh triết, phát dương quang đại, kéo dài không dứt. Đây là cội gốc lớn của nhân loại hạnh phúc, thế giới an định! Cách làm cụ thể, tháng 10 năm ngoái trên đại hội tại trụ sở UNESCO ở Paris, đã đưa ra kiến nghị Singapore đã làm được đoàn kết tôn giáo, càng mong tiến thêm một bước, mở một trường đại học tôn giáo. Trước tiên do việc mở “Viện nghiên cứu Tôn giáo”, bồi dưỡng giáo viên. Lại mở “Đại học Tôn giáo” hoặc “Đại học Đa nguyên Văn hóa”, khai giảng các khóa trình luân lý, đạo đức, kinh điển, nhân quả, khoa học v.v…, bồi dưỡng giáo sĩ truyền giáo bậc cao của các tôn giáo. Các tôn giáo mở phân hiệu độc lập. Các phân hiệu có khóa trình chung, khóa trình chuyên ngành. Học sinh ngoài việc tinh thông thâm nhập kinh điển của tôn giáo mình, đồng thời cũng có thể học tập nội hàm của tôn giáo khác. Nội dung giảng bài, thông qua quốc gia thẩm duyệt xác thực có ích cho xã hội hài hòa an định, liền có thể thông qua đài truyền hình vệ tinh mạng internet hướng đến toàn quốc, cho đến tín đồ tôn giáo toàn cầu, dạy học giảng bài. Tịnh Không mong mỏi sâu sắc chư vị đại đức trưởng lão của chính phủ Singapore cùng đoàn thể tôn giáo, đồng tâm đồng đức, lấy đó thúc đẩy giáo dục luân lý đạo đức Thánh Hiền cho toàn dân, khiến chánh pháp hiển dương cao, quần tà tự tiêu diệt; dẫn dắt toàn nhân loại trên thế giới tiến tới hạnh phúc an vui; thì xã hội an định, thế giới hài hòa, nhất định thực hiện! Kính cẩn đem thiển ý này, cống hiến cho Phó Thủ tướng các hạ cùng chư vị trưởng lão đại đức nhân giả, kính mong chỉ giáo.
Kính chúc
Chính cung khang thái, cát tường như ý
Thích Tịnh Không AM
Viện trưởng Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Giáo sư danh dự Đại học Queensland, Đại học Griffith Úc Châu
Tiến sĩ danh dự Đại học Hồi giáo Syarif Hidayatullah Indonesia
Ngày 2 tháng 1 năm 2007
Học Tập “Quần Thư Trị Yếu” Đảm Đương Sứ Mạng Cứu Đời
Tọa đàm giáo dục hóa giải nguy cơ
Chủ giảng: Lão giáo sư Tịnh Không
Thời gian: Ngày 4 tháng 8 năm 2012
Địa điểm: Cung điện Kim Mã, Kuala Lumpur, Malaysia
Đơn vị tổ chức: Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia
Kính thưa ngài Tan Sri Lee Kim Yew, các vị hiệu trưởng và thầy cô giáo trường Hoa ngữ Malaysia, các vị thầy giáo và đồng nghiệp Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia, các vị khách quý:
Chào mọi người! Tịnh Không nhờ sự thỉnh mời của ngài Tan Sri Lee Kim Yew, có may mắn tham gia buổi tụ hội của các hiệu trưởng trường Hoa ngữ Malaysia, chúng ta vui mừng nhìn thấy Viện Hán Học ở Malacca đã khởi công, dự định hai năm xây dựng xong, sẽ chính thức chiêu sinh, đây là sự việc lớn đầu tiên của thế kỷ 21! Thủ tướng Najib trong diễn văn tại lễ động thổ Viện Hán Học năm ngoái đã nói: “Sự kiến lập của Viện Hán Học Malaysia sẽ giúp ích cho việc truyền thụ một loại lý niệm giáo dục, không chỉ là thúc đẩy học thuật xuất sắc, mà còn là thúc đẩy những giá trị quan không thể thiếu của nhân loại”. (Xem nguyên văn tiếng Anh ở phần chú thích cuối bài)
Tịnh Không vì trường Hoa ngữ Malaysia mà chúc mừng! Bởi vì các hiệu trưởng và thầy cô giáo của trường Hoa ngữ Malaysia, sẽ đảm đương sứ mạng thần thánh chấn hưng Hán học, cứu đời cứu dân. Nguyện đem tâm đắc sáu mươi năm học tập văn hóa truyền thống Trung Hoa, Phật học Đại thừa, giáo dục Thánh Hiền, hướng chư vị nhân giả thỉnh giáo.
I. Lối thoát cho nguy cơ của nhân loại
Xã hội nhân loại ngày nay nguy cơ trùng trùng – nguy cơ khí hậu, nguy cơ năng lượng, nguy cơ lương thực, ô nhiễm môi trường, xung đột chiến tranh, sự kiện khủng bố ngày càng nghiêm trọng, suy xét căn bản của nó, chung quy nguyên nhân ở chỗ “nhân tâm hư hỏng rồi”, đều do chúng ta đã lơ là sự giáo dục nhân tánh bổn thiện, luân thường đạo đức mà dẫn đến. “Tả Truyện” nói: “Người bỏ luân thường thì yêu ma hưng khởi”. Quản Trọng nói: “(Lễ nghĩa liêm sỉ) tứ duy không giương, nước liền diệt vong”. Ngay từ hơn hai ngàn năm trước, Mạnh tử hướng Lương Huệ vương thuyết minh đạo trị loạn: Nếu quốc vương các nước chỉ quan tâm làm thế nào có lợi cho quốc gia của chính mình, quan đại phu chỉ quan tâm làm thế nào có lợi cho phong ấp của chính mình, kẻ sĩ bá tánh chỉ quan tâm làm thế nào có lợi cho bản thân mình, thì “trên dưới cùng tranh đoạt lợi ích, mà quốc gia nguy hiểm vậy”: Khi một quốc gia từ trên xuống dưới tranh đoạt lợi ích lẫn nhau, vậy thì quốc gia liền nguy hiểm rồi! Trước mắt nhân loại toàn cầu sùng thượng “tư lợi”, không tiếc tổn người lợi mình, vì thỏa mãn dục vọng mà làm xằng làm bậy, thì tất nhiên tạo thành nguy cơ toàn thế giới, thậm chí cảm triệu đại tai nạn toàn cầu, thật đúng như “Thượng Thư – Y Huấn” nói: “Làm thiện giáng cho trăm điều lành, làm bất thiện giáng cho trăm điều tai ương.”
Đạo cứu đời, chỉ ở chỗ quay về giáo dục Thánh triết truyền thống, khiêm tốn học tập và thực tiễn lời giáo hối Thánh Hiền của lão tổ tông. “Lễ Ký – Học Ký” nói: “Kiến quốc quân dân, dạy học làm đầu”, cho đến an thân lập mạng, dạy học làm đầu; sáng lập cơ nghiệp tề gia, dạy học làm đầu; đất nước lễ nghĩa, dạy học làm đầu; ổn định hài hòa, dạy học làm đầu; đất nước sung túc nhân dân an lạc, dạy học làm đầu; thời kỳ thái bình thịnh trị, dạy học làm đầu; trường trị cửu an, dạy học làm đầu; thậm chí cõi Báo độ của chư Phật, Thế giới Cực Lạc, không đâu không lấy dạy học làm đầu vậy.
Ngay từ năm ngàn năm trước, vua Thuấn lấy Tiết làm Tư đồ, chủ quản giáo dục. Giống như vậy, quân chủ các đời ở nước ta không ai không xem trọng giáo dục, trong các bộ do Tể tướng cai quản, lấy Lễ bộ giữ vị trí ưu tiên nhất, cho thấy tất cả hành chính đều phục vụ cho giáo dục. Đặc biệt vương triều Mãn Thanh, đối với sự xem trọng giáo dục là rõ rệt nhất, thường xuyên cung thỉnh các chuyên gia học giả Nho Thích Đạo đến trong cung đình giảng học, hoàng đế dẫn theo văn võ đại thần cùng nhau học tập điển tịch Thánh Hiền. Trong “Tứ Khố Toàn Thư” có những điển tịch như “Nhật Giảng Tứ Thư Giải Nghĩa”, đã phơi bày rõ rệt thực trạng nội dung giảng học trong cung đình thời kỳ Khang Càn thịnh thế của triều Thanh.
Có người nói: “Thế kỷ 21 là thế kỷ của người Trung Quốc”. Cho nên, người nước ngoài sợ Trung Quốc trỗi dậy sẽ xưng bá thế giới, uy hiếp nước khác, nên nơm nớp lo sợ, thậm chí nghiêm ngặt đề phòng. Tịnh Không cho rằng, sự trỗi dậy của Trung Quốc, quyết không phải vũ lực, cũng không phải chính trị, khoa học kỹ thuật, hay kinh tế, mà là sự phục hưng và phổ cập của văn hóa truyền thống !
Tiến sĩ Toynbee, nhà triết học lịch sử trứ danh nước Anh càng nói: “Muốn giải quyết vấn đề xã hội thế kỷ 21, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh cùng Phật pháp Đại thừa.” Học thuyết Khổng Mạnh chính là “nhân nghĩa trung thứ”, Phật pháp Đại thừa thì là “chân thành từ bi”, đều là văn hóa “chân thành chí ái”. Tĩnh quán thế giới ngày nay hiện tượng loạn lạc diễn ra dồn dập, muốn cứu vãn thế giới, chỉ có phục hưng giáo dục “chân, thành, ái” trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, mới có thể làm được.
Văn hóa truyền thống của chúng ta là văn hóa “tình yêu thương và hài hòa”, là văn hóa nhân tánh bổn thiện lấy ngũ luân, ngũ thường, tứ duy, bát đức làm cốt lõi. Thủ tướng Malaysia là ngài Najib trong bài diễn văn tại lễ động thổ Viện Hán Học Malaysia đã nói đến: “Khi Trịnh Hòa đến Malacca vào thế kỷ 15, … ông ấy nắm giữ năng lực tiêu diệt hoặc phá hủy vương quốc Malacca lúc bấy giờ, nhưng ông ấy đã chọn việc kiến lập tình hữu nghị. Đây là vì sao vậy?… Trịnh Hòa và con dân Trung Quốc có trí tuệ, giá trị quan và phẩm cách, họ tin tưởng, họ sẽ được xem là một nền văn minh vĩ đại, họ đến đây là kiến lập tình hữu nghị, chứ không phải vì để chinh phục”. Điều này nói rõ cụ thể văn hóa hài hòa “phàm là người, đều yêu thương” của lão tổ tông chúng ta.
Sự khơi gợi của việc “Quần Thư Trị Yếu” xuất hiện lại ở thế gian
Triều Đường của Trung Quốc, là một thời đại tốt đẹp đa nguyên văn hóa hài hòa cùng phồn vinh. Đường Thái Tông Lý Thế Dân (năm 599 đến năm 649 Công nguyên) độ lượng khoan dung, bao dung tiếp nhận, khiêm tốn học tập điển tịch của các loại tôn giáo và học phái Thánh triết, đồng thời dẫn dắt bá tánh toàn quốc học tập giáo dục Thánh Hiền. Ngài không chỉ là hộ pháp của Phật giáo, mà còn là tổng hộ pháp của tất cả tôn giáo. Ngài tôn trọng tôn giáo, yêu thương bảo vệ tôn giáo, đối với mỗi một tôn giáo đều có thể ưu dung tiếp nhận, đối xử bình đẳng. Các bậc đại đức chân chánh có tu hành, có đức hạnh, có học vấn trong mỗi một tôn giáo, Thái Tông đều tôn làm quốc sư, thường thường hướng họ thỉnh giáo và học tập.
Năm Trinh Quán thứ chín (năm 635) giáo sĩ truyền giáo Alopen đem Cơ Đốc giáo truyền vào Trung Quốc, bấy giờ gọi là Cảnh giáo, Thái Tông phái Tể tướng Phòng Huyền Linh đến Tây Giao nghênh đón ngài, đồng thời đích thân hội kiến. Năm Trinh Quán thứ mười hai, Thái Tông ban chiếu ở phường Nghĩa Ninh thành Trường An xây dựng một ngôi nhà thờ, tên là “Sắc kiến Ba Tư tự”, để cung cấp cho Cơ Đốc giáo truyền giáo.
Thời kỳ triều Đường Hồi giáo truyền đến Trung Quốc còn sớm hơn Cơ Đốc giáo, tương truyền những năm Vũ Đức thời Đường Cao Tổ, người sáng lập Hồi giáo là nhà tiên tri Muhammad vẫn còn tại thế, ngài phái bốn môn đồ đến Trung Hoa truyền giáo, trong đó Sa’d ibn Abi Waqqas vào những năm đầu Trinh Quán triều Đường (năm 627 Công nguyên) từ Vịnh Ba Tư đến Quảng Châu, kiến lập chùa Hoài Thánh, để kỷ niệm Thánh nhân Muhammad.
Đây là quốc gia đối xử bình đẳng với mỗi một tôn giáo, bởi vì tôn giáo khác biệt đều là sự giáo dục lương thiện về kinh nghiệm trí tuệ của Thần thánh và nhà tiên tri, có thể giúp đỡ quốc gia giáo hóa đại chúng, đạt đến công hiệu nhân dân chung sống hòa mục, xã hội an định hài hòa.
Đường Thái Tông trong thời gian tại vị, cống hiến lớn nhất đối với văn hóa là lệnh cho bề tôi biên soạn một bộ bảo điển trị thế khuôn phò thế đạo, cứu tế nhân dân – “Quần Thư Trị Yếu”.
Thái Tông mười sáu tuổi theo cha tòng quân, khởi nghĩa bình định xã hội động loạn, binh mã bận rộn hơn mười năm. Sau khi lên ngôi hoàng đế vào năm hai mươi bảy tuổi, đình chỉ chiến tranh tu dưỡng văn trị, đặc biệt lưu tâm đến đạo trị quốc bình thiên hạ. Thái Tông anh vũ giỏi biện luận, tiếc nuối những năm đầu tòng quân, không có thời gian rảnh đọc sách. Lấy bài học từ sự thất bại diệt vong của nhà Tùy trước đó, hiểu sâu sắc sáng lập cơ nghiệp không dễ, giữ gìn thành quả càng gian nan, trong thời gian tại vị, cổ vũ bá quan can gián, phê bình lỗi lầm trong quyết sách của ngài. Lệnh cho quan can gián Ngụy Trưng và Ngu Thế Nam v.v…, chỉnh lý sử liệu trị quốc tư chính của đế vương các đời, chọn lấy trong lục kinh, tứ sử, chư tử bách gia, những tinh yếu về trí tuệ, lý niệm, phương pháp, hiệu quả, kinh nghiệm liên quan đến tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Trên bắt đầu từ Ngũ Đế, dưới cho đến thời Tấn, từ trong hơn mười bốn ngàn bộ, hơn tám mươi chín ngàn quyển cổ tịch, chọn lấy sáu mươi lăm loại điển tịch, chọn lọc tinh hoa, hội biên thành sách, tổng cộng thành hơn năm mươi vạn chữ, đặt tên là “Quần Thư Trị Yếu”.
Sách hoàn thành, như Ngụy Trưng nói trong bài tựa, thực là một bộ bảo điển trị thế “dùng ở ngày nay, đủ để soi xét cổ xưa; truyền lại đời sau, có thể để lại mưu lược cho con cháu”. Thái Tông vui mừng vì nó rộng lớn mà thiết yếu, ngày ngày tay không rời sách, nói: “Khiến ta xét việc xưa đối mặt sự việc không mê hoặc, là công sức của các khanh vậy”. Từ đây có thể biết, cảnh tượng thái bình thịnh trị của Trinh Quán chi trị, sự cống hiến của cuốn sách này lớn thay! Thật là bảo điển không thể không đọc của người theo nghiệp chính trị và học tập.
Trong quá khứ tiên sinh Tôn Trung Sơn trong diễn giảng Tam Dân Chủ Nghĩa (bài giảng thứ tư Chủ nghĩa dân tộc) từng nói, “Sự phát triển khoa học, sự tiến bộ văn minh vật chất của châu Âu, chẳng qua là sự việc của hơn hai trăm năm gần đây. Bàn đến chân đế của triết học chính trị, người châu Âu vẫn phải tìm kiếm nó ở Trung Quốc. Chư vị đều biết trên thế giới học vấn tốt nhất là nước Đức, nhưng hiện nay người nghiên cứu học vấn của nước Đức, vẫn phải nghiên cứu triết học của Trung Quốc, thậm chí nghiên cứu Phật lý của Ấn Độ, để bổ cứu sự thiên lệch của khoa học bọn họ.”
Trí tuệ, lý niệm, phương pháp, kinh nghiệm và thành hiệu về cách vật, trí tri, tu thân, tề gia, trị quốc do lão tổ tông lưu truyền đến nay, đều là kết tinh kho báu tích lũy trải qua ngàn vạn năm khảo nghiệm. “Quần Thư Trị Yếu” chí trân chí quý! Là một bộ bảo điển thúc đẩy văn hóa hài hòa và giáo dục đạo đức Trung Hoa phục hưng toàn diện trong phạm vi toàn thế giới. Nếu quả thật có thể hiểu sâu thực tiễn, thì thiên hạ thái bình ngày một ngày hai có thể chờ đợi! Nếu kẻ đi ngược lại đạo lý, thì không tránh khỏi tự chuốc lấy tai ương, mầm tai họa vô cùng.
“Quần Thư Trị Yếu” ở Trung Quốc đến đầu thời Tống đã thất truyền ngàn năm. Chỗ may mắn là, Kim Trạch Văn Khố (Kanazawa Bunko) Nhật Bản có tàng trữ trọn bộ “Quần Thư Trị Yếu” do tăng nhân Nhật Bản chép tay. Đồng thời vào năm Càn Long thứ sáu mươi triều Thanh, do người Nhật đưa về bản thổ Trung Quốc. Những năm đầu Dân Quốc, Tứ Bộ Tùng San của Thương Vụ Ấn Thư Quán Thượng Hải và Đài Loan lần lượt lấy bản này làm bản gốc in ảnh xuất bản. Cuối năm 2010, Tịnh Không may mắn có được quyển sách này, lật xem nhiều lần, hoan hỉ vô lượng, thể hội sâu sắc giáo dục văn hóa của cổ Thánh tiên Hiền, đích thực có thể mang đến hòa bình an định vĩnh hằng cho toàn thế giới, mà sự xuất hiện lại của “Quần Thư Trị Yếu”, thực có sứ mạng thần thánh của nó. Bèn vui vẻ in ra một vạn bộ, tặng cho hai bờ ba nơi cùng các nước trên thế giới, các đảng phái, các cấp lãnh đạo cùng nhau học tập, thì đối với việc thực hiện lý tưởng xã hội hài hòa, đại đồng chi trị ắt hỗ trợ rất lớn!
Sau khi bộ sách này in ra, Trường Đảng Trung ương Trung Quốc đã chỉ định nó làm khóa trình chính thức. Tịnh Không cũng hướng các nhà lãnh đạo các nước và lãnh tụ các đại tôn giáo tiến cử bộ sách này, đều hoan hỉ tiếp nhận. Ví dụ, cựu Thủ tướng Malaysia là trưởng lão Mahathir nghe Tịnh Không giới thiệu bộ sách này, liền khẩn thiết hy vọng nhìn thấy bản dịch tiếng Anh, thế là liền thỉnh các vị thầy giáo của Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia biên tập “Quần Thư Trị Yếu 360”, từ trong toàn bộ cuốn sách trích tuyển ba trăm sáu mươi đoạn nhỏ tinh hoa, thêm vào chú giải, dịch thành bạch thoại văn, lại dịch thành tiếng Anh, cung cấp cho độc giả mỗi ngày đọc một đoạn, một năm đọc xong. Sau khi bản tiếng Anh này vừa biên dịch xong, Tịnh Không liền tận mặt tặng cho trưởng lão Mahathir, trưởng lão vô lượng hoan hỉ. Thủ tướng Najib sau khi đọc bộ sách này đã nói: “Những giá trị quan này (trong “Quần Thư Trị Yếu”), thân làm người lãnh đạo, bộ trưởng và quan chức đều cần phải thể hiện ra, bởi vì điều này sẽ giúp đỡ chúng ta vì lợi ích của nhân dân mà thi hành chính sách kiện toàn.”
Tịnh Không khẳng định, bộ sách này có thể giúp đỡ toàn thế giới hóa giải xung đột, xúc tiến xã hội an định hòa bình. Chúng ta hy vọng trên Trái Đất này vĩnh viễn không có chiến tranh, vĩnh viễn không có xung đột, hy vọng mỗi tộc quần, mỗi người đều có thể đạt được đời sống hạnh phúc mỹ mãn, thì thực tiễn cuốn sách này ắt có thể thực hiện. Từ đây có thể biết, thế kỷ 21 là thế kỷ của văn hóa Trung Hoa, là thế kỷ phóng đại quang minh của “Quần Thư Trị Yếu”!
III. Phương pháp học tập và hoằng dương
Văn hóa truyền thống Thánh Hiền thực là tự tánh của tất cả chúng sanh lưu lộ, siêu việt thời không, thiên cổ thường tân. Then chốt học tập, ngay ở hai chữ “thành kính”. “Khúc Lễ” nói: “Không gì không kính.” Khang Hy thời Thanh trước đây nói: “Trị dân lấy chủ kính làm gốc.” Lại nói: “Thành và kính, cái học tương truyền ngàn đời, không vượt ra ngoài điều này.” Trình tử nói: “Kính thắng trăm tà.” Đại sư Ấn Quang nói: “Một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích.” Nói lên tu thân tiến đức, học vấn sự nghiệp, lợi đời cứu dân, chỉ có hai chữ “thành kính”, mới có thể viên thành. Nếu đối với giáo dục của cổ Thánh tiên vương không có mảy may thành kính, cho dù xem khắp các loại điển tịch, cũng khó thu được lợi ích thực tế.
Hai chữ “thành kính” cũng tương ưng với đạo của “Đại Học”: “Biết dừng sau đó mới có định, định sau đó mới có thể tĩnh, tĩnh sau đó mới có thể an, an sau đó mới có thể lự, lự sau đó mới có thể đắc”. Khi người học học tập đạo Thánh Hiền (dừng ở chí thiện), ắt trước tiên lập định chí hướng, sau đó có thể gom tâm một chỗ, tâm không vọng động (tĩnh), thì gặp tất cả thuận nghịch cảnh duyên đều an, tiến tới trí tuệ hiện tiền, minh bạch đạo lý Thánh Hiền (lự), cuối cùng chứng được cảnh giới Thánh Hiền (đắc).
Việc lưu thông “Quần Thư Trị Yếu” trước mắt, đã thu hút sự chú ý và hứng thú rộng rãi. Nếu cần thúc đẩy bền lâu, cần có nhân tài giáo viên tốt. Viện Hán Học Malaysia, chính là trường học lý tưởng bồi dưỡng nhân tài giáo viên tốt của “Quần Thư Trị Yếu”.
Nội dung của “Quần Thư Trị Yếu”, được chọn ra từ sáu mươi lăm loại cổ tịch, chúng ta cần ít nhất sáu mươi vị thầy giáo, một môn thâm nhập mười năm huân tu, thì đều trở thành nhà Hán học lưu danh thế giới, thân hành ngôn giáo, giảng giải dạy bảo cuốn sách này. Nếu tài nguyên cho phép, thì hy vọng mỗi một loại sách có thể có ba vị thầy giáo lập thành nhóm nhỏ để thâm nhập học tập, tổng cộng khoảng hai trăm người. Ví dụ, nhóm nhỏ “Luận Ngữ Trị Yếu”, nhóm nhỏ “Dịch Kinh Trị Yếu”, nhóm nhỏ “Thượng Thư Trị Yếu”, nhóm nhỏ “Thi Kinh Trị Yếu”, v.v… Các thầy giáo buông xuống tự tư tự lợi, buông xuống danh văn lợi dưỡng, lập chí thành Thánh thành Hiền, vì hòa bình vĩnh viễn của thế giới, hạnh phúc chân thật của nhân loại, cống hiến tâm yêu thương cùng trí tuệ, dùng mười năm chuyên công một bộ sách, mong cầu tri hành hợp nhất, đem đạo lý Thánh Hiền sở học thực tiễn vào đời sống công việc của chính mình. Mười năm sau, họ đều là chuyên gia học giả hàng đầu thế giới.
Đoàn đội chuyên gia sáu mươi lăm môn học như vậy, chính là một bộ “Quần Thư Trị Yếu” sống, đều là bậc Thánh triết đại sư trị thế. Các ngài mỗi ngày có thể mượn công cụ dạy học từ xa truyền hình trực tiếp toàn cầu, giảng giải tinh hoa của sáu mươi lăm loại sách này, đồng thời bồi dưỡng thầy giáo thế hệ tiếp theo, đời đời truyền thừa tiếp nối, thì văn hóa Trung Hoa vĩnh viễn là văn hóa chủ đạo toàn cầu. Văn hóa Truyền thống là di sản văn hóa chung của toàn nhân loại, người người có phần, người người ứng nên học tập. Thế giới vĩnh viễn là thời kỳ thái bình thịnh trị! Tịnh Không năm nay tám mươi sáu, người lúc tuổi xế chiều, lực bất tòng tâm rồi. Chỉ nguyện có bậc nhân nhân chí sĩ phát đại tâm này, thành tựu đại sự nghiệp công đức vô lượng này, vì Thánh Hiền đời trước kế thừa tuyệt học, vì vạn đời sau mở ra thái bình! Người này chính là Phật, Bồ-tát, Đấng cứu thế tái thế.
Lời kết
Chư vị nhân giả đại đức tại tọa, đều là nhân tài chuyên môn làm công tác giáo dục, gánh vác sứ mạng vĩ đại bồi dưỡng rường cột ưu tú cho xã hội nhân loại. Tịnh Không kiền thành chí tâm hy vọng mọi người phát tâm học tập “Quần Thư Trị Yếu”, học tập đại trí tuệ tu thân cứu dân của lão tổ tông, sau đó rộng khắp hoằng dương, bồi dưỡng hậu học, công đức vô lượng! Tương lai chúng ta hy vọng kiến lập một đài truyền hình vệ tinh, mỗi ngày hai mươi bốn giờ đồng hồ hướng toàn thế giới phát sóng khóa trình dạy học “Quần Thư Trị Yếu”. Nếu quả thật có thể ra sức hoằng dương giáo dục Thánh Hiền như vậy, tin tưởng tương lai không xa, nhân loại toàn thế giới đều sẽ thức tỉnh. Tất cả điều này đều trông cậy mọi người cùng nhau phát tâm, chung tay nỗ lực. Chúc nguyện đại sự nhân duyên này sớm ngày thành tựu, thế giới đại đồng sớm ngày quang lâm, Tịnh Không hôm nay ở đây đại diện tất cả chúng sanh kỳ thỉnh! Cảm ân mọi người! Cảm ơn mọi người!
Chúc nguyện
Người lãnh đạo chính phủ Malaysia chính cung khang thái, đất nước sung túc nhân dân an lạc!
Chư vị nhân giả cát tường như ý, pháp duyên thù thắng!
Tiến sĩ danh dự Thích Tịnh Không
Viện trưởng Tịnh Tông Học Viện Úc Châu, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Hiệp hội Giáo dục Phật đà Hồng Kông
Giáo sư danh dự Đại học Queensland, Đại học Griffith Úc Châu
Phụ lục: Nguyên văn tiếng Anh bài diễn văn của Thủ tướng Najib tại lễ động thổ Viện Hán Học năm ngoái:
The establishment of the Malaysian Academy of Han Studies (MAHS) will help impart an education concept that not only promotes academic excellence but also positive values which are greatly needed by mankind, said Prime Minister Datuk Seri Najib Tun Razak. 【Source: Bernama, MELAKA, Oct 13, 2011】
Mười Hai Đức Mục Và Đời Sống Của Chúng Ta
Thích nghĩa mười hai đức mục
Tông chỉ dạy học của Nho gia chính là “ngũ luân ngũ thường”, ngũ thường là đạo lý làm người cơ bản nhất, phát triển tiếp chính là bát đức. Bát đức có hai cách nói, cách nói thứ nhất là: “Hiếu đễ trung tín lễ nghĩa liêm sỉ”, cách nói thứ hai là: “Trung hiếu nhân ái tín nghĩa hòa bình”, chúng ta đem hai cách nói này hợp lại với nhau, loại bỏ những chữ trùng lặp, chỉ có mười hai chữ, “hiếu đễ trung tín lễ nghĩa liêm sỉ nhân ái hòa bình”, mười hai chữ này là tánh đức. Chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác, đối nhân xử thế không thể trái nghịch mười hai chữ này, cần phải tương ưng với nó, tánh đức liền hiển hiện rồi.
Tu đức chính là đem những vọng tưởng tập khí không tương ưng với luân lý đạo đức này buông xuống, vứt bỏ đi rồi, tánh đức liền hiện tiền rồi. Có thể thấy, tổng cương lĩnh dạy học ngàn muôn năm của lão tổ tông chúng ta, nguyên tắc chỉ đạo tối cao, Phật pháp nói đại tổng trì pháp môn, trong văn hóa truyền thống chính là mười hai chữ này. Mười hai chữ này bạn cần phải thật sự làm được, bạn sống là đời sống an vui của trời người. Nếu bạn có thể nhìn phá buông xuống, bạn sống là đời sống của Phật Bồ-tát, làm gì có cái lý không an vui! Làm gì có cái lý không tự tại!
Hiếu
“Trăm điều thiện hiếu đứng đầu”, hiếu là căn bản. Chúng ta ngày nay tu học khó khăn như vậy, nguyên nhân chính là đối với hiếu thân tôn sư hoàn toàn không biết gì, tu thiện hạnh thế nào cũng không thể thành tựu. Một người không có hạnh hiếu, việc thiện họ làm có nhiều hơn nữa đều là giả, sẽ giống như hoa cắm ở trong bình hoa, cắm rất nhiều, rất đẹp, rất rực rỡ, không có rễ, vài ngày liền héo chết rồi. Cho nên hiếu là đức thứ nhất của tánh đức.
Hiếu có ý nghĩa gì? Hàm nghĩa của chữ hiếu không thể nghĩ bàn, văn tự trong chữ Hán tràn đầy trí tuệ. Cái đẹp của văn tự chữ Hán, cái thiện của văn tự chữ Hán, là bất cứ quốc gia dân tộc nào trên toàn thế giới không thể nào sánh bằng. Hiếu (孝) là chữ hội ý, tạo hình của chữ này, phía trên là chữ lão (老 – già), phía dưới là chữ tử (子 – con), đây là chỉ hai thế hệ, thế hệ trước và thế hệ sau là một thể. Người hiện đại nói khoảng cách thế hệ, trong giáo dục truyền thống của chúng ta không có. Không có giáo dục thì sẽ có khoảng cách thế hệ, có sự giáo dục tốt đẹp thì khoảng cách thế hệ sẽ không còn nữa. Thế hệ trước và thế hệ sau kết hợp chặt chẽ với nhau, bên trên còn có bên trên nữa, bên dưới còn có bên dưới nữa, quá khứ vô thủy, vị lai vô chung.
Sáng tỏ ý nghĩa này, bạn mới hiểu rõ vì sao phải cúng tổ tiên? Vì sao phải thận chung truy viễn (thận trọng lúc người mất, tưởng nhớ người đã xa)? Bởi vì nó là một chỉnh thể, không thể nào khuyết thiếu. Đây là từ phương diện dọc mà nói, chúng ta có thể từ trên mặt chữ nhìn ra rất rõ ràng. Còn có cái vô hình là chiều ngang, từ hữu hình và vô hình hợp lại mà xem, chữ này chính là chỗ nói trong Phật pháp “dọc tột ba đời, ngang khắp mười phương”.
Tất cả vạn vật của toàn bộ vũ trụ pháp giới hư không giới cùng tôi là một thể, là tự thể của tôi, khiến người nhìn thấy ký hiệu này liền có thể thể hội hiếu là ý nghĩa này. Hiếu lấy sự đồng chung một sinh mệnh thể của vạn hữu vũ trụ làm gốc, không phải lấy cá nhân làm gốc, cá nhân chỉ là phân tử nhỏ trong bản thể mà thôi. Lão tử nói: “Thiên địa dữ ngã đồng căn, vạn vật dữ ngã nhất thể” (Trời đất cùng ta chung cội rễ, vạn vật cùng ta là một thể), chính là lấy đó làm lý niệm căn bản. Cho nên văn hóa truyền thống của chúng ta là văn hóa của hiếu, lấy hiếu làm bản thể.
Văn hóa truyền thống nói thể, tông, thú, từ hiếu vươn ra ngũ luân, ngũ thường, tứ duy, bát đức, đây là tông; lấy tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ làm thú. Phật pháp Đại thừa nói thể, tướng, dụng, “dọc tột ba đời, ngang khắp mười phương” là tự tánh, tự tánh là từ trên thể mà nói, vũ trụ là từ trên tướng mà nói, đại từ đại bi là từ trên tác dụng mà nói, lão tổ tông chúng ta nói cùng với Phật pháp Đại thừa tương ưng, cho nên hiếu chính là thật tướng. Từ đây có thể biết, Phật pháp không phải mê tín cũng không phải tôn giáo, là sự giáo dục cứu cánh viên mãn.
Chúng ta làm thế nào nhìn nhận tất cả chúng sanh? Người tuổi tác xấp xỉ với cha mẹ tôi, “sự chư phụ, như sự phụ” (việc chú bác, như việc cha), xem họ giống như cha mẹ của chính mình mà cung kính hiếu thuận; nhìn thấy nhi đồng lớn xấp xỉ con cái của chính mình, đều là con cái của chính mình. Đến lúc nào mới biết thật sự là một thể? Minh tâm kiến tánh, chưa có minh tâm kiến tánh, bởi vì có vọng tưởng phân biệt chấp trước, không hiểu sự thật chân tướng. Vọng tưởng phân biệt chấp trước một khi buông xuống, chân tướng phơi bày, sau đó biết hóa ra hiếu chính là tình yêu thương. Yêu người là yêu mình, yêu mình chính là yêu người.
Phu tử nói “phù hiếu, đức chi bổn dã” (hiếu, là gốc của đức vậy), hiếu là căn bản của đạo đức, “hiếu” bao hàm vạn đức vạn năng của tự tánh, cho nên sự khai phát đức hạnh của một người nhất định bắt tay làm từ hiếu. Tận hiếu chính là sự lưu lộ viên mãn của tánh đức tự tánh. Nếu chúng ta từ trên sự tướng mà nói, ngũ luân, bát đức toàn bộ bao gồm trong đó, thiếu một điều, hiếu đạo liền không viên mãn.
Phật pháp nói tâm Bồ-đề, chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi, năm điều này, một tức là năm, năm tức là một, bất cứ điều nào cũng cụ túc bốn điều khác. Ví dụ “chân thành”, trong chân thành có thanh tịnh, có bình đẳng, có chánh giác, có từ bi, thiếu một điều, chân thành liền có sự khuyết thiếu, liền không viên mãn rồi; nói “từ bi”, trong từ bi nhất định có chân thành, có thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác. Nêu bất cứ một ví dụ nào toàn bộ đều bao gồm, đây gọi là viên mãn.
Cho nên tánh đức viên mãn, xem dùng ở phương diện nào, ví dụ ở ngũ luân, dùng ở cha con, liền gọi là “thân”, dùng ở vua tôi, liền gọi là “nghĩa”; dùng ở vợ chồng, gọi là “biệt”; dùng ở anh em, gọi là “hữu tự”, lớn nhỏ có thứ tự; dùng ở bạn bè, gọi là “tín”. Danh từ tuy không giống, thực tế đều là sự mở rộng của một chữ “hiếu” này, cội rễ chính là một chữ “hiếu”.
Mười hai đức mục “hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ, nhân ái hòa bình”, đều ở trong chữ này, xem dùng ở phương diện nào, chúng ta liền dùng chữ nào để biểu thị, thực tế chính là một chữ này. Từ đây có thể biết, hiếu đạo là cội rễ lớn căn bản lớn của đại viên mãn, giáo dục cũng là từ chỗ này kiến lập. Cho nên trẻ sơ sinh từ nhỏ bồi dưỡng chúng hiếu, yêu cha mẹ. Chữ “thân” trong cha con có tình thân này, từ lúc trẻ sơ sinh chưa biết nói chuyện, chưa biết đi lại, bạn liền có thể nhìn thấy.
Chúng thích cha mẹ, chúng yêu cha mẹ, cha mẹ ở lúc này vô điều kiện mà yêu chúng. Loại tình thân ái cha con này, làm thế nào có thể bảo trì vĩnh hằng, vĩnh viễn không thay đổi, đây chính là giáo dục, đây gọi là hiếu đạo. Cổ Thánh tiên Hiền chúng ta liền dạy một sự việc này, đây là căn bản của tất cả mọi nhân luân. Chỉ cần con người đối với cha mẹ tâm yêu thương vĩnh hằng không thay đổi, họ liền sẽ yêu anh em, yêu thê tử, yêu người thân, yêu xóm làng xóm giềng, yêu bạn bè; trung quân ái quốc, sát thân thành nhân, xả thân thủ nghĩa, đều là sự thành tựu của giáo dục hiếu đạo.
Bồ-tát Địa Tạng chính là đại biểu đại hiếu, tu hành cần phải bắt đầu từ chỗ này, hạ công phu từ hiếu thân, không hiếu thuận cha mẹ, làm sao có thể thành Phật làm Tổ? Đối với tất cả người, đối với tất cả việc tuyệt đối không có tà niệm. Ở nhà là người con hiếu thảo, ở xã hội là công dân tốt; ở trường học là học sinh tốt; bất luận ở nơi nào, đều là tấm gương tốt.
Hiếu dưỡng cha mẹ, tri ân báo ân, vĩnh hằng không thay đổi, làm một dáng vẻ tốt cho xã hội, người ta đều sẽ xưng tán. Điều này không những dưỡng cái đức của cha mẹ, cũng có thể giáo hóa chúng sanh hành hiếu, đây không phải chính là tự hành hóa tha sao? Nếu chính mình không thể hành hiếu, ngày ngày khuyên người khác, đem hiếu đạo nói đến hoa rơi trời múa, điều đó vô dụng, không ai tin tưởng! Cần phải là chính mình làm được để người khác nhìn thấy, người khác chịu sự ảnh hưởng của bạn, từ trong nội tâm chân chánh cảm động, mới có thể hướng bạn học tập.
Đễ
Hiếu là hiếu dưỡng cha mẹ, đễ thì là đệ tử, học trò làm thế nào phụng sự sư trưởng, văn hóa của chúng ta là kiến lập trên nền tảng hiếu đạo và sư đạo. Hiếu là tánh đức, là tình yêu thương của con cái đối với cha mẹ, đễ được diễn biến từ hiếu cũng là tánh đức. Cái gì là đễ? Đem hiếu thực tiễn trên việc phụng sự huynh trưởng liền gọi là đễ. Đễ là cần phải tôn trọng, kính yêu huynh trưởng lớn tuổi hơn ta.
Anh em chung sống hòa mục, là đạo đễ, mở rộng ra chính là tôn kính bậc bề trên, con người phải biết hiếu thân tôn sư. Mở rộng ra là bậc ngang hàng, chúng ta ở xã hội với bậc ngang hàng chung sống như thế nào? Tương tự là kính yêu. Không kính trọng thầy giáo, với bậc bề trên chung sống không tốt (không phải cha mẹ của chính mình) không đễ; giữa anh em chị em chung sống không tốt, không đễ.
Ngày nay chúng ta nhìn thấy anh em chị em trên xã hội, đem cốt nhục chí thân quên mất rồi, vì tranh tài tranh lợi ra tòa án, trở mặt thành thù, chúng ta nên làm như thế nào? Người ta muốn, chúng ta hoan hoan hỉ hỉ nhường cho họ; ầm ĩ ra tòa án, có lỗi với Thích-ca Mâu-ni Phật. Người khác tranh, chúng ta nhường, chúng ta hiểu được trong mạng có vứt không đi, chỗ này xả bỏ rồi, chỗ kia liền đến rồi, cái đến so với cái xả nhất định còn phải phong phú hơn, giống như có lợi tức vậy. Cho nên đừng tranh, cần nhẫn nhượng, chung sống hòa mục. Ngày nay xã hội hài hòa mà chúng ta đề xướng cũng là sự vươn rộng của đạo đễ.
Ở thế gian, phước báo trời người, mỹ mãn hạnh phúc, cội rễ ở đâu? Cội rễ ở hiếu đễ, hiếu đạo, sư đạo mà cổ nhân chúng ta nói. Hiếu đạo, sư đạo là bình đẳng, là tương phụ tương thành, như hai bánh của xe, hai cánh của chim, một cái không thể thiếu. Hiếu là đạo, đễ là đức, hợp lại chính là đạo đức. Hiếu dưỡng cha mẹ là hiếu, phụng sự sư trưởng là đễ. Cho nên đạo của Thánh nhân chỉ là một hiếu đạo, một sư đạo mà thôi. Hiếu đạo cùng sư đạo tương phụ tương thành, hiếu thân tôn sư, xã hội mới có thể an định, giữa người với người mới có thể chung sống hòa mục, nhân họa có thể tiêu trừ rồi.
Trung
Cái gì là trung? “Trung” là hội ý, là ký hiệu của trí tuệ. Hình tượng của chữ này, trên chữ tâm (心) có chữ trung (中), tâm không thiên lệch không tà, đây chính là ý nghĩa của trung. Tận tâm kiệt lực, trung với quốc gia, đối với đất nước của chính mình, đối với gia đình của chính mình đều phải trung tâm, đều không thể có lòng thiên vị, đều không thể có tà niệm. Tâm một khi thiên lệch liền tổn mình lại tổn người, tâm không thiên lệch liền có thể chí công vô tư, chỗ chỗ vì người suy nghĩ. Có lòng thiên vị, có thiên ái dụng tâm liền không chánh. Đối nhân xử thế không có tâm địa xấu xa, tâm địa xấu xa là tà, có tà niệm chính là không trung. Cho nên dụng tâm, đối với người sự vật không có ác ý, liền không tà; không có phân biệt, không có chấp trước liền không thiên lệch.
Nho gia nói “Trung Dung”, Phật pháp nói “Trung đạo”, đó chính là ý nghĩa của trung, trung chính là nhất tâm, là thành ý, là tâm chánh, mảy may không thiên lệch, mảy may không tà, hai tâm liền không trung, liền có thiên có tà rồi. Chân thành mà Phật pháp Đại thừa nói, ý nghĩa của trung cùng thành là một không phải hai, trung chính là thành, thành chính là trung. Tiên sinh Tăng Quốc Phiên giải thích “thành”: “Một niệm không sanh gọi là thành”. Một niệm không sanh đây là trung, chính là chân tâm, cho nên trung không dễ làm được, hơi có chút thiên tà mê rồi chính là vọng tâm.
Cho nên phải ở trong đời sống hằng ngày, cần thường thường giữ gìn không mê, không thiên, không tà, tâm địa quang minh chánh đại, đây là tận trung! Chúng ta học Phật, tổng kết lời giáo hối của Phật đà chính là “tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi”, đây chính là trung. Đối với người, đối với sự, đối với vật, dùng là tâm trung thành. Không trung không thành, ngôn hành tự nhiên nông nổi, trầm tĩnh kín đáo liền không còn nữa. Dụng tâm của Phật Bồ-tát trung chánh, không thiên không tà, không rớt vào hai bên, an trụ trung đạo. An trụ trung đạo chính là “thanh tịnh bình đẳng giác”, thanh tịnh là trung của hạ phẩm; bình đẳng là trung của trung phẩm; giác ngộ (đại triệt đại ngộ) là trung của thượng phẩm. Trung của thượng phẩm là Phật, trung của trung phẩm là Bồ-tát, trung của hạ phẩm là A-la-hán.
Học Phật, có thể đem tâm đặt ở trên trung đạo, bạn dùng chân tâm, liền gọi là phát tâm Bồ-đề, công đức liền lớn rồi. Tâm là chân hay vọng, tiêu chuẩn ở chỗ này. Chúng ta hiện nay khởi tâm động niệm rốt cuộc là chân hay vọng? Toàn bộ đều là vọng tâm, tâm của chúng ta có phân biệt, có chấp trước. Phân biệt liền thiên lệch rồi, chấp trước liền tà rồi. Trung trụ là chân tâm, chúng ta vốn dĩ dụng tâm toàn là trung trụ, hiện nay không thể trung trụ, thiên lệch rồi. Có thể nhận thức đến điểm này chính là giác ngộ. Làm thế nào giữ gìn sự giác ngộ của chúng ta? Chính là cần phải chân chánh đem nó làm được, ở trong đời sống hằng ngày, đối nhân xử thế, dựa vào lương tâm, chí công vô tư, chính là tận trung.
Từ chỗ người thế gian nói tận trung, không phải trung với một người, mà là trung với cương vị công tác, trung với bổn phận, trung với nghĩa vụ, trung với quốc gia, trung với dân tộc, trung với xã hội. Sự việc ứng nên làm, nhất định tận tâm tận lực làm tốt, đây gọi là tận trung.
Từ Phật pháp mà nói, Phật pháp vô cùng khẳng định, tất cả chúng sanh biến pháp giới hư không giới cùng chính mình là một thể, bạn có thể không tận trung sao? Bạn có thể không toàn tâm toàn lực đi chiếu cố sao? Cho nên pháp thế xuất thế, chân chánh làm đến cứu cánh viên mãn đều là trên quả địa Như Lai, không phải Phật Bồ-tát làm không viên mãn, nguyên nhân gì? Chính là dụng tâm không giống nhau. Phật Bồ-tát dùng tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm giác ngộ để làm, không có một sự việc nào không viên mãn, tận thiện tận mỹ. Cho nên chúng ta cần học Phật, cần học Bồ-tát an trụ trung đạo, lấy cái tồn tâm này đối đãi vạn sự vạn vật, đây chính là tận trung.
Tín
“Tín” là nói lời phải giữ lấy lời, giữ chữ tín, đây là đạo lý cơ bản nhất của làm người; người nói lời giữ lấy lời làm việc chịu trách nhiệm, nói được làm được, tuyệt không lừa gạt người khác, người như vậy sẽ nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của đại chúng xã hội. Khổng tử nói “người không tín không thể lập”, lão tổ tông đem chữ tín đặt ở hạn chót cuối cùng của đạo đức. Tất cả pháp đều từ tín đức mà thành tựu, không có tín, thành tựu gì cũng không có.
Tất cả chư pháp biến pháp giới không giới là do tâm mình hiện thức mình biến, cho nên việc đầu tiên tin tưởng chính mình. Tin tưởng chính mình vốn dĩ là Thánh Hiền, tin tưởng chính mình vốn dĩ là Phật, “thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật”, bởi vì chúng ta vốn dĩ là Phật, cho nên hiện tại cần phát tâm làm Phật, làm gì có cái lý không thành công! Thứ hai thì tín tha, tin bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, cùng với A Di Đà Phật mà bổn sư giới thiệu cho chúng ta. Sự giáo hối mà Thế Tôn dành cho chúng ta, chúng ta không có nghi hoặc. Sự giáo hối mà A Di Đà Phật dành cho chúng ta, chúng ta chưa nghe thấy, chưa nhìn thấy, mà là do Thích-ca Phật truyền đạt lại cho chúng ta, chúng ta có thể tin tưởng, tiếp nhận, đây gọi là tín tha. Thứ ba tin sự, thứ tư tin lý, thứ năm tin nhân, thứ sáu tin quả, tin nhân, tin quả, tự tha, sự lý, nhân quả đây gọi là lục tín. Có tín đức này, tín là cái đức ở trong tự tánh, Đạo gia nói đạo đức. Ý nghĩa của đạo, Phật gia nói tự tánh, tự tánh khởi dụng chính là đức.
Tất cả đức hạnh toàn bộ là kiến lập trên nền tảng của tín đức, tất cả pháp đều từ tín đức mà thành tựu, không có tín đức cái gì cũng không thể thành tựu. Tín căn nếu như hỏng rồi, tánh đức liền không còn nữa. Không có tín, thành tựu gì cũng không có. Cho nên, trên kinh Phật nói “Tín vi đạo nguyên công đức mẫu, trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn” (Tín là nguồn đạo mẹ công đức, nuôi lớn tất cả các thiện căn), tín là cội nguồn của nhập đạo, tất cả công đức thế xuất thế gian đều là từ tín tâm sanh, không có tín tâm liền không sanh ra công đức được.
Bạn có thành tựu lớn ngần nào, liền xem bạn có tín tâm lớn ngần nào, tín tâm cùng thành tựu của bạn quyết định tỷ lệ thuận. Đối với cổ Thánh tiên Hiền không có tín tâm, Khổng tử, Thích-ca Phật đến dạy bạn cũng hết cách. Vì sao vậy? Không có cội rễ, sẽ không nảy mầm, không thể trưởng thành. Nếu có thể tin có thể hiểu, phước đức của bạn hiện tiền. Phước đức là gì? Bạn thật làm, có thể hành, có thể chứng! Cụ túc điều kiện loại này, gặp được duyên phận, bạn liền có thể thành tựu.
Ngày nay trên thế giới tai nạn thường xuyên, núi lở đất sụt, nguyên nhân gì? Tín tâm không còn nữa, là hoài nghi tạo thành. Cho nên tham sân si mạn nghi, ngũ ác, ngũ độc, nó mang đến tai nạn cho chúng ta. Hoài nghi, ứng đối với cơ thể là hệ miễn dịch hỏng rồi, hệ miễn dịch chính là sức đề kháng, không có sức đề kháng, tất cả vi khuẩn gây bệnh đều sẽ lây nhiễm. Con người đối với bất cứ sự việc gì hoài nghi, sức đề kháng liền không còn nữa; tín tâm kiên cố, liền có sức đề kháng, vi khuẩn gì xâm phạm đều không thèm để ý, đều sẽ không bị tổn thương. Cho nên tín tâm quan trọng biết bao, tín là căn bản của vạn đức.
Thời đại này hiện nay, căn bản của chúng ta bị lung lay, tín đức đánh mất rồi, cho nên pháp của Thánh Hiền thế xuất thế gian toàn bộ đều tiêu thất, đây là một đại sự hết sức đáng sợ. Không có sự giáo hối của Thánh Hiền, con người trên con đường nhân sanh tối đen như mực, không biết theo ai, thế là con người tùy tâm sở dục, mặc tình làm xằng làm bậy, nghiệp gì cũng dám tạo, quả báo hiện tiền mới hối hận không kịp. Thật sự là chịu đại nạn!
Cho nên chúng ta học tập cần bắt đầu từ tín, từ chỗ này tạo dựng nền tảng. Vì sao không tin? Hoài nghi. Người hiện nay chịu sự tẩy não của khoa học, khoa học điều đầu tiên liền dạy bạn hoài nghi, đối với tổ tông hoài nghi, đối với cha mẹ hoài nghi, đối với Thánh Hiền hoài nghi, đối với Phật Bồ-tát, không có điều nào không hoài nghi. Làm thế nào có thể đoạn nghi sanh tín, vậy cần phải dạy. Nhưng dạy có điều kiện, nếu họ không có lòng thành tín, không có tâm thành kính, cái gì cũng không học được. Giáo dục Thánh Hiền là giáo dục tâm tánh, đức quan trọng nhất của tâm tánh vẫn là tín. Tín nếu không có, toàn bộ đều không có nữa. Vậy làm sao có thể nhập môn? Nhập môn không được.
Làm thế nào để thị hiện? Chúng ta học lão tổ tông, thật tin, không hoài nghi. Chúng ta đem tín tâm kiến lập lên, đối với Phật Bồ-tát không hoài nghi, đối với lão tổ tông không hoài nghi, đối với khoa học, triết học hiện nay cũng không hoài nghi, đối với bất cứ người nào đều không hoài nghi. Vì sao vậy? Chúng ta tin tưởng “tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật”, tin tưởng “nhân tánh bổn thiện”, tín tâm của chúng ta kiến lập trên nền tảng này.
Người thật sự có tín tâm, liền có thể đạt được sự hưởng thụ cao nhất của nhân sanh mà tiên sinh Phương Đông Mỹ nói, sống an vui, hạnh phúc tự tại! Sự hưởng thụ cao nhất của nhân sanh, khẳng định là lập túc ở việc với người không tranh, với đời không cầu, tri túc thường lạc! Phiền não, năm năm giảm bớt, trí tuệ năm năm tăng trưởng. Tuy là áo vải, dân đen, một cái thân phận không đáng để nói như vậy, nhưng trí tuệ hiện tiền, chân tướng vũ trụ nhân sanh, tánh tướng, sự lý, nhân quả mà Phật pháp nói đều rất rõ ràng, đều rất minh bạch, con người sao có thể không vui vẻ? Sao có thể không hạnh phúc? Cho nên cần làm thế nào hóa giải nguy cơ xã hội hiện nay, làm thế nào cứu chính mình, để tự mình thân tâm khỏe mạnh, một đời sống được hạnh phúc mỹ mãn, nhân sanh an vui? Cần phải đem tín tâm tìm về, cần phải tin tưởng lão tổ tông, cần phải tin tưởng cổ Thánh tiên Hiền, cần phải tin tưởng Phật Bồ-tát.
Lễ
“Lễ”, là tiêu chuẩn ước thúc hành vi cơ thể, một cử động, một nụ cười câu nói phải hợp lễ, cửa Phật nói: “Không phạm oai nghi”, oai nghi này chính là lễ mạo, lễ tiết. Khổng tử nói: “Bất tri lễ vô dĩ lập” (Không biết lễ không lấy gì để lập thân), xã hội trước đây nếu không hiểu lễ, không có cách nào lập túc, cho nên nước ta từ xưa đã được xưng là đất nước lễ nghĩa, người người đều biết lễ giữ lễ. Người hiểu lễ, giữ lễ, người trì giới, người người đều hoan hỉ thân cận. Một người cần làm đến khi tiếp xúc với tất cả người, người khác hoan hỉ bạn, không chán ghét bạn, bạn làm người liền thành công rồi. Cho nên lễ tiết là điều chúng ta cần phải học tập.
Lễ là có tiết độ, lễ là trật tự, quy củ của xã hội. Con người là động vật mang hành vi xã hội, nếu không có quy củ liền loạn rồi. Cho nên nhà có gia quy, nước có quốc pháp. “Đệ Tử Quy” là một trăm mười ba điều quy củ nhà nhà đều cần phải cùng nhau tuân thủ, mỗi một nhà còn có cái không chung, bởi vì sự nghiệp gia đình kinh doanh không giống nhau, hoặc giả là môn phái nghiên cứu học thuật không tương đồng, đều viết ở trong gia phả nhà mình cùng nhau tuân thủ.
Đời sống hằng ngày không thể loạn. Trang phục mặc trên người, màu sắc không giống nhau, hoa văn thêu không giống nhau, đại biểu vai vế không tương đồng, cấp bậc không tương đồng. Chức vị thấp cần phải hành lễ với người chức vị cao. Bạn xem “Lễ Nhạc Chí” của mỗi triều đại lịch sử Trung Quốc, yêu cầu toàn quốc trên dưới, từ đế vương đến thứ dân, ứng nên tuân thủ quy củ gì đều ghi chép ở trong đó, đây gọi là trị thế, có lễ nhạc trị thiên hạ. Nếu lễ nhạc không có, đây gọi là loạn thế. Từ khi Mãn Thanh vong quốc đến nay, hơn một trăm năm, không có lễ nhạc, không có định ra lễ phục. Người hiện nay mặc trang phục gì? Yến hội quan trọng, mặc âu phục, lão tổ tông chúng ta nhìn thấy lắc đầu, sao lại bị người ngoài đồng hóa rồi, chính mình không có lễ phục rồi.
Pháp luật ngày nay cũng bao gồm ở trong lễ, cho nên phạm vi của lễ vô cùng rộng lớn. Người người có thể giữ quy củ, giữ lễ, giữ pháp luật, mọi người liền có thể chung sống hòa mục. Ví dụ người và người gặp nhau, gặp nhau có lễ, lễ cung kính nhất là ba cúc cung. Người học Phật chỉ đối với tượng Phật mới hành lễ quỳ lạy; đối với người, từ chúng tôi không đề xướng, chắp tay ba vấn tấn là lễ kính nhất. Phật pháp cần phải đi lên hiện đại hóa, bản thổ hóa, mới dễ dàng đẩy mạnh, mọi người mới muốn bước vào cửa Phật đến học Phật pháp. Có rất nhiều người nhìn thấy người học Phật nhìn thấy pháp sư đều phải quỳ lạy, họ không học nữa.
Chúng ta đối với việc nắm bắt lễ không thể vừa đúng lúc, liền sẽ đem rất nhiều người chặn ở ngoài cửa Phật! Nếu là chắp tay ba vấn tấn, họ nói “cái này tôi cũng có thể”, bạn liền dẫn rất nhiều người bước vào cửa Phật rồi. Cho nên lễ không thể không có, cũng không thể quá mức, cần phải vừa đúng lúc. Nếu vượt quá tiết độ, chính là siểm nịnh a dua, cũng không hợp lễ; nếu không bằng, tỏ ra chính mình ngạo mạn, nhất định phải phù hợp tiết độ.
Chúng ta hiện nay qua lại với tất cả thiện hữu, cần hành lễ gì? Nếu là đại đức xuất gia, dùng “đảnh lễ song túc” là có thể được. Nhưng lão hòa thượng nhất định nói với bạn “một lạy”, lão hòa thượng bảo bạn một lạy bạn liền một lạy, bạn nếu lạy hai lạy liền tỏ ra a dua rồi, liền không hợp lễ. Lão hòa thượng không nói “một lạy”, bạn cũng lạy một lạy, đây là hợp lễ, vì sao vậy? Chúng ta chỉ có lạy tượng Phật mới ba lạy, lạy người chỉ một lạy.
Hành lễ tiếp túc cũng phải xem ở chỗ nào, ở thời gian nào, nhất định phải quan sát rõ ràng. Ví dụ lão hòa thượng đang ăn cơm, lúc này quyết định không lạy; ngài đang nghỉ ngơi, ngủ cũng không lạy; lúc ngài đang bận rộn sự vụ, không lạy. Có thời tiết nhân duyên, sai rồi đều là thất lễ. Không ở cửa Phật ở những trường hợp khác, gặp lão hòa thượng, chỉ vấn tấn, không lạy, tuyệt đối đừng cho rằng đây là đối với lão hòa thượng không tôn trọng.
Có thể thấy được “hiểu lễ” tương đối không dễ dàng! Tuy xã hội hiện đại chúng ta này không nói lễ nữa, sự qua lại giữa người với người lơ là lễ tiết, thế nhưng chúng ta lấy lễ đối người, người ta đều hoan hỉ, hoàn toàn không chán ghét. Từ đây có thể biết, hiếu lễ là thiên tánh, tuyệt đối không phải là một bộ biện pháp do Khổng tử, Mạnh tử nghĩ ra, nó là từ tự tánh lưu lộ ra, đức hạnh tự tánh vốn có.
“Tánh đức” là một danh tướng trừu tượng, nó từ lễ của Nho gia, giới luật của Phật gia hiển thị ra; lễ và giới đều không phải do Thánh Hiền chế định, mà là sự lưu lộ tự nhiên từ tâm hạnh của cổ Thánh tiên Hiền. Cho nên người minh tâm kiến tánh đối với người sự vật, tự nhiên cụ túc lễ mạo. Nếu không có lễ mạo, đây là phàm phu, vô lễ chính là đem bổn tánh của chính mình mê thất rồi, cho nên biểu hiện ra liền cùng lễ pháp tương vi bồi rồi.
Cho nên sự qua lại giữa người với người điều đầu tiên liền phải hiểu được lễ kính, mới có thể chung sống hòa mục, hóa giải xung đột, đạt đến xã hội an định, thế giới hòa bình. “Đệ Tử Quy” là lễ giáo cơ bản nhất, tinh thần của lễ là cung kính, tâm cung kính bình đẳng đối với người sự vật, dùng tâm cung kính nhất thực tiễn vào trong đời sống hằng ngày, mặc áo ăn cơm, đối nhân xử thế, đây là chân chánh có lễ.
Nghĩa
Nhân nghĩa là cốt lõi của Nho gia, Khổng tử đại biểu nhân, Mạnh tử đại biểu nghĩa. Nghĩa là gì? Bất luận là vì chính mình, hoặc giả là vì người khác, tư tưởng ngôn hành hợp tình hợp lý hợp pháp, không trái nghịch đạo lý đây gọi là nghĩa. “Nghĩa” là làm tròn nghĩa vụ, phục vụ cho tất cả chúng sanh, quyết không cầu quả báo, không cầu thù lao, không bàn quyền lợi; nghĩa giả tuần lý, tuân theo chánh lý, tuân theo quy tắc của đại tự nhiên. Người Trung Quốc làm việc, bất luận là vì chính mình, hay là vì người khác, tư tưởng, ngôn hành, hợp tình, hợp lý, hợp pháp, ở địa vị gì, thân phận gì, ứng nên làm những sự việc nào, noi theo khuôn phép, tận tâm tận lực làm tốt, cũng chính là chỗ gọi là thiên lý lương tâm, đối nhân xử thế lợi ích chúng sanh, không thể tổn thương chúng sanh, đây gọi là nghĩa.
Giúp đỡ người khác, phục vụ cho đại chúng xã hội, không cầu thù lao, đây gọi là nghĩa vụ. Chúng ta hiện nay nói làm nghĩa công, nghĩa công chính là không cần thù lao, nghĩa vụ, ứng nên vì xã hội, vì quốc gia, vì tất cả chúng sanh phục vụ. Đây chính là đạo nghĩa. Chúng ta ở xã hội, bất luận thân phận, địa vị gì, dùng tài lực, lao lực, hay là trí tuệ, hoặc giả ba thứ đều dùng, tận tâm tận lực, toàn tâm toàn lực, giúp đỡ tất cả chúng sanh khổ nạn lìa khổ được vui, không so đo thù lao, cũng không so đo hoàn cảnh làm việc, đây chính là nghĩa! Đây là nghĩa vụ ứng nên làm tròn.
Xã hội ngày nay chỉ nói pháp luật, không có tình, lý, người tự cho mình là thông minh dùi vào lỗ hổng pháp luật, đây chính là không có nghĩa; làm bao nhiêu công việc đều phải tính toán cái giá, là hành vi thương mại, điều này cũng không có nghĩa. Cổ nhân chúng ta nói nghĩa khí, “nhận ơn một giọt nước, thường nghĩ báo đáp một dòng suối”, xã hội hiện nay này người có loại quan niệm này, rất khó tìm được rồi, đều nói lợi ích, nhân tình sao có thể không lạnh nhạt? Thế giới sao có thể không loạn? Rất nhiều công ty hiện nay đều là sự tập hợp của lợi hại, trên có ông chủ, dưới có nhân viên, không phải đoàn thể tổ chức của tình thân, lợi hại giữa hai bên nếu như xuất hiện tình trạng, công ty lập tức liền phá sản. Nhân viên hiện nay, nếu ông chủ kinh tế có khó khăn, xoay xở không linh hoạt, một tháng, hai tháng tiền lương chưa phát, nhân viên lập tức liền bao vây nhà máy, công ty lập tức liền sụp đổ. Đây là đạo nghĩa không còn nữa, không có thương xót lẫn nhau, đều là đối lập lẫn nhau, đều là quan hệ lợi hại.
Nếu người của tất cả công ty đều có thể minh bạch nghĩa lý, có thể giữ vững nguyên lý nguyên tắc trọng nghĩa khinh lợi, có thể đem loại tình yêu thương cha con có tình thân này biểu hiện trong quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, hai bên thương xót lẫn nhau, bao dung, quan tâm, chiếu cố, tương trợ hợp tác, cùng tồn tại cùng phồn vinh. Mỗi một người của đoàn thể, tôn trọng đoàn thể, yêu đoàn thể, không phỉ báng, tổn thương đoàn thể, đây chính là đoàn thể có đạo nghĩa! Công ty như vậy liền có thể có nghĩa và có lợi, liền có thể làm một tấm gương tốt về nói nghĩa, hành nghĩa cho người đời. Trong tâm tồn nghĩa, làm ra hình tượng của đạo nghĩa, nhân nghĩa, tình nghĩa, ân nghĩa để ảnh hưởng xã hội, quảng độ chúng sanh, để chúng sanh quay về đạo nghĩa. Đều có thể đem nó làm được, chính là Thánh Hiền quân tử có thể làm tròn nghĩa vụ thời hiện đại.
Trong kinh điển xưng chư Phật Bồ-tát là đại đức, đời sống của bản thân các ngài cần hết sức đơn giản, ba y một bát, sống đời sống đơn giản nhất, đối với xã hội lại có cống hiến viên mãn nhất, các ngài là người làm công tác giáo dục nghĩa vụ. Không cầu thù lao, không cầu quả báo, đáng được đại chúng xã hội tôn kính, trở thành tấm gương tốt của đại chúng xã hội. Thích-ca Mâu-ni Phật, Khổng tử, các ngài đối với xã hội, đối với chúng sanh, đối với hiện tiền, đối với đời sau đều đã làm tròn nghĩa vụ.
Thầy của trời người là tôn xưng của tất cả chúng sanh đối với Như Lai, thân phận xuất gia mà Thích-ca Mâu-ni Phật thị hiện cho chúng ta, là một người làm công tác nghĩa vụ giáo dục xã hội đa nguyên văn hóa. Ở nước ta, Khổng tử cũng là làm thị hiện như vậy. Chúng ta ngày nay phát nguyện học Thích-ca Mâu-ni Phật, học Khổng tử, liền cần phải giống Phật, giống Khổng tử, ở trong một đời này, ở trong sân khấu lớn xã hội, biểu diễn cho tốt, đem tam phước lục hòa, tứ nhiếp lục độ, thập đại nguyện vương trong Phật pháp biểu diễn ra, đem luân lý đạo đức của Nho gia biểu diễn ra. Có thể diễn tốt vở kịch này, chúng ta chính là đệ tử chân chánh của Nho, Phật, là truyền nhân chân chánh của Nho, Phật.
Kinh không phải là để niệm, không phải là để nói, là phải đi làm. Lúc làm không nhận chân nỗ lực, đương nhiên liền cùng với phiền não tập khí của chính chúng ta sản sinh xung đột. Hóa giải xung đột, bắt tay làm từ đâu? Bắt tay làm từ hóa giải xung đột nội tâm. Phiền não tập khí của chúng ta khẳng định cùng sự giáo hối của Nho Phật sản sinh xung đột, làm thế nào đem xung đột của chính mình hóa giải, đây liền gọi là công phu.
Công phu tu hành, nhất định phải làm được triệt để, chân chánh xả bỏ phiền não tập khí của chính mình, hoàn toàn tùy thuận giáo hối của Khổng Mạnh. Sách giáo hối của Khổng Mạnh chính là kịch bản, chúng ta lên sân khấu biểu diễn, nhất định cần y theo kịch bản, tóm lại không cần kịch bản, thích biểu diễn như thế nào liền biểu diễn như thế đó, vậy liền không ra thể thống rồi. Dựa theo kinh Phật để biểu diễn, vậy bạn chính là Phật Bồ-tát; dựa theo sách Nho để biểu diễn, vậy bạn chính là Khổng Mạnh; đây chính là đạo nghĩa chân chánh!
Liêm
Liêm là liêm khiết, liêm khiết liền không tham ô, không lấy tài sản ngoài phận sự, không chiếm một chút tiện nghi của người khác. Nước ta từ triều Hán đến nay, hơn hai ngàn năm đế vương tuyển bạt quan viên liền hai điều kiện: hiếu, liêm.
Biết tiết kiệm là mỹ đức, ở trong đời sống hằng ngày, giữ bổn phận, một ngụm nước một hạt cơm không lãng phí. Sống đời sống tiêu chuẩn thấp nhất của xã hội thông thường, quen với đời sống thanh khổ, không theo đuổi xa xỉ, chúng ta sống đời sống tiêu chuẩn thấp nhất của xã hội thông thường, rời xa xa hoa; cần thường thường nghĩ đến trên thế giới này, vẫn còn có rất nhiều rất nhiều người ở ranh giới đói khát, họ không có thức ăn để ăn, không có quần áo để mặc, không có nhà để ở. Thế giới này hiện nay, mỗi một năm người chết đói vẫn còn rất nhiều. Chúng ta uống một ly nước, ăn một bát cơm, có nghĩ đến họ hay không? Cho nên cần trân trọng duyên phận này, mở rộng tâm lượng, thường thường nghĩ đến những chúng sanh khổ nạn này, cần tận tâm tận lực đi giúp đỡ họ.
Vật phẩm cần phải biết tiết kiệm, không tùy ý vứt bỏ, vật lực gian nan, có được không dễ. Mở rộng tâm lượng, người xuất gia không tham đồ sự cúng dường của người khác, không tham đồ sự hưởng thụ, đem phần dư dả dùng để cúng dường, chiếu cố chúng sanh khổ nạn của xã hội, bản thân thân tâm thanh tịnh, thể lực tự nhiên sung mãn, trà thô cơm nhạt liền đủ để duy trì cơ thể khỏe mạnh.
Đời sống thanh khổ một chút là tốt, trong tâm không có tham sân si mạn, không có virus, không có tự tư tự lợi, đối với sự lây nhiễm bên ngoài liền có sức đề kháng! Phật pháp ở hành không ở nói! Tất cả cần phải làm ra, biểu diễn cho mọi người xem! Đối với danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần không dính nhiễm, âm thầm đi làm, “chỉ hỏi cày cấy, không hỏi thu hoạch”, tự tự nhiên nhiên có thu hoạch. Khích lệ chính mình tận hình thọ cần phải làm như vậy, người ta nhìn thấy bạn liêm khiết, vô cùng cảm động, quay đầu hướng bạn học tập, sự cảm hóa này liền sản sinh hiệu ứng.
Sỉ
“Sỉ”, là biết hổ thẹn, tâm hổ thẹn, tâm tàm quý. Tàm quý đối với đạo đức truyền thống mà nói, chính là khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác, vấn tâm vô quý (hỏi lòng không hổ thẹn). Tàm chính là lương tâm, là đối với chính mình. Khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác hỏi thử chính mình, có thể xứng đáng với lương tâm của chính mình hay không; quý là sự phê bình của dư luận bên ngoài. Bên trong không trái nghịch lương tâm, bên ngoài liền sẽ không có sự phê bình chỉ trích của dư luận, đây chính là biết hổ thẹn. Biết hổ thẹn là quy phạm hành vi của chính mình, cho nên bản thân khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác nhất định phải suy nghĩ có đúng pháp hay không, phản tỉnh làm như vậy có thể xứng đáng với cha mẹ, xứng đáng với tổ tông, xứng đáng với thiên lương của chính mình hay không? Có thể không để người khác phê bình tôi, chỉ trích tôi hay không? Dùng sức mạnh trong ngoài ước thúc chính mình.
Nếu là người vô tàm vô quý (không tàm không quý), làm việc ác không để ý người khác phê bình, chỉ cố gắng thỏa mãn dục vọng tham lam của chính mình, căn bản không bận tâm đến luân lý, đạo đức gì, đó chính là vô tàm vô quý. Cho nên khéo giữ gìn các căn, cần dựa vào tàm quý, cần dựa vào cái tâm biết hổ thẹn.
Tàm quý là tánh đức, biết hổ thẹn là tánh đức. Trong Phật pháp nói, A-la-hán trở lên, siêu việt lục đạo luân hồi, mới coi là cụ túc tàm quý, chân chánh biết hổ thẹn. Bổn tánh bổn thiện, vốn dĩ thành Phật, chúng ta hiện nay lại chịu sự ô nhiễm nghiêm trọng như vậy, người khác đều thành Phật rồi, chúng ta lại đọa lạc trong lục đạo luân hồi, mê thất đi tự tánh, vẫn còn đang làm phàm phu, đó chính là kỳ sỉ đại nhục (nỗi nhục nhã lớn lao kỳ lạ)!
Cho nên chúng ta ứng nên biết hổ thẹn, nỗ lực sám hối sửa lỗi, bằng không sao có thể xứng đáng với bổn tánh bổn thiện của chính mình? Sao có thể xứng đáng với chính mình vốn dĩ là Phật? Sao có thể xứng đáng với cha mẹ thầy giáo, sao có thể xứng đáng với Phật Bồ-tát, sao có thể xứng đáng với tất cả chúng sanh khổ nạn? Tôi tu thành mới có thể giúp họ; tôi tu không tốt, họ ngày ngày đang kỳ vọng chúng ta giúp đỡ họ, cứu khổ cứu nạn, chúng ta sao có thể xứng đáng với họ? Cho nên con người phải có tâm sỉ nhục, liền có thể được cứu.
Người biết hổ thẹn, “biết hổ thẹn gần với dũng”. Con người, vì sao họ có thể dũng mãnh tinh tấn, phát phẫn đồ cường (gắng gượng vươn lên), sức mạnh đó từ đâu mà đến? Sức mạnh này không ngoài biết hổ thẹn, sức mạnh này thúc đẩy họ, đây là động lực tinh tấn của họ. Phật gia nói “dũng mãnh tinh tấn”, Nho gia nói “nhật tân hựu tân” (ngày mới lại mới), ai có thể làm được? Người biết hổ thẹn có thể làm được. Có thể biết hổ thẹn, đương nhiên liền có thể phát phẫn, dũng mãnh tinh tấn, tinh tấn là thiện căn duy nhất của Bồ-tát.
Thiện căn thế gian có ba: vô tham, vô sân, vô si, cội rễ của tất cả thiện pháp thế gian chính là không tham không sân không si, Phật pháp tu hành đương nhiên cần cụ túc ba thiện căn thế gian, không có ba thiện căn thế gian không thể tu hành, ở trong ba thiện căn còn cần có một thiện căn đặc thù: tinh tấn không lười biếng. Nhìn thấy có một chúng sanh vẫn chưa giác ngộ, vẫn chưa thành Phật, cảm thấy đó là nỗi nhục nhã của tôi, đây chính là chỗ người kiến tánh cùng với người không kiến tánh không giống nhau, người không kiến tánh đang mê, không biết chân tướng vạn sự vạn vật trong vũ trụ, cho nên tư duy của họ là bị giới hạn, không phải viên mãn; sau khi kiến tánh, biết chân tướng vạn sự vạn vật trong vũ trụ là một thể, “Kinh Hoa Nghiêm” nói: “Hữu tình và vô tình, đồng viên chủng trí”, “Phật mười phương ba đời, chung cùng một pháp thân”.
Một chúng sanh không thành Phật, tánh đức không viên mãn, đây chính là sỉ, sau đó bạn mới biết những chư Phật và Pháp thân Bồ-tát này vì sao cùng chúng sanh mười pháp giới cảm ứng đạo giao. Khiến cho học nhân sơ học Phật đó, học nhân sơ phát tâm đó, tâm cảm ân tự nhiên sanh khởi, tâm biết hổ thẹn, tâm tàm quý đương nhiên cũng sanh khởi rồi. Chỉ có người chân chánh hiểu được, mới có thể y giáo tu hành, cảm kích ân đức của Phật Bồ-tát, cảm kích thầy giáo, cảm kích tất cả thiện hữu, chỗ gọi là “trên đền bốn trọng ân, dưới cứu khổ ba đường”, tự động tự giác đi làm. Cho nên biết hổ thẹn, là một điều vô cùng quan trọng trong đức mục tu hành, có thể thành tựu đạo đức nhân nghĩa của chính mình.
Tàm quý biết hổ thẹn là tánh đức, tự tánh vốn có, đối với người không biết hổ thẹn, người không đúng pháp, người không có tâm tàm quý, làm thế nào giúp họ quay về tánh đức? Bồ-tát Mã Minh nói rất hay, “bổn giác bổn hữu, bất giác bổn vô” (bổn giác vốn có, bất giác vốn không). Vô tàm vô quý không biết hổ thẹn vốn dĩ không có, vốn dĩ không có thì có thể đoạn, vốn dĩ có thì có thể khôi phục. Người hộ pháp, người tu hành, đối với điều này cần có tín tâm và nhận thức kiên định, giúp đỡ chính mình, giúp đỡ người khác khôi phục tánh đức. Xã hội hiện nay này, chữ sỉ này không còn nữa, cho nên mọi người dám làm xằng làm bậy. Cần cứu vãn xã hội hiện nay, quan trọng nhất, cần đề xướng biết hổ thẹn! Con người chỉ cần có tâm tàm quý hổ thẹn, tự nhiên sẽ giữ lễ, tự nhiên có thể làm tròn nghĩa vụ, tự nhiên có thể liêm khiết, tự nhiên sẽ từ mê quay đầu quy y giác. Nếu hy vọng xã hội hòa bình, hy vọng hóa giải tai nạn, đem tâm biết hổ thẹn tìm về liền thật có hiệu quả rồi.
Nhân ái
“Nhân”, là chữ hội ý, người nhân (仁) là hai người (二人), nghĩ đến chính mình nhất định nghĩ đến người khác, tự tha không hai. Dùng tâm chân thành, tâm nhân ái, suy bụng ta ra bụng người, kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân (điều mình không muốn, đừng làm cho người), tự mình không muốn làm liền không thể bảo người khác làm, yêu người như yêu chính mình, nhân từ bác ái, đây gọi là nhân, người nhân yêu người. Yêu người, chính là sự mở rộng của tình thân ái, mở rộng đến “phàm là người, đều phải yêu”.
Ví như phương pháp trị liệu bệnh tật của Hawaii cổ xưa, không cần tiếp xúc với bệnh nhân, không cần gặp mặt, chỉ cần biết tên của họ, liền có thể dùng ý niệm trị bệnh của họ. Hơn nữa phương pháp rất đơn giản, câu đầu tiên chính là tôi yêu bạn, chính là nhân, sau đó nói xin lỗi, xin bạn tha thứ, cảm ơn bạn, liền bốn câu như vậy. Trong tâm không có tạp niệm chuyên chú quán tưởng, đem bệnh nhân và chính mình xem như là một thể, yêu họ như yêu mình, sau đó dùng ý niệm cực thiện, đem virus trong tế bào cơ quan của chính mình toàn bộ rửa sạch sẽ, khôi phục khỏe mạnh, bệnh của người đó liền chữa khỏi rồi, đây là tâm điện cảm ứng tự nhiên nhất mà người trị bệnh và bệnh nhân khởi lên.
Người hiện nay đáng thương, không biết yêu chính mình, càng không biết yêu người! Không biết giữ vững bổn thiện của chính mình, đây là không tự ái. Phật nói: “Tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật”, hiện nay biến thành phàm phu tạo tác tội nghiệp, đây không tự ái. Người không tự ái, liền sẽ không yêu người, tự ái mới có thể yêu người. Yêu người từ yêu cha mẹ, thê tử, con cái, gia thân quyến thuộc bắt đầu, từ từ lại mở rộng, mở rộng đến cuối cùng “phàm là người, đều phải yêu”.
Trong Phật pháp nói, không những yêu người, còn cần yêu cây cối hoa cỏ, yêu sơn hà đại địa, đối đãi vạn vật, dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi. Giống như trời, đất vậy không có mảy may tâm tư vị, không có mảy may phân biệt, chấp trước, bình đẳng chiếu cố tất cả chúng sanh, yêu biến pháp giới hư không giới. Người hiểu được yêu người liền sẽ không hại người. Người ngày nay khởi tâm động niệm tổn người lợi mình, đây là tâm yêu thương hoàn toàn không còn nữa. Người nhân ái đại từ đại bi, trong tâm không có kẻ địch, không có oan gia đối đầu. Mọi người đều đến thi hành nhân ái, xã hội liền sẽ tường hòa, vấn đề liền có thể hóa giải, xung đột liền không còn nữa.
Hòa bình
Dân gian chúng ta nói, hòa bình, hòa mục, hòa quang, hài hòa, hòa kính, hòa thiện, hòa thân, hòa thuận, hòa duyệt, hòa trung, hòa dung, hòa hợp, hòa hi, hòa là nhân, bình, mục v.v… đều là quả. Chúng ta cũng thường nói hòa bình an định, trước tiên cần hòa khí, hòa là nhân, bình là quả; bình là nhân, an là quả; an là nhân, lạc là quả, hòa bình an lạc. Cho nên Phật dạy cho chúng ta lục hòa kính, tổ tông dạy cho chúng ta nhân ái hòa bình, dưới hòa bình liền có an lạc. Muốn tâm an thì trước tiên phải tâm bình, sau khi tâm bình liền đạt được an.
Chúng ta hiện nay không bình, làm thế nào mới có thể để nó bình? Phía trên bình có hòa, cùng đại chúng chung sống cần có thể hòa. Phật dạy chúng ta tu “lục hòa kính”, đây là giới căn bản của giới luật Phật pháp. Lục hòa điều đầu tiên “kiến hòa đồng giải”, điều này dùng lời hiện nay nói kiến lập nhận thức chung, hòa là từ chỗ này cắm rễ. Có cái nhìn chung, cách nghĩ chung, ở trong một đời này có mục tiêu, phương hướng phấn đấu chung, đây là nền tảng của hòa.
Thứ hai “giới hòa đồng tu”, giữ pháp luật, giữ quy củ, không giữ pháp luật không được. Quy củ, ở nước ta 5.000 năm nay quy củ của mỗi gia tộc chính là gia quy, sự tập đại thành của gia quy chính là “Đệ Tử Quy” mà hiện nay chúng ta học tập, cũng là môn học tất tu chung trong gia quy của các tộc quần khác nhau, lưu truyền năm ngàn năm. Năm ngàn năm nay, lịch sử nước ta trường trị cửu an. Rất bất hạnh một trăm năm nay, người Trung Quốc sống vô cùng đau khổ, nguyên nhân gì? Đem thành pháp của lão tổ tông lơ là, vứt bỏ rồi, khổ nạn đến rồi. Nếu y chiếu thành pháp của lão tổ tông quy quy củ củ, khẳng định toàn bộ thế giới loạn, nước ta không loạn, người toàn bộ thế giới khổ, dân tộc chúng ta hưởng vui. Người đọc sách ở thời cổ, mục tiêu phấn đấu cả đời có thể nói là thay chúng sanh chịu khổ, hy vọng tôi chịu khổ nhiều một chút, chúng sanh chịu khổ ít một chút, đây là sự lưu lộ tự nhiên của tánh đức.
Cổ đức nói “Học vấn sâu lúc ý khí bình”, học vấn, phẩm đức của người này đến một mức độ nhất định tâm bình khí hòa, đối đãi bất cứ người nào đều khiêm tốn cung kính. Chúng ta xem Khổng tử, Mạnh tử, Thích-ca Mâu-ni Phật, ngay cả đối đãi người ăn xin đều tôn trọng, vì sao vậy? Họ là người, có nhân cách, có nhân tánh, là đáng được tôn kính. Họ ngày nay rơi vào bước đường này, đó là quả báo của nghiệp bất thiện, tập tánh của họ bất thiện, bổn tánh của họ thiện, “nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, cho nên từ trên bổn tánh mà nhìn là bình đẳng. Ở trong tâm mục của Phật cùng với tất cả đại chúng bình đẳng, cho nên tự nhiên khiêm ti, tự nhiên tôn trọng người khác, yêu thương bảo vệ người khác, quan tâm người khác, người khác có khổ nạn, làm gì có cái lý không giơ tay cứu giúp! Đây là cội rễ của xã hội hài hòa.
“Thân hòa đồng trụ”, hoàn cảnh lớn mà nói, mọi người cùng sống trên Trái Đất; hoàn cảnh nhỏ mà nói, cùng sống ở một thành phố, một làng quê, cho đến nhỏ hơn, cùng sống ở một đạo tràng, mọi người phải tự mình ước thúc ngôn hành động tác của chính mình, phải quy củ cẩn thận, không ảnh hưởng người khác, mang đến cho mọi người một hoàn cảnh tu học, sinh hoạt tốt. “Khẩu hòa vô tránh”, không có tranh luận. “Ý hòa đồng duyệt”, mỗi một người đều hoan hoan hỉ hỉ, pháp hỉ sung mãn. “Lợi hòa đồng quân”, y thực trụ hành, mọi người là bình đẳng.
Một đoàn thể, chân chánh làm đến lục hòa, tâm mọi người liền bình rồi, sau khi tâm bình liền đạt được an, sau khi an liền được an vui, an lạc, Phật pháp phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui liền chân chánh đạt được. Đề mục của đại kinh gọi là “Bình Đẳng Giác Kinh”, bình đẳng liền giác rồi, giác liền bình đẳng, hòa là phương tiện trước của bình, từ đây có thể biết, giác mới hòa, hòa chính là giác, không hòa chính là không giác. Hòa, bình đẳng, giác là điều chúng ta ứng nên học tập. Với bất cứ người nào, bất cứ việc gì đều phải hòa, hòa không có tranh, hòa không có ranh giới, có ranh giới tất định có tranh chấp. Cho nên chân chánh cần đạt được an lạc của một đời, bắt tay làm từ đâu? Tu khởi từ lục hòa kính, lấy lục hòa kính tu tâm bình đẳng, mới chân chánh đạt được an lạc. Chỗ gọi là tâm an lý đắc, đạo lý minh bạch tâm liền an rồi, an đương nhiên liền đạt đến hòa bình, an hòa lạc lợi.
- Làm thế nào thực tiễn trong đời sống
Cổ Thánh tiên Hiền chúng ta có trí tuệ, tìm được căn bản của việc làm người, chúng ta đem nó quy nạp thành ba câu mười hai chữ: hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ, nhân ái hòa bình. Nếu ai đem mười hai chữ này toàn bộ thực tiễn rồi, người này chính là Thánh nhân, người này chính là Phật. Căn bản của Phật pháp là gì? Lấy từ bi làm gốc. Cái gốc này có mười đại cương lĩnh, chính là thập thiện nghiệp đạo, mỗi một cương của thập thiện cụ túc mười mục, mười mục mở rộng thành một trăm điều, mỗi một điều trong một trăm điều lại phái sinh mười điều, trùng trùng vô tận.
Ba ngàn oai nghi của Tiểu thừa là quay quanh thập thiện nghiệp đạo mở rộng ra; tám vạn bốn ngàn tế hạnh của Bồ-tát Đại thừa, cũng là quay quanh thập thiện nghiệp đạo mở rộng ra; ba ngàn oai nghi là phương tiện cứu cánh của hành giả Tiểu thừa, tám vạn bốn ngàn tế hạnh là phương tiện cứu cánh của Bồ-tát Đại thừa. Nếu dùng mười hai chữ này của cổ Thánh tiên Hiền chúng ta để tiến hành đối chiếu, mười hai chữ này vừa mở rộng ra, hóa ra chính là tám vạn bốn ngàn tế hạnh của Bồ-tát. Từng li từng tí trong đời sống hằng ngày đều là sự thể hiện từ bi của Bồ-tát, ba câu mười hai chữ này chính là giáo dục cắm rễ của chúng ta.
Cổ Thánh tiên Hiền chúng ta dạy chúng ta cái gì? Rất đơn giản, mấy ngàn năm nay đều không thay đổi, tổng cương lĩnh này chỉ có bốn hạng mục: ngũ luân, ngũ thường, tứ duy, bát đức, ngàn muôn năm truyền xuống liền một chút đồ vật này. Tứ thư ngũ kinh, thập tam kinh của Nho gia, cho đến “Tứ Khố Toàn Thư” của đời sau, đã nói điều gì? Tuyệt đối không rời khỏi phạm trù bốn khoa mười hai chữ này. Việc dạy học mấy ngàn năm của chúng ta, sự thừa truyền đời đời kiếp kiếp của tổ tông chính là bốn khoa mục này, từ trước đến nay chưa từng thay đổi qua. Nếu xem trọng thực tiễn bốn khoa mục này, xã hội liền một màu tường hòa, tai nạn liền có thể được hóa giải. Thật đúng như kinh Phật đã nói: “Tướng do tâm sanh, cảnh tùy tâm chuyển”. Tâm thái của chúng ta tốt, niệm niệm không rời khỏi mười hai chữ này, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đều không trái nghịch Thánh huấn, thế giới liền sẽ trở nên càng thêm tốt đẹp.
Mười hai chữ này, cùng kinh điển Phật giáo, cùng điển tịch của tôn giáo khác, hàm nghĩa hoàn toàn thông suốt. Cốt lõi của mười hai chữ là gì? Chính là tình yêu thương. Phật gia không nói tình yêu thương, gọi là từ bi, từ bi chính là tình yêu thương. Vì sao Phật không nói tình yêu thương mà nói từ bi? Bởi vì tình yêu thương của người thế gian bao hàm thất tình lục dục, chịu sự dẫn dắt của tình dục rất dễ dàng mất đi lý trí, đọa vào lưới tình sanh tử, cho nên Phật không nói tình yêu thương mà nói từ bi. Từ có thể nhổ khổ, bi có thể ban vui, có tình có nghĩa lại có lý trí.
Trong điển tịch của tôn giáo khác chúng ta thường có thể nhìn thấy “Thần yêu người đời, Thượng đế yêu người đời”, “tình yêu thương” này chính là từ bi mà Phật gia nói, chứ không phải người thế gian trần tục hành xử theo tình cảm không chút lý trí. Ví dụ “Kinh Koran” ở phía trước những câu kinh quan trọng đều sẽ nói đến “Chân chúa xác thực là nhân từ”. Nhân từ là trí tuệ, là lý tánh, không phải là sự phát tiết tình cảm mù quáng, mà là cốt lõi của tánh đức, tất cả hiền đức đều là từ chỗ này bắt nguồn mà quang đại.
Con người có thể tự mình hộ trì hiền đức, liền gọi là tự ái. Người nào có thể chân chánh làm đến tự ái? Nói một cách nghiêm khắc, chỉ có Pháp thân Bồ-tát của Phật giáo có thể trăm phần trăm làm đến tự ái. Lấy “Kinh Hoa Nghiêm” làm ví dụ, Sơ trụ Bồ-tát làm đến tự ái rồi. Ngài biết thân là giả, không phải thật, ý niệm tự tư tự lợi không còn nữa, không còn theo đuổi danh văn lợi dưỡng, không còn tham đồ sự hưởng thụ của ngũ dục lục trần, không còn vì thân thể mà tạo nghiệp. Ở giai đoạn tu học của chúng ta, ái dục giảm nhiệt rồi, liền có thể cẩn thận hộ trì tánh đức của chính mình, liền có thể đạt được sự hưởng thụ cao nhất của nhân sanh.
Cốt lõi của mười hai chữ này chính là tình yêu thương, mỗi một chữ trong mười hai chữ đều liên quan chặt chẽ với tình yêu thương, là sự mở rộng và vươn dài của tình yêu thương. Giáo dục văn hóa truyền thống là giáo dục của tình yêu thương, hiểu được đạo lý này, mới có thể hiểu được văn hóa truyền thống, mới có thể hiểu được dân tộc chúng ta.
Rất nhiều người nước ngoài nghiên cứu lịch sử chúng ta, nghiên cứu văn hóa truyền thống, đều khâm phục sát đất! Đặc biệt là Tiến sĩ Toynbee, ông ấy là nhà triết học lịch sử của nước Anh, đối với văn hóa truyền thống thực sự là suy tôn tột bậc, ông ấy nói: “Giải quyết vấn đề xã hội thế kỷ 21, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Đại thừa.” Lời của ông ấy chứng minh cổ nhân chúng ta có trí tuệ, chứng minh cổ nhân chúng ta hiểu được giáo dục, có trí tuệ giáo dục, có phương pháp giáo dục, có kinh nghiệm giáo dục, có thành hiệu giáo dục.
Cốt lõi của giáo dục truyền thống là gì? Chính là “phụ tử hữu thân” (cha con có tình thân), tình thân ái loại này, chính là cốt lõi của tánh đức. Mục đích đầu tiên của giáo dục, chính là giữ gìn tình thân ái loại này trong một đời đều sẽ không biến chất; mục đích thứ hai, là đem tình thân ái này phát dương quang đại, từ yêu cha mẹ bạn, yêu anh em bạn, mở rộng đến yêu gia tộc bạn, yêu xóm làng xóm giềng bạn, yêu xã hội, yêu quốc gia, yêu dân tộc, đến cuối cùng “phàm là người, đều phải yêu”, đem tình yêu thương này mở rộng đến tất cả các phương diện.
Lão tử nói “Thiên địa dữ ngã đồng căn, vạn vật dữ ngã nhất thể” (Trời đất cùng ta chung cội rễ, vạn vật cùng ta là một thể); Phật gia nói càng cứu cánh viên mãn hơn, biến pháp giới hư không giới cùng chính mình là một thể. Biến pháp giới hư không giới, bao gồm tất cả vật mạng của các chiều không gian khác biệt, cùng chúng ta liên quan chặt chẽ, cho nên chúng ta cần yêu tất cả động vật, yêu tất cả thực vật, yêu sơn hà đại địa, yêu hư không pháp giới, xác thực là tâm yêu thương khắp pháp giới, thiện ý đầy nhân gian. Điều này so với phạm vi của “phàm là người, đều phải yêu” không biết là lớn hơn bao nhiêu lần!
Mười hai chữ, “nhân ái hòa bình”, đây là điểm chế ngự tối cao của đạo đức. Mười hai chữ giống như tòa nhà mười hai tầng, nền móng ở đâu? Cội rễ ở hiếu, hiếu là tầng thứ nhất; đễ là tầng thứ hai, hòa bình là tầng cao nhất, nó có cội rễ, có nguồn gốc, có nền tảng.
“Quán Vô Lượng Thọ Kinh”, câu đầu tiên của tịnh nghiệp tam phước là “hiếu dưỡng cha mẹ”, câu thứ hai là “phụng sự sư trưởng”, có thể thấy hiếu thân tôn sư là nền móng của học Phật. Nếu hai câu này không có, học Phật liền không có cội rễ, làm sao có thể có thành tựu? Chúng ta có thể lập quốc năm ngàn năm, ăn sâu bén rễ, dựa vào điều gì? Hiếu đễ mà thôi. Tuy một trăm năm nay bị lơ là rồi, nhưng căn bản có lung lay hay không? Thử nghiệm mở trường học ở Thang Trì của chúng ta chứng minh, cội rễ của chúng ta vẫn còn, ăn sâu bén rễ, con người là hết sức dễ dạy.
Hiện nay trên thế giới nhiều tai nạn như vậy, khoa học kỹ thuật phải chịu trách nhiệm rất lớn. Không biết toàn bộ vũ trụ là một cơ thể hữu cơ, may mà nhà cơ học lượng tử hiện đại phát hiện rồi, nếu không phát hiện, Phật giáo vĩnh viễn bị người ta xem là mê tín. Hiện nay biết rồi, cây cối hoa cỏ là cơ thể hữu cơ, nó biết nhìn, biết nghe, hiểu được ý của con người, vậy bạn tùy tiện đi chặt phá nó, nó có thể không hận bạn sao? Bạn yêu nó, nó hoan hỉ bạn; bạn tùy tiện chà đạp, nó hận bạn.
Hận bạn nó liền báo thù, thứ mọc ra đều có độc, bạn ăn rồi liền sẽ mắc bệnh. Sơn hà đại địa cũng có linh tánh, nó cùng với nhân loại là thống nhất, là toàn ảnh, là hữu cơ. Ví dụ như bạn đi đào mỏ, đào cạn một chút không hề gì, bạn có thể được một chút thọ dụng, nếu như đào quá sâu, không bàn bạc với nó, tôi tin tưởng nó rất không vui, nó không vui cái cơ thể đó lắc lư một cái, tai nạn động đất liền đến rồi. Từ chỗ này liền có thể liên tưởng đến, lão tổ tông chúng ta thật sự có trí tuệ, lão tổ tông khi muốn khai khẩn núi, trước tiên phải đi bái tế sơn thần, thật không phải là mê tín, có đạo lý lớn ở trong đó.
Phật dạy bảo chúng ta, muốn chặt vài cái cây cất một túp lều cỏ nhỏ, ba ngày trước bạn liền phải đi tế bái những cái cây đó, phải đi tu cúng dường, tụng kinh niệm chú hồi hướng, thỉnh họ chuyển nhà, ba ngày sau lại đến chặt những cái cây này. Phật nói rất rõ ràng, cây chỉ cần cao hơn một người, liền có thụ thần. Hiện nay chúng ta biết có sự việc như vậy, đối với nó liền phải có lễ mạo, phải tôn trọng, chúng ta yêu nó, nó cũng yêu chúng ta, mọi người đều sẽ không xảy ra chuyện rắc rối.
Người hiện nay mê tín khoa học, đối với lão tổ tông hoàn toàn không tin tưởng rồi, cho rằng “nhân định thắng thiên”, làm xằng làm bậy, làm chuyện ngược đời, kết quả thế nào? Tai nạn thường xuyên. Chúng ta hy vọng cơ học lượng tử mau chóng phát triển, trong ba, năm năm phổ cập đến toàn thế giới, để mọi người đều biết tất cả hiện tượng vật chất toàn bộ có tác dụng của tinh thần, toàn bộ đều là sự thể hiện của thọ tưởng hành thức.
Chúng ta ở Úc Châu có một vườn rau rất lớn, trồng rất nhiều chủng loại, cây cối có hơn ba mươi loại, trái cây năm năm được mùa. Chúng ta đối với những loại rau củ, hoa cỏ, cây cối này cung kính cúng dường, chăm sóc rất dụng tâm, cứ cách một cự ly nhỏ liền đặt một máy niệm Phật, toàn bộ vườn rau, trong rừng cây đều có thể nghe thấy Phật hiệu. Chúng ta không dùng phân hóa học, không dùng thuốc trừ sâu.
Dùng phân hóa học, dùng thuốc trừ sâu có lỗi với thực vật, vì sao vậy? Bạn lấy hóa chất đi hại nó, lúc nó mọc ra liền có độc, con người ăn rồi liền sẽ mắc bệnh. Chúng ta không hại nó, nó cũng sẽ không hại chúng ta, nó so với rau củ của những nông dân trồng rau ở gần chúng ta mọc được tốt hơn, những nông dân trồng rau đến chỗ chúng ta tham quan, hỏi chúng ta vì sao lại trồng được tốt như vậy? Chúng ta liền nói cho họ biết, không dùng thuốc trừ sâu, không dùng phân hóa học, dùng máy niệm Phật A Di Đà Phật để cúng dường chúng.
Chúng ta không phun thuốc trừ sâu, có côn trùng nhỏ không? Có. Đối với côn trùng nhỏ, chúng ta khoanh một khu nhỏ, trồng một số rau củ chuyên môn cúng dường chúng, chúng chỉ ăn chỗ đó, sát vách bên này chúng không đến, cho nên côn trùng nhỏ so với con người dễ chung sống hơn, rất giữ chữ tín. Chim nhỏ cũng như vậy, cây ăn quả của chúng ta, không cần bọc lại, chúng ta cùng với chim nhỏ cũng có giao ước, mỗi một giống cây ăn quả của chúng ta đều sẽ có một, hai cây chừa cho chim nhỏ, để chúng chuyên môn đến chỗ đó ăn, đều rất tuân thủ giao ước, không có cây ăn quả chỉ định, sẽ không đến ăn, cho nên chúng ta năm năm được mùa.
Chúng ta cùng tồn tại cùng phồn vinh, chung sống hòa mục. Những con chim nhỏ, côn trùng nhỏ này đều rất an vui, chúng ta bảo vệ chúng, chúng đối với chúng ta cũng rất tôn trọng, bạn nói việc này tốt biết bao! Không dùng phân hóa học, không dùng thuốc trừ sâu, chúng ta xứng đáng với đại địa, đại địa này phù hộ chúng ta, đối với chúng ta có ân. Nếu chúng ta dùng thuốc trừ sâu dùng phân hóa học, là đầu độc đại địa, có lẽ đồ trồng năm nay hình như không tệ, nhưng qua hai, ba năm liền không thể trồng nữa, vì sao vậy? Đất đai trúng độc rồi. Ai tạo nghiệp? Tự làm tự chịu.
Người hiện nay không những không hiếu cha mẹ, không kính sư trưởng, không tin Thánh Hiền, không tôn trọng người khác, mà còn không tôn trọng động vật, không tôn trọng hoa cỏ cây cối, không kính sợ sơn hà đại địa, ngược lại tùy ý sát hại phá hoại, cho nên xảy ra xảy ra nhiều chuyện rắc rối như vậy.
Người thật học Phật, sự việc đầu tiên, là đem tham sân si đánh đổ. Thích-ca Mâu-ni Phật năm xưa tại thế, cả đời làm thị hiện cho chúng ta, đời sống đơn giản, giữa ngày ăn một bữa, dưới gốc cây ngủ một đêm, ba y một bát, vui vẻ vô cùng. Một người hà tất hy vọng sở hữu nhiều tài phú như vậy, đó gọi là hồ đồ!
Tài phú là của bạn sao? Tiền trong túi trên người bạn là của bạn, không ở trong túi bạn liền không phải là của bạn; quần áo mặc trên người bạn là của bạn, không mặc trên người liền không phải là của bạn; bạn ở ngôi nhà này, ngôi nhà này là của bạn, rời khỏi ngôi nhà này, ngôi nhà này liền không phải là của bạn; tiền để trong ngân hàng không dùng, cũng không phải là của bạn, huống hồ gặp phải chuyện xui xẻo như ngân hàng phá sản, nguy cơ tài chính.
Bạn có thể thường khởi lên sự quán chiếu sự suy nghĩ như vậy, bạn liền tri túc thường lạc rồi. Đồ vật gì là thật? Tích công lụy đức là thật, là phước điền của đời đời kiếp kiếp. Bạn có thể hiếu thuận cha mẹ, bạn có thể tôn trọng bậc bề trên, bạn có thể yêu thương bảo vệ tất cả chúng sanh, công đức này vĩnh viễn sẽ không bị mất đi, thật sự thuộc về chính bạn. Những vật ngoài thân khác, sinh không mang đến, chết không mang đi, người có trí tuệ có thể nhìn phá, buông xuống, tự tại, tùy duyên, niệm Phật, an vui mỗi ngày.
Bốn khoa này là tinh tủy do lão tổ tông truyền lại, đây là quốc bảo truyền đời đời kiếp kiếp ngàn vạn năm của chúng ta, đây là đạo lý trường cửu mà không suy yếu, vĩnh viễn không bị diệt vong của chúng ta.
Bạn áp dụng ở trên chính mình, bạn là Thánh nhân. Nghiêu Thuấn Vũ Thang, bốn điều này ngài đều làm được rồi. Vẫn còn một số khuyết thiếu, không viên mãn, là Hiền nhân. Có thể làm được một phần ba, làm được một nửa, Quân tử. Toàn bộ đều không còn nữa, trong Phật pháp gọi là phàm phu, phàm phu lục đạo, toàn bộ không còn nữa. Cho nên, bốn khoa này toàn bộ làm được, thân tâm khỏe mạnh; gia đình thực tiễn, gia đình mỹ mãn hạnh phúc.
Dùng nó để kinh doanh một công ty, đó chính là Inamori Kazuo của Nhật Bản hiện nay. Áp dụng vào một quốc gia, quốc gia này đại trị, thời kỳ thái bình thịnh trị liền xuất hiện rồi… Từ đây có thể biết, bát đức là đại pháp căn bản của tề gia bình thiên hạ. Hiếu đễ trung tín tề gia, nhân ái hòa bình bình thiên hạ. Nguyện người trong thiên hạ, chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng.
(cẩn dịch: Hoàng Anh Việt)
Thứ Lớp Học Tập Văn Hóa Truyền Thống
Bản dịch văn bản
THỨ LỚP HỌC TẬP VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
Một, học tập nhận biết chữ khối vuông: lợi dụng tấm thẻ, tổng cộng ước chừng có bốn trăm hai mươi âm (âm phổ thông Trung Quốc), mỗi ngày học bốn âm, một trăm ngày có thể học xong, nhận biết phát âm của văn tự chữ Hán. (Lời người dịch: Người Việt học chữ Hán sử dụng âm tiếng Việt, không cần trải qua bước này).
Hai, tiếp theo học “Thuyết Văn Giải Tự”: thấu hiểu chữ Hán vì sao lại viết như vậy, nguồn gốc của văn tự, ý nghĩa hàm chứa trong văn tự.
Ba, khóa trình nền tảng: luân lý, đạo đức, nhân quả, giáo dục Thánh Hiền. Tức là bốn cái gốc của ba nhà Nho Thích Đạo, gốc của gốc tức là hai chữ hiếu kính.
Bốn, “Ngũ Chủng Di Quy”, “Quần Thư Trị Yếu”: hiểu được đạo lý tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Một môn thâm nhập, trường thời huân tu, mười năm ăn sâu bén rễ.
Năm, tiếp theo từ trong “Tứ Khố Toàn Thư” chọn một môn, tu học mười năm. Đọc tụng ngàn lần, ý nghĩa của nó tự hiện. Trở thành chuyên gia Hán học hàng đầu thế giới. Bồi dưỡng thầy giáo như vậy, nếu được năm, sáu mươi người, một, hai trăm người, liền có thể tổ chức trường chuyên khoa Hán học.
◎ Tu giới định huệ, giới là giữ quy củ, bao gồm văn tự học, âm vận học, “Ngũ Chủng Di Quy”, đều thuộc về quy củ. “Quần Thư Trị Yếu” là tiến thêm một bước. Định là chuyên nhất, huệ là ngộ nhập cảnh giới.
◎ Cần học sống dùng sống, thực tiễn vào trong đời sống hằng ngày, công việc, đối nhân xử thế.
◎ Đây là đại sự trước mắt, không có sự việc nào lớn hơn sự việc này, điều này liên quan đến sự phục hưng của văn hóa truyền thống và chánh pháp cửu trụ.
◎ Sự việc này có thể tự mình tĩnh tu, không cần người chỉ đạo. Nếu có hai, ba người bạn tốt tụ họp thảo luận thì càng tốt, mỗi tuần tụ họp một lần, thảo luận hai, ba giờ đồng hồ, mọi người đều được lợi ích.
Tịnh Không, ngày 3 tháng 1 năm 2013
TRÍCH ĐOẠN BÀI GIẢNG:
Ở nước ngoài tôi đi khắp nơi khuyên người học văn ngôn văn. Vì sao vậy? Bộ “Tứ Khố Toàn Thư” này là báu vật! Toàn thế giới tìm không ra loại thứ hai. Bạn có năng lực xem, bạn chính là thầy của đế vương. Nếu người đọc nhiều rồi, người giảng giải nhiều rồi, mỗi ngày ở trên đài truyền hình giảng giải, người toàn thế giới cùng nhau đến học tập, vậy thế kỷ 21 chính là thế kỷ của người Á Đông, là thế kỷ văn hóa của chúng ta, văn hóa truyền thống mang đến cho toàn thế giới sự phồn vinh, hưng vượng, an định, hài hòa, xác thực có thể hóa giải tất cả xung đột, việc tốt! Khó hay không khó? Không khó.
Tôi nghĩ lại xem, bắt tay học từ đâu? Bắt đầu từ nhận biết chữ khối vuông. Chữ Hán tổng cộng có bao nhiêu âm (âm phổ thông Trung Quốc)? Bốn trăm hai mươi. Một ngày học bốn âm, một trăm ngày liền học được rồi. Một âm có bình thượng khứ nhập, từ một âm biến thành bốn âm. Âm tổng cộng có bốn trăm hai mươi, bình thượng khứ nhập, là nhân cho bốn, một ngàn sáu trăm. Làm thành tấm thẻ nhỏ, có thể mang trên người, dùng hộp nhỏ đựng, một hộp bốn trăm hai mươi tấm. Bạn một ngày niệm bốn âm, một trăm ngày sẽ nhận biết được chữ Hán và tiếng Trung rồi. (Lời người dịch: Người Việt học chữ Hán sử dụng âm tiếng Việt, không cần trải qua bước này)
Bạn đối với nó nảy sanh hứng thú rồi, lại học văn tự học trong chữ Hán, học “Thuyết Văn Giải Tự”, chữ này vì sao lại có cách viết như vậy? Nó đại biểu ý nghĩa gì? Bạn liền hiểu được cái đẹp của văn tự trong chữ Hán. Văn tự của chữ Hán vô cùng có giá trị nghệ thuật, bạn liền sẽ đối với nó nảy sanh tâm hoan hỉ. Cho nên người nước ngoài học ba năm, chúng ta học hai năm liền được rồi, lại dùng thời gian một năm đi học thuộc một trăm bài cổ văn, liền thành công rồi. Cổ nhân đã đem phương pháp khế nhập “Tứ Khố Toàn Thư” làm ra rồi, “Quốc Học Trị Yếu” chính là nhắm vào “Tứ Khố Toàn Thư”. Ở trong đây thu thập rất nhiều văn chương hay, nó là từ lý niệm của “Quần Thư Trị Yếu” mà có được, đem đồ tốt nhất trong “Tứ Khố Toàn Thư” trích lục thành một bộ sách, chính là “Quốc Học Trị Yếu”, trọng điểm ở việc trị học, (“Quần Thư Trị Yếu” trọng điểm ở chính trị, ở triết học). Cho nên, bạn ở trong đó chọn một trăm bài, dùng thời gian hai năm học thuộc, chìa khóa vàng liền lấy được rồi. Không khó!
Người toàn thế giới đều học văn ngôn văn, người Trung Quốc có cần học hay không? Vậy liền xem họ rồi. Hiện nay các bạn nhỏ châu Phi đều đang học, Đài Loan có một vị pháp sư Huệ Lễ nhận nuôi trẻ mồ côi của châu Phi, tổng cộng hơn ba ngàn người, dạy chúng văn hóa truyền thống. Tôi ở Malaysia gặp được chúng, chúng học được vô cùng tốt. Cho nên, chúng tương lai nếu như kế thừa văn hóa truyền thống, đem “Tứ Khố Toàn Thư” học thông rồi, tương lai chúng sẽ lãnh đạo toàn thế giới, chúng chân chánh có trí tuệ, có học vấn, có phương pháp. Đám bạn nhỏ này lớn lên rồi, có khả năng người da đen châu Phi tương lai sẽ thống trị toàn thế giới.
Cho nên, bắt tay học từ đồ vật cơ bản nhất, học đến cuối cùng là tứ thư ngũ kinh, chư tử bách gia. Dùng thời gian hai mươi năm, mười năm là tạo nền móng, tạo dựng nền móng kiên cố, mười năm nữa, để chúng chuyên công một môn. Lý niệm học tập này, chính là tam học giới định huệ mà Phật gia giảng. Nhất định phải để trẻ nhỏ khai trí tuệ, không phải dạy chúng học tri thức, tri thức không thể giải quyết vấn đề. Hiện nay mọi người đụng phải cửa ải khó khăn không có cách nào giải quyết, cho nên nhất định cần phải có trí tuệ.
Cung kính trích lục từ Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú năm 2012 (tập 110) ngày 06/01/2013
(Cẩn dịch: Hoàng Anh Việt)
Sự Diệu Dụng Của Chữ Hán Và Tầm Quan Trọng Của Văn Ngôn Văn
Văn tự trong Chữ Hán là ký hiệu của trí tuệ, đặc tính của nó trên toàn thế giới là có một không hai. Việc tạo chữ của văn tự trong chữ Hán có sáu thể lệ hết sức tỉ mỉ, gọi là Lục thư. Lục thư bao gồm sáu nguyên tắc là tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú, giả tá. Một chữ, tuy bạn không nhận biết, không biết đọc âm gì, nhưng lại có thể căn cứ nguyên tắc của Lục thư nghĩ đến ý nghĩa của nó, công năng của loại ký hiệu trí tuệ này là điều văn tự nước ngoài không có. Ví dụ chữ “sơn” (山 – núi) trong Triện văn, nó giống như hình dáng của ngọn núi, “thủy” (水 – nước), là hình dạng của nước chảy, nhìn một cái liền minh bạch.
Nhìn thấy chữ này liền có thể nghĩ đến nó biểu đạt ý nghĩa gì, điều này ở văn tự nước ngoài là làm không được. Đặc biệt là chữ hội ý, ký hiệu rất đơn giản liền có thể đem ý nghĩa rất sâu hiển thị ra, ví dụ chữ “tư” (思 – suy nghĩ), trên chữ tâm (心) có một chữ điền (田), từng ô từng ô của điền biểu thị sự phân biệt; chữ “tưởng” (想 – nhớ nhung) là trong tâm có tướng (相), đang nhớ một người, trong tâm có một hình tướng ở đó; chữ “trung” (忠), trong tâm (心) không thiên lệch không tà (中); chữ “hiếu” (孝), một nửa phía trên là chữ ‘lão’ (老 – già), một nửa phía dưới là chữ ‘tử’ (子 – con), biểu thị thế hệ trước và thế hệ sau là một thể, đạo lý của hiếu uẩn hàm trong đó. Lại hướng chỗ sâu mà thể hội, thế hệ trước còn có thế hệ trước, quá khứ vô thủy; thế hệ sau còn có thế hệ sau, vị lai vô chung; vô thủy vô chung là một chính mình.
Từ đây có thể biết, ký hiệu này, hàm nghĩa chân chánh bên trong nó, nói dọc vô thủy vô chung, nói ngang tận hư không biến pháp giới, điều này ở trong Phật pháp giảng là tổng cương lĩnh của tất cả pháp. Tận hư không biến pháp giới là một chính mình, là một chỉnh thể, quyết định không thể nào phân cắt, đây là ý nghĩa chân thật mà chữ hiếu hàm chứa. Cho nên chữ Hán là ký hiệu của trí tuệ, từng chữ có hàm nghĩa, nhìn thấy chữ liền có thể hiểu được ý nghĩa của nó, thật vi diệu! Không thể tùy tiện thay đổi, vừa thay đổi nó, ý nghĩa liền hoàn toàn không còn nữa.
Văn ngôn văn lời ít ý nhiều, là ngôn ngữ viết ưu mỹ nhất. Văn ngôn văn là di sản quý báu nhất tổ tiên lưu lại cho chúng ta, cũng là kho báu văn hóa phong phú nhất của toàn nhân loại. Văn ngôn văn giống như Lục thư của chữ Hán, trên toàn thế giới cũng là có một không hai, quốc gia dân tộc khác không có loại văn hóa này. Lão tổ tông chúng ta nhìn thấy ngôn ngữ miệng sẽ nương theo sự biến thiên của thời đại mà thay đổi, cần phải tìm một phương pháp vĩnh viễn không thay đổi, đem trí tuệ, kinh nghiệm, lý niệm truyền lại cho người đời sau, điều này liền phát minh ra văn ngôn văn. Ví dụ khẩu ngữ lúc chúng ta còn nhỏ nói, người trẻ tuổi hiện nay thường thường nghe không hiểu, mà lời người thế hệ trẻ hiện nay nói người già chúng ta cũng thường thường nghe không minh bạch, đây chính là hiện tượng khẩu ngữ phát sinh thay đổi nương theo thời đại, thế nhưng văn ngôn vĩnh viễn sẽ không thay đổi, văn chương được viết bằng văn ngôn văn, đời đời kiếp kiếp truyền thừa, cho dù là ngàn trăm năm sau nhìn thấy vẫn giống như đối mặt nói chuyện với cổ nhân vô cùng thân thiết minh bạch.
Phát minh văn ngôn văn, đem khẩu ngữ và ngôn ngữ viết tách ra, đây là chỗ cao minh của lão tổ tiên chúng ta, phát minh này thật sự phi thường. Giống như người nước ngoài, ngữ và văn không tách ra, người của một hai trăm năm sau liền xem không hiểu văn chương của người trước. Như tiếng Hy Lạp cổ, tiếng Latinh, chỉ có số rất ít nhà khảo cổ học ở đó lần mò, vẫn chưa chắc có thể hoàn toàn lý giải, không có cách nào phổ cập lưu thông. Vì để có thể xem hiểu, kinh điển của họ đời đời kiếp kiếp đang nương theo khẩu ngữ viết lại. Viết lại có thể làm được giống hệt với nguyên bản hay không? Không giống nhau. Cho nên kinh điển tôn giáo nước ngoài, bổn lưu thông hiện nay cùng bổn thời cổ đại không giống nhau, bởi vì viết lại mà biến chất rồi, không sửa lại thì xem không hiểu. Chỉ có kinh điển của chúng ta vĩnh viễn không thay đổi, có thể thấy tổ tiên của chúng ta có trí tuệ, từ thời Thương Chu liền đem ngữ và văn chia thành hai con đường, ngôn ngữ nương theo thời đại thay đổi, mà văn không đổi, phương pháp này diệu tột cùng rồi.
Chúng ta ngày nay có thể thông đạt văn ngôn văn, đọc “Luận Ngữ” liền giống như thư từ qua lại với Khổng phu tử, đọc “Mạnh Tử” liền giống như gặp mặt với Mạnh phu tử. Sách vở từ hơn hai ngàn năm trước, hiện nay đọc lên cũng không đến nỗi phát sinh hiểu lầm, đây chính là chỗ tốt của văn ngôn văn. Văn hóa truyền thống phong phú, kho báu trí tuệ kinh nghiệm do tổ tông lưu lại, một đời thọ dụng không hết! Chúng ta đều phải nhận thức rõ ràng, báu vật của nhân gian không phải là những món đồ cổ đó, mà là đạo đức, trí tuệ, học vấn. Báu vật chân chánh là điển tịch, “Đại Tạng Kinh” là báu vật, “Tứ Khố Toàn Thư” là báu vật, “Dịch Kinh” là báu vật, những điển tịch này là người có trí tuệ, có đại đức hạnh, kết tinh của trí tuệ, tổng hợp của phương pháp, tích lũy của kinh nghiệm từ ngàn muôn năm đến nay. Cổ Thánh tiên Hiền của chúng ta thay con cháu đời sau nghĩ quá chu đáo rồi, dùng văn ngôn văn một công cụ như vậy, đem trí tuệ, tài nghệ, kinh nghiệm, tư tưởng, kiến giải của mấy ngàn năm truyền đạt lại cho chúng ta.
Chúng ta nhất định phải nắm vững văn ngôn văn, đây là một chiếc chìa khóa thông đạt kho báu văn hóa, nếu không có nền tảng văn ngôn văn, những kinh điển này bày ở trước mắt chúng ta cũng không có năng lực duyệt đọc. Văn tự là thủ đoạn, là phương pháp, không học văn ngôn văn, cửa “Tứ Khố” là đóng kín, cửa “Đại Tạng” cũng là đóng kín, bạn không có phần. Nếu chúng ta có thể thông đạt văn ngôn văn, cánh cửa của bảo khố liền có thể mở ra, kho báu liền thuộc về chính mình, liền có thể tăng trưởng học vấn, tăng trưởng kiến thức, từ đây có thể biết văn ngôn văn quan trọng. Nếu chúng ta ngày nay đem văn ngôn văn vứt bỏ rồi, sao có thể xứng đáng với tổ tiên? Cho nên, con cháu đời sau chúng ta cần nhận thức, trân trọng, yêu thương bảo vệ nó, cần đem nó thật tốt tiếp nhận lấy, không thể để nó đoạn tuyệt. Chúng ta phát nguyện kế thừa bảo khố văn hóa này, chính mình làm tấm gương, dẫn dắt người trẻ tuổi đến học tập đồng thời truyền thừa tiếp.
Văn ngôn văn vào tám mươi năm trước vẫn là văn tự thông dụng của rất nhiều quốc gia châu Á, người Nhật Bản học, người Hàn Quốc học, người Việt Nam học, quốc gia Đông Nam Á có rất nhiều người đều học. Một người không thông ngôn ngữ của quốc gia khác không hề gì, họ có thể viết chữ, có thể bút đàm, bởi vì mọi người đều học văn ngôn văn, đều đọc sách bằng chữ Hán. Họ vì sao phải học văn ngôn văn? Có thể trực tiếp học tập văn hóa truyền thống, nếu thông qua phiên dịch, ý nghĩa liền thay đổi rồi. Người hiện nay đều không học văn ngôn văn nữa, đem cổ tịch dịch thành bạch thoại văn (văn nói), nhưng dịch ra mùi vị thì không giống nhau rồi. Bản dịch bạch thoại của cổ tịch, lưu thông trên thị trường không ít, rất nhiều người đang phiên dịch, dịch đều không giống nhau. Xem bạch thoại văn người khác dịch ra, hình như là họ ăn xong nhả ra rồi đút cho bạn, không phải hương vị nguyên bản, mà là mùi vị của họ, cho nên, tốt nhất vẫn là học văn ngôn văn, trực tiếp đi đọc nguyên văn, hưởng thụ nguyên bản nguyên vị.
Có người cho rằng văn ngôn khá khó đọc, kỳ thực đây là tác dụng tâm lý. Tôi từng xem qua bài tập làm văn của học sinh tiểu học mười một, mười hai tuổi những năm đầu Dân Quốc, sinh viên khoa tiếng Trung đại học hiện nay xem không hiểu, vì sao người thời đó có thể, người hiện nay không thể? Không phải người hiện nay không thể, là người hiện nay không chịu học, chỉ cần chịu học liền không khó. Người nước ngoài đều học tiếng Trung, Thủ tướng Úc Kevin Rudd, học ngoại ngữ liền chọn tiếng Trung, tiếng Trung của ông ấy là học ở Đại học Sư phạm Đài Loan. Ông ấy không những có thể xem sách vở Trung Quốc, còn có thể xem sách cổ Trung Quốc, hết sức hiếm có.
Còn có Đại học London, Đại học Oxford, Đại học Cambridge, đây là trung tâm Hán học của châu Âu, những sinh viên nước ngoài đó nói tiếng Trung Quốc rất tốt, là giọng Bắc Kinh chuẩn. Họ đọc văn ngôn văn, dùng cổ tịch Trung Quốc viết luận văn tiến sĩ. Tôi ở Cambridge, London đụng phải ba sinh viên nước ngoài, trong đó có một người dùng hội tập bản “Vô Lượng Thọ Kinh” của Hạ Liên Cư viết luận văn tiến sĩ, mặt khác có một người dùng “Mạnh Tử” viết luận văn, còn có một người dùng tác phẩm của Vương Duy triều Đường viết luận văn. Văn ngôn văn cua chung ta họ hiểu, một chút chướng ngại cũng không có, họ học bằng cách nào?
Thật ra muốn học văn ngôn văn, hoàn toàn không khó khăn, dùng thời gian hai năm liền có thể học được, hai năm chuyên công. Phương pháp chuyên công, trước đây thầy Lý dạy chúng tôi, ở trong “Cổ Văn Quán Chỉ” lựa chọn một trăm bài, tốt nhất là có thể học thuộc, có thể giảng giải. Sau khi đọc thuộc lòng năm mươi bài cổ văn, xem văn ngôn văn liền không có vấn đề rồi. Một tuần học một bài, dùng thời gian một năm cùng học với giáo dục cắm rễ, “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp Đạo” một năm hoàn thành, cội rễ liền cắm xuống rồi, đồng thời liền có thể học thuộc năm mươi bài cổ văn. Nếu đọc thuộc lòng một trăm bài văn ngôn văn, liền có năng lực viết văn ngôn văn. Những năm đầu Dân Quốc, văn chương học sinh tiểu học viết đều là viết bằng văn ngôn văn, viết thật hay. Họ từ nhỏ liền đánh nền móng thật tốt, từ nhỏ học thuộc sách, tứ thư ngũ kinh đều thuộc, cho nên, “Tứ Khố Toàn Thư” đối với họ mà nói một chút chướng ngại cũng không có, họ viết văn ngôn văn một chút cũng không khó khăn. Hơn nữa văn chương phải học thuộc, đều hoàn thành trước năm mười hai tuổi vào lúc trí nhớ tốt nhất, cứ như vậy, kinh điển họ học thuộc lòng ít nhất có hai ngàn bài, cội rễ đó cắm sâu biết bao!
Phương pháp dạy học thời cổ đại chúng ta chia thành hai giai đoạn, trước tiên không giảng, chỉ dạy học thuộc, phân lượng học thuộc xem năng lực của bạn. Sách vở trước đây vô cùng phù hợp khoa học, mộc khắc bản (bản khắc gỗ), một trang mười dòng, một dòng hai mươi chữ. Bất luận nơi nào khắc bản đều giống nhau, nói đến dòng thứ mấy chữ thứ mấy, mỗi một quyển sách đều là tương đồng, quá tiện lợi rồi. Sách cổ bằng chữ Hán không có dấu chấm câu, dấu chấm câu là tự mình đi khoanh vòng. Trẻ em trí nhớ tốt nhất, trước mười hai tuổi chuyên chú học thuộc lòng, sau mười ba tuổi mới vì chúng khai giảng. Như vậy, đến bảy mươi, tám mươi tuổi đều sẽ không quên, viết văn chương trích dẫn kinh điển, tiện tay nhặt lấy, không cần lật sách. Đâu giống như hiện nay khổ như vậy, dùng bao nhiêu sách tham khảo, ở trước đây không cần. Thầy Lý liền thọ qua sự huấn luyện này, thầy viết văn chương trích dẫn kinh điển không cần tìm sách tham khảo, chúng tôi rất bái phục. Cho nên, đây không phải sự việc khó, thiên hạ vô nan sự, chỉ sợ người có tâm (trên đời không có việc gì khó, chỉ sợ người không có tâm).
Ngày nay toàn thế giới, thực sự nói đến trí tuệ, giống như tiên sinh Phương Đông Mỹ sở giảng, triết học cao nhất, khoa học cao nhất ở trong văn ngôn văn, ở trong Phật pháp Đại thừa. “Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh” trong văn học xưng là biến văn, không phải văn ngôn văn chính quy, mà là bạch thoại văn thời bấy giờ, cũng chính là văn ngôn văn dễ hiểu nhất, vì để mọi người đều có thể xem hiểu, đều có thể học tập. Người học Phật, nếu có thể đem một bộ “Vô Lượng Thọ Kinh” học thuộc làu làu, đều hiểu được ý nghĩa, đại khái đọc kinh Phật liền không có chướng ngại gì rồi. Nhưng đọc “Tứ Khố” vẫn còn chướng ngại, văn tự của “Tứ Khố” sâu hơn so với bộ này, cho nên “Tứ Khố” vẫn phải từ trong Tập bộ đi tìm. Cũng có thể lựa chọn “Cổ Kim Văn Tuyển”, hoặc giả “Quần Thư Trị Yếu”. “Quần Thư Trị Yếu” tuyển từ sáu mươi lăm bộ sách, đều là những đoạn tinh hoa, có thể dùng phương pháp này học cũng có thể thành công, tương đương với phân lượng học thuộc năm mươi, sáu mươi bài cổ văn, sau này đọc văn ngôn văn liền không thành vấn đề. Học văn ngôn văn cần thật sự dụng công, một chữ đều không thể bỏ qua, mỗi một chữ, từ đều phải tra tài liệu, làm cho rõ ràng làm cho minh bạch.
Tôi biết cư sĩ Hồ Tiểu Lâm đem từ điển đều lật rách rồi, mỗi một chữ có sự hoài nghi, chú ấy đều phải đi tra chú âm, chú giải, danh từ thuật ngữ, điển cố, tiêu tốn thời gian rất dài. Thời gian chú ấy đọc sách mỗi một ngày năm, sáu giờ đồng hồ, xử lý sự việc công ty chưa đến hai giờ đồng hồ, đọc sách cần phải đọc giống như chú ấy vậy, phải thật làm. Học tập tuy rất vất vả, thế nhưng vô cùng có thu hoạch, dùng một phen vất vả mới có được, ăn sâu bén rễ. Việc này không thể không hạ khổ công, đặc biệt ở thời đại hiện nay này, một môn thâm nhập, trường thời huân tu, được! Thành công!
Văn hóa là linh hồn của dân tộc, một quốc gia đánh mất chính quyền không đáng sợ, Trung Quốc ở các triều đại hai lần đánh mất chính quyền, thời nhà Nguyên, người Mông Cổ thống trị Trung Quốc; lần thứ hai là nhà Thanh, người Mãn Thanh thống trị Trung Quốc, thế nhưng văn hóa tồn tại, hoàn toàn không có đánh mất. Ngược lại Mông Cổ cùng Mãn Thanh đều bị văn hóa Trung Quốc đồng hóa, trước đây là dị tộc, về sau Hán Mãn Mông Hồi Tạng biến thành người một nhà. Cho nên giáo dục là sức sống của văn hóa, không dạy thì không được.
Tôi có lý do tin tưởng, tương lai văn ngôn văn sẽ biến thành ngôn ngữ thế giới, giống như tiếng Anh hiện đại không thể không học. Dựa vào đâu? Dựa vào bộ sách “Quần Thư Trị Yếu” này. Bộ sách này giảng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, là sách tất đọc của nhân sanh. Sách này được viết bằng văn ngôn văn, không học văn ngôn văn liền xem không hiểu. Trí tuệ, phương pháp, kinh nghiệm, thành tựu của cổ Thánh tiên Hiền ngàn vạn năm chúng ta, bạn có cần hay không? Nếu cần, trước tiên lấy chìa khóa, văn ngôn văn là chìa khóa. Đây là di sản văn hóa thế giới, xếp vào hạng mục đầu tiên. Đồng học nếu có trẻ em, cần dạy trẻ em học thuộc văn ngôn văn, tương lai sau khi lớn lên chúng sẽ cảm ân bạn cả đời. Bạn đem di sản của tổ tông ngàn vạn năm của chúng ta đưa cho chúng rồi, chúng có thể không cảm kích bạn sao? Nếu bạn hiện tại muốn chúng học cái này, học cái kia, chúng tương lai sẽ oán hận cả đời, đồ tốt như vậy vì sao từ nhỏ không dạy chúng? Đem thời gian tinh lực đều lãng phí mất?
Cho nên người trẻ tuổi hiện nay nắm bắt cơ hội học tốt văn ngôn văn, tương lai đi đến toàn thế giới dạy văn ngôn văn. Vì sao vậy? “Tứ Khố Toàn Thư” viết bằng văn ngôn văn, kinh Phật viết bằng văn ngôn văn, không biết văn ngôn văn không có cách nào trực tiếp học tập văn hóa truyền thống , học tập Đại thừa. Những điển tịch này của chúng ta là bảo tàng trí tuệ của toàn thế giới, người nước ngoài phải biết đây là báu vật, có trí tuệ vô tận, họ không thể không học. Học được văn ngôn văn, những bảo tàng này họ có thể thọ dụng, giúp đỡ gia đình mỹ mãn, sự nghiệp thuận lợi, xã hội hài hòa, thiên hạ thái bình. Cần chiếc chìa khóa này, vậy liền phải dốc sức đem văn ngôn văn học cho tốt. Nếu không, phạm vi học tập của một đời vô cùng chật hẹp, chỉ có thể xem bạch thoại văn người khác phiên dịch, không đạt được mùi vị nguyên bản.
Công cụ thừa truyền văn hóa mấy ngàn năm của chúng ta là văn ngôn văn, nếu chúng ta không phát tâm dạy và học văn ngôn văn nữa, tương lai văn hóa của chúng ta liền sẽ thất truyền. Vì sao vậy? Điển tịch, văn hóa biến thành đồ cổ trưng bày, tuy tồn tại, không có người có thể hiểu. Trên thế giới từng có tứ đại văn minh cổ quốc, nếu văn hóa dân tộc của chúng ta không thể phục hưng, vậy liền sẽ đi theo vết xe đổ của lịch sử, bước theo gót chân của ba đại văn minh cổ quốc mà diệt vong. Bao lâu diệt vong? Ước chừng một trăm năm sau liền diệt vong, biến thành di tích lịch sử. Chúng ta ngày nay đứng trên bờ vực tồn vong, hoặc tồn, hoặc vong đều ở trong ý niệm của chúng ta, chúng ta không chịu nỗ lực liền vong, chịu nỗ lực liền có thể phục hưng.
Phục hưng văn hóa truyền thống, thứ nhất phải cắm vững ba cội rễ Nho Thích Đạo, thứ hai văn ngôn văn nhất định phải học. Người học càng nhiều càng tốt, đi con đường này liền có thể khiến văn hóa truyền thống phục hưng. Vì sinh dân lập mạng, vì Thánh Hiền đời trước kế thừa tuyệt học, vì thiên hạ mở ra thái bình, liền phải dùng phương pháp này. Đây là linh hồn của dân tộc chúng ta, mạng mạch của dân tộc chúng ta, không hạ công phu ở trên đây, không nhận thức được tính quan trọng của nó, vậy liền chỉ có thể nhìn viên ngọc quý của dân tộc này diệt vong. Văn hóa Trung Quốc diệt vong rồi, sống ở thế gian này liền không có ý nghĩa chút nào. Cho nên chúng ta cần kiên trì, cần phát tâm, nhận chân nỗ lực đi dạy học đi đẩy mạnh, mới xứng đáng với tổ tiên, mới xứng đáng với Phật Bồ-tát.
(Cẩn dịch: Hoàng Anh Việt)
Sự Phục Hưng Của Giáo Dục Văn Hóa Truyền Thống
Bài phát biểu chủ đề tại “Đại hội Hán học Thế giới (Trung Quốc học) năm 2007” của Đại học Nhân dân Trung Quốc
I. Lời nói đầu
Kính thưa Hiệu trưởng, Bí thư Trình, Viện trưởng Dương, các vị lãnh đạo, các vị đại biểu, chào mọi người!
Hôm nay vô cùng hiếm có, dưới sự hỗ trợ của các đơn vị như Học viện Văn học Đại học Nhân dân Trung Quốc, Trung tâm Nghiên cứu Hán học Hải ngoại Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh, Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Văn hóa Trung Quốc, Trung tâm Trung Quốc học Bắc Kinh v.v…, vì chúng ta cung cấp một nền tảng nghiên cứu Hán học cấp bậc cao – “Đại hội Hán học Thế giới (Trung Quốc học) năm 2007”. Tịnh Không nhờ sự thỉnh mời của đại hội, có cơ hội ở đây hướng các vị chuyên gia học giả trau dồi học hỏi, vô cùng cảm tạ! Chúng ta sâu sắc kỳ vọng đại hội hôm nay, sẽ mang lại tác dụng tích cực cho việc xúc tiến sự phát triển của văn hóa Trung Hoa và xã hội hài hòa.
II. Tông chỉ của giáo dục văn hóa truyền thống
Tiến sĩ Toynbee nhà triết học lịch sử trứ danh nước Anh vào thập niên 70 từng nói: “Muốn giải quyết vấn đề xã hội thế kỷ 21, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Đại thừa “. Văn hóa năm ngàn năm của chúng ta rộng lớn tinh thâm, bao dung tiếp nhận, sự dạy học của ba nhà Nho Thích Đạo nước sữa hòa hợp, bổ trợ cho nhau càng thêm tốt. Mà học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Đại thừa rốt cuộc có chỗ nào đáng quý chứ? Tịnh Không học tập giáo dục Thánh Hiền 56 năm, dạy học 49 năm, thể nhận sâu sắc tinh tủy của đạo Khổng Mạnh và Phật pháp Đại thừa, đều nằm ở chỗ khẳng định “bổn tánh vốn thiện”, “bổn tánh vốn giác”; lấy nhân từ bác ái hóa đạo tất cả chúng sanh, dạy người ứng nên tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, quan tâm lẫn nhau, chăm sóc lẫn nhau, tương trợ hợp tác, đây chính là sự lưu lộ tự nhiên của bổn giác vốn thiện. Nên có thể đạt đến viên mãn mục tiêu hóa ác thành thiện, hóa địch thành bạn, hóa oán thành thân, hóa mê thành ngộ, hóa phàm thành Thánh. Tông chỉ, mục tiêu này, là cốt lõi của giáo dục văn hóa truyền thống, cũng là căn bản của tất cả lời giáo huấn Thánh triết thế gian, “giáo dục của tình yêu thương” mà người hiện đại nói đến. Thực tế, chúng ta từ xưa đến nay đều là tiếp nhận loại giáo dục “tâm yêu thương chân thành” này. Cho nên, trong dòng sông dài lịch sử năm ngàn năm, phàm là triều đại do dân tộc Hán nắm quyền chính, người dân chúng ta từ trước đến nay là một tộc quần yêu chuộng hòa bình. Bởi vì họ từ nhỏ liền tiếp nhận giáo dục hòa bình, giáo dục của tình yêu thương, có thể chân chánh xả kỷ vì người, không cưỡng đoạt tất cả của người khác.
III. Khởi điểm nguyên sơ của tâm yêu thương chân thành
5.000 năm trước, Thánh Hiền dạy người, không ngoài năm việc: Một là, cha con có tình thân, hai là, vua tôi có tình nghĩa, ba là, vợ chồng có sự khác biệt, bốn là, lớn nhỏ có thứ tự, năm là, bạn bè có chữ tín. Trong năm việc, lại lấy “phụ tử hữu thân” (cha con có tình thân); tình thân ái của “bổn giác vốn thiện” làm khởi điểm nguyên sơ, dần dần mở rộng đến tâm yêu thương chân thành đối với gia tộc, đối với quốc gia cho đến đối với toàn nhân loại, đối với vạn vật đất trời, thực tiễn trong đời sống hằng ngày của chính mình. Đức mục thì là “bát đức” mà Thánh nhân đưa ra. “Bát đức” có hai cách nói: “Hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ”, hoặc là “Trung hiếu nhân ái, tín nghĩa hòa bình”. Hợp lại với nhau có thể quy nạp thành: “Hiếu đễ trung tín đối đãi bằng nhân ái, lễ nghĩa liêm sỉ chung sống trong hòa bình”; đây là tông chỉ cổ Thánh tiên vương lấy luân lý đạo đức giáo hóa tất cả chúng sanh. Thánh vương không những lấy điều này làm chuẩn tắc lập thân xử thế; đồng thời cũng đem nó làm nền tảng hòa mục gia đình tộc quần, an định xã hội quốc gia, giáo hóa tất cả nhân dân. Mà chuẩn tắc tông chỉ này, chính là tánh đức viên mãn “vốn giác”, “vốn thiện” vốn có trong tâm tánh tất cả chúng sanh. Chúng sanh mê mất đi tự tánh, biến thành bất thiện bất giác (tự tư tự lợi, tham sân si mạn). Bất thiện, bất giác là tập tánh, không phải bổn tánh. Bổn tánh không đổi, tập tánh thì tùy duyên tùy biến; đó gọi là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Cho nên cần phải lấy giáo dục, dạy họ quay về tự tánh. Mạnh tử cũng nói: “Đạo của học vấn không gì khác, là tìm lại cái tâm đã đánh mất mà thôi”.
IV. Thực tiễn giáo dục Thánh Hiền, khôi phục hài hòa an định
“Nhân từ bác ái, thành kính khiêm hòa” không chỉ là tinh tủy của giáo dục truyền thống, cũng là mỹ đức thuần tịnh thuần thiện vốn có trong tâm tánh tất cả chúng sanh. Cho nên rất nhiều học giả phương Đông và phương Tây, như Tiến sĩ Toynbee của nước Anh và những người cùng chí hướng, họ chân chánh thấu hiểu văn hóa truyền thống của chúng ta, tin sâu giáo dục nhân từ bác ái xác thực là cội nguồn hài hòa của vũ trụ, là kho báu trí tuệ chung của văn minh toàn nhân loại. Chân chánh phát dương quang đại, nhỏ đến cá nhân, lớn đến thế giới, vũ trụ, tất cả mọi vấn đề phức tạp rối ren, đều có thể trị cả ngọn lẫn gốc, triệt để hóa giải. “Đệ Tử Quy” của nhà Nho, “Thập Thiện Nghiệp” của nhà Phật, “Cảm Ứng Thiên” của nhà Đạo, thực là khuôn mẫu của văn hóa truyền thống, mãi đến ngày nay, vẫn mang tính thực dụng sâu sắc. Là giáo dục chân lý vạn cổ thường tân, siêu việt thời không. Không những có thể thực tiễn hoằng nguyện “xã hội hài hòa, thế giới hài hòa” của Chủ tịch Hồ, càng có thể hóa giải tất cả xung đột cho xã hội thế kỷ 21, mang lại sự hài hòa an định, phồn vinh phú quý chân thật vĩnh hằng cho toàn nhân loại! Do đó Thánh vương xưa đặc biệt nhấn mạnh: “Dựng nước quản dân, dạy học làm đầu”. Mà nội dung giáo dục, ắt lấy luân lý, đạo đức, nhân quả, triết học làm tiên đạo, rồi lấy khoa học và tất cả các phương tiện thiết chế khác làm phụ trợ, tạo dựng nền móng trường trị cửu an của quốc gia dân tộc, là căn bản xúc tiến thế giới hài hòa phổ từ đại đồng.
Từ đây có thể biết, “giáo dục Hán học truyền thống” mà chúng ta nói đến ngày nay, hoàn toàn không giống với việc dạy học kỹ năng tri thức truyền thụ ở trường học hiện đại. Giáo dục Hán học truyền thống, nội dung của nó bao hàm viên mãn luân lý, đạo đức, nhân quả, triết học, khoa học; hình thức của nó đại lược chia có bốn, thứ nhất, giáo dục gia đình (lấy “phụ tử hữu thân” làm khởi điểm nguyên sơ), thứ hai, giáo dục trường học (tư thục) (sự tiếp nối của giáo dục gia đình), thứ ba, giáo dục xã hội (sự mở rộng của giáo dục gia đình), thứ tư, giáo dục tôn giáo (sự viên mãn của ba loại giáo dục trước). Mà tông chỉ dạy học quán triệt trước sau của nó, thì là khôi phục “bổn giác vốn thiện, tâm yêu thương chân thành” vốn có trong tâm tánh tất cả chúng sanh, đồng thời đem nó phát huy rạng rỡ đến tận hư không khắp pháp giới.
Tháng 9 năm 2005, tôi trở về Úc Châu, tụ hội với Hiệu trưởng Đại học Nam Queensland và vài vị giáo sư. Các giáo sư nói đến, trước Đại chiến thế giới thứ hai, học giả châu Âu từng làm qua một cuộc thăm dò, bốn đại nền văn minh cổ thế giới, trong đó ba cái đã biến mất rồi, vì sao chỉ có văn minh Trung Quốc đứng vững đến nay. Mọi người làm tổng kết, nói “điều này có khả năng là nguyên nhân dân tộc chúng ta đặc biệt xem trọng gia giáo!”
Đối với kết luận này, Tịnh Không vô cùng tán đồng. Đặc sắc giáo dục truyền thống, xác thực là giáo dục gia đình; đặc biệt xem trọng “thai giáo”. Từ ngày đầu tiên trẻ sơ sinh oa oa chào đời, tuy không biết nói chuyện, nhưng từng lời nói cử chỉ của cha mẹ bề trên đều lưu lại ấn tượng sâu sắc trong não hải của chúng, đối với một đời của chúng có ảnh hưởng mang tính quyết định. Cho nên sự giáo dục của chúng ta trễ nhất là từ ba, bốn ngày sau khi trẻ sơ sinh ra đời liền bắt đầu rồi. Ngạn ngữ xưa nói: “Ba tuổi thấy tám mươi, bảy tuổi thấy cả đời”.
Mà tính quan trọng của thai giáo, y học tâm lý hiện đại đang từng bước đưa ra thực chứng cho chúng ta. Bác sĩ tâm lý hiện đại trứ danh nước Mỹ là Tiến sĩ Brian Weiss trong quyển sách “Through Time Into Healing” do ông trước tác có nhắc đến, trong kinh nghiệm nhiều năm dùng liệu pháp chữa trị thôi miên hồi tưởng điều trị cho bệnh nhân của ông, phát hiện năng lực cảm nhận, học tập của trẻ sơ sinh trong thai rất mạnh. Ông ấy nhắc đến: “Ký ức của thời kỳ tử cung, chứng minh ý thức trước khi xuất sanh không những tồn tại, hơn nữa rất sống động, sức cảm nhận của trẻ sơ sinh hay thai nhi mạnh hơn nhiều so với chúng ta biết. Chúng có thể cảm nhận, tích hợp lượng lớn thông tin. Cho nên, chúng ta ứng nên suy nghĩ lại làm thế nào tương tác với những sinh mạng nhỏ bé này. Những sinh mạng nhỏ bé này phi thường nhạy bén, sự quan ái mà chúng ta biểu đạt thông qua nói chuyện, tư tưởng, cảm giác, chúng đều có thể cảm ứng nhạy bén.” Từ trong kinh nghiệm chữa trị thôi miên của Bác sĩ Weiss chúng ta càng thể hội sâu sắc, cổ nhân chúng ta xem trọng thai giáo là tuyệt đối chính xác. Ứng nên ra sức đề xướng, bồi dưỡng Thánh Hiền đại đức.
V. Học Nho và Nho học
Năm ngoái Tịnh Không nhận lời mời của Đại sứ Thái Lan cùng trụ sở UNESCO đồng tổ chức hoạt động lớn mạnh “Khánh chúc ngày lễ Vesak năm 2550” vào tháng 10 năm 2006. Mục đích Tịnh Không tham gia hoạt động tại Paris có hai; một là hướng Liên Hiệp Quốc báo cáo “tôn giáo là có thể đoàn kết tương trợ hợp tác”. Hai là hóa giải xung đột, khôi phục an định hòa bình, cần phải dùng phương pháp mở lớp dạy học của Thích-ca Khổng tử mới có thể thực hiện, “nhân dân là có thể dạy cho tốt được”.
Tịnh Không trong quá khứ từng tham gia mười lần hội nghị hòa bình quốc tế, trong đó bảy lần do UNESCO chủ đạo; tám lần phát biểu diễn giảng chủ đề. Sau hội nghị, mọi người bày tỏ đối với lý niệm “lấy giáo dục luân lý đạo đức hóa giải xung đột, xúc tiến xã hội an định, thế giới hài hòa” mà Tịnh Không đưa ra đều dành sự tán thán khẳng định, nhưng luôn cho rằng điều này chỉ là lý tưởng mà không có cách nào thực tiễn! Thế là suy đi nghĩ lại, cần phải kiến lập một điểm thử nghiệm, mới có thể tăng trưởng tín tâm của các hội viên quốc tế. Vừa vặn gặp gỡ đồng học thiện tâm ở Malaysia quyên trợ, lại được phụ lão quê hương ủng hộ, lựa chọn thị trấn nhỏ Thang Trì làm thử nghiệm, thành lập “Trung tâm Văn hóa Giáo dục” để bồi dưỡng giáo viên, thúc đẩy giáo dục toàn dân, hy vọng ba năm có thể thấy thành hiệu. Trung tâm dạy học chưa đến nửa năm, đã đạt đến hiệu quả thức tỉnh lương tri lương năng của nhân dân; dân phong Thang Trì cải thiện rõ rệt, thành quả thật là điều ban đầu chưa lường đến được!
Nhận thấy điều này, Tịnh Không trong hội nghị tại Paris, đặc biệt thỉnh mời thầy giáo và đồng nghiệp của trung tâm Lư Giang, tại hội trường lớn trụ sở UNESCO, hướng bạn bè các nước giới thiệu thành tựu học tập “Đệ Tử Quy” của nhân dân Thang Trì. Đại biểu các tôn giáo và nhân sĩ tham dự không ai không chuyên tâm nghe giảng, phản hồi tốt đẹp. Chúng ta chân thành hướng bạn bè quốc tế chứng minh “tôn giáo xác thực là có thể đoàn kết!”, “nhân dân xác thực có thể dạy cho tốt được!” Chúng ta kiền thành kính mời các bậc chí sĩ nhân nhân làm công tác hòa bình quốc tế, quang lâm Thang Trì tham quan chỉ giáo! Sau hội nghị, nhờ Phó Đại sứ Thái Lan nhận lời mời cùng dùng bữa. Đại sứ đối với hội nghị lần này vô củng vừa ý, tán thán nội dung hội nghị cùng trật tự tốt đẹp, bầu không khí hài hòa, trước nay chưa từng có. Tháng 12 năm 2006, một vị trưởng lão nhận được sự tôn trọng sâu sắc của chính phủ Úc, cựu Hội trưởng Hội Phật giáo bang New South Wales 0 ông Graeme Lyall AM, sau khi tham quan Trung tâm Văn hóa Giáo dục Lư Giang, không ngừng nói với mọi người, “Chuyến đi học tập đến Lư Giang lần này, là một chuyến đi có giá trị nhất trong một đời này của tôi”, “Nếu có thể ứng dụng (giáo dục giá trị truyền thống), dạy bảo một loại ‘Đệ Tử Quy’ đã được cải biên cho xã hội phương Tây, xã hội của chúng ta nhất định sẽ đạt được lợi ích.” Mục đích thử nghiệm của chúng ta đạt được rồi! Nói lên giáo dục truyền thống cổ xưa của thế giới, đối với sự giáo hóa của người hiện đại, vẫn có hiệu quả.
Sau đó nhận lời mời thăm viếng hai trường London, Cambridge, cùng các giáo sư, nghiên cứu sinh của Viện nghiên cứu Hán học làm diễn giảng một giờ đồng hồ, tiến hành giao lưu, hết sức hoan hỉ. Cảm nhận sâu sắc học giả châu Âu hiện nay tuy nhiệt tâm đối với Hán học, nhưng chỉ dừng lại ở thảo luận học thuật, chưa được thọ dụng chân thật. Nên lúc giảng bài, đặc biệt nhấn mạnh “Nho học, Đạo học, Phật học” cùng “học Nho, học Đạo, học Phật” hoàn toàn không giống nhau. Chỉ có chân chánh phát tâm học Thánh học Hiền, bắt đầu từ thân tâm chính mình, ở trong đời sống hằng ngày lấy chư Thánh Khổng Mạnh làm tấm gương, bớt lỗi lầm biết điều sai, chánh tâm thành ý, mới được niềm hỷ lạc chân chánh “phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, có bạn từ phương xa đến chẳng phải vui sao”. Nếu chỉ dừng lại ở thảo luận học thuật, thì tuyệt đối không có sự hỷ duyệt của việc khế nhập cảnh vực Thánh Hiền để nói, càng không thể nào thu được trí tuệ viên mãn hóa giải xung đột mâu thuẫn, khôi phục thế giới hài hòa an định. Sau buổi học, Giáo sư David McMullen của Đại học Cambridge đặc biệt mời Tịnh Không ăn trưa, hy vọng ngày sau có duyên đến trường đó giảng dạy khóa trình hai, ba tuần. Chuyến viếng thăm lần này cảm nhận sâu sắc văn hóa truyền thống thế giới và vận mệnh thế giới có quan hệ mật thiết. Lấy đó phát tâm hiệp trợ bồi dưỡng giáo viên giáo dục văn hóa truyền thống, là khóa đề quan trọng trước mắt.
VI. Kiến nghị biện pháp cụ thể khả thi
Ngày nay chư vị nhân nhân chí sĩ gặp nhân duyên hi hữu này tụ họp một đường, trao đổi tâm đắc. Chúng ta hy vọng diễn đàn này thực sự có thể vì “xã hội hài hòa, thế giới hài hòa” bỏ ra hành động cụ thể. Người có chí hướng ứng nên thể nhận sâu sắc, khóa đề cực kỳ quan trọng của thế giới trước mắt, là bồi dưỡng nhân tài thừa truyền “vì Thánh Hiền đời trước kế thừa tuyệt học, vì vạn đời sau mở ra thái bình”. Trong quá khứ, Thánh vương Trung Quốc tuyển bạt nhân tài, lấy “hiếu liêm” làm tiêu chuẩn. Hiếu, thì có thể tận trung vì nước. Liêm, thì giữ mình không tham ô. Kẻ sĩ hiếu liêm, ắt có thể toàn tâm cống hiến phục vụ vì nước vì dân. Ngày nay, chúng ta mong mỏi sâu sắc do quốc gia thành lập một “Viện Nghiên cứu Hán học” hoặc “Trung tâm Văn hóa Truyền thống Thế giới”, bồi dưỡng giáo viên Thánh học, quang đại giáo dục luân lý đạo đức truyền thống Thánh triết. Điều kiện tuyển bạt giáo viên lấy cụ túc “thành kính, nhân ái, hiếu liêm, hiếu học” làm tiêu chuẩn nhập học. Trung tâm cung cấp những điều kiện tất yếu cho sinh hoạt của các thầy giáo, khiến họ tuyệt đối không có nỗi lo về sau, chuyên tâm hướng học. Lấy “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp” thực tiễn giáo dục luân lý đạo đức. Sau đó một môn thâm nhập, mười năm khổ tu, ngày ngày giảng tập, ắt có ngộ nhập. Đồng thời đem nội dung giảng tập mỗi ngày, do Bộ Giáo dục quốc gia giám sát thẩm định sau, phàm có ích cho xã hội quốc gia an định, thế giới hài hòa, thì tuyên dương rộng rãi. Lợi dụng truyền hình vệ tinh, mạng internet v.v… dạy học từ xa, hai mươi bốn giờ luân phiên phát sóng, giáo hóa trải khắp toàn cầu. Như vậy, người nghiên cứu học tập đã có thể độc thiện kỳ thân, lại có thể kiêm thiện thiên hạ. Mà quốc gia thì có thể chân chánh thực tiễn giáo dục luân lý đạo đức toàn dân. Tin tưởng trong vòng ba năm, đối với xã hội an định hài hòa, nhân dân hạnh phúc an vui, tất nhiên sẽ sản sinh hiệu quả hết sức rõ rệt.
Từ đây có thể biết, chỉ có thân giáo và ngôn giáo cùng tiến hành nhất trí, dạy học mới có thể thật sự đạt được sức ảnh hưởng sâu xa. Chư vị nhân giả quả nhiên có thể lấy “học vi nhân sư, hành vi thế phạm” làm trách nhiệm của mình, ắt sẽ tốt hơn mà kế thừa sự nghiệp Thánh Hiền ngàn thu muôn đời; mà sự phục hưng của văn hóa truyền thống Nho Thích Đạo, cũng sẽ mang lại hòa bình hạnh phúc chân chánh cho nhân loại trên thế giới. Bên trên là một chút thiển kiến của Tịnh Không trong nhiều năm học tập, kính mong nhân nhân trưởng giả tham dự hội nghị, dành cho chỉ giáo!
Kính chúc chư vị nhân nhân đại đức
Thân tâm khỏe mạnh, phước huệ tăng thượng, cát tường như ý!
Thích Tịnh Không AM
Giáo sư thỉnh giảng Đại học Nhân dân Trung Quốc
Tiến sĩ danh dự Đại học Hồi giáo Quốc gia Syarif Hidayatullah Indonesia
Tiến sĩ danh dự Đại học Griffith, Đại học Nam Queensland Úc Châu
Giáo sư danh dự Đại học Griffith, Đại học Queensland Úc Châu
(Cẩn dịch: Hoàng Anh Việt)
Ý Tưởng Giáo Dục Thư Viện Truyền Thống
Bồi dưỡng giáo viên dạy học văn hóa truyền thống (ba nhà Nho Thích Đạo)
“Lễ Ký” nói: “Dựng nước quản dân, dạy học làm đầu”. Từ xưa Thánh vương chúng ta trị quốc, đều lấy giáo dục luân lý đạo đức nhân quả làm căn bản. Giáo dục văn hóa truyền thống không chỉ là cội nguồn kéo dài không đứt đoạn năm ngàn năm của dân tộc chúng ta, càng là viên ngọc quý của văn minh nhân loại, là chân thiện mỹ huệ vốn cụ túc trong tâm tánh của tất cả chúng sanh.
Ở vào thời khắc tồn vong kế tuyệt của văn hóa nhân loại này, làm thế nào giúp đỡ nhân loại thế giới chân chánh bồi dưỡng giáo viên ưu lương của văn hóa truyền thống (ba nhà Nho Thích Đạo), quang đại sự giáo hóa của Thánh Hiền, thực là nền tảng quan trọng nhất để kiến thiết thế giới đại đồng hài hòa an định.
Một, hy vọng có mười vị chí sĩ nhân nhân thật sự đầy đủ “hiếu liêm, thành kính, hiếu học”, có thể trì giới chịu khổ, lập chí vì Thánh Hiền đời trước kế thừa tuyệt học, vì thiên hạ mở ra thái bình, vạn duyên buông xuống, đóng cửa cấm túc, khổ học mười năm.
Hai, người học cần phải đem “Đệ Tử Quy” của Nho, “Thập Thiện Nghiệp” của Phật, “Cảm Ứng Thiên” của Đạo, (chúng xuất gia thì thêm vào “Sa-di Luật Nghi”) thiết thực thi hành, kiến lập nền tảng đức hạnh Thánh Hiền. Bằng không cho dù xem rộng các sách, cũng chỉ thành nghiên cứu học thuật, không thể biến hóa khí chất, chuyển phàm thành Thánh.
Ba, sau khi cắm vững ba cái gốc, người học có thể ở trong điển tịch của ba nhà tùy ý chọn một bộ, một môn thâm nhập, trường thời huân tu mười năm. Mỗi người mỗi ngày đưa ra báo cáo học tập nửa giờ đồng hồ.
Bốn, đồng học mỗi ngày thâm nhập khóa trình chuyên tu của chính mình, đồng thời lại có cơ hội lắng nghe báo cáo tâm đắc của đồng học khác, ngày ngày cùng nhau trau dồi học hỏi, mười năm sau nhất định trở thành giáo viên ưu lương đức học vẹn toàn, xác thực có thể thừa truyền quang đại Thánh học.
Kính cẩn đem ý tưởng lý niệm thuật trên, cúng dường chư vị nhân giả. Tịnh Không vui mừng mong chờ điều này thành tựu.
Thích Tịnh Không kính trình, ngày 12 tháng 8 năm 2007
Văn Hóa Truyền Thống Và Xã Hội Hài Hòa
Giáo dục nâng cao tố chất tâm hồn
Bài giảng tại Đại học Trịnh Châu, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Một, Lời nói đầu
Kính thưa quý vị lãnh đạo nhà trường, kính thưa quý vị khách quý trong và ngoài nước, cùng toàn thể các bạn học sinh: Chào mọi người!
Lần này Tịnh Không nhờ sự mời gọi của lãnh đạo tỉnh Hà Nam, tham dự đại điển tế bái Hoàng Đế. Lại nhờ trường đại học mời, đến tham quan học tập tại quý trường, có duyên tụ hội một đường cùng các vị nhân giả đại đức, nói về báo cáo tâm đắc học tập văn hóa truyền thống. Tịnh Không cảm thấy vô cùng vinh hạnh, vô cùng khó được!
Hai, Suối nguồn của hài hòa an lạc
Con cháu Trung Hoa, không ai không tự xưng là “con cháu Viêm Hoàng”. Gần đây, người em họ trong gia tộc đem gia phả trân tàng nhiều năm cho tôi xem, một xấp rất dày, 33 tập. Gia tộc họ Từ có thể truy ngược lên hơn 4.500 năm, đời đời tương truyền, đến đời của tôi, là cháu chắt đời thứ 136 của Hoàng Đế. Hoàng Đế có 25 người con trai, họ Từ này, là từ người con trai thứ hai của ngài là Xương Ý truyền xuống. Những nguồn gốc này, chúng ta từ trong gia phả, ghi chép lịch sử của Trung Quốc đều có thể khảo chứng được, vô cùng rõ ràng. Tìm về nguồn cội, đối với việc “con cháu Viêm Hoàng đều là người một nhà” sẽ có khái niệm rõ nét. Đặc biệt là lần này tham dự đại điển tế bái Hoàng Đế, càng cảm thấy thân thiết nhân lên gấp bội.
Trước đây ở Trung Quốc nhà nhà đều có gia phả, có ghi chép chi tiết về lịch sử của toàn bộ gia tộc. Biết được lịch sử gia tộc, đối với gia tộc tự nhiên sanh khởi tình cảm thân yêu. Người có thể yêu nhà, mới biết yêu nước. Và dần dần đem tâm yêu thương mở rộng đến toàn dân tộc, toàn nhân loại, đối với thiên địa vạn vật, đạt đến cảnh giới đại đồng “thế giới một nhà, vũ trụ hài hòa”. Người Trung Quốc xem trọng gia phả nhất, thật sự có ý nghĩa quan trọng của nó.
Phần quan trọng hơn trong gia phả là gia huấn. Các bậc trưởng bối đem tinh hoa thể nghiệm nhân sanh đời đời của lão tổ tông tương truyền hết đời này sang đời khác, dung hội quán thông, ghi chép thành văn tự, làm mẫu mực cho hậu thế học tập. Con cháu đời sau thừa hưởng kết tinh kinh nghiệm trí tuệ ngàn trăm năm của tiền nhân, có thể tránh đi rất nhiều con đường oan uổng. Đây là của báu của văn hóa nhân loại, cũng là suối nguồn văn minh vật chất, tinh thần của nhân loại. Ngày nay nhân loại sơ suất truyền thống, sơ suất kết tinh trí tuệ của lão tổ tông, chỗ nào cũng chú trọng đổi mới, tự cho là tiến bộ. Nào ngờ đi đến cuối đường, không còn đường để tiến, mới dần dần thể hội sự trân quý của văn hóa truyền thống, sự cao minh của trí tuệ lão tổ tông.
Bạn chẳng thấy xã hội ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, nhưng lại đồng dạng đối mặt với hoàn cảnh nghèo nàn thiếu thốn bế tắc, so với trước đây, thật sự có phần hơn chứ không kém. Vì sao vậy? Cái gọi là “nghèo” có hai loại, một loại là sự thiếu thốn về đời sống vật chất, một loại khác là sự thiếu thốn về văn hóa tinh thần. Gần đây các bạn học ở Bắc Kinh mời tôi cùng mọi người nói về “làm thế nào để tiến hành xóa đói giảm nghèo về tinh thần, xóa đói giảm nghèo về văn hóa”, có thể thấy tính nghiêm trọng của vấn đề này tồn tại trong xã hội hiện đại. Suy nghĩ kỹ xem, vật chất và tinh thần, hai cái này cái nào quan trọng hơn? Chúng ta hãy nhìn xem xưa nay trong ngoài nước, các bậc đại hiền đại Thánh, hầu như đời sống vật chất đều khá là nghèo nàn, ở Trung Quốc, Khổng Tử, Mạnh Tử mà các vị đều biết, đều thuộc hạng thanh bần. Đặc biệt là học trò của Khổng Tử là Nhan Hồi, đây là một vị môn sanh đắc ý nhất của phu tử, phu tử thường hay tán thán ông. Nhưng ông ở trong tất cả bạn học, đời sống vật chất là nghèo nàn nhất. Giỏ cơm bầu nước, ăn cơm ngay cả một cái bát cũng không có. Dùng tre đan thành một cái giỏ nhỏ, làm bát đựng cơm; uống nước dùng một cái bầu, không có ly. Qua đời sống như vậy, ông vô cùng vui vẻ; học rồi thường xuyên ôn tập, chẳng cũng vui sao. Từ đây có thể biết, hạnh phúc an vui và đời sống vật chất không liên can với nhau, chúng ta cần phải từ chỗ này mà tìm tòi.
Cho nên Thánh hiền, Phật Bồ-tát thị hiện cho chúng ta thấy, đời sống hạnh phúc an vui rốt ráo có phải là kiến lập trên sự hưởng thụ vật chất hay không? Thích-ca Mâu-ni Phật của Ấn Độ xuất thân là vương tử, mười chín tuổi buông bỏ vương vị, xả bỏ đời sống vinh hoa phú quý, đi ra ngoài cầu học. Cả đời ngài kiên trì ba y một bát, ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới gốc cây; không lấy đó làm khổ, ngược lại vô cùng an vui. Lúc bấy giờ biết bao quốc vương, đại thần, đại phú trưởng giả, đều làm đệ tử của ngài, đều hướng ngài học tập. Nhưng Thế Tôn không nhận sự cúng dường của họ, cả đời không xây qua tự miếu. Thỉnh thoảng cũng nhận lời thỉnh mời, ở trong giảng đường tinh xá của họ giảng học thụ khóa, giảng xong liền đi. Cuối cùng nhập diệt giữa rừng cây Song Thọ, không ở trong phòng ốc. Lúc ra đi là ở ngoài đồng trống, sự thị hiện này ý nghĩa rất sâu, là đang nói với chúng ta, hạnh phúc an vui là kiến lập trên nền tảng văn hóa tinh thần, hoàn toàn không liên quan gì với đời sống danh lợi và ngũ dục lục trần. Chúng ta cần phải đối với việc này thể hội sâu sắc, mới thật sự biết được nên buông bỏ.
Ba, Tự tánh vốn đầy đủ hết thảy vạn pháp
Thích-ca Mâu-ni Phật khi còn trẻ, xuất thân vương tử, thông minh tuyệt đỉnh, chúng ta có thể tưởng tượng được, cơ duyên của ngài nhất định vô cùng thù thắng. Mười chín tuổi đi ra ngoài tham học, tất cả cao nhân của các tôn giáo, đại sư của giới học thuật ở Ấn Độ lúc bấy giờ, ngài đều có cơ hội tiếp xúc. Học mười hai năm, đến năm ba mươi tuổi, cho rằng những học thuật tôn giáo này đều không rốt ráo. Vì sao không rốt ráo? Ba vấn đề không thể giải quyết, thứ nhất, phiền não và đau khổ của chúng sanh, như sanh, già, bệnh, chết, cầu không được, yêu thương phải chia lìa, oán ghét phải gặp gỡ v.v…, là từ đâu đến. Không ai biết. Thứ hai, vì sao lại có lục đạo luân hồi? Không ai biết. Thứ ba, ngoài lục đạo ra thì còn có thế giới nào nữa không? Cũng không có ai biết. Cho nên nói mười hai năm tham học không rốt ráo, không thể giải quyết nghi vấn. Thế là ngài lại đến dưới cội cây to bên bờ sông Hằng, tĩnh tọa nhập định, đem những gì học được trong mười hai năm thống thống buông xuống. Vừa buông xuống này, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, tất cả nghi vấn thống thống giải quyết rồi. Sự biểu diễn này của Thích-ca Mâu-ni Phật, khiến chúng ta lãnh ngộ sâu sắc, ranh giới giữa thế gian pháp và xuất thế gian pháp chính là nằm ở “triệt để buông xuống”! Bốn thiền tám định của thế gian, có thể đột phá không gian duy thứ trong tam giới, nhưng chưa đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thật sự buông xuống, thì gọi là “thế gian pháp”. Buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mới là “xuất thế gian pháp”. Thế xuất thế pháp rõ ràng rành rẽ. Đổi lời mà nói, thế gian pháp bạn học cũng được, không học cũng được; Thích-ca Mâu-ni Phật thị hiện học mười hai năm, sau đó buông bỏ!
Ở nước ta cũng xuất hiện một vị Phật, Lục Tổ Huệ Năng Đại sư của Thiền tông, ngài thị hiện cho chúng ta, không biết chữ, chưa từng đi học, cũng chưa từng đi tham học. Thích-ca Mâu-ni Phật học mười hai năm, ngài một ngày cũng chưa từng học qua. Ngũ Tổ giảng đại ý kinh Kim Cang cho ngài, giảng đến “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Huệ Năng hoát nhiên đại ngộ. Ngài ngộ bằng cách nào? Vọng tưởng phân biệt chấp trước buông xuống rồi. Cho nên, buông bỏ liền đúng!
Sau khi buông bỏ, cảnh giới của ngài và cảnh giới của Thích-ca Mâu-ni Phật thị hiện dưới cội bồ-đề hoàn toàn giống nhau. Trên Đàn Kinh có ghi chép, ngài nói ra cảnh giới triệt ngộ: “Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh”, tự tánh là bổn tánh, chân tánh của chúng ta. Cổ nhân Trung Quốc cũng nói “nhân tánh bổn thiện”, chữ “thiện” ý nghĩa rất rộng, thanh tịnh là thiện, vốn dĩ thanh tịnh, không có ô nhiễm. “Nào ngờ tự tánh vốn không sanh diệt”, không có sống chết. “Nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ”, “đầy đủ” là không có khiếm khuyết. Đầy đủ cái gì? Phật trên kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng của Như Lai”, Như Lai chính là tự tánh, chúng ta cùng với hết thảy chư Phật giống nhau, tự tánh vốn đầy đủ trí tuệ, đức hạnh, năng lực, phước báo viên mãn, vô lượng vô biên, bình đẳng bình đẳng. Năng Đại sư giác ngộ rồi mới biết, mới phát hiện ra. Chúng ta ngày nay là mê mất, hoàn toàn không phải thật sự mất đi; chỉ là mê, không khởi tác dụng. Lại nói “Nào ngờ tự tánh vốn không dao động”, “dao động” chỉ cho ý niệm. Phàm phu niệm trước diệt niệm sau sanh, vọng niệm bay lượn, là giả, là vọng niệm. Chân tâm không động. Cuối cùng nói “Nào ngờ tự tánh có thể sanh vạn pháp”, câu nói này rất quan trọng, vũ trụ từ đâu mà đến? Mười pháp giới từ đâu mà đến? Lục đạo luân hồi từ đâu mà đến? Là do tự tánh biến hiện ra, cho nên Hoa Nghiêm giảng “chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”, tự tánh có thể sanh vạn pháp.
Huệ Năng nói ra năm câu nói này, Ngũ Tổ rất hoan hỷ, được rồi, thật sự khai ngộ rồi, liền đem đốn giáo và y bát truyền cho ngài, ngài chính là Tổ sư đời thứ sáu. Lúc đó Năng Đại sư hai mươi bốn tuổi, ngài biểu diễn cho chúng ta thấy – buông xuống là đúng! Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước buông không xuống thì gọi là phàm phu, buông xuống chính là Phật. Chúng ta khi nào buông xuống, thì khi đó thành Phật. Nên biết “hết thảy chúng sanh vốn dĩ là Phật”, thành Phật tức là tự tánh viên mãn lưu lộ, tự tánh thuần tịnh thuần thiện. Cho nên ngày nay chúng ta nói xóa đói giảm nghèo về tinh thần, xóa đói giảm nghèo về văn hóa, ở trong Phật pháp, chính là triệt để tiêu diệt sự phân biệt giàu nghèo một cách rốt ráo. Nghèo không còn, giàu cũng không tồn tại. Giàu nghèo là đối lập. Tự tánh không có vọng tưởng, không có phân biệt, không có chấp trước, đây mới thật sự đạt được đại viên mãn.
Sự thị hiện của hai vị Phật Thích-ca, Huệ Năng, nếu chúng ta có thể thể hội, liền được đại tự tại, đại trí tuệ, đại phú quý, thành tựu đại đức đại năng. Bởi vì chúng ta vốn dĩ là Phật, giáo dục Thánh hiền chính là giúp đỡ chúng ta khôi phục tánh đức, chỉ như vậy mà thôi. Đầu tiên chúng ta đem đại tiền đề nói ra, các vị từ chỗ này kiến lập tín tâm thanh tịnh, con đường này đi như thế nào, liền rõ ràng rồi.
Bốn, Trở về tự tánh, phản phác quy chân
Trên toàn thế giới, người xưa chúng ta có thể nói là hiểu rõ giáo dục nhất; hiểu sâu sắc nội hàm chân thật và tính quan trọng của giáo dục, năm ngàn năm trước lão tổ tông liền nói ra “nhân tánh bổn thiện”. Trong Luận Ngữ nói “nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, có phải là sự phát minh của Khổng Tử không? Không phải, Khổng Tử tự nhận cả đời thuật nhi bất tác. Cũng tức là nói, những gì ngài học, ngài hành, ngài giảng, ngài dạy, đều là do cổ Thánh tiên hiền truyền thuật. Thích-ca Mâu-ni Phật cùng với Khổng Lão phu tử giống nhau, cũng là thuật nhi bất tác, cả đời ngài tu ngài giảng, đều là do cổ Phật truyền lại. “Cổ Phật”, tức là tự tánh vốn đầy đủ, tự tánh vốn có, không phải học mà có được.
Cho nên người xưa chúng ta bàn về giáo dục, tám câu phía trước của Tam Tự Kinh là tổ truyền. “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện. Tánh tương cận, tập tương viễn. Cẩu bất giáo, tánh nãi thiên. Giáo chi đạo, quý dĩ chuyên”. Bàn đến giáo dục tinh thần, giáo dục văn minh, tám câu này là nguyên tắc chỉ đạo tối cao. Nguyên tắc này là chân lý, vượt khỏi không gian, vượt khỏi thời gian. Vượt khỏi không gian, không có sự phân biệt trong ngoài nước; vượt khỏi thời gian, không có sự phân biệt cổ kim, vạn cổ thường tân, nên gọi là chân lý. Vi phạm nó, liền sẽ rước lấy rắc rối, sẽ rước lấy tai nạn. Sau khi giác ngộ rồi, vốn dĩ là như vậy. Thuận theo con đường này mà đi, đây là một con đường khang trang, con đường siêu phàm nhập Thánh.
“Nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, chữ “sơ” này không phải nói là lúc mới sinh ra, mà là “vốn dĩ”, tự tánh của bạn vốn dĩ là thiện, hiện tại vẫn là thiện, vĩnh hằng bất biến, thuần tịnh thuần thiện. Tại sao hiện tại bất thiện? Bên dưới nói, “tánh tương cận, tập tương viễn”, then chốt nằm ở “tập”. Xét từ “tánh” mà nói, phàm phu và Phật Thánh không có hai khác, tánh thể, tánh đức, tánh tướng, tánh dụng, hoàn toàn tương đồng. Nếu như mê mất tự tánh, liền tùy thuận thói quen, cái gọi là “gần son thì đỏ, gần mực thì đen”, phàm phu nhất định chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài, thế là giáo dục liền vô cùng quan trọng. “Cẩu bất giáo, tánh nãi thiên”, nếu như không dạy, họ sẽ thuận theo hoàn cảnh mà nảy sanh biến hóa; tiếp xúc hoàn cảnh bất thiện liền trở nên bất thiện. Nhưng bất thiện thuộc về tập tánh, không phải bổn tánh. Thế là giáo dục từ đây hưng khởi. Phương pháp dạy thế nào? “Giáo chi đạo, quý dĩ chuyên”. Nhà Phật nói giới định tuệ tam học, “định” là then chốt; chữ “chuyên” này chính là định. Cái gọi là “nhân giới sanh định, nhân định khai tuệ”, “tuệ” là mục tiêu chung cực, là bổn giác. “Giới” là quy củ, y theo những phương pháp, quy củ này học tập, liền có thể được “định”. Định sanh tuệ, trí tuệ mở rồi, mới có thể thật sự giải quyết hết thảy vấn đề.
Giáo dục hiện đại để học sinh học rất nhiều, học rất tạp, hiệu quả thế nào? Học được rất nhiều kiến thức, nhưng tâm bềnh bồng khí nóng nảy. Tâm bềnh bồng khí nóng nảy và tự tánh là tương phản một trăm tám mươi độ, chẳng những đạo nghiệp không thể thành tựu, học thuật thế gian đều không thể thành tựu. Tất cả học thuật thế gian đều cần phải chuyên tâm mới có thể học được thành công, tâm bềnh bồng khí nóng nảy làm sao được thành tựu!
Năm, Điểm khởi nguồn của giáo dục, cha con có tình thân
Ngày nay toàn thế giới đều đang tìm tòi làm thế nào để hóa giải xung đột, làm thế nào có thể khôi phục an định hòa bình. Con đường giải quyết triệt để, vẫn phải dựa vào giáo dục văn hóa do tiên tổ Hoàng Đế truyền lại. “Cha con có tình thân, vua tôi có cái nghĩa, vợ chồng có sự khác biệt, lớn nhỏ có thứ tự, bạn bè có chữ tín”, giáo dục ngũ luân này không phải ai phát minh ra, không phải ai sáng tạo ra, mà là tánh đức vốn có của hết thảy chúng sanh. Cũng tức là nói, vốn dĩ là như vậy, nó là pháp tắc vận hành của đại tự nhiên, trật tự vốn có của đại tự nhiên. Quy luật của đại tự nhiên chính là “đạo”, con người có thể tùy thuận đại tự nhiên chính là “đức”. Tùy thuận quy luật của tự nhiên, xưng là “đức hạnh”. Vi phạm tánh đức, hết thảy vấn đề phức tạp rối ren của thiên tai nhân họa ắt sẽ theo đó mà sanh.
Điểm khởi nguồn của giáo dục bản tánh vốn thiện trong văn hóa truyền thống, chính là “cha con có tình thân”. “Thân ái”, tình thương yêu này của cha mẹ đối với con cái, con cái đối với cha mẹ là thiên tánh. Hiện tại cha con không có tình thương yêu, đó là tập tánh, không phải thiên tánh. Thiên tánh nhìn từ chỗ nào? Cẩn thận quan sát vô cùng rõ rệt, đứa trẻ sinh ra ba, bốn tháng, bạn xem biểu hiện tình thương yêu đó của con cái đối với cha mẹ, cha mẹ đối với con cái, hoàn toàn là vô điều kiện, đây là thiên tánh. Đợi đứa trẻ từ từ lớn lên liền thay đổi, đó là gì? Tập tánh. Tại sao hiện tại con cái không hiếu? Cha mẹ không từ? Đều là tập tánh nắm quyền làm chủ, mê mất đi thiên tánh, cho nên nảy sanh rất nhiều vấn đề xã hội. Giáo dục truyền thống chúng ta là giáo dục của tình yêu thương chân thành. Mục đích đầu tiên của giáo dục, là hy vọng “cha từ con hiếu”, để tình thương yêu vốn có của cha con vĩnh viễn bảo trì, đời này quyết định không thay đổi. Kế tiếp, từ điểm khởi nguồn này xuất phát, sau đó đem nó phát dương quang đại, từ yêu cha mẹ của mình mở rộng đến yêu gia đình, yêu gia tộc, yêu xóm làng, yêu xã hội quốc gia, yêu toàn bộ nhân loại! Đệ Tử Quy nói “Phàm là người, đều yêu thương”, đem tâm yêu thương mở rộng đến hư không pháp giới, quyết định không có ý niệm tổn hại chúng sanh.
Sáu, Nội hàm của giáo dục văn hóa truyền thống
Tình yêu thương chân thành cần phải thực tiễn trong đời sống hàng ngày, trong cách đối nhân xử thế. Nếu không thì chỉ thành Nho học, Phật học, là một loại tư tưởng học thuật, không cách gì giải quyết vấn đề. Chỉ có dốc sức thực hành, học Nho học Phật, học Thánh học Hiền, mới được trí tuệ chân thật, thọ dụng chân thật – Khổng Tử nói “học rồi thường xuyên ôn tập, chẳng cũng vui sao”, nhà Phật nói “thường sanh tâm hoan hỷ, pháp hỷ sung mãn”.
Tình yêu thương chân thành thực tiễn trong đời sống, chính là hiểu được tôn trọng người khác, đây là biểu hiện của tình yêu. Không hiểu được tôn trọng, liền không có tâm yêu thương. Thật sự yêu người, nhất định hiểu được tôn trọng người khác, kính yêu người khác, quan tâm người khác, chăm sóc người khác, giúp đỡ người khác. Người khác không tôn trọng tôi, tôi tôn trọng họ; người khác không kính yêu tôi, tôi kính yêu họ. Đây gọi là học Nho, học Phật, học Đạo. Nếu không như vậy, cho dù giảng nói hoa trời rơi rụng, trứ tác ngang thân, cũng chỉ dừng lại ở Nho học, Đạo học, Phật học. Nho gia làm học vấn có năm thứ đệ: “Bác học, thẩm vấn, thận tư, minh biện, đốc hành”. Nho học chỉ dừng lại ở bốn cái trước, không có thật sự đốc hành. Đốc hành cần phải bắt đầu từ việc tôn trọng người khác, kính yêu người khác. Đặc biệt đối với người phạm lỗi lầm, chúng ta xem thường họ, tôi sai rồi. Nên biết họ phạm lỗi lầm là tập tánh của họ, bổn tánh vốn thiện của họ không thay đổi, họ vốn dĩ là Phật, bổn giác bổn thiện, chúng ta không thể xem thường họ. Đây là hai loại khác biệt của “Nho học” “học Nho”, “Phật học” “học Phật”. Then chốt nằm ở chỗ đốc hành thực tiễn.
Vua tôi trong ngũ luân, cũng chính là quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo nói hiện nay. Một công ty doanh nghiệp, ông chủ là người lãnh đạo, nhân viên là người bị lãnh đạo. Ông chủ làm sao yêu cấp dưới của bạn, yêu nhân viên của bạn? Nhân viên làm sao yêu ông chủ? Đây là “nghĩa”. Tình thương yêu của cha con biểu hiện giữa cấp trên và cấp dưới xưng là “nghĩa”.
Biểu hiện ở vợ chồng chính là “vợ chồng có sự khác biệt”. “Khác biệt” là trách nhiệm bất đồng. Vợ chồng tổ chức thành một gia đình, gia đình là đơn vị nhỏ nhất của xã hội, một tế bào. Hai công việc quan trọng trong gia đình, một là kinh tế gia đình, một là giáo dục thế hệ sau. Cho nên nam chủ ngoài, nữ chủ trong. Nam giới ra ngoài mưu sinh, gánh vác kinh tế gia đình; phụ nữ thì ở nhà gánh vác sứ mạng giáo dục thế hệ sau. Trong quan trọng hơn ngoài. Người xưa chúng ta nói “bất hiếu có ba, không con nối dõi là lớn nhất”, “nối dõi” không phải nói là con cháu nhiều, mà là chỉ trong con cháu có người có thể kế thừa gia đạo, gia nghiệp hay không? Có người kế thừa truyền thống gia đình, kế thừa sự nghiệp gia đình hay không? Điều này phải dựa vào sự dạy bảo của người mẹ.
Từ đây mà biết, trong nhà có thể xuất sanh Thánh hiền hay không, hoàn toàn dựa vào sự giáo hóa của người mẹ. Khổng Tử là do người mẹ dạy ra, Mạnh Tử là do người mẹ dạy ra. Bậc cổ Thánh tiên vương của chúng ta vị nào không phải là do người mẹ dạy ra? Cho nên người Trung Quốc, người chồng gọi người vợ là “thái thái”. Có ý nghĩa gì chứ? “Thái thái” là bậc Thánh nhân, danh từ này là từ triều nhà Chu mà ra. Ba vị quân vương khai quốc triều nhà Chu đều là Thánh nhân. Châu Văn Vương, tổ mẫu của ngài là Thái Khương, mẫu thân của ngài là Thái Nhậm, phu nhân của ngài là Thái Tự. Thái Khương sanh Vương Quý, Vương Quý là phụ thân của Văn Vương; Thái Nhậm sanh Văn Vương, Thái Tự sanh Võ Vương, Châu Công, đều là bậc Thánh hiền. Cho nên ba vị phu nhân khai quốc triều Chu, người đời xưng là “tam Thái”, danh xưng “thái thái” từ đây mà có. Tổ chức gia đình, trong gia đình luôn hy vọng cô dâu mới bắt chước Thánh nhân, tương lai nuôi dạy con cái đều là bậc đại Thánh đại Hiền. Danh xưng này là vô cùng tôn quý biết bao! Ngày ngày gọi là “thái thái”, bản thân phải cảnh giác đến ta có giống Thái Khương không? Có giống Thái Nhậm không? Có giống Thái Tự không? Thái Nhậm khi mang thai Văn Vương liền bắt đầu giáo dục, xem trọng “thai giáo”. Khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đoan trang cẩn thận, vì sao vậy? Bà biết bản thân mình khởi tâm động niệm sẽ ảnh hưởng thai nhi, ngôn ngữ động tác cũng sẽ ảnh hưởng thai nhi. Do vậy, tất cả mọi tư tưởng ngôn hạnh bất thiện toàn bộ đều phải buông xuống, toàn bộ đều phải xả bỏ. Đứa trẻ sơ sinh bà sanh ra, chính là Châu Văn Vương. Triều nhà Chu hưởng quốc tám trăm năm, là triều đại dài nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cho nên danh xưng “thái thái” xác thực là vô cùng xuất chúng. Chữ “khác biệt” này chính là ở chỗ này, có một nhiệm vụ đặc biệt, bạn cần phải hoàn thành. Nếu không thì sự nghiệp của chính bạn làm huy hoàng hơn nữa, phía sau không người kế tục, công nghiệp vẫn bằng không.
Tình thương yêu thực tiễn trên anh em, chính là có “thứ tự”, “lớn nhỏ có thứ tự”. Thực tiễn trên bạn bè, thì là có “tín”. Chính là một chữ “yêu”, diễn biến ra nhiều danh từ thuật ngữ như vậy. Cho nên nội hàm giáo dục năm ngàn năm của Trung Quốc, từ trẻ thơ, người trưởng thành cho đến tuổi già, đều lấy tình thương yêu chân thành làm tông chỉ, không lìa giáo dục đạo đức ngũ luân.
Từ đây có thể biết, năm thứ đệ học tập “bác học, thẩm vấn, thận tư, minh biện, đốc hành”, chữ “hành” đặc biệt quan trọng, cần phải đem những gì học được của bốn cái trước, nghiêm túc thực tiễn. Thực tiễn quan trọng nhất là “tu thân”. Tu thân ở trong Đại Học nói rất rõ ràng (Trung Dung bàn về lý luận, Đại Học bàn về phương pháp), đầu tiên phải đem sự thèm khát đối với ngũ dục lục trần, danh văn lợi dưỡng, tận lượng buông bỏ. Trong Phật pháp nói “đoạn ác tu thiện”, đây là tu thân. Trong giảng dạy truyền thống của chúng ta nói “lời nói phải trung tín, hành động phải thành thực kính trọng, kìm hãm phẫn nộ, lấp kín dục vọng, hướng đến điều thiện, sửa đổi lỗi lầm”, cùng với ý “cần tu giới định tuệ, dập tắt tham sân si”, “đoạn ác tu thiện” mà Phật pháp nói là đồng một ý nghĩa. Cần phải lấy tu thân làm gốc, nhân nghĩa thắng hơn vật dục, mới có thể thật sự sửa mình dạy người. Từ sự hài hòa an lạc của tự thân, giúp đỡ hết thảy chúng sanh đối xử bình đẳng, chung sống hòa mục, đạt được sự hài hòa an lạc vĩnh hằng chân thật. Nếu như còn chịu sự dụ dỗ của danh lợi bên ngoài, tài sắc danh thực thùy, thì rất khó thành tựu, cần phải thời thời cảnh giác. Chịu sự dụ dỗ của dục vọng, là mê mất tự tánh, tùy thuận phiền não tập khí. Tùy thuận phiền não tập khí chính là tạo nghiệp, bất thiện nghiệp đã tạo nhất định cảm lấy quả báo bất thiện.
Bảy, Hoàn cảnh tự nhiên tùy tâm mà chuyển
Năm nay mỗi người trên toàn thế giới đều cảm thấy khí hậu dị thường, mùa đông ấm áp, là mùa đông ấm; hiện tại là mùa xuân, đáng lẽ bắt đầu ấm lên, nhưng lại biến thành mùa đông giá rét. Hiện tượng này chính là điều cổ nhân nói “thượng thiên thùy tượng”, lời cảnh cáo của đại tự nhiên đối với nhân loại. Chúng ta nên kiểm điểm sâu sắc. Phật pháp nói rất thấu triệt, “hoàn cảnh tùy tâm chuyển”, “hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh”, hoàn cảnh bên ngoài, hoàn cảnh nhân sự, hoàn cảnh tự nhiên đều là tùy theo tâm niệm của chúng ta mà chuyển. Tâm chúng sanh thiện, thì cảnh duyên không có gì không thiện, mặt trời mặt trăng trong sáng, mưa thuận gió hòa. Nếu như tâm chúng sanh chứa chấp điều bất thiện, tràn ngập tự tư tự lợi, tham sân si mạn, hoàn cảnh liền sẽ biến hóa dị thường, nhiều tai nhiều nạn. Trên Kinh Lăng Nghiêm nói rất rõ ràng, tâm tham lừng lẫy, cảm ứng nạn nước. Sân khuể cảm ứng nạn lửa, núi lửa phun trào, nhiệt độ tăng cao; trái đất nổi nóng chính là núi lửa phun trào. Ngu si cảm ứng nạn gió. Ngạo mạn cảm ứng động đất; ngạo mạn là không bình đẳng, không bình đẳng thì chấn động. Tham sân si mạn là nguyên nhân chân thật của bốn loại tai nạn. Cho nên Phật dạy chúng ta hóa giải tai nạn, chỉ có siêng tu giới định tuệ, dập tắt tham sân si. Đạo lý này chúng ta từ thực nghiệm tinh thể nước của tiến sĩ Masaru Emoto ở Nhật Bản đạt được sự chứng minh. Xác thực là “hoàn cảnh tùy tâm chuyển”. Nhân tâm thuần tịnh thuần thiện, tai nạn bên ngoài tự nhiên hóa giải. Thật sự hiểu được đạo lý này, chính là “nhìn thấu”, rõ ràng chân tướng sự thật. Chỗ ra tay, vẫn là cần phải đốc hành thực tiễn, triệt để buông xuống tham sân si mạn, thật sự đoạn ác tu thiện, tích công lũy đức.
Tám, Suy ngẫm về “nhân định thắng thiên”
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, mọi người đắm chìm trong đó, tận hưởng sự tiện lợi do khoa học kỹ thuật mang lại. Nhưng cũng có số ít người, từ khoa học kỹ thuật cao suy ngẫm ngược lại, giác ngộ, hiểu sâu sắc sự phát triển của khoa học kỹ thuật đối với nhân loại chẳng những không có lợi ích, đến cuối cùng là dẫn đến sự diệt vong của nhân loại trên trái đất này. Hiện tượng này dường như hiện tại chúng ta cũng nhìn thấy rồi. Người mê vào khoa học kỹ thuật, cho rằng nhân định thắng thiên, con người có năng lực chiến thắng đại tự nhiên, thay đổi quy luật của đại tự nhiên. Không sai, ngày nay nhân loại xác thực đã thay đổi đại tự nhiên, nhưng sự báo đáp của đại tự nhiên, lại là điều nhân loại không cách gì gánh vác nổi. Sự biến đổi của vỏ trái đất, nước biển dâng cao, khí hậu toàn cầu dị thường, đây là sự báo đáp của đại tự nhiên! Khoa học dẫu phát triển thế nào, đến lúc nhân loại không cách gì sinh tồn trên trái đất này nữa, mới bắt đầu giác ngộ. Rốt cuộc là con người thắng đại tự nhiên, hay là đại tự nhiên chiến thắng con người?!
Câu “nhân định thắng thiên” mà cổ nhân chúng ta nói, có tinh nghĩa của nó. Người hiện tại hoàn toàn hiểu sai rồi, cho rằng con người nhất định có thể thắng được trời; lời cổ nhân chúng ta nói không phải ý này. “Nhân định thắng thiên”, ý là tâm “người” cần phải “định” xuống, liền có thể chiến thắng đại tự nhiên, hoàn cảnh tự nhiên bên ngoài đều khôi phục bình thường. Vì sao vậy? Hiện tượng đại tự nhiên là tùy thuận nhân tâm mà chuyển biến, nhân tâm nếu như định xuống, buông bỏ vọng tưởng phân biệt chấp trước, trở về với chân tánh, hoàn cảnh tự nhiên bên ngoài cũng sẽ khôi phục bình thường, mặt trời mặt trăng trong sáng, mưa thuận gió hòa; đó chính là cảnh giới viên mãn của thế giới Hoa Tạng, Thế giới Tây phương Cực Lạc!
Chín, Một bề chân thành, thuần tịnh thuần thiện
Tịnh Không học tập lời dạy của Thánh hiền năm mươi sáu năm, đề ra hai mươi chữ: “Chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi, nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, hòa kính”. Đây là đề cương, tâm đắc tu học của tôi, và lấy đó khích lệ bạn học cùng nhau nghiêm túc học tập: “Chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi”, đây là tu tâm. Hết thảy thời hết thảy xứ, bất luận thuận cảnh nghịch cảnh, thiện duyên ác duyên (“duyên” là hoàn cảnh nhân sự, “cảnh” là hoàn cảnh vật chất), chúng ta chỉ dùng một “tâm chân thành”. Người khác đối đãi tôi không chân thành, lừa gạt tôi, sỉ nhục tôi, hãm hại tôi, tôi đối với họ chỉ có một bề chân thành. Vì sao vậy? Bởi vì họ không tu hành; tôi thì làm thật. Làm thật thì phải học với bậc Thánh hiền, Thích-ca Mâu-ni Phật chân thành, Khổng Tử chân thành. Tôi không thể học theo người bình thường. Một bề chân thành, học lâu rồi liền được thọ dụng, lòng dạ thanh thản. Học tâm thanh tịnh, không bị ô nhiễm; tu tâm bình đẳng, tu giác mà không mê, tu tâm đại từ bi. “Tâm” vẫn là trừu tượng, làm sao thực tiễn? Thực tiễn chính là “nhìn thấu”, rõ ràng rồi. “Buông xuống”, ác niệm buông xuống, tạp niệm buông xuống, tất cả hết thảy điều bất thiện buông xuống; ngôn ngữ bất thiện buông xuống, hành vi bất thiện buông xuống, bạn tự nhiên liền được “tự tại”. Trong đời sống hàng ngày “tùy duyên”, không có thứ gì không tốt, sau đó bạn mới thật sự thể hội được, “người người là người tốt, việc việc là việc tốt”. Vì sao vậy? Đều là giúp đỡ tôi, chỉ dạy tôi tiêu nghiệp chướng, tăng trí tuệ. Do đó thái độ ngôn hạnh biểu hiện ra trong cách đối nhân xử thế, tự nhiên thành kính khiêm hòa.
Kinh nghiệm cả đời này của tôi, không có sở trường gì khác, nói lời thành thật, chính là hai mươi chữ này, tôi đã làm gần ba mươi năm. Thực tiễn trong đời sống hàng ngày, công việc, đối nhân xử thế. Trước tiên phải tự ái, tức là tự yêu thương; người không tự yêu mình, thì sẽ không yêu người. Người không tự giác, thì không cách gì giúp đỡ người khác giác ngộ. Cho nên tự ái rất quan trọng. “Tự ái” là gì? Là biết yêu thương bảo vệ bổn tánh vốn thiện của chính mình, yêu thương bảo vệ bổn tánh bổn giác của chính mình. Tự ái, thì tất cả hết thảy điều bất thiện thống thống tránh xa, tất cả hết thảy bất giác thống thống tránh xa, đây gọi là thật sự tự ái, thật sự được thọ dụng. Sau khi tự ái tự nhiên sẽ yêu người. Bởi vì thấu rõ tự tha bất nhị, tự tha là một thể. Biết được thiên địa vạn vật là do tự tánh hiện ra, Lục Tổ Năng sư nói “nào ngờ tự tánh có thể sanh vạn pháp”, vạn vật cùng với ta là một thể. Cho nên chẳng những phải yêu hết thảy người, tất cả động vật cũng yêu, tất cả quỷ thần cũng yêu, tất cả cây cỏ hoa lá, núi sông đại địa, không có thứ nào không yêu. “Tâm yêu thương biến khắp pháp giới”, làm sao lại không hoan hỷ! Làm sao lại không an vui! Tôi yêu chúng sanh, chúng sanh yêu tôi, tôi yêu hoa cỏ cây cối, hoa cỏ cây cối yêu tôi. Nó có biểu hiện, nó có báo đáp, báo đáp lại chính là cây mọc đặc biệt tốt, hoa nở đặc biệt thơm, quả thực đặc biệt xum xuê; một chút cũng không giả. Chim muông có thể cùng sinh sống với chúng ta, chúng rất có lễ phép, cùng nhau ở chung học tập. Bạn nói đời sống này vui biết bao! Chúng ta từ chỗ này thể hội được niềm vui của Thích-ca Mâu-ni Phật, sự hạnh phúc mỹ mãn của Thích-ca Mâu-ni Phật.
Trước mắt chúng ta đã mê mất tự tánh, cần phải học Thánh nhân, học Phật Bồ-tát. Phật Bồ-tát tôn trọng hết thảy chúng sanh, tự mình khiêm nhường. Đoạn trừ hết thảy ý niệm tổn người lợi mình. Qua lại tiếp xúc với hết thảy người, hết thảy vật, biểu hiện ra là thành kính khiêm hòa, hạ mình tôn người. Trong đời sống hàng ngày, người thiện giúp đỡ ngài, người ác cũng giúp đỡ ngài. Chỉ nhớ cái thiện của người khác, không nhớ cái ác của người khác. Người thật sự thông minh, nhất định yêu thương bảo vệ tâm tánh thuần tịnh thuần thiện của chính mình. Quyết định không chịu đem lương tâm thuần tịnh thuần thiện của mình, làm thùng rác của người khác. Nếu như chỉ chứa đựng điều bất thiện của người khác, tâm của mình liền biến thành bất thiện, đây là sai lầm lớn. Người tu hành thật sự phải dọn sạch sẽ rác rưởi trong tâm mình, trong tâm quyết định không chứa lỗi lầm của người khác, trong miệng không nói lỗi lầm của người. Trong miệng còn nói ra, biểu thị trong tâm bạn rất dơ bẩn. Cho nên tâm của một người thiện hay không thiện? Hành động thiện hay không thiện? Bạn nghe lời nói của họ, bạn xem cử chỉ động tác của họ liền biết, rành rẽ rõ ràng, sáng sáng tỏ tỏ. Tuy là sáng tỏ rõ ràng, nhưng không thể để trong tâm. Chúng ta đối với người thì tán thán điều thiện của họ, đừng nhớ điều ác của họ, giữ gìn sự thuần tịnh thuần thiện của chính mình. Đây là then chốt cả đời này chúng ta học Phật có thể có thành tựu hay không. Đối mặt đại chúng, nếu có năng lực, có duyên phận, liền phải học Thích-ca, Khổng Tử, mở lớp dạy học. Đặc biệt là cứu vãn thế giới ngày nay, chúng ta biết vấn đề xuất phát ở giáo dục, sơ suất giáo dục của Thánh hiền. Giáo dục hiện nay, nói chung chính là dạy dỗ cạnh tranh. Cạnh tranh nâng cấp chính là đấu tranh, đấu tranh nâng cấp chính là chiến tranh, cho nên giáo dục ngày nay là con đường đi hướng đến sự diệt vong. Giáo dục của bậc cổ Thánh tiên hiền của chúng ta, dạy chúng ta luân lý đạo đức; dạy chúng ta hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ, nhân ái hòa bình; dạy chúng ta khiêm hòa lễ nhượng. Đây là giáo dục chí thiện trở về tự tánh, phản phác quy chân.
Mười, Vũ trụ vạn hữu là một thể
Xã hội ngày nay tràn ngập tự tư và cạnh tranh, con đường hóa giải chân thật, cần phải là chính mình làm cho người khác xem. Nếu chỉ dừng lại ở việc giảng học, không ai tin. Cần phải chính mình làm được, mọi lúc mọi nơi nỗ lực thực hành không lười mỏi, mới có thể cảm hóa người khác. Khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển, chúng ta dùng giảng dạy từ xa, lợi dụng mạng truyền hình, đem hiệu quả của việc giảng dạy mở rộng, biến khắp toàn cầu. “Xã hội hài hòa, thế giới hài hòa” mà chủ tịch Hồ đề xướng nhất định có thể thực tiễn.
Năm ngoái chúng ta ở thị trấn nhỏ Thang Trì, Lư Giang, tỉnh An Huy làm thực nghiệm, thành công rồi! Chứng minh “nhân dân là có thể dạy tốt được”. Suy rộng ra, thế giới hài hòa cần phải là quốc gia với quốc gia, phe phái với phe phái, tộc quần với tộc quần, tôn giáo với tôn giáo, đều có thể làm được chung sống hòa mục, đối xử bình đẳng, thì thế giới hài hòa liền hiện thực rồi. Bốn điều này lại cần phải bắt tay vào từ “đoàn kết tôn giáo”, mới có thể thu được hiệu quả tốt nhất. Tháng mười năm ngoái, tôi ở trụ sở của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc tại Paris có một bản báo cáo chi tiết có thể tham khảo.
Cổ nhân nói: “Học rồi mới biết mình thiếu sót”, sự học không có điểm dừng. Đến lúc nào mới rốt ráo viên mãn? Chỉ có triệt để buông bỏ vọng tưởng phân biệt chấp trước, tự tánh thuần tịnh thuần thiện, không có đối lập, không có lo âu nghi ngờ, chỉ có từ bi, chỉ có chân thành; hiểu nhau đối đãi nhau. Đặc biệt thế giới ngày nay nói văn hóa đa nguyên, tôn giáo bất đồng, học phái bất đồng, tộc quần bất đồng, quốc gia bất đồng, chúng ta là một thể, phải tôn trọng lẫn nhau. “Tôn trọng lẫn nhau” bắt đầu từ tôi, tôi phải tôn trọng họ, họ không tôn trọng tôi không sao cả, tôi vĩnh viễn tôn trọng họ, đến sau cùng nhất định họ cũng sẽ tôn trọng tôi. Cho nên tôn trọng lẫn nhau, tôi phải cho đi trước, đừng mong cầu người khác tôn trọng tôi trước, đó liền sai rồi, đó là vĩnh viễn không làm được. Tôi phải kính yêu họ, tôi quan tâm họ, tôi chăm sóc họ, tôi toàn tâm toàn lực giúp đỡ họ, quyết định không cầu báo đáp, bởi vì tôi biết chúng ta là một thể, vũ trụ cũng là một thể. Thật sự giác ngộ, rõ ràng rồi, sự báo đáp là tự nhiên. Khi không có báo đáp, họ vẫn còn đang mê; tôi đã giác ngộ, họ vẫn chưa giác ngộ. Đợi khi họ giác ngộ rồi, nhất định tâm hạnh hoàn toàn giống với tôi, đây là chân lý chân tướng sự thật, Phật pháp nói “chư pháp thật tướng”.
Khái niệm đa nguyên, chẳng những Phật nói rất rõ ràng, Thánh vương của Trung Quốc cũng có quan niệm này. Chúng ta đọc được trong thượng dụ của Ung Chính, hoàng đế Ung Chính nói “tam giáo là một nhà”. Thời Đường Túc Tông có bia văn “Hỗn Nguyên tam giáo cửu lưu đồ tán”, trong đó cũng nói tam giáo cửu lưu là một nhà. “Tam giáo cửu lưu là một nhà, vũ trụ vạn hữu là một thể”, đem lý niệm này triển khai ra, chính là “các học phái tôn giáo toàn cầu là một nhà”. Chúng ta phải từ chỗ này thể nhận sâu sắc, đoàn kết học phái tôn giáo của toàn thế giới, hóa giải hết thảy xung đột, thúc đẩy xã hội an định, thế giới hài hòa.
Mười một, Lời kết
Cho nên chúng ta phải phát đại tâm, phát đại nguyện, đặc biệt là phải lợi ích chúng sanh, oán thân bình đẳng, đoạn ác tu thiện, học làm thầy người, hành động làm mẫu mực cho đời. Đủ loại không như ý, đủ loại tân khổ đau đớn đều là vì chúng sanh mà diễn xuất. Bạn không biểu diễn như vậy, họ không giác ngộ, ý nghĩa này vô cùng sâu xa. Chúng ta thật sự rõ ràng rồi, làm thêm một phen biểu diễn, thêm một số người giác ngộ. Người giác ngộ không phải lập tức liền giác ngộ, phải từ từ. Cho nên phải ngày ngày biểu diễn, thời thời khắc khắc biểu diễn. Thích-ca Mâu-ni Phật biểu diễn cho chúng ta sáu mươi mốt năm, (tham học mười hai năm, giảng kinh dạy học bốn mươi chín năm). Thực chất là bắt đầu từ lúc nhập thai, cuối cùng đến nhập Bát-niết-bàn, không có việc nào không phải là đang biểu diễn cho chúng ta xem. Không có việc nào không phải là sự giảng dạy vô cùng thâm sâu, chúng ta cần phải thể hội được. Lại cẩn thận nghĩ xem, người trên toàn thế giới, tất cả hết thảy chúng sanh, có phải là đang ở trước mặt tôi biểu diễn cho tôi xem hay không? Đúng vậy, một chút cũng không sai. Mỗi một người đều là Phật Bồ-tát, mỗi một người đều là thầy của tôi, họ đang biểu diễn, ngày ngày biểu diễn, có mặt chính, có mặt phản, đều giúp đỡ tôi giác ngộ, đều là giúp đỡ tôi đoạn phiền não, khai trí tuệ. Hết thảy chúng sanh vốn dĩ là Phật, bạn cũng là Phật, họ cũng là Phật.
Trên đây là sự thể hội thiển bạc của Tịnh Không đối với giáo dục văn hóa truyền thống, cẩn trọng trình báo cáo lên quý vị, thỉnh giáo quý vị chuyên gia học giả, bậc nhân giả đại đức!
Kính chúc Các vị nhân giả kiết tường như ý
Hoạt động đại hội viên mãn thành công
Tịnh Không AM Ph. D
Giáo sư khách mời Đại học Nhân dân Trung Quốc
Chủ nhiệm Trung tâm Giáo dục Văn hóa Lư Giang Trung Quốc
Viện trưởng Tịnh Tông Học viện Úc Châu
Tiến sĩ danh dự, Giáo sư Đại học Queensland, Đại học Griffith Úc Châu
Tiến sĩ danh dự Đại học Hồi giáo Quốc gia Syarif Hidayatullah Indonesia
Người Thời Xưa Hiểu Giáo Dục Nhất
Nước ta có lịch sử văn minh năm ngàn năm, được gọi là quốc gia cổ đại có nền văn minh trên thế giới. Các quốc gia cổ đại có nền văn minh trên thế giới từng có bốn nước, trong đó ba nước đã tiếp nối diệt vong, chỉ có chúng ta là tồn tại duy nhất trên đời, đây là vì sao vậy? Bởi vì người xưa chúng ta hiểu được giáo dục. Thật mà nói, chúng ta vì có chỗ nương tựa sâu dày là giáo dục truyền thống, mới có thể kéo dài vận nước hàng ngàn năm, một đường bình an đi đến ngày nay.
Giáo dục truyền thống thời xưa không có gì khác, chính là bốn chữ: hiếu thân tôn sư, đây là giáo dục suốt đời đối với con người. Nền giáo dục này bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ thai giáo. Năm ngàn năm trước người xưa chúng ta đã hiểu được thai giáo, điều này trên thế giới là rất hiếm có.
Khi nào thì bắt đầu giáo dục trẻ nhỏ? Ở vào lúc người mẹ mang thai. Khi người mẹ mang thai, mắt không nhìn sắc ác, tai không nghe âm thanh dâm đãng, miệng không nói lời ngạo mạn, bà nhất định phải giữ gìn đức hạnh của chính mình. Vì sao vậy? Sự vui buồn hờn giận của bà sẽ sinh ra các kích thích tố sinh lý khác nhau, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của thai nhi. Sau khi trẻ nhỏ ra đời ai là người đầu tiên dạy chúng? Người mẹ. Người mẹ không rời bỏ trẻ sơ sinh, trẻ sơ sinh không rời khỏi người mẹ, tình thân giữa mẹ và con này là thiên tính của nhân loại, cái gọi là “mẹ con liền tâm”. Nhất là trẻ nhỏ trước ba tuổi, không thể rời khỏi vòng tay của mẹ, không thể rời khỏi tầm mắt của mẹ, một nụ cười một cái chau mày, một cử chỉ một hành động của người mẹ đều sẽ sinh ra ảnh hưởng thầm lặng đối với đứa trẻ, cho nên lời nói hành vi cử chỉ của người mẹ cần phải hợp với quy củ. Quy củ là gì? Là “Đệ Tử Quy”. “Đệ Tử Quy” không chỉ dùng để uốn nắn trẻ em, mà càng cần phải để người mẹ đích thân làm gương cho trẻ. Chúng ta thấy trẻ sơ sinh sau khi ra đời, chúng sẽ dùng mắt để quan sát, dùng tai để lắng nghe, đây chính là đang học tập. Đợi đến khi chúng được ba tuổi, thì đã học tập được một ngàn ngày. Thời gian một ngàn ngày này không tính là dài, thế nhưng tác dụng vô cùng lớn, gốc rễ sâu chặt, là giáo dục cắm rễ thực sự, nếu cái rễ của một ngàn ngày này cắm tốt rồi, thì cả đời đều sẽ không lay động. Nghĩa là, chớ có coi nhẹ trẻ em trước ba tuổi, thực ra chúng hiểu chuyện, chúng có năng lực phân biệt thị phi, tà chánh, thiện ác. Vì sao vậy? Mẹ của chúng đã làm ra tấm gương cho chúng. Cổ ngữ chúng ta nói: “Ba tuổi thấy tám mươi”, câu nói này rất có đạo lý. Bởi vì giáo dục trước ba tuổi có thể quyết định vận mệnh cả đời của một con người, do đó giáo dục cần phải bắt đầu từ thai giáo, đây là vạch xuất phát của thành bại được mất trong nhân sinh.
Nước ta đời đời kiếp kiếp có nhiều bậc hiền nhân xuất hiện, chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng dân số, đã xây dựng nên thời đại thái bình thịnh trị hòa thuận chung sống hàng ngàn năm của dân tộc Trung Hoa. Số lần động loạn trong lịch sử Trung Quốc rất ít, thời gian rất ngắn, thời gian phồn vinh ổn định rất dài, những người nước ngoài nghiên cứu lịch sử Trung Quốc đều vô cùng tán thán. Các học giả Châu Âu nghiên cứu lịch sử nước ta, từng đặt ra một vấn đề, vì sao nước ta có thể đạt được sự trị vì yên bình lâu dài hàng ngàn năm? Cuối cùng họ đều đồng lòng khẳng định, là do chúng ta coi trọng giáo dục gia đình.
Thời cổ đại chúng ta nhà có gia đạo, gia đạo là gì? Là luân lý đạo đức mà ông bà tổ tiên coi trọng, nói theo tứ duy bát đức, gộp lại thành mười hai chữ: hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nhân, ái, hòa, bình, mười hai chữ này nhà nhà đều phải học. Có thể nhà của người này đặc biệt coi trọng chữ hiếu, nhà của người kia đặc biệt coi trọng chữ nghĩa, nhà của người nọ đặc biệt coi trọng chữ nhân, do đó trọng điểm kế thừa của con cháu họ có hơi khác biệt, thế nhưng đời đời kiếp kiếp đều nương tựa mười hai chữ này để duy trì gia phong không bị suy sụp. Dân gian chúng ta thận trọng việc tang lễ và tưởng nhớ tổ tiên, chú trọng sự truyền thừa qua các thế hệ, không cầu mong sự thành công của một cá nhân, một sự việc, một thời điểm, mà mong cầu việc xây dựng sự nghiệp vào chỗ vĩnh hằng, cho nên, bậc trưởng bối đối với thế hệ sau nhất định sẽ nghiêm túc tiến hành giáo dục đạo thống, để chúng có thể kế thừa đức hạnh của tổ tiên, làm rạng rỡ gia môn. Người xưa có câu cổ ngữ “dạy con từ thuở con thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”, ý nói là con dâu vừa bước vào cửa, bậc trưởng bối liền phải truyền thụ gia đạo môn phong cho cô ấy, để cô ấy làm một người mẹ đủ tư cách: đối với nền giáo dục gia đình của con cái thì cần phải tiến hành vào lúc còn rất nhỏ, con cái một khi lớn lên hình thành nên tập khí, thì sẽ không dễ dạy nữa. Đây là tư tưởng giáo dục trong quá khứ của chúng ta, hoàn toàn không giống với quan niệm của người nước ngoài, là triết học giáo dục vô cùng tốt, cái gọi là “thói quen thành tự nhiên, hình thành từ nhỏ thì giống như thiên tính”, nền giáo dục thời kỳ sớm của một người là vô cùng quan trọng.
Về giáo dục thời kỳ sớm, Mạnh phu tử là một ví dụ mẫu mực thành công. Khi Mạnh phu tử ra đời, Khổng phu tử đã qua đời rồi, thế nhưng ngài rất có duyên phận, có cơ hội đọc được sách của Khổng tử. Quý vị phải biết, duyên phận này là vô cùng không dễ dàng, bởi vì thư tịch thời đó không giống như hiện tại dễ dàng có được như vậy, tùy tiện đến nhà sách liền có thể mua. Thời đó không có bút không có giấy, văn tự được dùng dao khắc lên trên thẻ tre, sau đó dùng dây thừng xâu từng mảnh từng mảnh lại với nhau, bạn xem thời đó làm ra một bộ sách là khó khăn biết bao! Bởi vì số lượng quá ít, thực sự là hiếm có khó gặp. Cho nên, Mạnh tử có duyên nhận được trước tác của Khổng tử, số lượng đương nhiên sẽ không nhiều, chỉ có vài loại, thế nhưng Mạnh tử rất được thọ dụng. Ngài sở dĩ có thể được thọ dụng, là nhờ giáo dục thời kỳ sớm của ngài tốt. Quý vị đều biết câu chuyện Mạnh mẫu ba lần chuyển nhà đúng không? Nơi Mạnh mẫu sống lúc ban đầu gần với nghĩa địa, Mạnh tử khi còn nhỏ nhìn thấy người ta đi tảo mộ, cảm thấy rất vui, ngài liền đi theo học cách tảo mộ; mẹ của ngài vừa nhìn thấy, thế này thì không được rồi, phải mau chóng dọn đi nơi khác. Thế nhưng nơi mới dọn đến lại gần khu chợ, trong chợ có người giết heo, Mạnh tử sau khi nhìn thấy rất có hứng thú, liền bắt chước làm trò chơi giết heo; Mạnh mẫu vừa nhìn thấy, hỏng việc rồi, vẫn phải mau chóng chuyển nhà thêm một lần nữa. Lần chuyển nhà thứ ba, dọn đến một nơi gần trường tư thục, Mạnh tử liền đi học đọc sách; Mạnh mẫu vừa nhìn thấy, nơi này không tệ, thế là sống ở đó lâu năm. Từ đó Mạnh tử cắm đầu khổ học thi thư lễ nhạc và các điển tịch của Khổng tử, về sau cuối cùng đã trở thành bậc Thánh nhân. Câu chuyện Mạnh mẫu ba lần chuyển nhà đã thức tỉnh người đời sau: gốc rễ của giáo dục nằm ở gia đình, người mẹ đủ tư cách là sự bảo đảm cho thành công của giáo dục gia đình. Quý vị còn có thể nhìn thấy trong điển tịch Trung Quốc, Khổng tử là do người mẹ dạy dỗ mà nên, Mạnh tử cũng là do người mẹ dạy dỗ mà nên, Vương Quý là cha của Văn Vương là do Thái Khương dạy dỗ mà nên, Văn Vương là do Thái Nhậm dạy dỗ mà nên, Võ Vương, Chu Công là do Thái Tự dạy dỗ mà nên; cho nên, với tư cách là người mẹ Trung Quốc, từ xưa đến nay luôn có địa vị tôn sùng trong giáo dục gia đình, phát huy tác dụng cực kỳ quan trọng. Những người làm mẹ hiện nay của chúng ta, nếu có thể đem “Đệ Tử Quy” thực tiễn vào trong giáo dục gia đình, đó chính là thực tiễn nền giáo dục của bậc Thánh nhân, con cái của những gia đình như vậy, tất nhiên sẽ là trung thần, hiếu tử, thánh hiền, minh quân.
Người xưa nói “Bất hiếu có ba, không có người nối dõi là lớn nhất”, câu nói này rất có triết lý. ‘Không có người nối dõi là lớn nhất’ không phải nói là chỉ cần có thể sinh được một mụn con trai, thì coi như có người nối dõi. Hàm ý sâu xa hơn của nó là, có con trai rồi thì phải giáo dục nó cho tốt, phải khiến cho gia nghiệp, gia phong, gia đạo của nhà mình có thể truyền thừa tiếp tục. Nếu như sinh rất nhiều con cái, đứa nào cũng là đứa phá gia chi tử, làm ra rất nhiều chuyện họa nước hại dân, làm nhục gia môn, vậy thì có con cái như vậy ngược lại thà không có còn hơn, đây mới thực sự là không có người nối dõi. Cho nên, giáo dục của người xưa, từ khi đứa trẻ sáu, bảy tuổi đã bắt đầu quản giáo nghiêm ngặt. Ai đi dạy đây? Thầy giáo, không phải là cha mẹ. Cha mẹ hết cách để dạy con cái nữa, bởi vì mối quan hệ quá gần gũi, học vấn cũng không đủ, cha mẹ nói chuyện chưa chắc nó đã nghe, cho nên phải gửi cho thầy giáo để dạy. Trẻ em thuở xưa từ bảy tuổi trở đi, sinh hoạt cùng với thầy giáo, sống cùng với bạn học, một tháng nghỉ phép về nhà một lần. Thầy giáo không phải là cha mẹ, chúng sợ, chúng không dám không nghe lời. Dạy chúng những gì? Hoàn toàn là giáo dục đời sống, dạy chúng làm thế nào để phụng sự thầy giáo, hiếu kính cha mẹ, tôn trọng người khác, dạy những thứ này.
Các tài liệu về gia giáo thời cổ đại của Trung Quốc có vài trăm loại, trong “Tứ Khố” đều có thể nhìn thấy, mà “Đệ Tử Quy” chính là tập đại thành của gia giáo Trung Quốc, nó hội tụ những tinh hoa gia giáo của thời cổ đại. Khi bạn đọc quyển sách này, cũng đồng nghĩa với việc đã đọc qua toàn bộ các sách gia giáo của Trung Quốc trong mấy ngàn năm, điều này thật đáng quý biết bao. “Đệ Tử Quy” dạy những gì? Cương lĩnh của nó là một câu trong “Luận Ngữ”: “Ở nhà thì hiếu, ra ngoài thì đễ”, nó lấy hiếu đễ làm căn bản, sau đó lại dạy cẩn, tín, yêu thương mọi người, gần gũi người nhân, cuối cùng mới là học văn.
Hiếu là gì? Hiếu chính là cư xử tốt các mối quan hệ với người trong nhà, cư xử tốt các mối quan hệ với cha mẹ, vợ chồng, anh em, chị em. Đễ là gì? Đễ là cư xử tốt các mối quan hệ với người bên ngoài, một người ở trong xã hội có người lãnh đạo, người bị lãnh đạo, đồng nghiệp, bạn học, bạn bè, họ hàng, làng xóm láng giềng v.v…, cư xử tốt mối quan hệ với tất cả mọi người ở đó, điều này gọi là đễ. Cổ ngữ nói “thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa”, hiếu đễ chính là nhân hòa, nhân hòa thì thiên hạ thái bình. Người xưa chúng ta rất ít nói về quốc gia, mở miệng ra đều nói thiên hạ, bạn xem tâm lượng đó lớn biết bao! Tâm lượng vừa mở rộng, cái tâm tự tư tự lợi liền không còn nữa, khởi tâm động niệm luôn thích giúp đỡ người khác, thành tựu người khác, thời thời khắc khắc đều làm ra tấm gương tốt, như vậy là đúng rồi, đây chính là hiếu đễ. Cho nên, quý vị đừng có nghĩ ý nghĩa của từ này hạn hẹp như vậy, bằng không sẽ hiểu sai hàm ý của chữ hiếu đễ.
Người xưa chúng ta rất coi trọng việc ngay từ nhỏ đã bồi dưỡng cho trẻ phẩm đức chí công vô tư, bởi vì thuở xưa là đại gia đình, mọi người tụ tập theo gia tộc mà sống, không thể có tâm tư lợi, bằng không sẽ đánh mất lực ngưng tụ và khả năng chống lại rủi ro của toàn bộ gia tộc, tạo thành hậu quả nghiêm trọng nhà tan cửa nát. Quá khứ, một đại gia đình thường có khoảng chừng ba trăm thành viên, cá nhân khởi tâm động niệm cần phải chiếu cố đến lợi ích của toàn gia toàn tộc, mà không thể chỉ nghĩ đến bản thân mình. Gia đình giống như một xã hội thu nhỏ, cho nên người có thể trị gia ắt có thể trị quốc. “Đại Học” nói “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, đã giải thích rõ sự tu dưỡng đạo đức của cá nhân có liên quan mật thiết với vận mệnh của tông tộc, quốc gia cho đến toàn thế giới, bản lĩnh trị quốc là được rèn luyện trong quá trình trị gia.
Nước ta mấy ngàn năm nay có thể được trị vì yên bình lâu dài, mấu chốt không phải nằm ở thể chế, mà nằm ở tố chất của con người. Thời cổ đại ở nước ta, tầng lớp trí thức đóng vai trò là dòng chảy chính của xã hội, được gọi là sĩ đại phu. Bốn hạng người thời cổ đại: sĩ, nông, công, thương, xếp ở vị trí thứ nhất là sĩ, là người đọc sách. Người đọc sách thuở xưa về cơ bản đều có thể làm được tâm là hiếu đễ trung tín, thân là lễ nghĩa liêm sỉ, hành vi là nhân ái hòa bình. Mặc dù không phải tất cả mọi người đọc sách đều có thể đạt được tiêu chuẩn này một cách viên mãn, thế nhưng khoảng cách đến tiêu chuẩn này cũng không quá xa, luôn hy vọng cả đời gắng sức tiếp cận tiêu chuẩn này. Người đọc sách trong quá khứ lập chí làm thánh hiền, công danh lợi lộc là phụ đới, không phải là thứ họ chủ yếu truy cầu, đây chính là đặc chất của giáo dục truyền thống. Cho nên, bất kể là chế độ gì, chỉ cần tố chất con người tốt, có đạo đức, có giáo dưỡng, liền có thể làm ra chuyện tốt; ngược lại, nếu tố chất con người rất kém, vứt bỏ luân thường đạo đức, vậy thì chế độ có tốt đến đâu cũng sẽ xảy ra sai sót. Thuở xưa, những vị vua cuối triều đại làm trái với hiếu đễ trung tín, làm trái với lễ nghĩa liêm sỉ, triều đại này lập tức sẽ bị kẻ khác thay thế. Nếu như vị vua này không rời bỏ luân lý, đạo đức, ông ấy liền có thể truyền lại hết đời này sang đời khác. Bá tánh chúng ta là rất có sự nhẫn nại, có thể bao dung đối với lỗi lầm nhỏ của quốc quân, sẽ không dễ dàng phạm thượng làm loạn, trừ phi là làm việc quá chướng tai gai mắt, quá nghiêm trọng, mới có thể gây ra cách mạng, mới có thể làm phản, lật đổ ông ta. Cho nên, một triều đại có thể trị vì yên bình lâu dài hay không, mấu chốt nằm ở chỗ nào? Nằm ở giáo dục truyền thống.
Lý niệm cốt lõi của giáo dục truyền thống của chúng ta là gì? Là luân lý. Cốt lõi của giáo dục luân lý là gì? Là một chữ “ái” (yêu thương). Một trong ngũ luân là cha con có tình thân, tình thân này là thiên tính của con người, là bổn tính, là tánh đức, chỉ cần không bị ô nhiễm thì bạn liền có, bạn liền thân ái. Bạn ở nhà là cha, bạn phải từ ái con cái của bạn, từ ái gia đình bạn, đây là chức trách của bạn; bạn là con cái, nghĩa vụ của bạn là phải hiếu dưỡng song thân của bạn, phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già và lo liệu hậu sự. Thứ hai là vua tôi có nghĩa, nghĩa là thông qua giáo dục để nâng tình yêu thương lên tầng mức vua tôi, nó thể hiện nghĩa vụ và sự thân ái giữa vua và tôi. Làm quốc quân thì phải cố gắng phấn đấu để cai trị tốt, yêu thương bảo vệ con dân của mình; làm bề tôi thì phải trung tâm phụng sự chủ, trung thành với bổn phận. Thứ ba là vợ chồng có sự khác biệt, “khác biệt”, không phải là sự chênh lệch về thân phận và địa vị, mà là sự phân công gia đình khác nhau. Quá khứ, người chồng gánh vác trách nhiệm kinh tế của gia đình, ông ấy phải tạo ra tài phú, để bảo đảm nguồn thu nhập sinh hoạt cho người trong nhà. Ngoài điều này ra, trong gia đình còn có một chức trách quan trọng nhất, đó chính là giáo dục con cái. Người xưa chúng ta đối với nền giáo dục con cái vô cùng cẩn trọng, nhiệm vụ này không thể giao cho người khác, cần phải do người mẹ đích thân phụ trách. Giữa chồng và vợ có sự khác biệt về chức trách như thế này, cho nên làm chồng thì phải làm được có ân, có nghĩa, có tình; mà làm vợ, vì bà đảm đương chức trách giáo dục con cái, liền yêu cầu bà phải có phong phạm đạo đức tốt, có thể dạy dỗ bằng lời nói và việc làm, khởi được tác dụng giúp chồng dạy con. Sự phân công gia đình hợp lý rõ ràng như thế này, đã duy trì tình ân ái giữa vợ chồng, ổn định cơ cấu của gia đình, thực sự đạt được mục đích chồng có nghĩa vợ có đức, hài hòa mỹ mãn. Sau đó, lại thông qua giáo dục để mở rộng sự thân ái này đến tầng mức anh em, bạn bè, đây chính là hai phương diện khác của ngũ luân: “lớn nhỏ có thứ tự” và “bạn bè có chữ tín”.
Ngũ luân gồm cha con, vợ chồng, vua tôi, anh em, bạn bè, mối quan hệ này là tự nhiên, không phải do con người làm ra, không phải do ai sáng tạo phát minh ra, là vốn dĩ đã tồn tại, là quy luật của đại tự nhiên, là trật tự vận hành của trời đất, do đó gọi nó là đạo; tư tưởng lời nói hành vi tương ứng với đạo, gọi nó là đức. Khởi điểm của đạo đức là cha con có tình thân, đây là thiên luân, không có bất cứ điều kiện kèm theo nào. Hiểu được khởi điểm của giáo dục, mới có thể hiểu được giáo dục năm ngàn năm của chúng ta là nền giáo dục của tình yêu thương, là sự phát huy rực rỡ tánh đức của tự tánh.
Từ Hoàng Đế đến Khổng tử là hai ngàn năm trăm năm, từ Khổng tử đến hiện tại chúng ta lại là hai ngàn năm trăm năm, đạo thống xuyên suốt của chúng ta trong năm ngàn năm qua là gì? Là nền giáo dục luân lý đạo đức của Nho gia, thể hiện trong cuộc sống thường ngày thì gọi nó là lễ. Tổ sư đại đức thường hay nhắc nhở chúng ta, lễ nếu như không còn nữa, Nho cũng không còn nữa; Nho nếu như không còn nữa, cội rễ của văn hóa truyền thống của chúng ta liền đứt đoạn. Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín gọi là ngũ thường, ngũ thường mở rộng ra xã hội liền biến thành bát đức. Bát đức ở nước ta có hai cách nói, bên trong có bốn chữ bị trùng lặp, bỏ đi phần trùng lặp, có mười hai cương mục, chính là hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nhân, ái, hòa, bình, đây là tinh thần của Nho gia, là cương lĩnh trong dạy học văn hóa truyền thống của chúng ta.
Dưới góc nhìn của người xưa chúng ta, trường học có mở nhiều hơn nữa, môn học có cao sâu hơn nữa, nếu không thực tiễn chữ “lễ”, không vận dụng chữ “lễ” vào trong các chuẩn mực của đời sống thường ngày, loại học vấn này liền không có bất kỳ giá trị nào. Đặc sắc này của giáo dục truyền thống chúng ta, thể hiện đặc biệt rõ ràng trên lễ nghi cổ đại. Khi đứa trẻ hai mươi tuổi làm lễ đội mũ, những người cùng vai vế của cậu ấy sẽ tặng cho cậu ấy một cái tự, từ đó bạn bè, anh em chị em, ông bà, cô chú bác của cậu ấy, đều phải gọi tự của cậu ấy, thể hiện sự tôn trọng và khích lệ đối với cậu ấy. Chỉ có cha mẹ của cậu ấy, cùng với thầy giáo của cậu ấy mới có thể gọi tên của cậu ấy suốt đời, điều này liền chứng tỏ, ân đức của thầy giáo và ân đức của cha mẹ là bình đẳng như nhau. Trong tang lễ, cha mẹ qua đời phải chịu tang ba năm, thầy giáo qua đời tuy không cần mặc áo tang, nhưng trong tâm cũng phải chịu tang ba năm, phải luôn ghi nhớ ân đức vun bồi của thầy giáo trong tâm, luôn luôn nhớ tới lời dạy bảo của thầy giáo. Thời cổ đại, hoàng đế tiếp kiến quần thần, là xoay mặt về hướng nam quay lưng về hướng bắc hành lễ vua tôi, thế nhưng khi ông tiếp kiến thầy giáo của chính mình, không dùng lễ vua tôi để tương kiến, mà là dùng lễ chủ khách, chính là hoàng đế đứng ở phía đông, thầy giáo đứng ở phía tây, dùng cách này để bày tỏ sự tôn trọng đối với thầy giáo. Từ điểm này, chúng ta có thể nhìn thấy, địa vị của thầy giáo ở nước ta thời cổ đại cao như vậy, mọi người đã tôn sư trọng đạo biết bao!
Người xưa chúng ta từ nhỏ đã dạy trẻ em gần gũi thánh hiền, cho chúng đọc sách thánh hiền. Trong sách thánh hiền quan trọng nhất là Kinh và Sử. Kinh nuôi lớn đức hạnh, nuôi lớn học vấn, Sử nuôi lớn kiến thức, nuôi lớn tài năng. Một người thông suốt Kinh Sử, tài đức vẹn toàn, khi người ấy gặp phải khó khăn, có lời dạy bảo của thánh hiền hướng dẫn, có kinh nghiệm lịch sử để đối chiếu, liền rất dễ dàng giải quyết hết thảy mọi vấn đề. Cho nên, Kinh và Sử từ nhỏ liền phải học tốt. “Tam Tự Kinh” với tư cách là giáo trình đồng mông, có thể nói là mẫu mực của giáo dục truyền thống, nó có nội dung phong phú, bao la vạn tượng, thiên văn, địa lý, lịch sử, đức dục không gì không đề cập đến. Địa lý phải đọc thuộc, vì sao vậy? Đọc địa lý sẽ yêu mến quốc thổ của chính mình, nếu như hoàn toàn không biết gì về nó, tâm yêu thương không sinh khởi lên được. Đọc nhiều lịch sử, sẽ yêu mến tộc quần của chính mình, yêu mến quốc gia của chính mình. Người dân chúng ta đặc biệt coi trọng lịch sử gia đình, lịch sử gia đình chính là gia phả, là căn bản của đời đời kiếp kiếp. Một người bởi vì yêu gia đình, liền sẽ thường xuyên nghĩ đến việc phải làm nhiều việc tốt, rạng rỡ tổ tông, điều này không chỉ bản thân vẻ vang, tổ tông cũng nở mày nở mặt, cha mẹ cũng được quần chúng xã hội kính trọng. Người xưa sở dĩ có phương hướng nhân sinh chính xác, có mục tiêu xa rộng, là nhờ giáo dục Kinh và Sử đã phát huy tác dụng rất lớn. Thế nhưng, người bình thường hiện nay đã lơ là đối với hai môn học vấn này, sự lơ là này đã chịu thiệt thòi quá lớn, làm người mất đi phương hướng, cả đời không có hạnh phúc, sống trong thế giới phiền não đau khổ.
“Học Ký” là khoa học giáo dục thời cổ đại của nước ta, qua khảo chứng, tài liệu này trễ nhất cũng phải được hoàn thành vào thời nhà Hán, trong đó đã phản ánh lý niệm giáo dục và tư tưởng triết học của giới học thuật ba đời Hạ, Thương, Chu. “Học Ký” đã giải thích tôn chỉ giáo dục cho chúng ta, chỉ ra mỗi cá nhân đến thế gian này đều có chức trách nhất định. Trong gia đình và xã hội bạn có thân phận gì, địa vị gì, điều này gọi là luân; việc bạn nên làm chính là nghĩa. Ví như cha hiền con hiếu, bạn ở nhà là cha, bạn liền phải từ ái, yêu thương con cái của bạn, yêu thương gia đình bạn, đây là chức trách của bạn; bạn là con cái, nghĩa vụ của bạn là phải hiếu dưỡng cha mẹ. Lại ví như anh nhường em kính, thân phận là anh trai, liền phải yêu thương em trai em gái; thân phận là em trai, phải tôn trọng anh trai của mình… Người xưa đối với những điều này vô cùng coi trọng, nếu như có ai vượt quá phạm vi này, đó chính là làm trái với căn bản làm người, làm trái với luân lý và đạo nghĩa. Lý niệm giáo dục được biểu đạt trong “Lễ Ký Đại Học”, là cái gốc lớn cái rễ lớn của triết học giáo dục truyền thống, trong đó tam cương bát mục là tổng cương lĩnh dạy học do lão tổ tông truyền lại, cái gọi là “Đạo của đại học, nằm ở chỗ làm sáng tỏ đức sáng, nằm ở chỗ thân dân, nằm ở chỗ dừng ở mức chí thiện”, ba câu này là tổng cương lĩnh trong dạy học của Nho gia. Ba chữ “minh minh đức”, đã giải thích rõ đạo lý “nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, chúng ta học cái gì? Không có gì khác, chính là học “minh đức”. “Tân dân”, nghĩa của chữ hiện nay là “thân dân”, thế nhưng người xưa chú giải là “tân dân”, thân dân, tân dân ý nghĩa đều tốt. Tân là gì? Tân là tiến bộ, cái gọi là ngày một mới lại càng mới, năm năm tiến bộ, tháng tháng tiến bộ, ngày ngày tiến bộ, tiến bộ về hướng nào? Tiến bộ về hướng minh đức. “Chỉ ư chí thiện”, chí thiện là tánh đức, là mục tiêu dạy học, năm ngàn năm không hề thay đổi. Bắt tay từ chỗ nào? Bắt tay từ tám cương mục. Ví như cách vật, trong Phật pháp nói chính là đoạn phiền não, phá phiền não chướng, phá sở tri chướng, như vậy minh đức mới có thể hiển hiện ra. Minh đức là mỗi người vốn có đủ, mỗi người đều giống nhau. Vì sao lại có sự khác biệt? Bởi vì có chướng ngại, người nghiệp chướng mỏng thì tỏ ra thông minh, người nghiệp chướng sâu thì tỏ ra ngu muội, đạo lý là ở chỗ này. Cho nên, giáo dục của Nho gia trước tiên phải trừ bỏ phiền não, dạy bạn “minh minh đức”, để bạn khôi phục diện mạo vốn có.
Về nội dung giáo dục, chính là bốn khoa dạy học của Khổng tử: đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự, văn học, những nội dung này tóm gọn lại không ngoài ba sự việc. Thứ nhất là “nhân luân”, mối quan hệ giữa người với người. Ngũ luân là đạo, tùy thuận ngũ luân là đức, đạo đức là căn bản. Cho nên môn học đầu tiên trong việc dạy học của phu tử là đức hạnh, quan trọng hơn bất cứ thứ gì! Đức hạnh của bạn được kiến lập rồi, liền tương ứng với quy luật của đại tự nhiên, liền có thể tùy thuận đại tự nhiên, đây chính là hành đạo. Mối quan hệ giữa người với người, mối quan hệ giữa người và môi trường tự nhiên, mối quan hệ giữa người và thiên địa quỷ thần, ba mối quan hệ này bạn làm cho rõ ràng, mới có thể không có đối lập, không có mâu thuẫn, chung sống hòa thuận, thiên hạ thái bình! Đây là cái gốc lớn cái rễ lớn của giáo dục, những thứ khác là chi tiết. Giống như một cái cây vậy, đây là cội rễ, phần còn lại là cành lá, chỉ cần làm tốt phần cội rễ, cành lá nhất định xum xuê, hoa quả nhất định phong phú. Cho nên, chuyện lớn hàng đầu của giáo dục cổ đại ở nước ta là đức hạnh, chú trọng vào việc bồi dưỡng đạo đức. Đạo đức và nhân quả có mối quan hệ mật thiết, nhân thiện cảm quả thiện, nhân ác có báo ác, nhân quả thông ba đời, người giác ngộ đều biết. Đạo lý nhân quả rất sâu xa, con người nếu thực sự thấu suốt đạo lý nhân quả, khởi tâm động niệm tự nhiên liền sẽ gom nhiếp lại, tuyệt đối không dám có tà tư tà hạnh. Cho nên, cơ sở vật chất của giáo dục cổ đại chúng ta, nhà nhà đều lập từ đường, từ đường dạy luân lý, dạy hiếu đễ; mỗi huyện đều lập miếu Khổng tử, miếu Khổng tử dạy đạo đức; mỗi một thành thị đều có miếu Thành hoàng, miếu Thành hoàng dạy nhân quả; ba thứ này bổ trợ lẫn nhau, hình thành nên mô hình giáo dục đa chiều. Người xưa chúng ta đặc biệt coi trọng tế tự tổ tiên, những năm gần đây chính phủ còn đặc biệt quy định tết Thanh minh là ngày lễ luật định của quốc gia, đây không phải là mê tín mà là giáo dục. Trong quá trình tế tự tổ tiên, mọi người phải tưởng nhớ đức hạnh của tổ tông, ca tụng sự cống hiến và hy sinh của ngài đối với gia đình đối với quốc gia đối với xã hội, xem thử có những đức hạnh nào đáng để chúng ta noi theo và kế thừa. Do đó, tế tổ thực chất là một nghi thức thận chung truy viễn, tiến hành giáo dục đạo đức truyền thống. Giáo dục truyền thống văn hoá vô cùng quý báu, là sự kết tinh trí tuệ và kinh nghiệm ngàn vạn năm của tổ tông, những trí tuệ và kinh nghiệm này là chân lý vĩnh hằng, tỏa sáng rực rỡ khắp vũ trụ, vượt không gian và thời gian, chịu đựng được sự thử thách của mười phương ba đời.
Cuốn sách “Tam Tự Kinh” này mọi người đều biết là dùng để dạy đồng mông, nội dung bên trong là gì? Là cương yếu của giáo dục văn hoá truyền thống. Trước tiên để trẻ em đọc thuộc, học thuộc lòng, về sau liền sẽ phát hiện những gì đã học cả đời đều không nằm ngoài phạm vi này. Phương pháp dạy học này, ở trong cửa Phật, ở trong giáo dục truyền thống năm ngàn năm của chúng ta đều không có ngoại lệ. Điều này quả thực không giống với giáo dục của nước ngoài, giáo dục nước ngoài không có lý niệm này. Giáo dục trẻ thơ ở nước ta, trẻ em năm, sáu tuổi vào trường tư thục, hiện nay gọi là vào trường mầm non, học cái gì? Học “Tam Tự Kinh”. Câu đầu tiên trong “Tam Tự Kinh” là “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, câu nói này đã nói lên điều gì? Đã nói lên đạo lý sâu sắc nhất. Người nào có thể làm được câu nói này? Bậc đại thánh nhân, trong Phật pháp nói chỉ có Phật-đà mới có thể làm được. Nhân tánh bổn thiện, vừa khai giảng lập tức liền dạy cho bạn, những gì bạn học cả đời chính là mục tiêu này, chính là phương hướng này. Nếu như bạn có thể chứng được tánh bổn thiện, đó liền gọi là thành Phật.
“Đệ Tử Quy” là quy củ làm người, quy củ xử thế, quy củ đối nhân xử thế, là giới điều cơ bản để dứt ác hướng thiện. Tuy tổng cộng nó chỉ có ba trăm sáu mươi câu, thế nhưng quan sát tỉ mỉ, nó đã nói bao nhiêu sự việc? Một trăm mười ba sự việc. Chữ không nhiều, chỉ có một ngàn không trăm tám mươi chữ, nếu như mỗi người chúng ta đều tuân thủ, liền nhất định có thể quốc thái dân an, thế giới hòa bình. Nội dung của “Đệ Tử Quy”, nếu đem đối chiếu với “Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh”, liền sẽ phát hiện bảy, tám phần mười đều là ý nghĩa giống nhau. Nếu như bạn có thể làm được “Đệ Tử Quy”, mười nghiệp thiện bạn liền có thể đạt bảy, tám mươi điểm, có bảy, tám mươi điểm này làm nền tảng, tiếp tục nỗ lực thêm chút nữa liền có thể lấy được điểm tối đa. Sự việc này, trong hai năm gần đây thông qua thực nghiệm tại Thang Trì, Lư Giang, chúng tôi chứng minh được nhân dân là có thể dạy dỗ tốt được, hơn nữa nhân dân là vô cùng dễ dạy, không khó! Vấn đề nằm ở đâu? Không có ai dạy.
Thời cổ đại nước ta, chính trị là phục vụ cho giáo dục, quốc gia coi giáo dục quốc dân là chuyện lớn hàng đầu để nắm giữ, điều này không thể không biết, biết rồi mới có thể từ trong nội tâm tán thán trí tuệ của người xưa chúng ta, cảm thấy chúng ta quả thực rất cừ khôi. “Lễ Ký Học Ký” nói: “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên.” Bậc vua một nước kiến lập chính quyền, lãnh đạo nhân dân, đặt cái gì ở vị trí thứ nhất? Việc dạy học. Người xưa hiểu được đạo lý này, cho nên chính quyền vừa kiến lập, liền lập tức triển khai việc dạy học. Dạy học đi vào nề nếp, chính quyền quốc gia liền sẽ vô cùng vững chắc, liền có thể trị vì yên bình lâu dài; nếu như lơ là việc dạy học, chính quyền quốc gia liền không ổn định, xã hội liền dễ dàng động loạn, điều này là có đạo lý nhất định.
Đời người sống trên thế gian, nếu như chỉ mưu đồ sự thọ dụng về mặt vật chất, vậy thì có gì khác biệt với cầm thú? Điểm khác biệt giữa con người và cầm thú chính là tiếp nhận nền giáo dục của thánh hiền, hiểu được luân thường, hiểu được đạo lý làm người. Hiện nay sự động loạn của toàn thế giới, rất giống với hình ảnh thời Xuân Thu Chiến Quốc ở Trung Quốc. Thời đại Chiến Quốc, thật mà nói là vô cùng không ra gì, là một thời kỳ lịch sử lễ hoại nhạc lở. Tần Thủy Hoàng dựa vào vũ lực đã thống nhất Trung Quốc, mặc dù vũ lực có thể đoạt được thiên hạ, nhưng không thể dựa vào nó để cai trị thiên hạ, Tần Thủy Hoàng sùng bái vũ lực, đốt sách chôn Nho, dùng bạo lực trị quốc, cho nên số phận nhà Tần ngắn nhất, chỉ vỏn vẹn mười lăm năm liền thảm hại kết thúc. Thay thế vào đó là nhà Hán, Hán Sở tranh hùng năm năm, Hán Cao Tổ tiêu diệt Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ, thống nhất Trung Quốc. Người kế nghiệp của Cao Tổ, Hán Vũ Đế có tài lược kiệt xuất, ngài hiểu được đạo lý “trên lưng ngựa có thể lấy được thiên hạ, không thể trên lưng ngựa cai trị thiên hạ”, biết rằng nếu như mê tín bạo chính, lấy cực hình luật pháp nghiêm khắc trị thiên hạ, nhân dân tất nhiên sẽ không khuất phục, như vậy liền sẽ đi lại vết xe đổ diệt vong của nhà Tần. “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”, thế là ngài liền nghĩ đến giáo dục. Lúc đó học thuyết của chư tử bách gia rất sôi nổi, thực sự là cục diện trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng, lúc đó học thuyết Khổng Mạnh đứng ở vị trí bình đẳng với các học phái khác. Hán Vũ Đế triệu tập rất nhiều học giả chuyên gia để nghiên cứu thảo luận, giáo hóa nhân dân tốt nhất phải dùng học thuyết như thế nào? Cuối cùng đã tiếp nhận kiến nghị của đại thần Đổng Trọng Thư, áp dụng học thuyết Khổng Mạnh. Hán Vũ Đế tiếp nhận học thuyết Nho gia, đây là một hành động cao minh, người gợi ý cao minh, người ra quyết sách cao minh, đã đem lại phúc lợi hơn hai ngàn năm cho Trung Quốc. Từ đó về sau, Trung Quốc đã trải qua sóng gió hơn hai ngàn năm, mặc dù triều đại thay đổi, quốc thể luôn không bị tiêu diệt, không bị lịch sử đào thải, từ đây có thể biết quyết sách này cao minh biết bao, quan trọng biết bao! Chư tử bách gia ai ai cũng đều có một bộ hệ thống của riêng mình, có một bộ chủ trương của riêng mình, duy chỉ Khổng Mạnh là không có. Khổng Mạnh là thuật lại mà không tự sáng tác, những gì nói ra đều là kinh nghiệm trị quốc tề gia bình thiên hạ của cổ thánh tiên hiền, không có đổi mới, không có phát minh, không có nêu lên cái mới lạ khác thường, cho nên tôi nói Khổng Mạnh là người thật thà. Đổng Trọng Thư, Hán Vũ Đế coi trọng người thật thà, bởi vì người thật thà không quên nguồn cội, không quên lão tổ tông, như vậy mới có thể làm được nguồn xa dòng dài, trị vì yên bình lâu dài. Hán Vũ Đế đã quả quyết chấp nhận ý kiến của đại thần Đổng Trọng Thư, “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, kể từ đó, Nho học trở thành dòng học thuật chính của Trung Quốc, trở thành phương lược trị quốc xuyên suốt của các triều đại Trung Quốc sau thời nhà Hán. Hán Vũ Đế đã thống nhất bản đồ Trung Quốc, đồng thời cũng dùng giáo dục của Nho gia thống nhất ý thức của dân tộc Trung Hoa, cấu trúc nên linh hồn của dân tộc Trung Hoa. Học thuyết Nho gia đã tăng cường lực hướng tâm của dân tộc Trung Hoa, đặt định nền tảng cơ nghiệp hơn sáu trăm năm của triều nhà Hán, làm cho quốc lực nhà Hán cường thịnh, nhân dân an lạc, thời gian dài xuất hiện một cảnh tượng thái bình thịnh trị.
Người hiểu giáo dục, thực tiễn giáo dục, thu được thành quả tốt đẹp trong giáo dục là người dân chúng ta, chúng ta coi trọng giáo dục ít nhất đã có lịch sử năm ngàn năm. Về nền giáo dục Truyền thống, Khổng tử đã sáng lập ra hình mẫu dạy học tư nhân, mà quốc gia chính thức định ra chính sách dạy học, có thể lội ngược dòng đến ba đời Hạ, Thương, Chu. Chúng ta có thể thấy trong sử tịch, thời đại Nghiêu Thuấn cách chúng ta bốn ngàn năm trăm năm, quốc gia đã chính thức thiết lập cơ cấu dạy học, Nghiêu Thuấn mệnh lệnh Tiết làm Tư đồ, Tư đồ chính là trưởng quan chủ quản giáo dục của quốc gia. Nội dung của giáo dục là gì? Luân lý, đạo đức. Người xưa chúng ta coi trọng thứ này, những thứ khác như khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, đều đặt ở vị trí thứ yếu. Nói cách khác, giáo dục của chúng ta đầu tiên là dạy bạn làm một người tốt, làm một người thiện, đây là đặc sắc của giáo dục truyền thống. Nội dung cốt lõi của nó tóm lược lại mà nói, chính là học thuyết luân lý, đạo đức, nhân quả, đến sau thời nhà Hán lại cộng thêm Phật giáo. Phật giáo là do bậc đế vương thời cổ đại thỉnh từ Tây Vực sang, Phật giáo sau khi truyền đến Trung Quốc, vừa so sánh giao lưu, phát hiện Phật giáo và văn hóa bản địa Trung Quốc hoàn toàn tương ứng, không có tơ hào mâu thuẫn nào, do đó người Trung Quốc lập tức tiếp nhận toàn bộ. Phật giáo truyền đến Trung Quốc đầu tiên là năm Vĩnh Bình thứ mười đời Hán Minh Đế, hoàng đế phong hai vị pháp sư Tây Vực đến Trung Hoa làm quốc sư, có thể thấy quốc gia coi trọng Phật giáo nhường nào. Lúc đó, giáo dục truyền thống là do thừa tướng quản lý, dưới thừa tướng có một bộ Lễ, tương đương với bộ Giáo dục hiện nay, Lễ bộ Thượng thư chính là bộ trưởng bộ Giáo dục của quốc gia. Mà giáo dục Phật-đà thì do hoàng đế đích thân nắm giữ, cho nên lực độ thúc đẩy giáo dục Phật-đà vượt qua văn hóa bản địa Trung Quốc, có thể nhanh chóng triển khai trên toàn quốc, hoàng đế đã đóng vai trò rất lớn. Cứ như vậy, văn hóa truyền thống của chúng ta đã có ba cội rễ, Nho Thích Đạo. Nho gia nói hiếu đễ trung tín, Đạo gia nói nhân quả báo ứng, nhà Phật nói “hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết hại, tu mười nghiệp thiện”. Hai câu phía trước của nhà Phật tương ứng với Nho gia, hai câu phía sau tương ứng với Đạo gia, ba nhà Nho Thích Đạo giao hòa như nước với sữa, song hành cùng nhau không trái nghịch, ba cội rễ đồng một nguồn, cùng nhau cấu trúc nên văn hóa truyền thống Trung Hoa bác đại tinh thâm, thời gian dài cùng nhau giáo hóa và tạo phước cho con dân nước ta. Tiến sĩ Toynbee của nước Anh tán thán người xưa chúng ta tâm lượng lớn, không có ganh tị, không có bài xích, có thể bao dung văn hóa ngoại tộc, chính là chỉ cho Phật giáo. Sự truyền vào của Phật giáo đã làm phong phú cực lớn cho nền văn minh bản địa của Trung Quốc, ảnh hưởng và thúc đẩy tiến trình lịch sử Trung Quốc.
Đạo hiếu mà Nho gia đề xướng, nội dung rất rộng rãi, một người không chỉ cần phải biết nuôi dưỡng thân thể của cha mẹ, mà càng phải biết nuôi dưỡng cái tâm của cha mẹ, nuôi dưỡng cái chí của cha mẹ. Đệ tử của Khổng tử hỏi thế nào là hiếu? Phu tử liền nói: “Người hiếu thời nay, là nói có thể nuôi dưỡng; cho đến chó ngựa, đều có thể nuôi dưỡng; nếu không cung kính, lấy gì để phân biệt đây?” Ý nói là, đứa con hiếu thảo bây giờ, chỉ có thể phụng dưỡng; thế nhưng nuôi chó nuôi ngựa cũng là nuôi, nếu như chúng ta chỉ biết nuôi dưỡng song thân, mà không biết hiếu kính, vậy làm thế nào để phân biệt giữa nuôi cha mẹ và nuôi chó nuôi ngựa đây? Cho nên, nuôi song thân thì dễ hiếu kính song thân mới khó, hiếu là từ nội tâm biểu đạt ra tình cảm tôn kính và tri ân đối với cha mẹ.
Một phương diện khác của việc nuôi dưỡng cái tâm của cha mẹ, là đừng để cho cha mẹ phải lo âu, làm được “cha mẹ chỉ lo lắng cho bệnh tật của con”. Ý nói là, ngoại trừ sức khỏe ra, cha mẹ sẽ không vì bạn mà lo lắng ở bất kỳ phương diện nào khác, như vậy bạn mới xứng đáng gọi là một đứa con chí hiếu. Ví như, chúng ta đến trường học tập, bài vở không tốt, cha mẹ sẽ lo âu, đây chính là bất hiếu; không thể chung sống với bạn học, khiến cha mẹ lo âu, đây cũng là bất hiếu; bước ra đi làm, không thể chung sống với đồng nghiệp, nhiệm vụ trưởng quan giao phó không thể hoàn thành tốt, khiến cha mẹ lo âu, đây vẫn là bất hiếu; huống hồ là những chuyện không chịu học hành vô nghề nghiệp như đánh nhau ẩu đả. Cho nên, chúng ta quan sát từ chỗ này, phát hiện đứa con chí hiếu chắc chắn sẽ là một người rất hoàn mỹ. Người xưa chúng ta nói “tìm bậc trung thần từ trong nhà có hiếu tử”, tuy câu nói này từng bị phê phán sai lệch, nhưng trên thực tế nó có nội hàm rất sâu sắc, phương thức tuyển chọn nhân tài này, ở rất nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đều phụng làm chuẩn mực, khi một người sắp được thăng từ nhân viên bình thường lên làm chủ quản, ông chủ doanh nghiệp nhất định sẽ đi thăm hỏi cha mẹ của người đó xem có hài lòng về anh ta hay không? Xem anh ta có phải là một người con hiếu thảo hay không? Bởi vì chỉ có người tận hiếu với cha mẹ mới tận trung với công ty.
Hơn nữa, nuôi dưỡng cái chí của cha mẹ. Cha mẹ sinh thành nuôi dưỡng chúng ta, giáo dục chúng ta, là hy vọng chúng ta có thể có sở cống hiến đối với xã hội. Chúng ta dùng năng lực của bản thân, học thức của bản thân, để cống hiến nhiều hơn cho quần chúng xã hội, đây chính là nuôi dưỡng cái chí của cha mẹ. Ví như lúc ăn tết, Thủ tướng Ôn thường xuyên ở trên công trường, hoặc là đến nhà của nông dân, để thăm hỏi an ủi quần chúng nhân dân. Ăn tết rồi, ông không ở cạnh bên mẹ, chúng ta có cảm thấy Thủ tướng Ôn không phải là một người con có hiếu hay không? Thực ra không phải vậy. Mẹ của ông vì có một người con trai như vậy mà cảm thấy vui mừng, cảm thấy tự hào, bà cảm thấy con trai của mình đã có cống hiến cho quốc gia cho nhân dân cho xã hội, bà vô cùng mãn nguyện. Cho nên, trên “Hiếu Kinh” nói “lập thân hành đạo, rạng danh với đời sau, để rạng rỡ cha mẹ, đó là điều cuối cùng của chữ hiếu”, điều đang nói chính là tầng mức cao hơn này của chữ hiếu: nuôi dưỡng cái chí của cha mẹ.
Ngoại trừ giáo dục phẩm đức ra, người xưa đối với việc đọc sách cũng rất coi trọng. Đọc sách chính là học thuộc lòng sách, thầy giáo trường tư thục thuở xưa không giảng giải, chỉ dạy cách ngắt câu, bảo bạn đem toàn bộ điển tịch của cổ thánh tiên hiền học thuộc lòng. Trẻ em trí nhớ tốt, đọc hai, ba lần liền có thể thuộc. Sau khi thuộc rồi, thầy giáo đôn đốc đọc thêm một trăm lần, hai trăm lần. Vì sao lại đọc số lần nhiều như vậy? Cả đời đều sẽ không quên, cho dù đến năm tám chín mươi tuổi viết văn, trích dẫn kinh điển, đều không cần tra tài liệu, đã thuộc lòng quá kỹ rồi. “Hình thành từ nhỏ thì giống như thiên tính”, hoàn toàn bảo bạn học thuộc, không giảng giải. Ngày ngày dạy bạn đọc to, dạy bạn ghi nhớ cho kỹ, mục đích nằm ở đâu? Mục đích là đánh bật vọng tưởng của bạn đi, khiến tâm địa của bạn thuần chánh, khắc ghi lời dạy bảo của cổ thánh tiên hiền vào trong tâm, xem như kim chỉ nam làm người hành sự suốt cả đời, đây là phương pháp dạy học đồng mông dưỡng chánh trong giai đoạn tiểu học. Trung Quốc cổ đại không thiết lập trung học, chỉ có tiểu học, thái học. Thái học chính là đại học, tiểu học là từ bảy tuổi đến mười hai tuổi, giai đoạn này xong rồi, mười ba tuổi liền bước vào thái học. Việc dạy học trong thái học, không còn học thuộc nữa, bởi vì tất cả đều đã học thuộc qua rồi, mà thay vào đó là giảng giải, nghiên cứu, thảo luận. Thái học rất có thi vị, là niềm vui đọc sách thực sự, đâu giống như đọc sách cực khổ như hiện nay? Chúng ta xem học sinh hiện nay làm học sinh cực khổ như vậy, làm thầy giáo cực khổ như vậy, sợ đến mức kiếp sau không dám làm người nữa, quá khổ quá khổ rồi! Trong thái học thời xưa, một thầy giáo chỉ dạy vài học sinh, môn học nào có những học sinh nào tham gia, hoàn toàn tùy tài mà dạy, nhiều thì khoảng chục người, ít thì năm, sáu người, dùng lời hiện đại mà nói thì đều là chế độ lớp nhỏ. Cho nên thầy giáo thường chuẩn bị rượu thịt, học sinh gánh đồ đạc, thầy giáo ngồi xe, học sinh lái xe, đi du sơn ngoạn thủy khắp nơi, đi đến đâu liền thảo luận đến đó, không cần mang sách, ngay cả sách tham khảo cũng không cần. Sách của học sinh đều thuộc rất kỹ, thầy giáo cũng thuộc rất kỹ, hễ nói đến trang thứ mấy, hàng thứ mấy, mọi người đều biết, cho nên việc dạy học đó thật sự rất vui sướng. Nơi tham quan đa phần đều là những di tích cổ, đều có liên quan đến nội dung giảng dạy, đọc vạn quyển sách, đi vạn dặm đường, một mặt giảng giải, nghiên cứu, thảo luận, một mặt đích thân khảo sát thực địa, cảm nhận sẽ vô cùng sâu sắc, hai, ba tháng sau quay về, khóa học liền kết thúc một cách viên mãn. Thái học tốt nghiệp, tham gia kỳ thi quốc gia. Quốc gia quy định, cấp huyện thị thi tú tài, cấp tỉnh thi cử nhân, quốc gia thi tiến sĩ. Thời đó, chưa đầy hai mươi tuổi thi đỗ tiến sĩ rất nhiều, thi đậu tiến sĩ liền có tư cách làm huyện trưởng thị trưởng, cử nhân ưu tú cũng có thể làm huyện trưởng thị trưởng, làm quan địa phương. Hiện nay xem ra cảm thấy không thể nghĩ bàn, một đứa trẻ nó cũng có thể trị lý tốt một địa phương? Đây chính là hiệu dụng của giáo dục cổ đại của chúng ta, thực sự là trí tuệ, học vấn, phẩm đức thành tựu toàn diện một con người. Cho nên, người xưa chúng ta hiểu giáo dục nhất, có trí tuệ của giáo dục, có phương pháp của giáo dục, có kinh nghiệm của giáo dục, có thành quả của giáo dục. Sự việc này, ở nước ngoài, tiến sĩ Toynbee của nước Anh thường xuyên nhắc đến, tán thán trí tuệ của người xưa chúng ta.
Trường học do quốc gia mở ra ở nước ta trong quá khứ, đó là bồi dưỡng cán bộ quốc gia, có huyện học, có tỉnh học, quốc gia có thái học, đều là chuyên môn bồi dưỡng cán bộ. Những cán bộ này từ đâu mà có? Được tuyển chọn ra từ trong các trường tư thục. Việc này ai đi làm? Quan địa phương làm, nói theo hiện nay chính là huyện trưởng thị trưởng, họ thường xuyên đi thăm dò, đi thị sát khắp nơi, để tìm kiếm đề cử nhân tài có thể đào tạo cho quốc gia. Tiêu chuẩn tuyển chọn do Hán Vũ Đế định ra là “hiếu liêm”, khi quốc gia tuyển chọn nhân tài, trước tiên xem người đó có phải là hiếu tử hay không, sau đó xem người đó có liêm khiết hay không. Nếu như người đó có thể hiếu thân, liền là một người biết báo ân, ngày sau ắt có thể tận trung vì quốc gia, tạo phước cho xã hội; nếu như người đó làm người liêm khiết, liền sẽ trân quý danh tiết của chính mình, không đến mức tham ô hủ bại. Chế độ này đã kéo dài hai ngàn năm, mặc cho triều đại thay đổi ra sao, chế độ này trước sau không đổi, các triều đại trong lịch sử đều chọn hiếu liêm. Cho nên, quan viên địa phương thời cổ đại trong thời gian chấp chính, điều khoản đầu tiên khi khảo sát thành tích của ông ta chính là tiến cử nhân tài cho quốc gia. Treo thưởng cao nhất của quốc gia dành cho ai? Người tiến cử bậc hiền tài được nhận thưởng bậc thượng, thưởng cho những người đã tuyển chọn nhân tài thay cho quốc gia.
Người xưa ở nước ta đối với người lãnh đạo vô cùng tôn kính, “Mạnh Tử” nói “tước một, xỉ một, đức một”, chính là tôn kính người lãnh đạo, tôn kính người lớn tuổi, tôn kính người có đạo đức. Vì sao người xưa ở Trung Quốc kính trọng người lãnh đạo như vậy, xếp họ ở vị trí thứ nhất, điều này có phải là lấy quan chức làm gốc hay không? Không phải. Bởi vì người xưa đọc sách làm quan, hoàn toàn không phải vì để phát tài làm giàu, mà là nghĩ làm thế nào đi hồi báo xã hội, niệm niệm của họ đều là lấy thiên hạ làm trách nhiệm của bản thân, mục đích đọc sách của họ là vì tạo phước cho nhân dân, do đó họ xứng đáng được nhân dân tôn kính. Ví như, Phạm Trọng Yêm thời nhà Tống, lúc nhỏ có một lần đọc sách mệt rồi, liền ra ngoài chơi, gặp được một tiên sinh bói toán, ông rất tò mò, liền hỏi: “Ông biết xem mệnh sao? Ông giúp cháu xem thử, sau này cháu có thể làm tể tướng hay không?” Phạm Trọng Yêm tuy tuổi còn nhỏ, hễ mở miệng là muốn làm tể tướng, đã làm vị tiên sinh bói toán này giật thót mình, vội hỏi: “Vì sao cháu tuổi còn nhỏ mà ăn nói ngông cuồng, mở miệng ra là muốn làm tể tướng?” Bị vị tiên sinh bói toán này hỏi như vậy, chính ông cũng cảm thấy rất ngại ngùng, thế là ông liền đổi giọng nói: “Vậy ông giúp cháu xem thử, sau này cháu có thể làm một bác sĩ tốt hay không?” Lương tướng và lương y dưới góc nhìn của tiên sinh bói toán, là nghề nghiệp hoàn toàn khác biệt về sang hèn, thế là liền hỏi ông: “Vì sao cháu đọc sách chỉ muốn làm tể tướng và bác sĩ?” Không ngờ Phạm Trọng Yêm tuổi còn nhỏ đã trả lời như vậy: “Chỉ có lương tướng lương y mới có thể cứu giúp người khác.” Câu nói như vậy thốt ra từ miệng của Phạm Trọng Yêm lúc tuổi còn nhỏ, đã khiến vị tiên sinh bói toán này vô cùng cảm động, ông nói: “Tâm thái này của cháu, chính là tâm thái của một vị tể tướng, sau này cháu làm quan nhất định có thể làm đến chức tể tướng.” Chúng ta biết Phạm Trọng Yêm về sau làm quan, ông thực sự đã làm đến tể tướng, bởi vì ông có tấm lòng cao thượng “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”. Hãy nhìn lại thời hiện đại, Chu Tổng lý của chúng ta lúc nhỏ, có một lần thầy giáo hỏi ông: “Em đọc sách là vì cái gì?” Chu Ân Lai lúc đó mới mười ba tuổi đã vung bút viết xuống mấy chữ to “vì sự vươn lên của Trung Hoa mà đọc sách”. Những người này sở dĩ có thể trở thành một thế hệ lương tướng lưu danh thiên cổ, có thể trở thành vị tổng lý của một nước lớn được ức vạn nhân dân thật lòng kính yêu, tuyệt đối không phải là ngẫu nhiên, bởi vì họ từ nhỏ đã tiếp nhận sự huân tu của văn hóa truyền thống, có cái tâm thánh hiền lo cho nước lo cho dân đó.
Chữ viết của chúng ta và nước ngoài không giống nhau, là ký hiệu của trí tuệ. Lật xem từ điển, chúng ta xem chữ “教 giáo”, chữ “giáo” là chữ hội ý trong lục thư, kết cấu trái phải, hai dấu chéo bên trái có nghĩa là trên làm dưới theo, biểu thị bên trên làm như thế nào, bên dưới học như thế ấy; bên kia viết thành chữ triện rất đẹp mắt, giống như một bàn tay cầm lấy nhánh cây nhỏ, đang gõ nhè nhẹ, đây là thầy giáo đang nhắc nhở học sinh siêng năng học tập. Chữ “育 dục”, chữ “tử” ở bên trên viết lật ngược lại, cấu tạo bằng bộ nhục, bao hàm ý nghĩa “nuôi nấng đứa trẻ khiến nó làm việc thiện”. Quá khứ người làm cha mẹ đều mong mỏi con cái tương lai có thể trở thành thiện nhân quân tử, có thể lập công dựng nghiệp, làm rạng rỡ gia tộc, đây là lý niệm của giáo dục gia đình xưa của chúng ta. Thế nhưng, chiểu theo tiêu chuẩn này để cân nhắc, hiện tại không có giáo dục nữa. Giáo viên trong quá khứ, trước tiên dạy bạn làm người như thế nào, còn như làm việc, đó là thuộc về đào tạo kỹ năng, kỹ thuật. Bạn xem cách dạy học của Khổng tử, ngài giảng bốn khoa, thứ nhất là đức hạnh, thứ hai là ngôn ngữ, thứ ba là chính sự, cuối cùng mới là văn học. Chính sự tương đương với giáo dục nghề nghiệp hiện nay, dạy người ta kỹ năng mưu sinh, đây là phương diện vật chất; văn học là giáo dục văn hóa nghệ thuật, thuộc về tầng mức đời sống tinh thần. Bạn xem, bất luận là đời sống vật chất hay là tầng mức tinh thần, đầu tiên nhấn mạnh chính là nền tảng đức hạnh, lấy đức hạnh làm cái gốc lớn cái rễ lớn của giáo dục quốc dân. Thế nhưng trường học hiện nay, tuy mở ra danh mục phồn đa, nhưng đại đa số đều dường như là nơi truyền bá kiến thức kỹ năng, cái gọi là thầy giáo cũng chẳng qua chính là người dạy học sinh cách thi cử như thế nào, làm bài tập như thế nào. Bốn khoa dạy học của Khổng Lão phu tử, hai khoa đầu tiên đều không còn nữa, hai khoa đầu tiên là căn bản, thế nhưng giáo dục hiện đại lại đánh mất đi căn bản rồi!
Xã hội toàn thế giới động loạn ngày nay, vấn đề rốt cuộc xuất phát từ đâu? Xuất phát từ việc bốn loại giáo dục này không còn nữa, sự việc này phiền phức lớn rồi! Mối quan hệ giữa người với người không hài hòa, diễn biến thành việc anh em chị em giết nhau, cha mẹ con cái giết nhau, vợ chồng giết nhau, người yêu giết nhau, đồng nghiệp giết nhau, cấp trên cấp dưới giết nhau… thường xuyên xuất hiện trên xã hội hiện nay. Những người này lúc giết người, trong tâm tràn đầy hận thù, đầu óc hoàn toàn trống rỗng, không biết giết người là lỗi lầm, không biết giết cha mẹ là tội ác đệ nhất trong thiên địa, bạn xem vấn đề này nghiêm trọng biết bao! Năm ngoái, đồng tu ở Paris, London bên đó nói với tôi, hai tuần trước đã xảy ra một vụ án anh em giết nhau, người em mười bốn tuổi đã giết chết anh trai. Người em không biết giết người là có tội, không biết sát hại anh trai là thiên lý khó dung. Đây là chuyện gì vậy? Chắc chắn là do truyền thông dạy ra, bạo lực sắc tình trong điện ảnh, ti vi, mạng internet tràn lan, nó từ nhỏ xem nhiều những thứ này rồi, tưởng rằng việc này rất bình thường, giết người có thể giải quyết mọi vấn đề. Cho nên, tôi nói với các bạn đồng học ở địa phương, tôi nói hiện tại một tuần bạn sẽ nghe thấy hai, ba lần; mười năm sau, bạn sẽ một ngày nghe thấy hai, ba mươi lần; hai mươi năm sau, bạn sẽ một ngày nghe thấy hai, ba trăm lần, điều này liền gọi là ngày tận thế. Ngày tận thế nói trong tôn giáo phương Tây, theo tôi thấy không nằm ở sự hủy diệt của trái đất, cũng không nằm ở chiến tranh vũ khí hạt nhân, mà là con người không còn giống con người. Con người một khi mất đi giới hạn đạo đức, liền sẽ đi ngược lại với chính mình, liền sẽ ngay cả cầm thú cũng không bằng! Phần tử khủng bố ở đâu? Nói không chừng ngay trong nhà của chính mình, chính là con cháu của mình, nói ba câu không lọt tai, nó liền giết bạn, xem bạn tính sao? Vấn đề này đã rất nghiêm trọng, chứng tỏ giáo dục là việc lớn, không phải việc nhỏ, toàn xã hội phải xem trọng lên, hiện tại mau chóng vãn hồi vẫn còn kịp, nếu như chậm thêm năm mười năm nữa, e rằng thực sự thần tiên hạ phàm cũng không cứu được. Ngày nay chúng ta bàn về giáo dục luân lý đạo đức, xét trên thời tiết nhân duyên mà nói thì đã đi đến giới hạn cuối cùng, không thể chậm trễ thêm, chậm trễ nữa liền nguy to. Lúc tôi và tổng thống Bush gặp mặt có nói đến vấn đề này, ông ấy cũng vô cùng coi trọng. Tôi nói với những người bạn nước Mỹ, mối lo họa của nước Mỹ tuyệt đối không ở ngoài nước, mà ở trong nước. Bao nhiêu năm nay, tỷ lệ phạm tội ở thanh thiếu niên nước Mỹ tăng dần theo từng năm, đây là một điềm báo vô cùng đáng sợ, cần phải đặc biệt gây sự cảnh giác.
Có một tờ tạp chí nước Mỹ, nói đến tỷ lệ phạm tội ở thanh thiếu niên, quá đáng sợ rồi. Vì việc này tôi đặc biệt đến California, Los Angeles, mở hai buổi tọa đàm trên đài phát thanh. Vị khách mời đầu tiên là công tố viên trưởng, quan tòa của khu vực đại Los Angeles, vị thứ hai là thị trưởng thành phố Pasadena, vị thứ ba là hiệu trưởng chi nhánh Los Angeles của đại học California, bốn người chúng tôi cùng nhau tọa đàm. Tôi liền nêu ra sự việc này, hỏi xin ý kiến của công tố viên trưởng, hỏi báo cáo này có phải là thật hay không? Ông ấy nói là thật. Tôi nói hiện tại có cách nào khống chế được hay không? Ông ấy nói không có cách nào. Tôi liền nói một câu rất không khách sáo: “Nếu như không khống chế được, mặc cho nó phát triển tiếp, nước Mỹ đại khái ba mươi năm nữa sẽ mất nước.” Ông ấy nghe xong sửng sốt, không có cách nào trả lời. Mọi người đều biết vấn đề này vô cùng nghiêm trọng, thế nhưng đối với thế hệ sau không biết nên làm thế nào?
Có một năm, tôi giảng kinh ở San Francisco, cư sĩ Cam Quý Tuệ nói với tôi, trong thính chúng có bảy mươi phần trăm là tiến sĩ, bà ấy nói ngài đã mở lớp tiến sĩ ở San Francisco rồi. Hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển, ở nước Mỹ có rất nhiều người học vị tiến sĩ. Nhiều người tiếp nhận giáo dục bậc cao như vậy, vì sao vẫn mê tín như vậy, vẫn bước vào tà giáo? Điểm này chúng ta phải biết, bởi vì anh ta chưa từng tiếp nhận giáo dục căn bản, thứ anh ta tiếp nhận chỉ là tri thức khoa học. Tri thức khoa học có thể tăng thêm hiểu biết cho con người, có thể khiến con người nắm bắt một số kỹ năng nhất định, cũng có thể khiến con người trở nên tương đối thông minh, nhưng tri thức không phải là trí tuệ. Trí tuệ, vượt không gian thời gian, tiềm năng to lớn, là căn bản để nhận thức thế giới một cách chính xác, chỉ có trong việc dạy học thời cổ đại của chúng ta mới có, nội dung dạy học của nó, hoàn toàn hướng vào sinh hoạt hiện thực. Trước tiên giảng cho bạn đạo lý của luân lý, cũng tức là dạy bạn hiểu rõ mối quan hệ giữa người với người, bắt đầu giảng từ mối quan hệ cha con, mối quan hệ vợ chồng, mối quan hệ anh em, mối quan hệ bạn bè, mối quan hệ vua tôi (mối quan hệ vua tôi dùng lời hiện đại mà nói, chính là mối quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo), để cho bạn rõ ràng trên thế giới này, bản thân mình là thân phận gì? Phải chung sống với người khác như thế nào? Bản thân nên làm trọn nghĩa vụ gì? Đây chính là giáo dục. Sau khi hiểu rõ mối quan hệ nhân sự, tiến thêm một bước, lại dạy bạn mối quan hệ giữa người và môi trường, mối quan hệ giữa người và động vật, mối quan hệ giữa người và thực vật, mối quan hệ giữa người và sơn hà đại địa. Tiến thêm bước nữa, giảng đến cái gọi là huyền học, tức là mối quan hệ giữa người và thiên địa quỷ thần. Những đạo lý lớn về vũ trụ nhân sinh này, là cái gốc lớn cái rễ lớn của việc làm người. Hiểu được cách làm như thế nào, sinh mệnh mới có ý nghĩa, nhân sinh mới có phương hướng, thế giới mới thái bình, đây chính là nền giáo dục trí tuệ của người xưa chúng ta.
Xã hội hiện nay loạn như vậy, nguyên nhân nằm ở đâu? Luân lý loạn rồi, mối quan hệ giữa người với người loạn rồi, quên đi trách nhiệm làm người. Từ đó biến thành cái gì? Con người càng lúc càng tự tư, tự tư đương nhiên liền sẽ xảy ra xung đột. Người người thấy lợi quên nghĩa, chỉ mưu đồ lợi ích, bạn nghĩ xã hội an định làm sao có thể? Mạnh tử nói rất hay: “Kẻ trên người dưới cùng tranh giành lợi ích, quốc gia đó nguy mất”, đây chính là bức tranh chân thực của xã hội hiện đại chúng ta. Cho nên, xã hội quốc tế hiện thời hoàn toàn là một khung cảnh loạn lạc, nhân loại vô cùng nguy hiểm. Quý vị phải biết, thế kỷ 21, muốn cứu vãn vận suy đồi của nhân loại thế giới, đúng như nhà triết học vĩ đại Toynbee của nước Anh đã nói, chỉ có văn hóa truyền thống chúng ta và Đại thừa Phật pháp, ngoài cái này ra không còn con đường nào khác. Từ xưa đến nay, giáo dục truyền thống có công năng duy trì sự an định hòa thuận của xã hội, “hòa” là cốt lõi của nó, cùng tồn tại cùng phồn vinh là lý niệm của nó, thể hiện trên năm phương diện “đạo, đức, nhân, nghĩa, lễ”, nếu như không chú trọng những thứ này, muốn đạt được sự an định phồn vinh của xã hội, là điều tuyệt đối không thể nào.
Chúng ta lại nói thêm về giáo dục tiểu học trên xã hội. Ở Đài Loan có một số đồng tu, đề xướng “phong trào trẻ em đọc kinh”, họ đem ý tưởng này gửi đến cho tôi xem, tôi sau khi xem xong rất hoan hỉ, đã thêm hai chữ “hiếu liêm” vào tên gọi của nó là “phong trào trẻ em hiếu liêm đọc kinh”. Vì sao lại thêm vào hai chữ này? Bởi vì hai chữ này có thể cứu vãn xã hội. “Trăm điều thiện hiếu đứng đầu”, đề xướng đạo hiếu, con người liền có thể biết ơn báo bổn, làm việc sẽ tuân thủ nghiêm ngặt chức trách, tận tâm tận lực; phụng hành liêm khiết, liền có thể đoạn trừ tham ô, quan thanh liêm dân phục tùng, tự nhiên thiên hạ thái bình.
Trẻ em đọc kinh có thể đạt được hiệu quả hay không? Tôi cảm thấy có khó khăn. Khó ở chỗ nào? Khó ở việc làm gương hướng dẫn chính xác và môi trường lớn của xã hội hiện thời. Giáo dục truyền thống của chúng ta bị đánh mất quá lâu rồi, mấy thế hệ người đã bị làm lỡ dở, nếu như không có hoàn cảnh tu học tốt, không hình thành nhận thức chung của gia đình xã hội, không có chính phủ quốc gia ra sức đề xướng thúc đẩy, thì rất khó thu được hiệu quả, điều này liền cần sự nỗ lực chung của mấy thế hệ trong toàn xã hội mới có thể hoàn thành. Điều này khiến tôi nhớ đến, Quốc dân đảng những năm đầu ở Đài Loan từng có một thời đề xướng khôi phục văn hóa truyền thống. Có một lần tôi ở nhà của Phương Đông Mỹ tiên sinh, gặp được mấy vị quan chức bộ Giáo dục lúc đó đang thỉnh giáo Phương lão sư, công tác phục hưng văn hóa nên làm như thế nào? Phương lão sư trả lời tuyệt diệu vô cùng. Ông ấy nói, thứ nhất, tất cả báo chí tạp chí của Đài Loan nhất loạt đình bản; thứ hai, đài truyền hình và đài phát thanh toàn bộ đều đóng cửa. Những quan chức này nghe xong lắc đầu: Điều này làm không được! Phương tiên sinh nói, những thứ này ngày ngày đang phá hoại văn hóa truyền thống, chỉ cần những thứ này tồn tại, còn nói gì đến phục hưng! Lời này nói rất chính xác, cho nên Đài Loan diễn biến đến ngày nay, mọi người đều nhìn thấy rồi, là một khu vực loạn nhất toàn thế giới. Năm mươi năm trước Phương lão sư đã nhìn thấy rất rõ ràng, không phải làm không được, là chính phủ không có sự quyết đoán này, không có nhận thức này.
Đối với ti vi, đài phát thanh, điện ảnh, tạp chí, báo chí, tôi đại khái đã hơn bốn mươi năm không tiếp xúc, tự mình bảo vệ chính mình. Không đi xem những thứ này, xem rồi, liền sẽ hấp thu một số rác rưởi, điều này là hoàn toàn trái nghịch với tự tánh. Chúng ta có thời gian thì nên đọc sách thánh hiền nhiều hơn, đọc sách thánh hiền có niềm vui chân thật, giống y như phu tử đã nói “học mà thường xuyên ôn tập, chẳng phải vui sao!” Tôi sống ở Hồng Kông, mỗi tối đọc sách ít nhất đều đọc đến mười hai giờ, một tuần luôn có hai, ba buổi tối đọc đến hai giờ, vui! Đọc sách thực sự vui — kết bạn với bậc thánh hiền, gần gũi người thánh hiền. Nhiều năm nay, người ta tặng sách cho tôi, đầu tiên tôi xem trang bản quyền, chỉ cần bên trên viết “bản quyền sở hữu, in lậu tất cứu”, tôi liền không xem. Phải hỏi vì sao? Bởi vì tâm lượng của tác giả quá nhỏ, coi tiền bạc quá nặng, có thể viết ra được đồ tốt gì chứ? Cho nên không cần thiết tốn thời gian để đi đọc. Xem qua xem lại, vẫn là đồ của thánh nhân thời xưa tốt, trí tuệ cao minh, lòng dạ rộng mở, không cần bản quyền, vô tư cống hiến, không có mảy may một chút tâm tư lợi, niệm niệm đều là nghĩ cho chúng sanh trong thiên hạ.
Hiện nay học sinh đều bị ti vi, mạng internet dạy hư rồi, làm sao để dạy chúng quay đầu lại? Quá khó quá khó rồi! Ti vi và mạng internet giờ giờ khắc khắc không ngừng ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và tư duy của con người. Trong ti vi hiện nay đang chiếu những gì? Không rời khỏi ân oán tình cừu, sắc dục bạo lực. Những thứ tiêu cực này, bọn trẻ nhìn vào trong mắt, ghi vào trong tâm, chúng học được hết cả. Do đó, ti vi và mạng internet trong khi mang đến đủ thứ tiện lợi cho đời sống con người, nó thực sự cũng là một thanh gươm hai lưỡi sắc bén, một khi mất đi sự ước thúc của đạo đức, tất sẽ sinh ra tác hại cực kỳ nghiêm trọng đối với xã hội, trở thành cơn ác mộng của nhân loại. Đặc điểm của ti vi, mạng internet là tốc độ truyền bá đặc biệt nhanh, diện đối tượng tiếp nhận đặc biệt rộng, lượng thông tin đặc biệt lớn, do đó ảnh hưởng và tác dụng của ti vi, mạng internet đối với thanh thiếu niên tuyệt đối không thể đánh giá thấp. Ngày nay chúng ta trong việc dạy học Phật-đà đã đồng hành cùng thời đại, áp dụng phương thức mạng internet quốc tế, ti vi, chính là làm ngược lại con đường đó. Chúng tôi dùng mạng internet dạy học đã được hai mươi năm, dùng phương pháp này, một thầy giáo có thể gánh vác bằng ngàn vạn thầy giáo. Thanh gươm hai lưỡi mạng internet này, nếu có thể vận dụng cho tốt, xã hội được ích lợi, quốc gia có thể cứu được. Mấu chốt nằm ở nhà lãnh đạo quốc gia, nếu như nhà lãnh đạo quốc gia thực sự giác ngộ rồi, mời nhân tài chuyên môn, lễ thỉnh thầy giáo tốt, lợi dụng ti vi dạy học, mở riêng một kênh “giáo dục văn hoá truyền thống” trên đài truyền hình, liền có thể mở rộng đối tượng tiếp nhận của giáo dục truyền thống, để cho con cháu muôn đời được hưởng lợi.
Hiện nay quốc gia rất coi trọng việc tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức cho người vị thành niên, bao năm qua đã làm rất nhiều sự nỗ lực, thế nhưng hiệu quả thu được rất nhỏ bé, vì sao vậy? Tôi cảm thấy một nguyên nhân vô cùng quan trọng, chính là chúng ta không khiêm tốn tiếp thu bài học từ trong văn hóa truyền thống, quá nhấn mạnh cái gọi là tư duy đổi mới mà xem nhẹ sự kế thừa đạo thống, điều này xét từ căn bản đã làm trái quy luật của đức dục, cho nên không cách nào đạt được hiệu quả như mong đợi. Thế nào là giáo? “Lễ Ký Học Ký” nói với chúng ta: “Giáo dã giả, trưởng thiện nhi cứu kỳ thất giả dã”, nghĩa là giáo dục có hai công dụng, một là khiến cho phương diện thiện lương của con người được tăng trưởng, một cái khác là khiến cho lỗi lầm của con người được cứu vãn. Xem lại “giáo dục” đương đại của chúng ta, các trường học phổ biến coi trọng là đào tạo kỹ năng, nhồi nhét kiến thức chuyên môn, hai mắt cứ nhìn chằm chằm vào thành tích thi cử mà không buông, lại xem nhẹ giáo dục nhân cách của học sinh, đã sơ suất đi vấn đề cốt lõi của giáo dục.
Ngoài ra, giáo dục đạo đức phải tiến hành theo thứ tự từng bước. “Đại Học” có câu “biết được cái gì trước cái gì sau, liền gần với đạo rồi”, nếu như làm đảo lộn thứ tự trước sau của giáo dục, giáo dục liền không thể đạt được mục đích như mong đợi. Giáo dục nên bắt đầu cất bước từ đâu? Đáp án là “trăm điều thiện hiếu đứng đầu”. “Tam Tự Kinh” đã tóm tắt vô cùng súc tích, đó là “trước hiếu đễ, sau thấy nghe”, giáo dục đầu tiên nên bồi dưỡng cái tâm hiếu đễ của con người, sau đó mới dạy họ tri thức và kỹ năng. Vì sao vậy? Bởi vì tri thức kỹ năng có thể tạo phước cho xã hội, cũng có thể mang họa cho xã hội, nếu như một người bất hiếu với cha mẹ, bất trung với bạn bè, cho dù nắm bắt được rất nhiều tri thức và kỹ năng, cũng chỉ có thể tăng trưởng sự tự tư và kiêu ngạo của anh ta, trở thành ngọn nguồn của ác nghiệp.
Hiện nay, chúng ta nhìn thấy rất nhiều hiện tượng xã hội, đều có liên quan đến việc đánh mất cội rễ của cái tâm hiếu đễ. Rất nhiều sinh viên đại học sau khi tiếp nhận sự tài trợ của người khác, vậy mà không có đến một lời cảm ơn, khiến người ta ớn lạnh. Mọi người đang bàn luận về nguyên nhân của phương diện này, ý kiến rối bời. Thực ra nguyên nhân rất đơn giản, chính là bởi vì bọn trẻ hiện đại đã không còn biết biết ơn nữa. Thử nghĩ xem, ân dưỡng dục của cha mẹ lớn như vậy, mà chúng đều không thể ghi nhớ trong tâm, thời thời khắc khắc nghĩ đến việc đi báo đáp, đối với sự tài trợ của người xa lạ, đối với sự quan tâm của chính phủ, làm sao có thể ghi nhớ trong tâm, luôn luôn nghĩ đến việc đền đáp? Ở nước ngoài, chúng ta cũng nhìn thấy không ít tình trạng tương tự, chính phủ đối với những người góa bụa cô độc, người tàn tật, người già cả đã dành cho sự chăm sóc đặc biệt, thế nhưng những người này không những không có tâm biết ơn, còn làm ra các loại chứng cứ giả để lừa gạt chính phủ, hòng mong đoạt được nhiều lợi ích hơn. Tài trợ nhóm người yếu thế, vốn dĩ là trách nhiệm của chính phủ, là hành động hướng thiện của xã hội văn minh, thế nhưng những người được tài trợ này, đối với chính phủ đối với xã hội lại không có mảy may tâm biết ơn nào. So sánh lại, tố chất của bá tánh nước ta thì hoàn toàn khác biệt rồi. Trước kỳ Đại hội 17 chúng tôi đi Đông Bắc làm nghiên cứu điều tra, lúc đó Lý Khắc Cường đang làm Bí thư Tỉnh ủy Liêu Ninh, ông đã giới thiệu chúng tôi đi khảo sát tình hình cải tạo khu nhà lụp xụp ở Phủ Thuận. Sau khi chúng tôi đến đó, nhìn thấy bá tánh ở địa phương thực sự là mang ơn đội đức, viết rất nhiều bài thơ ca ngợi chính phủ. Hiệu trưởng nói: “Không nên cảm ơn chúng tôi, là chúng tôi có lỗi với quý vị. Trên thực tế những vấn đề này đáng lẽ phải giải quyết từ sớm rồi, chúng tôi đến bây giờ mới giải quyết.” Bá tánh cảm ơn chính phủ, tâm biết ơn là phát ra từ nội tâm. Từ sự đối chiếu giữa hai bên, chúng ta quả thực đã nhìn thấy gốc gác văn hóa trong và ngoài nước khác nhau, bá tánh được dạy dỗ ra cũng không giống nhau.
Quá khứ, trường học là do cá nhân mở ra, gọi là trường tư thục, trường tư thục không đủ phổ cập, do đó không thể nào mỗi một người đều có cơ hội đến trường tư thục để tiếp nhận giáo dục chính quy. Làm thế nào để mở rộng giáo dục thánh hiền đến hết thảy các tầng lớp xã hội, để mỗi một người bá tánh đều có thể nhận được sự lợi ích giáo hối của bậc thánh nhân? Giáo dục xã hội thời cổ đại của chúng ta đã khởi được tác dụng bổ khuyết rất tích cực. Giáo dục xã hội, ngày nay chúng ta gọi là biểu diễn văn nghệ, như kịch xướng, ca múa, âm nhạc, hội họa những thứ này, mấy ngàn năm qua dùng phương pháp ngụ giáo ư lạc này, khiến những người không biết chữ trong dân gian, những người chưa từng đọc sách, họ cũng có thể học được đạo lý làm người từ trong đó. Mẹ tôi không biết chữ, chưa từng đọc sách, nhưng đạo lý gì bà cũng đều hiểu. Từ đâu mà học được? Lúc dưới quê có hội miếu hát tuồng, từ nơi đó mà học được. Những loại kịch xướng này của Trung Quốc, nội dung là gì? Trung hiếu tiết nghĩa, thiện ác báo ứng. Nguyên tắc chỉ đạo của nó, chính là một câu nói của Khổng phu tử là “tư vô tà”, tất cả các màn biểu diễn nghệ thuật, đều phải phù hợp với nguyên tắc chỉ đạo này, không thể để người ta sau khi xem rồi, nghe rồi sinh ra tà tư tà niệm, bằng không chính là dạy người trộm cướp dâm đãng, gây hại cho xã hội.
Tuy hiện nay cũng nói về văn nghệ, thế nhưng ý nghĩa không giống với trước đây, văn nghệ thời cổ đại không đơn thuần là giải trí, mà là sự kéo dài và mở rộng của giáo dục đạo đức. Bạn xem “Kinh Thi”, tiêu chuẩn san định thi ca của Khổng Lão phu tử là ba chữ “tư vô tà”, bạn liền biết nghệ thuật cổ đại Trung Quốc là dẫn dắt người ta đến chánh tri chánh kiến. Giáo dục xã hội cổ đại Trung Quốc, bất luận là thi từ, ca múa, kịch xướng, tiểu thuyết, trên thực tế đều giữ gìn một lý niệm của Khổng Lão phu tử, đó chính là “tư vô tà”, chính là dạy tư tưởng của con người không có thành phần tà tư bất chánh. Cho nên, chúng ta nhìn thấy những thi từ, ca múa, kịch xướng này, đều lấy hoằng dương đạo đức, tuyên giảng chánh khí, tịnh hóa nhân tâm làm nội dung chủ yếu. Chúng ta nghe xong bài nói chuyện “Di phong dịch tục mạc thiện ư nhạc” của Cận lão sư, liền có thể cảm nhận được công năng giáo hóa âm thầm lặng lẽ này của giáo dục xã hội. Hán phú, Sở từ, Nguyên khúc, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc của đời sau, cho đến các loại nghệ thuật dân gian, đa phần đều dùng phương pháp nghệ thuật để thể hiện nội dung tích cực, đạt đến tiêu chuẩn giáo hóa “tư vô tà”. Thế nhưng, tiêu chuẩn này hiện nay không còn nữa, các chương trình ti vi, mạng internet, điện ảnh, ca múa hiện nay, chỉ sợ nhân tâm không tà, chỉ sợ thiên hạ không loạn. Những thứ hiện nay, không rời khỏi bạo lực, sắc tình, sát đạo, dối trá, độ tuổi của người bị hại nghe nói đã giảm xuống đến hai tuổi, trẻ con hai tuổi liền để cho chúng tăng trưởng tà tri tà kiến, bạn nói xem làm sao chịu nổi?
Hiện nay, rất nhiều người chúng ta đều nói con cái không dễ dạy, tỳ khí của các tiểu hoàng đế, tiểu công chúa rất dữ dằn, đối với cha mẹ không có tâm hiếu kính. Hiện tượng trẻ em lấy bản thân làm trung tâm vô cùng nghiêm trọng, nguyên nhân ở đâu? Chúng ta hãy quan sát phân tích một chút, hiện nay ai là hạt nhân của gia đình? Con cái là hạt nhân. Chúng ta nói, không có người sinh ra liền mang tỳ khí của tiểu công chúa, tiểu hoàng đế, đều là người lớn chúng ta không biết dạy, đã chiều chuộng chúng trở thành tiểu công chúa, tiểu hoàng đế, xem mọi thứ lấy bản thân làm trung tâm. Giáo dục, tuyệt đối không phải là thuyết giáo trên cửa miệng, mà là thân giáo quan trọng hơn ngôn giáo, cha mẹ nhất định phải làm một tấm gương tốt cho con cái. Người xưa nói “người dùng lời để dạy thì sẽ chuốc lấy sự cãi cọ, người dùng thân giáo thì người khác mới phục tùng”, chỉ dùng ngôn ngữ để giáo huấn, bọn trẻ sẽ sinh ra sự hoài nghi, gây ra tranh cãi, nói bản thân cha mẹ đều làm không được, còn có thể nói con ư? Nó không phục. Cho nên “Đệ Tử Quy” nói “dùng thế phục người, tâm không đồng tình; dùng lý phục người, mới không nói lại”. Trong đời sống chúng ta phải khéo làm ra sự biểu diễn chính diện cho trẻ em, nó liền sẽ đi noi theo học hỏi, trưởng thành khỏe mạnh.
Quá khứ học sinh tiểu học nhập học, ngày đầu tiên làm gì? Làm lễ bái sư. Lễ bái sư đơn giản long trọng, lúc nhỏ tôi từng đích thân trải qua. Sáu tuổi tôi vào trường tư thục, trường tư thục nằm ở trong một từ đường, cha tôi mang theo quà lễ, đó là để cúng dường thầy giáo. Vào học đường, phải hẹn trước với thầy giáo, định sẵn ngày nào đến bái sư, cho nên trong học đường đã có sự chuẩn bị từ sớm. Trong sảnh lớn có thờ bài vị của Khổng tử, nhưng không có tranh chân dung Khổng tử, bởi vì lúc đó tranh vẽ rất ít, chỉ viết một tấm bài vị thờ ở đó để biểu thị sự tôn kính. Thầy giáo đứng ở bên cạnh, bạn học đứng ở hai bên. Cha tôi dẫn tôi đi, tôi đi theo phía sau, hành lễ ba quỳ chín lạy với bài vị của Khổng tử, lạy xong đứng dậy, cha mời thầy giáo lên ghế trên, thầy giáo ngồi ở bên cạnh bài vị Khổng tử, sau đó lại hành lễ ba quỳ chín lạy đối với thầy giáo, dâng lên quà lễ. Mỗi một bạn học sinh mới lúc đi học đều phải làm một lần theo quy củ, cho nên bạn học cũ ở bên cạnh đã xem rất nhiều lần, ấn tượng đặc biệt sâu sắc. Bạn xem, mối quan hệ giữa thầy giáo và phụ huynh không giống với hiện nay, trước đây thầy giáo nhận đại lễ như vậy của phụ huynh, ông ấy nếu như không nghiêm túc dạy bảo trẻ nhỏ cho tốt, ông ấy làm sao có thể xứng đáng với cha mẹ của người ta? Lương tâm làm sao có thể yên ổn? Người làm cha mẹ hành đại lễ như vậy với thầy giáo, là sự gửi gắm phó thác toàn tâm toàn ý, từ đó đứa trẻ này liền ủy thác cho thầy giáo hảo hảo dạy dỗ chiếu cố. Năm xưa, chúng ta ở trong trường phạm lỗi lầm, sẽ bị thầy giáo xử phạt, hình phạt lúc đó là nhục hình, đánh đòn vào lòng bàn tay, phạt quỳ. Tan học về nhà, nếu bị cha mẹ phát hiện rồi, ngày hôm sau nhất định sẽ mang quà lễ tặng cho thầy giáo, cảm ơn sự dạy bảo của thầy giáo. Hiện nay không giống nữa, hiện nay nghe nói thầy giáo ở trường học muốn kỷ luật học sinh, phụ huynh sẽ đi kiện cáo, như vậy thầy giáo còn dám dạy tiếp nữa không? Không dám dạy nữa rồi. Cho nên thuở xưa chúng ta thấy cha mẹ đối với thầy giáo vô cùng tôn kính như vậy, liền tuyệt đối không dám phạm lỗi, vì sao vậy? Phạm lỗi rồi, không chỉ bản thân chịu phạt, cha mẹ còn phải đi nhận lỗi với thầy giáo đồng thời tặng quà cảm tạ. Đây là những trải nghiệm đích thân trải qua của chúng tôi năm xưa, suốt đời không quên, suốt đời thọ dụng.
Mọi người đều biết, Đại thừa Phật pháp ở bản địa Ấn Độ đã bị diệt, duy chỉ ở Trung Quốc là có thể bén rễ đâm chồi, nở hoa kết quả, hơn ngàn năm nay luôn phát huy tác dụng an định thế gian cứu giúp nhân dân, che chở cho xã hội chúng ta được trị vì yên bình lâu dài. Điều này là có đạo lý, bởi vì Phật pháp là sư đạo, sư đạo đầu tiên được kiến lập trên nền tảng của hiếu đạo. Bậc thánh hiền cổ đại Trung Quốc dạy người hiếu đễ, dạy người hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, điều này đối với việc hoằng dương Phật pháp lợi ích quá lớn rồi. Phật pháp cần dưỡng phần như vậy, nó mới có thể sinh trưởng, lớn mạnh, nở hoa, kết trái. Cho nên sau khi Thích-ca Mâu-ni Phật niết-bàn, Phật pháp Trung Quốc trong các triều đại có sự thành tựu vượt xa Ấn Độ, đạo lý chính là ở chỗ này. Nước ta mấy ngàn năm nay bậc thánh hiền xuất hiện lớp lớp, những người nhân đức quân tử chiếm tỷ lệ rất lớn trong dân số, cho nên nước ta trong một thời gian dài, quan thanh liêm dân phục tùng, xã hội an định, nhân dân an cư lạc nghiệp, xã hội xuất hiện cảnh tượng phồn vinh tường hòa. Dưới sự làm gương dẫn dắt của bậc thánh hiền, giữa người với người khiêm tốn nhún nhường, hiểu lễ giữ chữ tín, người người hiểu được thân phận vị trí của chính mình, hiểu được tôn trọng người khác, hiểu được chung sống hòa thuận, cho nên nước ta được gọi là lễ nghi chi bang. Một quốc gia lớn như vậy, dân số đông như vậy, vì sao có thể làm được trong ngoài một mảnh tường hòa? Rất đáng để suy ngẫm sâu xa.
Chúng ta nhìn từ trên lịch sử, Trung Quốc kể từ thời nhà Hán nhà Đường trở đi, được ngợi ca là “con cháu Hoa Hạ”, “lễ nghĩa chi bang”, rất nhiều người nước ngoài đều thích đến Trung Quốc để triều cống. Nếu như lúc họ đến mang theo mười món quà, hoàng đế Trung Quốc liền sẽ hạ lệnh phái người mang tặng lại hai mươi, ba mươi món quà cho họ mang về, quà đáp lễ nhất định phải nặng gấp đôi quà được tặng trở lên, điều này thể hiện cái tâm thật thà đôn hậu của người xưa ở Trung Quốc, không lợi dụng người khác. Cho nên rất nhiều ngoại tộc thời bấy giờ, đều rất thích đến Trung Quốc để triều cống, họ đến Trung Quốc nhìn xem, Trung Quốc quả thực không hổ danh với xưng hiệu lễ nghĩa chi bang, giữa người với người chung sống đều khiêm nhường hiểu lễ, họ quay về bẩm báo với quốc vương của nước mình, rất nhiều quốc gia đều tôn xưng hoàng đế Trung Quốc là “Thiên Khả Hãn”. “Thiên Khả Hãn” là gì? Chính là vị lãnh đạo được công nhận trong thiên hạ. Chúng ta xem xưng hiệu Thiên Khả Hãn, không phải là hoàng đế Trung Quốc dựa vào vũ lực hùng mạnh, khắp nơi chinh phạt quốc gia khác, áp đặt cho người khác, mà là những người này nhìn thấy Trung Quốc được trị vì tốt như vậy, không hổ thẹn là lễ nghĩa chi bang, họ tâm phục khẩu phục, cam tâm tình nguyện muốn tiếp nhận sự giáo hóa của người Trung Quốc. Hiện nay một số người nước ngoài không hiểu văn hóa truyền thống của Trung Quốc, nhìn thấy Trung Quốc hiện tại kinh tế phát triển, họ liền tuyên truyền “thuyết đe dọa Trung Quốc”, đây là gì? Đây là lấy lòng dạ tiểu nhân đo lòng quân tử. Bọn họ nếu biết Trung Quốc có tấm lòng lịch sử cởi mở, có truyền thống văn hóa ưu tú, họ liền sẽ không sinh ra sự đố kỵ, liền sẽ không đưa ra những ngụy biện ngu xuẩn đến như vậy.
Thời nhà Minh, Trịnh Hòa hạ Tây dương, đúng lúc quốc lực Trung Quốc đang trong thời kỳ đỉnh cao cường thịnh, ông mang theo hạm đội lớn nhất thế giới lúc bấy giờ, số lượng người lúc nhiều nhất là hơn hai vạn tám ngàn người, chiếc hạm dài nhất tương đương với chiều dài gấp đôi của điện Thái Hòa ngày nay, đến rất nhiều quốc gia và khu vực. Mỗi nơi ông đi qua, mang đến cho người dân địa phương là trà, là lụa, là thuật đóng tàu và thuật làm giấy tiên tiến, hoàn toàn không xâm chiếm một tấc đất nào của các quốc gia khác. Cho nên cho đến tận ngày nay, Trịnh Hòa ở rất nhiều nơi tại Đông Nam Á, vẫn nhận được sự tôn trọng và ngưỡng mộ. Văn hóa của Trung Quốc không chỉ tạo phước cho bản thân Trung Quốc, mà còn ảnh hưởng đến thế giới, tại Nhật Bản, người được ngợi ca là nhà chỉ đạo cao nhất của nền kinh tế cận đại Nhật Bản, người cha của doanh nghiệp Nhật Bản, vua của giới tài chính là Shibusawa Eiichi, ông chính là một tay cầm “Luận Ngữ”, một tay cầm bàn tính, đã mở ra phong trào kinh doanh doanh nghiệp theo kiểu Nho gia của Nhật Bản, điều này cũng khiến chúng ta nhìn thấy được ý nghĩa quan trọng của văn hóa Nho gia trong xã hội hiện đại. Chính phủ Singapore đương đại càng là tiếp thu dung hợp tất cả, trong lúc tăng cường giáo dục pháp trị, đồng thời đặc biệt coi trọng sự mở rộng của giáo dục luân lý Nho gia, do đó liền khiến cho Singapore trong lúc đạt được sự tăng trưởng kinh tế, phát triển khoa học công nghệ của phương Tây, đồng thời tránh khỏi những căn bệnh xã hội và nguy cơ đạo đức của các quốc gia phương Tây, trở thành quốc gia có trị an tốt nhất trên thế giới hiện nay.
Văn hóa Trung Quốc nguồn xa dòng dài, sự trị vì yên bình lâu dài hơn năm ngàn năm, có đạo lý lớn của nó ở trong đó. Phương Tây trỗi dậy mới ba trăm năm, hiện nay đã đi đến ngày tận thế – lời này không phải là chúng ta nói, mà là bản thân người phương Tây tự xuất bản một quyển sách, sách tên là “Sự suy tàn của phương Tây”. Phương Tây hiện tại thực sự là rắc rối to, đi đến thời đại khủng bố, mất đi sự tự tin của xã hội, tiền đồ mịt mù. Những bậc trí thức có hoài bão trong số họ bắt đầu tiến hành sự phản tỉnh sâu sắc, phải đến phương Đông để tìm kiếm báu vật, đến Trung Quốc, đến Ấn Độ để tìm kiếm phương pháp cứu nước cứu dân. Ở Ấn Độ, đi tìm từ trong Ấn Độ giáo, Phật giáo; ở Trung Quốc, đi tìm từ Nho Thích Đạo; tìm kiếm phương pháp hóa giải xung đột, thúc đẩy xã hội an định hòa bình. Ngày nay, các học viện mang tên Khổng tử đã phủ khắp rất nhiều quốc gia và khu vực, văn hóa truyền thống Trung Quốc được toàn thế giới theo đuổi chưa từng có, điều này đủ để chứng minh giáo dục truyền thống Trung Quốc có sức sống vĩnh cửu, là chân lý đặt ở bốn bể đều chuẩn xác. Cho nên, người Trung Quốc chúng ta trước tiên phải có lòng tin đối với lão tổ tông của chính mình, phải có lòng tin đối với nền văn hóa truyền thống của chính mình, trí tuệ, kinh nghiệm của các ngài đã qua sự nghiệm chứng của năm ngàn năm, nếu như có vấn đề thì đã sớm bị lịch sử đào thải rồi, tuyệt đối sẽ không lưu truyền đến ngày nay.
Học tập giáo dục truyền thống Nho gia, chúng ta tiện lợi hơn rất nhiều so với người nước ngoài, bởi vì là văn hóa bản địa, chúng ta có điều kiện được thiên nhiên ưu đãi. Nền tảng của giáo dục truyền thống Nho gia là gì? Hiếu thân. Trong hiếu thân coi trọng nhất là phụng dưỡng người già, phụng dưỡng người già là trách nhiệm của người làm con cái. Thế nhưng giáo dục hiện nay, hoàn toàn không giống với lý niệm giáo dục thời cổ đại của chúng ta. Thanh niên hiện nay, vô cùng lạnh nhạt đối với việc hiếu thân, rất nhiều người biến thành “tộc gặm nhấm tuổi già”, điều này không thể trách người trẻ tuổi, trách ai? Trách thế hệ đi trước chưa dạy dỗ chúng cho tốt. Thế Tôn trong kinh “Vô Lượng Thọ” giảng rất rõ ràng – “người trước không thiện”, thế hệ trước không truyền không dạy, làm sao có thể trách thế hệ sau?
Chúng ta xem thử lại xem, trường học hiện nay đang dạy cái gì? Thứ gì cũng dạy, chỉ là không dạy làm người như thế nào. Giáo dục hiện nay, nếu phải nói một cách không khách sáo, chính là dạy bạn cách cạnh tranh như thế nào, cách kiếm tiền như thế nào, cách móc tiền của người khác vào hầu bao của mình như thế nào, giống y như Mạnh phu tử đã phê bình như vậy, trọng lợi nhẹ nghĩa. Học sinh được đào tạo ra như thế này, tương lai bước ra xã hội, tổn người lợi mình, không từ thủ đoạn, lục thân không nhận, cực đoan tự tư, thử hỏi thiên hạ làm sao mà không loạn? Tôi trong quá khứ thân cận Phương Đông Mỹ tiên sinh thời gian rất dài, vị lão nhân này vô cùng ái quốc, mỗi lần nhắc đến giáo dục, ông nhất định đập bàn nổi tỳ khí mắng người. Ông cảm khái rất sâu sắc, bởi vì người thực sự hiểu giáo dục hiện nay quá ít rồi, giáo dục truyền thống ở nước ta đã đứt đoạn xấp xỉ một trăm năm. Thời gian một trăm năm, ba, bốn thế hệ đều bị lỡ dở, giáo dục trường học trở thành cây không có rễ, nước không có nguồn. Cho nên, giáo dục truyền thống không chỉ bản thân không biết, cha mẹ không biết, ngay cả ông bà cũng không biết rốt cuộc là chuyện gì.
Vì sao giáo dục truyền thống lại bị đánh mất? Nguyên nhân là văn hóa phương Tây đã xung kích vào đất nước Trung Quốc cổ kính. Lúc đó đúng vào những năm cuối của nhà Mãn Thanh triều chính hủ bại, quốc sự thất bại thảm hại, giới trí thức mất đi sự tự tin đối với truyền thống. Người thanh niên Trung Quốc lúc đó bị sự cường thịnh ngoài mặt của các nước phương Tây làm cho mê hoặc, sinh ra sự hoài nghi đối với việc dạy học của cổ thánh tiên hiền Trung Quốc, lo sợ khư khư ôm lấy pháp cũ của lão tổ tông sẽ vong quốc diệt chủng. Họ không làm sự phân tích lịch sử cụ thể và chuyên sâu, ngược lại vô cớ bắt tội tiền nhân, cho rằng chính học thuyết của lão tổ tông đã làm hại Trung Quốc. Thế là có người đề xướng tây hóa toàn diện, nhất thời cuồng phong nổi lên loạn xạ, nhao nhao ồn ào, lại dấy lên khẩu hiệu sai lầm cực đoan “đánh đổ khổng gia điếm”, đồ vật của lão tổ tông Trung Quốc bị giáng chức không còn chút giá trị nào, văn hóa truyền thống toàn bộ đều không cần, ném vào trong đống rác của lịch sử. Một nhóm phần tử cuồng nhiệt thổi phồng tán tụng, sùng bái ngoại bang, cam tâm làm tay sai cho kẻ khác, lẽo đẽo theo sau đuôi của người ngoại quốc vẫy đuôi cầu xin thương hại, một bộ dạng thảm hại nơm nớp lo sợ bị ăn đòn, hoàn toàn mất đi lòng tự tôn dân tộc. Một trăm năm qua, người dân chúng ta thực sự đã nếm đủ mọi nhục nhã, không ngẩng đầu lên được trên cộng đồng quốc tế, không có ai xem trọng. Thế nhưng thời thế đổi thay, hiện tại vấn đề của các nước phương Tây đã lộ ra rồi, các vụ án xả súng trong trường học, bắt cóc, ám sát, bạo lực, cưỡng hiếp, hít ma túy, yêu sớm, phá thai, phản nghịch, biến thái tâm lý, mẹ đơn thân tuổi thiếu nữ… đủ thứ chuyện kỳ quái trước nay chưa từng nghe thấy tầng tầng lớp lớp xuất hiện, giáo dục trở thành cơn ác mộng của xã hội phương Tây, thế là một số bậc trí thức của các nước phương Tây bắt đầu tự rút ra bài học đau xót, hướng ánh mắt về phương Đông, họ muốn đến Trung Quốc cổ kính để cầu trí tuệ, tìm đáp án, kiếm phương pháp, đây là một nhóm người đã giác ngộ.
Năm xưa, Lý lão sư lúc nói chuyện riêng với tôi đã vô cùng cảm thán, ngài nói học sinh tìm thầy giáo khó, thầy giáo tìm học sinh càng khó hơn! Thầy giáo trong suốt một đời gặp được một học sinh có thể kế thừa đạo nghiệp, cơ duyên như vậy quả thực là có thể gặp mà không thể cầu. Người xưa nói “Bất hiếu có ba, không có người nối dõi là lớn nhất”, nếu như sự nghiệp của bản thân không có người kế thừa, một khi chết đi, tất cả sự nghiệp đều tan thành mây khói, còn có gì gọi là thành tựu để đáng nói? Quốc gia cũng là đạo lý này, một quốc gia nếu như mất đi truyền thống văn hóa của chính mình, liền bằng như con người mất đi linh hồn, không bị dị tộc đồng hóa, thì cũng bị nước khác tiêu diệt. Quá khứ thầy giáo dạy học sinh, phụ huynh dạy con cái, luôn hy vọng “xanh xuất phát từ lam mà đẹp hơn lam”, sự thành tựu của học sinh chính là sự thành tựu của thầy giáo, sự thành tựu của thế hệ sau chính là sự thành tựu của cha mẹ, do đó giáo dục của người xưa ở nước ta vô cùng coi trọng sự truyền thừa đạo nghiệp. Nền tảng này quá quan trọng rồi, lý niệm và phương thức dạy học này của nước ta, năm ngàn năm qua không hề thay đổi, chỉ là bị lơ là đi trong một thế kỷ gần đây. Sự lơ là này chúng ta không thể chỉ trách cha mẹ, nguyên nhân hình thành rất phức tạp, đọc lại cận đại sử Trung Quốc liền sẽ thấu hiểu. Sau khi nhà Mãn Thanh vong quốc, nền chính trị quân chủ bị lật đổ, thay vào đó là chính trị dân chủ, do giới hạn bởi điều kiện lịch sử và điều kiện xã hội, quốc gia lúc đó không có cách nào thống nhất, rơi vào cục diện quân phiệt cát cứ. Sau đó tuy có một nước Trung Quốc trên hình thức, thực tế thì mỗi tỉnh đều là trạng thái bán độc lập, địa phương ôm binh tự trọng, không nghe trung ương điều khiển, khói lửa khắp nơi, chiến loạn liên miên, dân không rảnh sống. Tiếp theo người Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, làm trật tự xã hội của Trung Quốc đại loạn, bá tánh sống trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, giáo dục truyền thống không có cách nào thực tiễn thúc đẩy. Chiến tranh xâm lược Trung Hoa của người Nhật kéo dài suốt tám năm, chúng tôi đích thân trải qua, ngày ngày đều đang chạy nạn, chúng tôi chạy ở phía trước, người Nhật truy đuổi ở phía sau… Rất nhiều năm trôi qua, trật tự xã hội đều chưa thể khôi phục lại bình thường, giáo dục thánh hiền cứ như vậy dần dần bị lãng quên. Tình cảnh này rất giống với những gì Thích-ca Mâu-ni Phật đã dạy bảo trong kinh “Vô Lượng Thọ”: “Người trước bất thiện, không biết đạo đức”, do đó “không có người nói cho biết”. Giáo dục truyền thống ở nước ta bị đánh mất đi xấp xỉ một thế kỷ, ảnh hưởng đến mấy thế hệ người, đây là nỗi bất hạnh lớn của quốc gia dân tộc. Đối với sự việc đáng tiếc này, chúng ta đừng vội vàng trách móc tiền nhân, mà là phải tìm ra nguyên nhân lịch sử, lại thông qua nỗ lực chung của mấy thế hệ, từng bước khôi phục nền giáo dục truyền thống.
Tiến sĩ Toynbee, nhà triết học vĩ đại nước Anh từng đưa ra hai mệnh đề, tôi tóm lược nó ra, để mọi người cùng chia sẻ. Mệnh đề thứ nhất, thế kỷ hai mươi mốt, chỉ có tôn giáo mới có thể cứu vãn thế giới. Tôn giáo mà ông ấy nói đến có bốn cái, Nho, Thích, Đạo của chúng ta cộng thêm Cơ-đốc giáo của phương Tây, trong đó lấy Nho, Thích, Đạo làm trọng điểm để nói nhiều nhất, từ đây có thể biết, ông ấy đã tôn sùng biết bao đối với văn hóa truyền thống của chúng ta! Mệnh đề thứ hai, ai là người kế thừa của trái đất? Ông ấy nói là người dân chúng ta. Dân tộc chúng ta từ thời nhà Tần trở đi liền thống nhất, mặc dù đã bao nhiêu lần thay triều đổi đại, trước sau quốc hồn không bị tiêu diệt, duy trì nền đại nhất thống, trong đó có đạo lý lớn lao, đáng để suy ngẫm sâu xa. Chúng ta có thể nói là được thiên nhiên ưu đãi, giống như ông Trời đặc biệt chiếu cố tộc quần này, vì sao lại nói như vậy? Điều này là có đạo lý, bởi vì tộc quần này có thiện căn, tộc quần này đời đời kiếp kiếp có nền giáo dục tốt. Chúng ta xem, rất nhiều quốc gia hoặc tộc quần trên toàn thế giới, có mấy nơi giảng hiếu đễ trung tín? Có mấy nơi giảng lễ nghĩa liêm sỉ? Có mấy nơi giảng nhân ái hòa bình? Tìm khắp toàn thế giới, chỉ có ở chúng ta.
Hiện nay người nước ngoài đều đang dốc sức học tập Khổng tử, học tập văn hóa truyền thống, khiến cho chúng ta chịu sự xúc động rất lớn, người nước ngoài đều nói tốt, bản thân chúng ta có phải cũng nên quay đầu lại để xem xét lại từ đầu? Chúng ta nhất định phải có lòng tin vững chắc: Tin tưởng vào thế kỷ 21 chỉ có văn hóa truyền thống của dân tộc chúng ta và Đại thừa Phật pháp mới có thể cứu vãn thế giới, nền văn hóa truyền thống này nhất định sẽ được phát huy rực rỡ, ảnh hưởng và thúc đẩy tiến trình của lịch sử thế giới; con cháu Viêm Hoàng nhất định sẽ tìm lại được sự tự tin, thực hiện sự phục hưng dân tộc vĩ đại; Trung Quốc – chiếc nôi của văn hóa Nho gia, vùng đất khởi nguồn của văn hóa Đạo gia, quê hương thứ hai của Đại thừa Phật pháp, nhất định sẽ làm ra sự cống hiến vĩ đại đối với nhân loại.
Cung kính trích lục từ bài giảng của Lão pháp sư Tịnh Không.
Tư Tưởng Gia Đạo Của Người Xưa
Thích-ca Mâu-ni Phật năm xưa tại thế dạy học 49 năm, Ngài dạy những gì? Mục tiêu cuối cùng chính là dạy bạn triệt để thông đạt hiểu rõ đối với chân tướng của vũ trụ nhân sinh, cho nên Phật giáo đích thực là sự dạy học.
Thành tựu của Phật pháp Đại thừa Bắc truyền vượt xa Ấn Độ, sự truyền bá của Phật giáo ở các khu vực khác trên toàn thế giới, không có thành tựu thù thắng giống như chúng ta như vậy. Vì sao ở nước ta lại có thành tựu thù thắng? Cần phải quy công cho nền tảng văn hóa truyền thống của chúng ta quá tốt rồi, các khu vực khác trên thế giới không có nền tảng tốt như vậy. Bởi vì Phật giáo là giáo dục, Phật pháp là sư đạo, sư đạo nhất định được kiến lập trên nền tảng của hiếu đạo. Nước ta từ xưa coi trọng hiếu đạo, hiếu thân mới có thể tôn sư, tôn sư trọng đạo. Cầu học bất luận là học thuật thế gian hay xuất thế gian, nếu như không tôn trọng đối với môn học này mà bạn đang học, không có cái tâm cung kính như vậy, không có tâm cung kính đối với thầy giáo, bạn sẽ không học được bất cứ thứ gì. Nhất là tâm xao động nóng nảy, đây là chướng ngại lớn của việc làm học vấn. Tu hành tâm phải thanh tịnh, tâm phải định.
Học sinh hiện nay, ai nấy đều tâm xao động nóng nảy, đối với giáo dục thánh hiền, họ làm sao có thể nghe lọt tai? Cho nên thứ học được là tri thức, học sinh cũng sùng bái việc học rộng nghe nhiều, không có cách nào thâm nhập một môn, huân tu thời gian dài. Học rộng nghe nhiều, dựa vào cái gì? Dựa vào trí nhớ, nhìn nhiều, đọc nhiều, nhớ nhiều. Người xưa gọi đó là học vấn ghi nhớ hỏi han (ký vấn chi học), “Lễ Ký” nói: “Học vấn ghi nhớ hỏi han, không đủ để làm thầy người”, vì sao vậy? Học vấn ghi nhớ hỏi han, chính là tri thức mà ngày nay nói đến, nó không phải là học vấn, không khai mở trí tuệ. Nếu như trí tuệ khai mở rồi, một bộ kinh thông rồi, tất cả kinh đều thông. Vẫn là phương pháp cũ của cổ thánh tiên hiền tốt, bạn trước tiên học thông một môn, một môn thông, các môn đều thông, không cần học rộng, bạn liền nghe nhiều rồi, bạn hoàn toàn đều hiểu hết rồi. Phương Đông xuất hiện thánh nhân, phương Tây xuất hiện học giả; thánh nhân và học giả không giống nhau. Hiện nay chúng ta nói những lời này, không có ai tin nữa rồi, làm sao đây? Khoa học chú trọng thử nghiệm, dùng thử nghiệm để chứng thực.
Nếu thực sự có mấy người hiếu học đến làm thử nghiệm, học một môn, thời gian bao lâu? Mười năm, mười năm học một thứ, mười năm sau, xem hiệu quả của nó như thế nào? Nếu như mười năm sau, một môn này thông rồi, các môn đều thông rồi, vậy thì chứng minh đây không phải là thần thoại, đây là thật không phải là giả. Thực sự một môn thông, các môn thông, có thể khiến người ta hồi tâm chuyển ý, đồng tình với phương pháp cũ của lão tổ tông. Những phương pháp cũ này ở nước ta đã dùng hơn một vạn năm rồi, vô cùng có hiệu quả; phương pháp mới mới dùng có mấy chục năm, cùng lắm là một trăm năm, một trăm năm này, làm cho tư tưởng của con người hỗn loạn như vậy, xã hội trở nên loạn như vậy, lịch sử chưa từng có tiền lệ, có thể không để chúng ta nghiêm túc đi phản tỉnh một chút sao? Vì sao lại thành ra thế này? Nguyên nhân ở đâu?
Ngày nay thế giới này sắp đến lúc quan đầu tồn vong nguy cấp rồi, xã hội sẽ sụp đổ, trái đất sẽ biến mất, khoa học và triết học đối với điều này một chút cách nào cũng đều không có. Bạn muốn hỏi truyền thống, truyền thống chúng ta có cách; bạn muốn hỏi Phật, Phật có cách. Vấn đề chính là, bạn tin hay không tin? Bạn nếu tin, thực sự có thể giải quyết vấn đề.
Ngày nay chúng ta tự mình lơ là rồi, thế nhưng, người nước ngoài học lịch sử nước ta, không ai là không khâm phục người Trung Quốc. Trung Quốc một quốc gia lớn như vậy, nhân khẩu nhiều như vậy, mấy ngàn năm nay xã hội trị vì yên bình lâu dài, là làm thế nào có thể đạt được? Thay triều đổi đại, thời gian động loạn hoàn toàn không dài; chính quyền vừa kiến lập, đại khái thời gian năm, sáu năm, trật tự xã hội liền khôi phục rồi, ít nhất có một trăm năm mươi năm đến hai trăm năm thời đại thái bình thịnh trị. Kết quả nghiên cứu của họ – giáo dục. Giáo dục gì? Giáo dục gia đình. Người xưa chúng ta nói tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, mỗi một gia đình đều đem con cái dạy dỗ tốt rồi, người người là người tốt, người tốt làm việc tốt, xã hội làm sao có thể không an định? Thiên hạ làm sao có thể không thái bình? Quốc gia khuyến khích giáo dục gia đình, cho nên thành tựu của xã hội chúng ta là dựa vào gia đình. Ngày nay nhà không còn nữa, sau tám năm kháng chiến, người Trung Quốc nhà tan cửa nát, đây là tổn thất lớn nhất đối với Trung Quốc. Bởi vì nhà của Trung Quốc, từ xưa đến nay là đại gia đình, không phải tiểu gia đình. Một gia đình bình thường đại khái đều có ba trăm nhân khẩu, dòng họ thịnh vượng có bảy, tám trăm người. Nhân đinh không thịnh vượng, chắc chắn cũng có khoảng chừng hai trăm người, năm thế hệ cùng chung sống. Một gia đình lớn như vậy, nếu quản lý không tốt, nhà chẳng phải sẽ loạn sao! Mỗi một gia đình, đều có gia phả từ đường, kỷ niệm tổ tiên, con người có thể không quên tổ tiên, họ liền sẽ hiếu thuận cha mẹ, thận trọng việc tang lễ và tưởng nhớ tổ tiên, đức dân quy về sự đôn hậu, nền giáo dục này không thể lơ là. Bạn mong muốn người một nhà của bạn con con cháu cháu, đời đời kiếp kiếp đều là người tốt, từ đường dạy hiếu, đây là cội rễ. Từ đường không còn nữa, cội rễ liền bị nhổ bỏ rồi, lịch sử nhà bạn không còn nữa. Con người nếu biết lịch sử gia đình, họ làm sao có thể không yêu nhà? Lão tổ tông của chúng ta là như vậy, lão tổ tông là Hoàng Đế, truy ngược lên trên nữa là Thần Nông, là Phục Hy, bạn có thể không yêu nhà sao? Phục Hy đến hiện tại là năm ngàn năm trăm năm. Gia đình nguồn xa dòng dài, cái tâm yêu nhà đó, cái tâm ái quốc đó, từ đây sinh khởi lên rồi. Đây là một mắc xích chủ yếu nhất trong giáo dục, làm sao có thể coi nhẹ? Thực sự nghiên cứu lịch sử cổ đại Trung Quốc, bạn đi xem thử gia phả của mỗi nhà, chúng ta liền tin tưởng sâu sắc, Hán tộc của Trung Quốc, đích đích xác xác là con cháu Viêm Hoàng, là hậu duệ của Phục Hy Thần Nông, Hán tộc là người một nhà. Lịch sử này bảo tồn được rất hoàn chỉnh, toàn thế giới không tìm thấy nhà thứ hai. Phải trân quý, cần phải yêu thương bảo vệ.
Ở nông thôn chúng ta, đây là thôn họ Vương, đó là thôn họ Lý, một thôn đó chính là một nhà, vốn dĩ họ là người một nhà, một cái nhà lớn như vậy, có nhiều người như vậy, không thể không có gia đạo, không thể không có gia quy. “Đệ Tử Quy” 113 sự việc chính là gia quy chung, mỗi một nhà đều cần phải học tập. Nó có gia quy, có gia học, có gia đạo, có gia nghiệp, đời đời kiếp kiếp, người già phải dạy con cháu, kế thừa gia đạo, kế thừa gia quy, kế thừa gia học, kế thừa gia nghiệp, mỗi một nhà đều tốt, đều nề nếp, xã hội an định, thiên hạ thái bình. Cho nên cái nhà này quá quan trọng rồi, hiện nay nhà ở Trung Quốc giống như nhà thời cổ đại, tôi nghĩ là không có khả năng khôi phục lại nữa. Tôi rất kỳ vọng các vị doanh nhân hiện nay, trong doanh nghiệp đem tinh thần nhà truyền thống Trung Quốc khôi phục lại, vậy thì Trung Quốc vẫn còn được cứu, Trung Quốc vẫn có thể xuất hiện thời đại thái bình thịnh trị ngàn năm. Doanh nghiệp kế thừa gia đạo, gia quy, gia học, gia nghiệp truyền thống của Trung Quốc.
Nhà của người xưa chúng ta trong quá khứ là quan hệ huyết thống, doanh nghiệp hiện nay làm chính là đạo nghĩa, có thể làm được. Doanh nghiệp này có quy củ, có lễ tiết, có đạo (nền tảng lý luận). Đạo lý này chính là phục vụ vì xã hội, phục vụ vì nhân dân. Bất luận bạn làm ngành nghề nào, ngành nghề này của tôi là phục vụ vì xã hội, phục vụ vì đại chúng, không lấy lợi ích cá nhân của bản thân làm thứ nhất, mà lấy sự phục vụ làm thứ nhất. Nhân viên đều là anh em chị em của tôi, phải dùng tình thân đi chăm sóc họ, phải thật tốt đi giáo dục họ. Không chỉ họ ở đây phục vụ, làm công cho bạn, bạn phải thật tốt giáo dục họ, nâng cao đức hạnh của họ, nâng cao năng lực làm việc của họ, nâng cao cảnh giới của họ. Còn phải chăm sóc gia đình của họ, họ có cha mẹ, doanh nhân nên tự mình mở viện an dưỡng, nuôi ai? Người già của nhân viên, toàn bộ đều chăm sóc đến, người nhân viên đó sẽ một lòng một dạ phục vụ cho bạn. Phải mở trường học con em, trường học con em chính là con em của nhân viên, bạn chăm sóc như vậy, nhân viên của bạn cả đời sẽ không rời khỏi bạn, họ sẽ coi doanh nghiệp của bạn làm gia nghiệp của chính họ, như vậy liền thành công rồi. Xã hội chúng ta nếu có thể đi theo hướng này, thời đại thái bình thịnh trị ngàn năm tuyệt đối sẽ xuất hiện. Ông chủ của doanh nghiệp là đại gia trưởng, cần phải tôn trọng, phải nghe theo. Dùng đạo đức, luân lý để quản lý doanh nghiệp của bạn. Thành tựu trong quá khứ của chúng ta, không có gì khác, chính là nhà quá tốt rồi, nhà đã gánh vác bảy, tám mươi phần trăm trách nhiệm an toàn của xã hội.
Chúng tôi hy vọng các đồng tu trẻ tuổi phải rõ ràng đạo lý này, thâm nhập kinh tạng, Phật hóa thế giới, vậy thì cùng với thế giới Cực Lạc liền không có gì khác biệt rồi.
Cung kính trích lục từ bài giảng của Lão pháp sư Tịnh Không
Điểm Tốt Của Đại Gia Đình Truyền Thống Thời Xưa
Nhà truyền thống thời xưa, có gia đạo, gia quy, gia học, gia nghiệp, là căn bản để quốc gia xã hội trị vì yên bình lâu dài, cho nên “Đại Học” nói, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Mỗi một gia đình đều nề nếp, xã hội an định, thiên hạ thái bình.
Đặc sắc của giáo dục truyền thống là gia đình, người xưa từ nhỏ đã có gia giáo, gia quy chính là “Đệ Tử Quy”. “Đệ Tử Quy” là quy ước chung của các gia tộc, là tập đại thành gia quy của các gia tộc, người người đều phải học, từ nhỏ đến già đều không thể làm trái. Trong quá khứ, mỗi một nhà đều có gia phả, đều có từ đường. Gia phả là lịch sử của gia đình, cội nguồn của dòng họ, ghi chép rõ rõ ràng ràng, có cội có nguồn. Trong đại gia đình, nhà phụ trách giáo dục, phụng dưỡng người già, hai sự việc này của nhân sinh là chuyện lớn, hoàn toàn do nhà chịu trách nhiệm. Con cái là thế hệ sau của chính mình, không thể không nghiêm túc dạy dỗ; người già là bậc trưởng bối của chính mình, già rồi, nghỉ hưu rồi, phải tận hiếu đạo!
Giáo dục thời xưa là do gia đình phụ trách, quốc gia phụ đạo. Quốc gia thiết lập có thi cử, thi cử thông qua sẽ cấp học vị cho bạn; học vị thi cấp huyện là tú tài, thi cấp tỉnh là cử nhân, điện thí (kỳ thi do hoàng thượng làm chủ khảo), gọi là tiến sĩ. Tiến sĩ tương đương với học vị tiến sĩ hiện nay, cử nhân tương đương với học vị thạc sĩ, tú tài là học vị cử nhân. Địa vị càng cao, thu nhập sẽ càng nhiều. Có học vị nhưng không làm quan, quốc gia sẽ trợ cấp sinh hoạt, để bạn đọc sách thật tốt.
Gia đình muốn hòa thuận, khỏe mạnh, có sự phát triển, giáo dục quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Cho nên gia đình phải mở gia học, trường tư thục chính là trường học con em của gia đình. Gia học cung thỉnh thầy giáo, đại khái đều là bậc ông nội, ông cố, kinh nghiệm của họ phong phú, kiến thức rộng rãi, biết được những người đọc sách nào thực sự có học vấn, có đức hạnh, mời đến đảm nhiệm làm thầy giáo của gia học. Lễ tiết mời thầy giáo vô cùng long trọng, trong gia tộc cha, ông nội, ông cố, vào lúc làm điển lễ đều phải hành lễ ba quỳ chín lạy với thầy giáo. Phụ huynh đối với thầy giáo tôn kính như vậy, học sinh không dám không nghe lời. Thầy giáo nhận được sự cung kính của tổ tông ba đời nhà người ta, nếu không nghiêm túc dạy dỗ, làm sao xứng đáng với người ta? Cho nên việc dạy học vô cùng nghiêm túc. Lễ vật cúng dường cho thầy giáo là tùy ý, thầy giáo tuyệt đối không câu nệ. Người giàu có cúng dường nhiều một chút, người bần cùng ít một chút, học sinh thực sự bần cùng, thực sự có thể học, thầy giáo còn phải trợ cấp chi tiêu cho gia đình em đó. Cho nên lão tổ tông đối với thế hệ sau thực sự có tâm yêu thương, dập đầu với thầy giáo, tôn sư trọng đạo, làm ra sự biểu diễn cho con em xem.
Môn học quan trọng nhất của gia học là bốn khoa. Thứ nhất, ngũ luân, giảng mối quan hệ giữa người với người. Hiện nay không có ai dạy luân lý, quả thực giống như người xưa đã nói, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con. Con người sống trên xã hội không thể tách rời khỏi năm loại quan hệ. Trong gia đình quan trọng nhất là thân ái, cha hiền con hiếu, anh nhường em kính, vợ chồng có sự khác biệt. Trên xã hội thì vua tôi có nghĩa, lớn nhỏ có thứ tự, bạn bè có chữ tín. Hiện nay mối quan hệ hỗn loạn, xã hội liền loạn. Thứ hai, ngũ thường, thường là mãi mãi không thể đánh mất, tức là nhân nghĩa lễ trí tín, đây là đạo đức cơ bản mà con người cần phải có đủ. Nhân là nhân từ, phải học cách yêu thương con người, giống y như yêu chính mình vậy. Nghĩa là đúng lý đúng pháp, thông thường nói là hợp tình hợp lý hợp pháp, nhìn thấy người khác gặp khổ nạn, chúng ta phải chủ động tận tâm tận lực đi giúp đỡ họ, không cầu sự đền đáp, đây là nghĩa. Chúng ta có thể giúp đỡ người khác, người khác liền sẽ giúp đỡ chúng ta. Ngũ thường trong Phật pháp giảng chính là năm giới, không sát sanh là nhân, không trộm cắp là nghĩa, không tà hạnh là lễ, không uống rượu là trí tuệ, không vọng ngữ là tín. Đây là đức hạnh cơ bản của việc làm người. Thứ ba, tứ duy, Quản Trọng nói: “Lễ nghĩa liêm sỉ, là bốn giềng mối của quốc gia; bốn giềng mối không giương lên, quốc gia ắt diệt vong”. Một quốc gia không có lễ, nghĩa, liêm, sỉ, chắc chắn sẽ diệt vong. Thứ tư, bát đức, hiếu đễ trung tín, nhân ái hòa bình. Ngũ luân, ngũ thường, tứ duy, bát đức đều được phô bày ra ở trong nhà rồi, gia tộc này có đạo, có đức, có được gia đình như thế này, liền có được xã hội như thế này, xã hội hài hòa, trị vì yên bình lâu dài.
Trung Quốc ngàn vạn năm nay, giáo dục thế hệ sau, bốn khoa này là cái gốc lớn cái rễ lớn. Ở thời cổ đại, ít nhất cái rễ của Nho và Đạo cha mẹ đã giúp bạn vun trồng rồi. Người xưa coi trọng thai giáo, khi mang thai, khởi tâm động niệm, lời nói việc làm của người mẹ đều sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Cho nên mang thai mười tháng, tâm bình khí hòa, cử chỉ an tường, hy vọng trẻ nhỏ có thể nhận được sự ảnh hưởng tốt, sinh ra sẽ dễ dạy, nghe lời. Thuật thôi miên của phương Tây hiện nay phát hiện, thai nhi ở trong tử cung của người mẹ, đầu óc rất tỉnh táo, chứng minh thai giáo mà người xưa ở nước ta giảng là rất có đạo lý. Trẻ nhỏ vừa ra đời, mở mắt ra, vểnh tai lên, nó liền sẽ nhìn, sẽ nghe, lời nói cử chỉ của cha mẹ và người lớn đều phải giữ lễ, đoan trang, để những gì nó nhìn thấy, nghe thấy, tiếp xúc được, toàn bộ là chính diện. Trẻ nhỏ từ lúc ra đời liền bắt đầu dạy, ai dạy? Cha mẹ. Nó mặc dù rất nhỏ, ra đời mới hai, ba ngày, mắt nó sẽ nhìn, tai nó sẽ nghe, lời nói hành vi cử chỉ của người lớn ở trước mặt nó, nó đã in sâu ấn tượng rồi, “hình thành từ nhỏ thì giống như thiên tính, tập quán thành tự nhiên”, đây chính là cội rễ của nó, cội rễ này sẽ khởi được tác dụng rất lớn. Cội rễ này phải cắm cho sâu, phải cắm cho chắc, đây là trách nhiệm của người mẹ. Người mẹ là vị đạo sư đầu tiên của nó, đây là “giáo dục cắm rễ”, “giáo dục dưỡng mông”. Thực sự là tự yêu thương chính mình, yêu thương con cái. Ngạn ngữ cổ nói: “Ba tuổi nhìn đến tám mươi”, từ lúc ra đời đến ba tuổi, cái rễ cắm trong một ngàn ngày này, đến tám mươi tuổi đều sẽ không thay đổi, cũng có nghĩa là nói những thứ không thiện trên xã hội, nó sẽ không nhiễm phải. Trung Quốc từ xưa đến nay là đại gia đình, anh em không phân chia nhà, nhà là một loại hành vi sinh hoạt xã hội, nó là có tổ chức, từ nhỏ liền dạy nó không có tâm tư lợi, niệm niệm suy nghĩ cho toàn bộ gia đình, gia tộc, tận trung vì nhà, nỗ lực vì nhà, chứ không phải vì bản thân. Trong đại gia đình, số tiền mà mỗi một người kiếm được nhất định phải nộp vào quỹ chung, quản lý tập trung, cho nên nhà là tài sản chung. Nếu như có tâm tư lợi, nhà liền tiêu tùng rồi, phải đại công vô tư, từ nhỏ đã dưỡng thành phẩm đức này, xã hội làm sao có thể không tốt, thiên hạ làm sao có thể không thái bình! Nền giáo dục như thế này ở Trung Quốc, chúng tôi tin tưởng chắc chắn vượt quá một vạn năm, gốc rễ sâu chặt.
Gia nghiệp, là sự nghiệp mà gia đình kinh doanh. Bởi vì sự nghiệp mà mỗi gia đình kinh doanh không giống nhau, liền có những điều quy khác nhau. Nhưng “Đệ Tử Quy” là chung, một trăm mười ba sự việc toàn bộ người trong nhà đều phải làm được. Cho nên con người đều được nhà dạy dỗ tốt, người người là người tốt, chuyện chuyện là chuyện tốt. Người xưa ở Trung Quốc nói, “Nhà không tề, xã hội loạn rồi; con không dạy, nhân tâm hỏng rồi”, xã hội hiện nay thực sự là như vậy. Trường học hiện nay rất nhiều, tôn chỉ dạy học đã lệch lạc rồi, thuở xưa dạy học đọc sách lập chí làm thánh hiền, trường học đọc sách hiện nay, lập chí kiếm tiền. Lập chí kiếm tiền, chắc chắn tăng trưởng tham sân si mạn.
Người hiện nay rất đáng thương, không có lòng tin đối với bản thân, không có lòng tin đối với cha mẹ, vợ chồng không có lòng tin, không có lòng tin đối với bất kỳ ai, những ngày tháng này rất khó sống. Lòng tin của người xưa chúng ta được kiến lập trên gia đình, nhà là cốt lõi cho mọi hoạt động của một đời, là nơi gửi gắm, nương tựa an toàn của cả một đời, cho nên gọi là quê nhà. Con cái ở bên ngoài bất luận gặp phải khổ nạn gì, gia đình là chỗ dựa của nó. Cho nên một con người bất luận ở bên ngoài có sự nghiệp hay không, lúc tuổi già nhất định phải quay về quê nhà, gia đình phụng dưỡng người già, những năm tháng tuổi già sẽ trôi qua vô cùng hạnh phúc mỹ mãn, đây là điểm tốt của đại gia tộc. Một là phụng dưỡng người già, hai là nuôi dạy trẻ nhỏ, hai chuyện lớn này gia đình gánh vác. Gia đình đã gánh vác trách nhiệm của xã hội, gánh vác một phần công việc của quốc gia. Một đại gia tộc, người già và trẻ nhỏ sống cùng nhau, con cháu đầy nhà, đều là thế hệ sau của chính mình, thực sự có niềm vui thiên luân, có tình yêu thương, có tình thân hiện hữu. Sau khi nghỉ hưu, liền làm nghĩa công ở trường tư thục, đem câu chuyện, kinh nghiệm cả một đời của bản thân kể cho trẻ nhỏ nghe, trẻ nhỏ liền học được. Đây là đời sống của đại gia đình.
Người hiện nay làm gì có loại niềm vui này, lúc tuổi già, cô đơn chiếc bóng. Đặc biệt là ở nước ngoài thực sự đáng thương, tuy có phúc lợi cho người già, đời sống vật chất không thành vấn đề, quốc gia chăm sóc bạn; nhưng không có đời sống tinh thần, cô độc ngồi ở đó, không có một ai nói chuyện cùng với họ. Có thể có người chào hỏi họ một tiếng, đều cảm thấy rất an ủi, đó là ngồi ăn chờ chết, những ngày tháng trôi qua thật khó sống biết bao!
Một gia đình, tuân thủ luân lý đạo đức, hiểu được quy luật nhân quả, người người đều có thể giữ gìn quy củ, cái nhà này liền sẽ hưng vượng. Con người, từ nhỏ đều ở trong nhà dạy dỗ tốt rồi, trên xã hội không có người ác. Nhà dạy tốt rồi, sự cống hiến đối với xã hội quá lớn rồi. Xã hội tốt, trị vì yên bình lâu dài, điều này trong lịch sử chúng ta có thể nhìn thấy được.
Tám năm chiến tranh Trung Nhật, tổn thất lớn nhất của Trung Quốc, đã tiêu diệt đi cái nhà của chúng ta rồi, không thể khôi phục lại được nữa. Trách nhiệm nhân quả này người Nhật Bản phải gánh chịu. Đại gia đình Trung Quốc nếu như kéo dài cho đến ngày nay, Trung Quốc có thể cứu vãn toàn thế giới. Người nước ngoài cũng muốn cả một đời rất hạnh phúc mỹ mãn, hạnh phúc mỹ mãn chỉ có ở trong đại gia đình mới có. Loại hạnh phúc mỹ mãn của tiểu gia đình đó là tạm thời, cùng lắm là hai, ba mươi năm, một khi già một khi nghỉ hưu, khổ liền ập đến rồi. Đại gia đình chắc chắn có nhân nghĩa đạo đức, bởi vì không có thứ này, nhà liền bị hủy hoại. Ngàn vạn năm nay, lão tổ tông đời đời kiếp kiếp truyền thừa nền giáo dục này, người hiện nay không cần nữa, vứt bỏ đi rồi. Con người sống trên thế gian không có chỗ nương tựa, đây là bất đắc dĩ dưỡng thành sự tự tư tự lợi, tôi nếu không tích cóp một chút tiền, tương lai lúc về già ai nuôi tôi? Bên ngoài đều không nhờ cậy được! Thế nhưng có nghĩ đến hay không, tiền cũng không nhờ cậy được, tiền sẽ mất giá. Thuở xưa có quê nhà, họ không suy xét những thứ này. Trong gia đình mãi mãi duy trì gia đạo, gia học, gia quy, gia nghiệp, sự kiến lập của nhà chính là dựa vào bốn cây cột này. Bốn cây cột này phải dựa vào luân lý, đạo đức, nhân quả để dựng lên. Cho nên nhà không còn nữa, luân lý đạo đức liền không còn nữa, biến thành xã hội đầy khổ nạn như hiện nay của chúng ta.
Sau sự kiện ngày 11 tháng 9, Học viện Hòa bình Đại học Queensland nước Úc đã mời tôi, tổ chức một buổi tọa đàm cho các giáo sư của họ, chủ đề thảo luận là “Làm thế nào để hóa giải xung đột, thúc đẩy sự an định hòa bình của thế giới”. Tôi nghe báo cáo của Học viện Hòa bình trước, mới biết toàn thế giới có tám trường đại học thiết lập môn học này, mà Queensland trong tám trường đại học vẫn là trường dẫn đầu.
Trên thế giới có nhiều trường học như vậy, có nhiều người tốt như vậy đều đang nghiên cứu làm thế nào để tiêu trừ xung đột, hóa giải tranh chấp, thúc đẩy xã hội an định thế giới hòa bình, vì sao không thể giải quyết vấn đề? Tôi nói: Chưa tìm được căn bản của xung đột, cho nên không thể giải quyết vấn đề. Giống như một cái cây lớn, bạn chỉ nhìn thấy cành cành lá lá, chưa tìm được cái rễ. Cái rễ ở đâu? Cái rễ này là sự xung đột giữa bản tính và tập tính (đổi một cách nói khác chính là sự xung đột giữa tự lợi và lợi tha). Chúng ta khởi tâm động niệm, lợi hại ở trước mắt đều sẽ nghĩ cho chính mình, sẽ không nghĩ đến người khác; cho dù có nghĩ đến người khác, thì tự lợi vẫn đặt ở phía trước, lợi tha vẫn nằm ở vị trí thứ hai, thứ ba, hóa giải xung đột liền khó rồi. Chúng ta muốn thực sự hóa giải xung đột, đầu tiên phải bắt tay làm từ gia đình, gia đình là tổ chức nền tảng của xã hội, người xưa chúng ta coi trọng “gia hòa vạn sự hưng”. Mỗi khi tôi đến một nơi, xem hai sự việc: Một, tỷ lệ ly hôn của thành phố này, hai, tỷ lệ phạm tội ở thanh thiếu niên. Nếu như tỷ lệ ly hôn, tỷ lệ phạm tội ở thanh thiếu niên rất cao, chứng tỏ xã hội có vấn đề. Cho dù trước mắt không có vấn đề, mười năm, hai mươi năm sau chắc chắn xảy ra vấn đề, nơi này không thích hợp để cư trú. Khổng tử nói: “Nước nguy hiểm không vào, nước loạn lạc không ở”.
Cho nên giáo dục gia đình quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Hiện tượng phổ biến trên xã hội hiện nay là vợ chồng không hòa thuận, cha con không hòa thuận, anh em không hòa thuận, trên gốc rễ chính là đã loạn rồi, thế giới làm sao có thể hòa bình! Cội rễ của hòa bình nằm ở gia đình. Sau đó tôi lại nói: Đây vẫn chưa phải là cội rễ, cội rễ thực sự nằm ở đâu? Cội rễ nằm ở bản thân, chính là mâu thuẫn trong nội tâm của chính chúng ta, tự lợi và lợi tha xung đột. Nội tâm chúng ta tự xung đột, còn có thể giải quyết xung đột bên ngoài sao? Khó rồi! Bộ phương pháp giải quyết vấn đề này của chúng ta là do Phật Bồ-tát dạy, là do cổ thánh tiên hiền dạy.
Người xưa chúng ta thường nói “oan gia nên giải không nên kết”, nhất định phải hóa giải, tuyệt đối không thể dùng vũ lực, vũ lực không giải quyết được vấn đề. Từ xưa đến nay, sự việc nào là do chiến tranh giải quyết được? Mỗi một cuộc chiến tranh đều để lại di chứng. Giáo dục hiện nay, từ nhỏ đã dạy cạnh tranh. Cạnh tranh thăng cấp chính là đấu tranh, đấu tranh thăng cấp thêm nữa chính là chiến tranh, lý niệm của nền giáo dục này đi vào đường cùng. Giáo dục truyền thống từ nhỏ dạy cái gì? Dạy nhường nhịn, vẫn chưa phải là nhẫn nhường, đôi bên nhường nhau không tranh giành. Tranh giành nhất định có thắng thua, người thua không cam tâm, làm gì có đạo lý không oán hận? Người thắng thì kiêu ngạo ngông cuồng, kích phát sự phẫn nộ của họ, khơi dậy sự đố kỵ của họ, mâu thuẫn xung đột trên xã hội là dấy lên từ chỗ này. Đây là vấn đề của giáo dục, xem bạn có cách dạy như thế nào.
Nếu như muốn xã hội khôi phục lại quỹ đạo bình thường, xã hội quả thực vốn dĩ là hài hòa, vũ trụ vốn dĩ là hài hòa, hệ tinh tú là hài hòa, trái đất là hài hòa, tất cả sinh vật trên trái đất vốn dĩ là hài hòa, ngày nay vì sao lại loạn như vậy? Đó chính là người cư trú trên trái đất, tư duy lời nói việc làm bị lệch lạc rồi, phương hướng sai lầm rồi, đi về hướng tự tư tự lợi. Người người đều tự tư tự lợi, người người đều nghĩ việc tổn người lợi mình, làm sao có thể không xung đột? Làm sao có thể không oán hận? Làm sao có thể không báo thù? Đây mới là nguyên nhân thực sự của xung đột. Hóa giải bằng cách nào? Yêu cầu đối phương hóa giải trước là điều không thể nào. Thánh nhân Trung Quốc dạy người, “hành hữu bất đắc, phản cầu chư kỷ” (hành sự không được, quay lại tìm lỗi ở chính mình), chỉ có từ nội tâm của chính mình, đem những ý niệm đối lập với hết thảy người, hết thảy sự việc, hết thảy vạn vật hóa giải đi, mãi mãi không đối lập với người, không đối lập với sự việc, không đối lập với hết thảy vạn vật, cái tâm của bạn liền bình lặng rồi; lại có thể đem tất cả nghi ngờ lo âu phân biệt buông xuống, phiền não buông xuống, tâm của bạn liền thanh tịnh rồi. Tâm thanh tịnh, có thể sinh trí tuệ, có trí tuệ mới có thể giải quyết hết thảy mọi vấn đề.
Chúng tôi đã đi qua rất nhiều quốc gia, tộc quần, nhìn thấy, thể hội được, người hiểu giáo dục nhất chính là người xưa chúng ta. Cho nên bốn nền văn minh lớn trên thế giới, ba cái kia đều biến mất rồi, duy chỉ chúng ta vẫn còn tồn tại. Đây là nguyên nhân gì? Trước thế chiến thứ hai một số chuyên gia học giả Châu Âu từng nghiêm túc thảo luận qua vấn đề này, kết luận của họ là do người xưa chúng ta coi trọng giáo dục gia đình. Sự việc này là vị trưởng phòng giáo vụ Đại học Nam Queensland của Úc nói với tôi, ông ấy hỏi tôi kết luận này có chính xác hay không? Kết luận này vô cùng chính xác, thực sự đã tìm ra được nguyên nhân rồi. Thế nhưng, chúng ta lơ là giáo dục gia đình đã hai trăm năm rồi, nếu như chúng ta hiện tại không giác ngộ nữa, nền văn minh cổ đại của chúng ta sẽ biến mất trong thế hệ này của chúng ta, bốn nền văn minh cổ đại này đều biến thành lịch sử. Hơn nữa giáo dục truyền thống là giáo dục nhân tính, lý niệm của giáo dục là tính bổn thiện, là giáo dục của tình yêu thương, cốt lõi của lý niệm giáo dục là “cha con có tình thân”. Cho nên cổ thánh tiên hiền chúng ta xướng đạo giáo dục bắt đầu từ đâu? Chính là bắt đầu từ chỗ này, đây là điểm xuất phát ban đầu của giáo dục. Mục tiêu của giáo dục là làm thế nào để duy trì vĩnh hằng phần tình yêu thương chân thật này, đây là mục tiêu thứ nhất; mục tiêu thứ hai là tình yêu thương này làm thế nào để phát huy rực rỡ, từ yêu thương cha mẹ cho đến yêu thương anh em chị em, yêu thương gia tộc, yêu thương xóm giềng làng mạc, yêu thương xã hội, yêu thương dân tộc, yêu thương quốc gia, yêu thương nhân loại, dần dần mở rộng. Nho gia chỉ giảng đến nhân loại, “phàm là người, đều phải yêu thương”; Phật pháp thì lớn lao rồi, Phật pháp đem tình yêu thương này mở rộng đến khắp pháp giới hư không giới, mở rộng đến tất cả động vật, cho đến cây cối hoa cỏ, sông núi đại địa. Cho nên tình yêu thương ở trong Phật pháp giảng đến rốt ráo viên mãn. Cho nên thế giới Cực Lạc là một sự đại viên mãn, tâm yêu thương biến khắp pháp giới, thiện ý cũng biến khắp pháp giới, thực sự là chỉ hưởng các niềm vui, vĩnh viễn lìa xa bức bối buồn khổ.
Lấy giáo dục gia đình làm căn bản, lại mở rộng thành giáo dục xã hội, thiên hạ thái bình, xã hội an định, nhân dân hạnh phúc; nếu như lơ là giáo dục gia đình, thiên hạ làm gì có đạo lý không loạn chứ?
Cung kính trích lục từ bài giảng của Lão pháp sư Tịnh Không
Tổng Cương Lĩnh Của Giáo Dục Truyền Thống Thời Xưa
Cổ thánh tiên hiền chúng ta có đại trí tuệ, mấy ngàn năm nay đời đời kiếp kiếp tổ tông đều truyền thừa ngũ luân, ngũ thường, tứ duy, bát đức làm tổng cương lĩnh của giáo dục, trước nay chưa từng thay đổi qua. Tứ Thư Ngũ Kinh, Thập Tam Kinh của Nho gia, cho đến “Tứ Khố Toàn Thư”, đều không rời khỏi bốn khoa này. Chúng ta tóm lược lại, tức là mười hai chữ “hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ, nhân ái hòa bình”.
Chúng ta thường nói “bổn tánh bổn thiện”, bổn thiện chính là hiếu đễ trung tín. Hiếu là đối với cha mẹ, chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói việc làm, đầu tiên liền nghĩ đến có xứng đáng với tổ tông, cha mẹ hay không? Tâm hành không thiện, cha mẹ không hoan hỷ, tổ tông không thể tiếp nhận, vậy thì không thể làm. Đễ là học sinh tôn trọng kính yêu đối với thầy giáo, đễ cũng là anh em yêu thương nhau, chúng ta thực hành chữ đễ, bắt đầu từ việc anh em yêu thương nhau, cho đến yêu thương tất cả những người cùng độ tuổi, cùng vai vế. Cho nên văn hóa của chúng ta được kiến lập trên nền tảng của hiếu đạo và sư đạo. Thánh nhân giảng hiếu đễ, ý nghĩa sâu rộng vô tận. Trong “Bồ-tát Giới Kinh”, Phật nói với chúng ta “tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta”. Đem cái tâm hiếu thuận cha mẹ mở rộng đến tất cả chúng sanh, hiếu kính với tất cả chúng sanh khắp pháp giới hư không giới. Phật là thầy giáo của chúng ta, đạo của chữ đễ cũng biến khắp pháp giới hư không giới. Tôn kính đối với thầy giáo, tôn kính đối với tất cả chúng sanh, hiếu thuận đối với cha mẹ, hiếu thuận đối với tất cả chúng sanh.
Trung là gì? Là phụ trách. Tận trung với quốc gia, tận trung với dân tộc, tận trung với xã hội, tận trung với người lãnh đạo. Người nói phải giữ lời, con người nhất định phải có chữ tín, không nói dối, không nói đâm thọc, không nói lời thêu dệt, không nói lời thô ác, đều nằm ở trên chữ “tín” này.
Lễ nghĩa liêm sỉ, Quản Trọng thời cổ đại ở Trung Quốc từng nói “Lễ nghĩa liêm sỉ, là bốn giềng mối của quốc gia, bốn giềng mối không giương lên, quốc gia ắt diệt vong”; đối nhân xử thế tiếp vật, lễ không thể lơ là, “lễ” là những khuôn phép nhất định trong sự qua lại giữa người với người. Nghĩa, giúp đỡ chúng sanh, phục vụ vì chúng sanh, không cầu thù lao, làm việc hợp tình, hợp lý, hợp pháp. Liêm là liêm khiết, biết tiết kiệm là mỹ đức, tuyệt đối không lãng phí, tham ô chính là không biết liêm. Sỉ là không biết hổ thẹn, quốc dân của một quốc gia không biết lễ, nghĩa, liêm, sỉ, quốc gia này liền rất nguy hiểm, rất dễ dàng diệt vong.
Xã hội ngày nay là một xã hội mang mầm bệnh nghiêm trọng, muốn trị căn bệnh này, bản thân cần phải biết hổ thẹn, có tâm tàm quý, bản thân được cứu rồi, xã hội cũng liền được cứu rồi, quốc gia cũng liền được cứu rồi. Có thể thấy tàm quý, biết hổ thẹn là vô cùng vô cùng quan trọng. Có thể biết hổ thẹn, tự nhiên sẽ giữ lễ, tự nhiên có thể làm trọn nghĩa vụ, tự nhiên có thể liêm khiết, do đó Nho gia cũng nói “biết hổ thẹn gần với dũng”, nếu như một người có thể biết hổ thẹn, biết được sự nhục nhã, biết được lỗi lầm, thì liền có thể cứu được.
Cốt lõi của mười hai chữ là gì? Chính là tình yêu thương. Nhà Phật không nói tình yêu thương, mà gọi là từ bi, từ bi chính là tình yêu thương. Vì sao Phật không nói tình yêu thương mà nói từ bi? Bởi vì tình yêu thương của người thế gian bao hàm thất tình lục dục, bị tình dục dẫn dắt rất dễ dàng mất đi lý trí, đọa vào lưới tình sanh tử, cho nên Phật không giảng tình yêu thương mà giảng từ bi. Từ có thể nhổ sạch nỗi khổ, bi có thể ban rải niềm vui, có tình có nghĩa lại có lý trí, cái này tốt! Trong điển tịch của các tôn giáo khác chúng ta thường có thể nhìn thấy “Thần yêu thương người đời, Thượng đế yêu thương người đời”, tình “yêu thương” này chính là từ bi mà nhà Phật giảng, chứ không phải là sự hành sự theo cảm tính không có mảy may lý trí của người thế gian. Ví như “Kinh Coran” ở phía trước các câu kinh quan trọng đều sẽ giảng đến “Chân chủ quả thực là nhân từ”. Nhân từ tốt, nhân từ là trí tuệ, là lý tính, không phải là sự bộc phát cảm tình một cách mù quáng, mà là cốt lõi của tánh đức, tất cả các bậc hiền đức đều là từ chỗ này phát nguồn và rực rỡ.
Con người có thể tự mình hộ trì hiền đức, liền gọi là tự ái. Người nào có thể thực sự làm được tự ái? Nói một cách nghiêm ngặt, chỉ có Pháp thân Bồ-tát của Phật giáo mới có thể làm được tự ái một trăm phần trăm. Lấy “Kinh Hoa Nghiêm” làm ví dụ, Sơ trụ Bồ-tát đã làm được tự ái. Ngài biết thân này là giả, không phải là thật, ý niệm tự tư tự lợi không còn nữa, không còn truy cầu danh văn lợi dưỡng, không còn tham đồ sự hưởng thụ của ngũ dục lục trần, không còn vì thân thể mà tạo nghiệp. Ở trong giai đoạn tu học của chúng ta, ái dục hạ nhiệt rồi, liền có thể cẩn thận hộ trì tánh đức của chính mình, liền có thể có được sự thọ dụng cao nhất của nhân sinh.
Mỗi một chữ trong mười hai chữ đều liên quan mật thiết với tình yêu thương, là sự mở rộng và kéo dài của tình yêu thương. Giáo dục văn hoá truyền thống là nền giáo dục của tình yêu thương, hiểu được đạo lý này, mới có thể hiểu được văn hóa truyền thống, mới có thể hiểu được dân tộc chúng ta.
Rất nhiều người nước ngoài nghiên cứu lịch sử nước ta, nghiên cứu văn hóa truyền thống, đều khâm phục đến năm vóc gieo sát đất! Đặc biệt là Tiến sĩ Toynbee, ông là nhà triết học lịch sử của nước Anh, đối với văn hóa truyền thống chúng ta thực sự là cực kỳ tôn sùng, thậm chí nói ra “để giải quyết các vấn đề xã hội của thế kỷ 21, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh và Đại thừa Phật pháp.” Lời của ông đã chứng minh người xưa chúng ta có trí tuệ, chứng minh người xưa chúng ta hiểu giáo dục, có trí tuệ của giáo dục, có phương pháp của giáo dục, có kinh nghiệm của giáo dục, có hiệu quả của giáo dục. Cốt lõi của giáo dục truyền thống là gì? Chính là “cha con có tình thân”, tình thân ái này, chính là cốt lõi của tánh đức. Mục đích thứ nhất của giáo dục, chính là duy trì tình thân ái này trong suốt một đời đều sẽ không biến chất; mục đích thứ hai, là đem tình thân ái này phát huy rực rỡ, từ yêu thương cha mẹ bạn, yêu thương anh em bạn, mở rộng đến yêu thương gia tộc bạn, yêu thương làng xóm láng giềng, yêu thương xã hội, yêu thương dân tộc, yêu thương quốc gia, đến cuối cùng “phàm là người, đều phải yêu thương”, đem tình yêu thương này mở rộng đến tất cả các tầng mức. Cho nên giáo dục văn hoá truyền thống là nền giáo dục của tình yêu thương.
Lão tử nói “Trời đất cùng một gốc với ta, vạn vật cùng một thể với ta”; nhà Phật giảng càng rốt ráo viên mãn hơn, khắp pháp giới hư không giới cùng một thể với chính mình. Khắp pháp giới hư không giới, bao gồm tất cả sinh mệnh vật chất ở các không gian đa chiều khác nhau, có liên quan mật thiết với chúng ta, cho nên chúng ta phải yêu thương tất cả động vật, yêu thương tất cả thực vật, yêu thương sơn hà đại địa, yêu thương hư không pháp giới, quả thực là tâm yêu thương biến khắp pháp giới, thiện ý ngập tràn thế gian. Điều này so với phạm vi “phàm là người, đều phải yêu thương” không biết là lớn hơn bao nhiêu lần!
Mười hai chữ này, lấy “nhân ái hòa bình” làm đỉnh cao của đạo đức. Mười hai chữ giống như tòa nhà mười hai tầng, nền tảng ở đâu? Cội rễ ở chữ hiếu, hiếu là tầng thứ nhất; đễ là tầng thứ hai, hòa bình là tầng cao nhất, nó có cội, có nguồn, có nền tảng.
“Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh”, câu nói đầu tiên của tịnh nghiệp tam phước là “hiếu dưỡng cha mẹ”, câu nói thứ hai là “phụng sự sư trưởng”, hiếu thân tôn sư là nền tảng của việc học Phật, không có hai câu này, học Phật có học tốt đến đâu, cũng không thể thành tựu. Người Trung Quốc lập quốc trên mảnh đất rộng lớn này năm ngàn năm, dựa vào cái gì? Chẳng qua chỉ là hiếu đễ mà thôi. Mười hai chữ này cày cấy trên mảnh đất Thần Châu năm ngàn năm, quả ngọt trĩu cành, cả thế giới đều dồn mắt vào, hiện nay tuy đã lơ là rồi, thế nhưng cội rễ có bị lung lay hay không? Thực nghiệm mở trường học ở Thang Trì của chúng tôi đã chứng minh, cội rễ của chúng ta vẫn còn, gốc rễ sâu chặt, con người là vô cùng dễ dạy.
Mười hai chữ này trong văn hoá truyền thống, “trung hiếu nhân ái, tín nghĩa hòa bình, lễ nghĩa liêm sỉ”, cùng với những gì nói trên kinh điển Phật giáo, cùng với điển tịch của rất nhiều tôn giáo trên thế giới là hoàn toàn giống nhau. “Thập Thiện Nghiệp Đạo” của nhà Phật, mỗi một điều trong thập thiện đều có đủ mười cương lĩnh lớn, khi mở rộng ra chính là một trăm điều, trong một trăm điều thì mỗi một điều lại có đủ mười điều, trùng trùng vô tận. Cho nên ba ngàn oai nghi của Tiểu thừa là được mở rộng xoay quanh thập thiện nghiệp đạo; tám vạn bốn ngàn tế hạnh của Bồ-tát Đại thừa, cũng vẫn là xoay quanh thập thiện mà mở rộng ra; ba ngàn oai nghi là phương tiện rốt ráo của người hành trì Tiểu thừa, tám vạn bốn ngàn tế hạnh là phương tiện rốt ráo của Bồ-tát Đại thừa. Nếu như chúng ta dùng mười hai chữ này của cổ thánh tiên hiền Trung Quốc để tiến hành đối chiếu, phát hiện mười hai chữ này vừa mở rộng ra, hóa ra chính là tám vạn bốn ngàn tế hạnh của Bồ-tát. Từng giờ từng phút trong đời sống thường ngày không gì không phải là sự thể hiện lòng từ bi của Bồ-tát, ba câu này chính là giáo dục cắm rễ của chúng ta.
Cho nên hiếu thuận cha mẹ, tôn trọng bậc trưởng bối, yêu thương bảo vệ tất cả chúng sanh, tích công lũy đức, đem mười hai chữ này toàn bộ thực tiễn rồi, người này chính là thánh nhân, chính là Phật, chính là Thần. Đông phương và Tây phương xưng hô không giống nhau, thực chất là giống nhau, cũng chính là từ bi làm gốc mà Phật pháp giảng, đã làm được từ bi viên mãn rồi.
Các nhà lượng tử lực học hiện đại phát hiện vũ trụ là một cơ thể hữu cơ, chúng ta hy vọng lượng tử lực học mau chóng phát triển phổ cập toàn thế giới, để mọi người đều biết tất cả hiện tượng vật chất toàn bộ đều có tác dụng tinh thần, toàn bộ đều là sự thể hiện của thọ tưởng hành thức.
Con người ngày nay, không những bất hiếu với cha mẹ, không kính sư trưởng, không tin thánh hiền, không tôn trọng người khác, mà còn không tôn trọng động vật, không tôn trọng hoa cỏ cây cối, không kính sợ sơn hà đại địa, ngược lại tùy ý đi sát hại phá hoại, cho nên mới xảy ra mới xảy ra nhiều chuyện rắc rối đến như vậy. Hiện nay trên thế giới có thể tìm được hơn tám ngàn vị Bồ-tát sống, để cứu trái đất này hay không? Nếu như tìm không được, tai nạn trên trái đất thực sự không cách nào tránh khỏi rồi. Nếu như có thể tìm được con số mà nhà khoa học giảng này, từ tám ngàn người trở lên, chúng ta phải thực sự sửa lỗi đổi mới, đoạn ác tu thiện, đem công đức này hồi hướng cho trái đất, hồi hướng cho tất cả chúng sanh, có lẽ sẽ được cứu, khái niệm này là chánh niệm của Phật Bồ-tát. Chánh niệm, chính là bình đẳng phổ chiếu, không có hơn kém thân sơ, không có vật ta đôi bên, thực sự coi khắp pháp giới hư không giới và chính mình là một thể, đây mới là chân chính học Phật. Người chân chính học Phật, sự việc đầu tiên, là đánh bật tham sân si đi.
Ở trên bục giảng tôi đã giảng qua rất nhiều lần, tiền trong túi bạn là của bạn, không ở trong túi bạn thì không phải của bạn; quần áo bạn mặc trên người là của bạn, không mặc trên người thì không phải của bạn; bạn sống ở căn nhà này, căn nhà này là của bạn, rời khỏi căn nhà này, căn nhà này liền không phải của bạn; tiền để trong ngân hàng, cũng không phải của bạn. Bạn nếu có thể thường xuyên quán sát như vậy, bạn liền tri túc thường lạc rồi. Cái gì là thật? Tích công lũy đức là thật, là phước điền của đời đời kiếp kiếp. Bạn có thể hiếu thuận cha mẹ, bạn có thể tôn trọng bậc trưởng bối, bạn có thể yêu thương bảo vệ tất cả chúng sanh, công đức này mãi mãi không bị đánh mất, thực sự thuộc về chính bạn. Những vật ngoài thân khác, khi sinh không mang đến, khi chết không mang theo, người có trí tuệ có thể nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, niệm Phật, an vui mỗi một ngày.
Cung kính trích lục từ bài giảng của Lão pháp sư Tịnh Không
Triết Học Giáo Dục Truyền Thống – Đạo dạy học, Quý Ở Chuyên
Tôi tham gia hội nghị hòa bình của Liên Hợp Quốc trước sau có mười lần, cảm nhận sâu sắc rằng thực sự muốn đạt được mục tiêu mà Liên Hợp Quốc mong cầu: hóa giải xung đột, xã hội an định, thế giới hòa bình, thì vẫn phải dựa vào việc mở lớp dạy học. Trong sách xưa “Lễ Ký – Học Ký”, bài này có thể nói là triết học giáo dục của chúng ta, bên trong có hai câu rất quan trọng: “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”, kiến lập một chính quyền, một quốc gia, giáo dục là quan trọng nhất. Nếu như lơ là vấn đề này, quốc gia này chắc chắn sẽ động loạn, không thể dài lâu, đây là điều khẳng định. Nước ta năm ngàn năm nay, trị vì yên bình lâu dài, không phải dùng vũ lực trấn áp, cũng không phải dùng hội nghị, mà là dùng dạy học.
Tiến sĩ Toynbee của nước Anh vào những năm bảy mươi từng nói, muốn giải quyết vấn đề xã hội của thế kỷ hai mươi mốt, nhất định phải dựa vào học thuyết Khổng Mạnh và Đại thừa Phật pháp. Thế nào là học thuyết Khổng Mạnh? Điều này liền nói đến Nho gia rồi. Thế nào là Nho? Một chữ nhân (người) bên cạnh một chữ nhu (cần), chính là nói thứ con người tất yếu cần, con người tất yếu cần cái gì? Luân lý, đạo đức, nhân quả. Con người có luân lý, đạo đức, thì sẽ không làm chuyện xấu, làm chuyện bất thiện sẽ cảm thấy rất xấu hổ; hiểu được nhân quả, không dám làm chuyện xấu. Đây là tinh tủy trong việc dạy học năm ngàn năm của chúng ta. Người người làm người tốt, chuyện chuyện là chuyện tốt.
Các học giả qua các triều đại lịch sử đều tôn sùng Khổng tử là người tập đại thành của văn hóa truyền thống, thái độ tu thân trị học cả một đời của ngài là: “tin và yêu chuộng cổ nhân, thuật lại mà không tự sáng tác”. Những gì ngài học, ngài tu, ngài dạy, ngài truyền cả một đời, đều là di giáo của cổ thánh tiên vương, bản thân cả một đời không có sáng tác, không có phát minh. Ngài tin tưởng trí tuệ của tổ tông, lời dạy bảo của tổ tông, kế thừa lại không mảy may hoài nghi.
Những gì Khổng tử truyền thừa là cái gì? Luân lý đạo đức, đây là cội rễ trong việc dạy học truyền thống, cũng chính là học thuyết Khổng Mạnh mà Toynbee đã nói. Học thuyết Khổng Mạnh, mọi người vừa nghe đến danh từ này, liền sẽ nghĩ đến Tứ thư, Ngũ kinh, Thập tam kinh, học tập những điển tịch này bồi dưỡng ra chính là học giả, chuyên gia, nhà Nho học, nhà Phật học, nhà Đạo học. Thế nhưng mục đích giáo dục truyền thống không nằm ở chỗ này, mà là “đọc sách lập chí làm thánh hiền“. Người xưa bồi dưỡng không phải là chuyên gia học giả, mà là bồi dưỡng thánh hiền. Từ chỗ này, tôi mới nói ra Nho học và học Nho, Hán học và học tập Hán học.
Nho học và học Nho, Phật học và học Phật không giống nhau; Nho học, Phật học, là lấy kinh điển của Nho và Phật xem như một loại học thuật để nghiên cứu, hoàn toàn không liên quan gì đến tư tưởng, đời sống, hành vi của bản thân, không có cảm nhận “học mà thường xuyên ôn tập, chẳng phải vui sao”. Nếu như học mà thường xuyên ôn tập, chẳng phải phiền não sao, như vậy làm sao được? Nếu như học rồi tâm hoan hỷ không thể hiện tiền, ngược lại thường sinh phiền não, điều này liền gọi là Nho học, Đạo học, Phật học. Sau khi học tập thực sự pháp hỷ sung mãn, thường sinh tâm hoan hỷ, giờ giờ khắc khắc không gì không tự tại, đó chính là học Phật, học Nho. Cho nên những thứ của lão tổ tông, năm ngàn năm truyền lại, nhìn ra toàn thế giới, người xưa chúng ta quả thực hiểu nhất giáo dục và phương pháp dạy học, cũng thu được thành quả của việc dạy học. Thế nhưng, vô cùng đáng tiếc việc dạy học này của chúng ta đã đánh mất một trăm năm rồi.
Cân nhắc sự mạnh yếu, mức độ văn minh, mức độ phát triển của một quốc gia, là xem có bao nhiêu tiền, thực lực quân sự của quốc gia ra sao ư? Không phải vậy, mà là xem tiêu chuẩn, tố chất và số lượng đại sư trong các ngành các nghề. Tôi cảm nhận sâu sắc rằng, thời đại ngày nay thiếu vắng các vị giáo sư cấp đại sư. Vào những năm ba mươi, bốn mươi, Đại sư Ấn Quang từng nói qua vấn đề này, vì sao thời đại này không có đại sư nữa? Bởi vì phương pháp dạy học sai rồi, không có người mẹ bồi dưỡng ra đại sư, mẹ (người mẹ) của đại sư không còn nữa, tự nhiên đã không có đại sư rồi.
Người xưa chúng ta từ xưa đến nay rất coi trọng việc giáo dục bé gái. Còn quan trọng hơn giáo dục bé trai. Giáo dục hiện đại đã hình thành nên sự thiếu vắng những người mẹ cấp đại sư, thiếu vắng đại sư là kết quả của sự sai lầm trong giáo dục. Hiện nay có một sự hiểu lầm, nói nước ta từ xưa đến nay là trọng nam khinh nữ, coi thường phái nữ. Điều đó là sai rồi. Chúng ta có thể từ hai chữ “thái thái” nhìn thấy nước ta từ xưa đến nay vốn không phải trọng nam khinh nữ, hai chữ “thái thái” này là vinh dự cao nhất. Thái thái là gì? Chính là ba vị chữ Thái của nhà họ Chu. Triều nhà Chu tám trăm năm, ban đầu có ba vị thánh nhân này: Văn Vương, Võ Vương, Chu Công. Ba nhà chính trị vĩ đại này đã mang đến lợi ích tám trăm năm, phúc lợi tám trăm năm cho bá tánh. Mẹ của ba người này đều có một chữ “Thái”. Tổ mẫu của Chu Văn Vương là Thái Khương, mẹ của bản thân ngài là Thái Nhậm, phu nhân của bản thân ngài là Thái Tự, cho nên “thái thái” là từ chỗ này mà ra. Ba người này sinh con đều là thánh nhân. Cho nên “thái thái” là người mẹ của thánh nhân. “Thái thái” là phải đem con cái của chính mình bồi dưỡng thành người đại thánh đại hiền. Hiện nay trong nước đổi xưng hô thái thái thành ái nhân (người yêu), vừa yêu như vậy liền tiêu tùng rồi, thế hệ sau liền không thể tưởng tượng nổi. Cho nên xưng hô của người xưa, hàm ý vô cùng sâu sắc, ngày ngày gọi bạn là thái thái, chính là giờ giờ khắc khắc nhắc nhở bạn, có đem con cái dạy cho tốt hay không? Có đem con cái dạy thành thánh hiền hay không?
Thời cổ đại coi trọng giáo dục, trong dân gian thông thường, thánh nhân nói rất hay, “dạy con từ thuở còn thơ”, dạy con cái của bạn, lúc còn là trẻ sơ sinh đã dạy; “dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”, bạn cưới con dâu, bắt đầu dạy cô ấy từ ngày cô ấy bước vào cửa, vì sao vậy? “Hình thành từ nhỏ thì giống như thiên tính, thói quen thành tự nhiên”. Việc dạy học của Nho gia Trung Quốc bắt đầu từ thai giáo, người mẹ vừa mang thai đã biết khởi tâm động niệm, lời nói hành động của chính mình đều sẽ ảnh hưởng thai nhi, phàm là có ảnh hưởng không tốt, đều phải nghiêm cấm, bà mới có thể làm trọn trách nhiệm của người mẹ, yêu thương bảo vệ con cái. Cho nên một dân tộc, một quốc gia nếu muốn hưng vượng phát triển, tiền đề là phải có sự giáo dục tốt, chính là đối với những bé gái này phải có sự giáo dục tốt, làm một người mẹ tốt rồi, mới biết làm thế nào để đi bồi dưỡng đại sư.
Vậy làm thế nào mới có thể giáo dục tốt những bé gái hiện nay? Vẫn là “Đệ Tử Quy”, đem “Đệ Tử Quy” thực tiễn một trăm phần trăm. Giáo dục là phải làm ra từ chính mình, mới có thể ảnh hưởng con cái, bản thân chưa làm được, bạn bảo chúng làm được, chúng không tin, chúng phải đích thân nhìn thấy. Hơn nữa giáo dục, nếu như trẻ nhỏ bắt đầu từ lúc ba, bốn tuổi, thì đã muộn rồi. Cho nên mẹ của Văn Vương là Thái Nhậm, lúc mang thai bà liền bắt đầu thai giáo. Bạn tuyệt đối chớ nên lơ là, lúc mang thai, tưởng rằng nó vẫn chưa phát triển thành hình người, cái gì cũng không biết. Thực ra nó có linh tính, cái gì cũng biết, nó đã bắt đầu học tập rồi. Muộn nhất cũng phải dạy vào lúc vừa ra đời. Dạy bằng cách nào? Ở trước mặt nó, lời nói cử chỉ đều phải đoan chánh, phải có quy củ, đứa trẻ đã đang nhìn, đang nghe rồi. Cho nên từ lúc ra đời đến ba tuổi, một ngàn ngày này, đây gọi là giáo dục cắm rễ. Ngạn ngữ của người xưa chúng ta thường nói, “ba tuổi thấy tám mươi, bảy tuổi thấy cả đời”, lời này hiện nay nói không ai hiểu, ba tuổi làm sao có thể nhìn đến tám mươi? Cái rễ trong một ngàn ngày lúc ba tuổi này cắm cho tốt, nó là thánh nhân, là đại hiền. Cho nên người thầy giáo này là cha mẹ, là bậc trưởng bối trong nhà. Trước ba tuổi người nhà, cha mẹ của nó, có thể giúp nó cắm cái rễ này. Cho nên người thầy giáo nhậm chức đầu tiên của giáo dục là cha mẹ, quan trọng nhất là người mẹ, bởi vì thời gian đứa trẻ tiếp xúc với cha còn ít, hầu như là không rời xa mẹ. Người mẹ hiện nay bản thân cũng không hiểu cũng không biết dạy, vấn đề liền nghiêm trọng rồi.
Chúng ta xem ngũ luân, thể hội sâu sắc nhất chính là hai chữ “bổn phận”, ngũ luân thập nghĩa, cha từ, con hiếu, vua nhân, tôi trung, vợ chồng có sự khác biệt. Vợ chồng có sự khác biệt chính là hai vợ chồng kết hợp thành một gia đình, công việc của vợ chồng là có sự khác biệt. Đời sống gia đình quan trọng nhất, một là đời sống kinh tế, một là giáo dục, gia đình không có giáo dục liền tiêu tùng rồi; giáo dục gia đình là đổ dồn lên thân của người vợ, kinh tế gia đình là người chồng gánh vác, một người thì ra ngoài mưu sinh, một người ở nhà giáo dục con cái. Bạn xem trách nhiệm của người mẹ nặng biết bao. Cho nên chúng ta có một từ ngữ hình dung phu nhân gọi là “giúp chồng dạy con”.
Một người vợ ở trong nhà, ba chữ “quân, thân, sư”, đều phải gánh vác được. Quân là lãnh đạo, bạn dẫn dắt con cái như thế nào, dẫn dắt nó đến đạo thánh hiền. Cho nên chiểu theo tiêu chuẩn này của lão tổ tông chúng ta để cân nhắc những người mẹ ngày nay, không có một ai xứng chức, ba chữ này một chữ cũng đều chưa làm được. Kết quả là gia đình loạn rồi, xã hội loạn rồi, tai nạn ập đến rồi. Nếu như không khôi phục lại bổn phận này, các thành viên trong gia đình không ai vào vị trí nấy, vậy thì rất khó tránh khỏi tai nạn, con cái cũng không thể nào an thân lập mệnh.
Người xưa ở nước ta còn giảng tam cương ngũ thường, vua làm cương cho tôi, chồng làm cương cho vợ, cha làm cương cho con. Rất nhiều người luôn phê phán tam cương ngũ thường. Trên thực tế ý nghĩa căn bản mà thánh nhân truyền lại, cương là tấm gương, quân là người lãnh đạo. Phải làm một tấm gương tốt cho người bên dưới trước, mới có thể gọi là cương. Cái gọi là “học làm thầy người, hành vi làm chuẩn mực cho thế gian” hiện nay chính là ý nghĩa này, lời nói hành vi cử chỉ đều phải làm tấm gương cho cả nhà. Con người ngày nay đối với giáo dục của cổ thánh tiên hiền chúng ta, đối với giáo dục truyền thống, đã hiểu lầm quá sâu sắc rồi. Điều này cũng khó trách, sau khi nhà Mãn Thanh mất nước, quốc gia luôn chìm trong chiến loạn, quân phiệt cát cứ, Nhật Bản xâm lược, đã làm cho toàn bộ xã hội Trung Quốc đại loạn. Nhất là giới trí thức của thế hệ đó ở Trung Quốc đều phủ định văn hóa truyền thống, cho rằng văn hóa truyền thống dẫn đến sự lạc hậu của Trung Quốc, muốn tây hóa toàn diện, học theo người nước ngoài. Ngày nay các quốc gia phương Tây đều loạn cả rồi, hiện tại người nước ngoài hướng về phương Đông để tìm báu vật, họ tìm cổ tịch Trung Quốc, tìm kiếm Phật giáo ở Ấn Độ, họ đến để cầu cứu. Người Trung Quốc chúng ta làm sao đây? Chúng ta hiện nay vẫn chưa giác ngộ, đợi đến lúc người nước ngoài thực sự mang đồ của Trung Quốc, đồ của Ấn Độ ra để cứu chính họ rồi, chúng ta mới đi theo đuổi, mới đi học theo người ta, đây là một hiện tượng rất đáng buồn.
Việc dạy học truyền thống của chúng ta, chúng ta ít nhất có thể truy ngược đến Phục Hy. Dạy cái gì? Chính là ngũ luân. Chúng ta nói đạo, đạo là gì? Quy luật của đại tự nhiên chính là đạo, nó là thiên nhiên, không phải do người nào khống chế, sáng tạo phát minh ra. Thực tiễn trên phương diện nhân sự, vợ chồng là đạo, cha con là đạo, vua tôi (người lãnh đạo và người bị lãnh đạo) là đạo, anh em là đạo, bạn bè là đạo. Ngũ luân nói mối quan hệ giữa người với người. Trong ngũ luân đầu tiên phải nói cha con có tình thân, tình yêu thương của cha mẹ đối với con cái, tình yêu thương của con cái đối với cha mẹ, đây là thiên tính.
Thiên tính của tình yêu thương này chính là khởi điểm của giáo dục, khởi nguồn của giáo dục truyền thống bắt đầu mở ra từ đây. Mục đích của giáo dục chính là làm thế nào đem tình thân ái xuất phát từ thiên tính này giữ gìn vĩnh hằng mà không bị biến chất, đây là mục tiêu thứ nhất của giáo dục trong năm ngàn năm qua ở nước ta, cả một đời không thay đổi, cha hiền con hiếu, đây là cội rễ của giáo dục truyền thống. Bạn muốn nói giáo dục truyền thống là nền giáo dục gì? Là giáo dục của tình thân ái, là nền giáo dục của tình yêu thương. Mục tiêu thứ hai, đem tình thân ái cha con này phát huy rực rỡ và mở rộng, yêu gia đình, yêu gia tộc, yêu làng xóm láng giềng, yêu xã hội, yêu quốc gia, yêu nhân loại, “Đệ Tử Quy” giảng “phàm là người, đều phải yêu thương”. Sự trị vì yên bình lâu dài năm ngàn năm của chúng ta trên thế giới này, một quốc gia lớn như vậy, nhiều tộc quần như vậy, có thể chung sống hòa thuận dựa vào cái gì? Chính là nền giáo dục của tình thân ái này.
Tình yêu thương, dời sang vua tôi (người lãnh đạo và người bị lãnh đạo) chính là nghĩa; đặt ở vợ chồng đây chính là có sự khác biệt. Vợ chồng tổ chức thành một gia đình, trong gia đình có hai chuyện lớn: một là kinh tế gia đình, do người chồng phụ trách, mưu sinh nuôi gia đình; chuyện lớn thứ hai còn quan trọng hơn chuyện thứ nhất, đó chính là “vô hậu vi đại” (không có người nối dõi là lớn nhất). Chữ “hậu” này không phải nói bạn có con cháu, con cháu là hiền nhân, thánh nhân, điều này gọi là có người nối dõi. Nó có thể kế thừa đạo thống, sự nghiệp của gia đình, gia đạo không suy sụp, điều này gọi là có người nối dõi, đây là trách nhiệm của phụ nữ. Do đó, nữ quyền quá khứ ở nước ta là chí cao vô thượng, gánh vác sứ mệnh nuôi dạy thánh nhân, hiền nhân, điều này chúng ta không thể không biết. Bạn nói xem trách nhiệm này lớn biết bao, sứ mệnh này lớn biết bao! Đây là sự giáo dục hoàn toàn tuân thủ luân lý đạo đức của chúng ta, nhân quả nằm ở trong đó. Có nhân ắt có quả, có quả ắt có nhân. Nhân thiện có quả thiện, nhân ác có báo ác. Con người nếu thực sự thông đạt đạo lý nghiệp nhân quả báo, sẽ không dám làm chuyện ác, sẽ an phận giữ mình. Cho nên luân lý, đạo đức, nhân quả là giáo dục nền tảng, là thứ tất yếu cần của nhân sinh. Con người nếu như vứt bỏ luân thường đạo đức, thì không có gì khác biệt với cầm thú.
Nước ta từ xưa đến nay coi trọng nhất chính là giáo dục. Trên các thiết chế chính trị, giáo dục đặt ở vị trí thứ nhất, tất cả mọi thiết chế của quốc gia đều là phục vụ cho giáo dục, mãi cho đến nhà Mãn Thanh đều không hề thay đổi. Trung Quốc thay triều đổi đại rất nhiều, sự biến đổi cũng rất nhiều, duy chỉ có giáo dục là trước sau không có sự biến hóa, đều giữ vững nguyên tắc này của lão tổ tông. Xã hội hiện nay của chúng ta, chịu sự ảnh hưởng của phương Tây, đã mất đi sự tự tin đối với truyền thống của chính mình, đi học theo nước ngoài, đặt chữ “lợi” lên vị trí hàng đầu. Người hiện nay có ai mà không tranh giành lợi ích? Mạnh tử nói rất hay, “kẻ trên người dưới cùng tranh giành lợi ích, quốc gia đó nguy mất”. Hiện nay là toàn cầu cùng tranh giành lợi ích, thế giới nguy mất. Sự động loạn của thế giới này là từ việc tranh giành lợi ích mà ra. Có thể thấy việc quảng bá nền giáo dục văn hóa truyền thống trên toàn cầu là quan trọng và cấp bách nhường nào.
Phương pháp cũ của lão tổ tông chúng ta truyền lại năm ngàn năm nay, chính là tám câu đầu trong “Tam Tự Kinh”,“nhân chi sơ, tánh bổn thiện; tánh tương cận, tập tương viễn; cẩu bất giáo, tánh nãi thiên; giáo chi đạo, quý dĩ chuyên”. Đây là nguyên tắc chỉ đạo cao nhất trong việc mở trường dạy học của lão tổ tông chúng ta ngàn vạn năm qua. Câu thứ nhất “nhân chi sơ, tánh bổn thiện” (người ban sơ, tính vốn thiện), giáo dục trước tiên phải khẳng định nhân tánh bổn thiện; học Phật, trước tiên phải khẳng định tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật, lý niệm này quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Mục đích dạy học của tôi là gì? Học Phật thì phải giúp họ thành Phật; tôi dạy văn hóa truyền thống Trung Quốc, phải giúp họ thành thánh nhân, việc dạy học này mới có ý nghĩa, một khái niệm cơ bản quan trọng hơn bất cứ điều gì. Câu thứ hai “tánh tương cận, tập tương viễn” (tính gần nhau, thói xa nhau), nói cho bạn biết vì sao phải dạy. Xét từ bổn tánh bổn thiện mà nói, mọi người đều giống nhau, do mối quan hệ của tập tính sẽ khiến cho việc rời xa bổn thiện bổn tánh ngày càng xa hơn. Đây là gì? Chịu sự ảnh hưởng của môi trường. Hiện nay môi trường ảnh hưởng đến con người dữ dội nhất là ti vi, mạng internet, đã dạy con người hư hỏng toàn bộ rồi. “Cẩu bất giáo, tánh nãi thiên” (nếu không dạy, tính dần đổi), giáo dục liền từ câu này sinh khởi lên, vì sao phải làm giáo dục? Không dạy, tương lai toàn bộ đều biến thành xấu xa rồi.
Dạy bằng cách nào? “Giáo chi đạo, quý dĩ chuyên”(Đạo dạy học, quý ở chuyên). Phương pháp này, Phật giáo cũng là như vậy, chủ trương chuyên tu một môn, đừng học quá nhiều. Ví dụ học sinh của tôi, sau khi bạn chọn một môn từ Nho Thích Đạo, tôi cung cấp chú sớ, để cho bạn nghiên cứu, mỗi ngày bạn làm báo cáo nửa giờ đồng hồ cho tôi, bình quân một ngày nửa giờ, các bạn đồng học cùng nhau nghe. Nghe, những thứ người khác học, bạn cũng hiểu rồi, bạn nghe rồi, bản thân chuyên tu môn này, có thể hấp thu thứ của người khác để giải thích thứ trong môn này của bạn. Cho nên mỗi một người là thầy giáo, mỗi một người cũng là học sinh, cùng nhau học tập qua lại. Ví dụ nói chuyên tu “Luận Ngữ”, “Luận Ngữ” một tuần báo cáo bốn giờ đồng hồ, bốn tháng thì giảng xong. Sau khi giảng xong, làm lại lần thứ hai, lần hai giảng xong giảng lần ba, một năm giảng ba lần, mười năm giảng ba mươi lần, tâm là định. Học tập như vậy, khoảng chừng ba đến bốn năm, liền đắc Luận Ngữ tam muội. Tam muội là gì? Đắc định (tâm thanh tịnh). Năm, sáu năm liền có thể khai ngộ, một khi khai ngộ, không chỉ những thứ mình học được thông đạt, những thứ chưa từng học qua, vừa tiếp xúc cũng có thể thông đạt. Cho nên chúng ta là nói giới định tuệ, không giống với phương pháp của người nước ngoài.
Tâm đắc định, phiền não liền ít đi, trí tuệ liền tăng trưởng, liền khai ngộ, sự khai ngộ này, đó là đại triệt đại ngộ. Người khai ngộ trong học tập sẽ có biểu hiện gì? Người đó nhất thiết đều quán thông rồi, cho dù là những thứ chưa từng học qua, chỉ cần hỏi người đó, người đó vừa tiếp xúc, lập tức liền có thể giải thích cho bạn. Có thể đạt đến trình độ này, đây mới gọi là cấp đại sư. Đại sư Huệ Năng chính là như vậy, ngài chưa từng đi học, bất luận là học vấn thế gian, học vấn Phật pháp, đọc cho ngài nghe, ngài đều có thể giảng giải. Vì sao có thể được như vậy? Bởi vì môn học của các ngành các nghề trên thế gian đều không rời khỏi tự tánh, kiến tánh rồi, toàn bộ đều thông suốt rồi. Cho nên các chuyên gia của các ngành các nghề có nghi nan, đều có thể thỉnh giáo ngài, ngài đều có thể nói cho bạn đáp án chính xác. Năng lực này người người đều có thể đạt được, chỉ cần dẹp bỏ vọng tưởng phân biệt chấp trước là được, một chút bí mật nào cũng không có.
Phương thức dạy học này là do tổ tông truyền lại, chúng ta phải nhờ cậy vào lão tổ tông. Phương pháp dạy học này khái quát lại chính là “thâm nhập một môn, huân tu thời gian dài”. Trường học hiện nay, nếu có thể áp dụng phương pháp này, vậy thì quá tuyệt vời rồi. Trên thực tế họ làm được, chỉ là không dùng mà thôi.
Lúc trước khi tôi theo Lý lão sư học kinh giáo, phương pháp của Lý lão sư là phương pháp dạy học tư thục, phương pháp dạy học cá biệt, không thể đồng thời học hai môn, bạn học hai môn ngài liền không dạy bạn. Việc dạy học của học sinh tiểu học, học sinh trung học, sinh viên đại học hiện nay đều là buổi sáng bốn tiết học, chính là bốn môn, buổi chiều lại hai môn, một ngày là sáu môn, một năm trôi qua, đầu óc đều biến thành hồ nhão. Các quốc gia trên thế giới hiện nay đều dùng phương pháp giáo dục này, đây là sự sai lầm tuyệt đối. Cho nên tôi rất muốn mở một ngôi trường để làm thử nghiệm, cũng đem các chương trình học do quốc gia quy định cùng nhau dạy cho xong. Ví như sáu năm tiểu học có ngữ văn, toán học, cách dạy của tôi liền không phải là cách sắp xếp như thế này, ngữ văn của sáu năm, một năm liền dạy cho xong, một năm này đều là học ngữ văn, những thứ khác không học, chỉ học một môn. Năm thứ hai chuyên môn học toán học, bởi vì một năm chỉ nghiên cứu toán học, bảo đảm thành tích của chúng sẽ tốt hơn học sinh hiện nay. Trong đầu chúng chỉ có một thứ, không có những thứ khác, hiệu quả tốt! Tôi và Tổng lý Lục Khắc Văn nói về sự việc này, ông ấy liền bảo tôi làm thử nghiệm, thử nghiệm thành công rồi, nước Úc liền có thể thúc đẩy. Như vậy, toàn bộ nền giáo dục sẽ thay đổi. Điều này đối với nhân loại, đối với lịch sử giáo dục đều là cống hiến lớn.
Những đứa trẻ hiện nay học tập rất đau khổ, cũng vô tri, nhưng lại không thể trách chúng, đây là do người lớn dạy.Thánh hiền đều là do dạy dỗ mà ra, Phật Bồ-tát cũng là do dạy dỗ mà ra, người xấu, người ác cũng là do dạy dỗ mà ra, liền xem bạn có cách dạy như thế nào, không thể trách trẻ nhỏ. Cho nên người giáo dục và phương pháp giáo dục là quan trọng tột bậc.
Tôi đi trên quốc tế rất nhiều, cũng gặp qua không ít những nhân vật có sức ảnh hưởng này, khi tôi nói chuyện với họ, tôi nói thế kỷ hai mươi mốt là thế kỷ của dân tộc ta, điều này không phải do chúng ta nói ra, mà vẫn là do Toynbee nói ra. Vì sao nói là thế kỷ của dân tộc ta? Là thế kỷ của văn hóa truyền thống dân tộc? Bởi vì chỉ có văn hóa truyền thống có thể cứu được toàn thế giới, không phải là chính trị, cũng không phải là khoa học kỹ thuật, cũng không phải là quân sự, cũng không phải là kinh tế. Nếu như mọi người đem thứ này vứt bỏ đi rồi, thế kỷ hai mươi mốt chính là thế kỷ hủy diệt của nhân loại.
Văn hóa truyền thống có phải nằm ở trong cổ tịch hay không? Có phải ở trong một số tiết mục biểu diễn ca múa hay không? Nói đó chính là văn hóa truyền thống, không phải vậy. Cho nên vấn đề này, tôi đã nói với họ, tôi ở London đã đàm luận rất nhiều với Đại học London, Đại học Cambridge, bởi vì tôi nói chuyện với họ là lớp tiến sĩ khoa Hán học, tôi nhìn thấy những sinh viên này, dùng “Kinh Vô Lượng Thọ” viết luận văn tiến sĩ, rất hiếm có, tôi nhìn thấy rất hoan hỷ, có người dùng “Mạnh Tử” viết luận văn tiến sĩ. Tiếng Hoa của họ nói rất tốt, có năng lực đọc cổ tịch chữ Hán. Khi tôi nói chuyện với họ liền bảo với họ rằng, tôi nói quý vị quả thực có thể dùng điển tịch bằng chữ Hán để lấy được học vị, tương lai cũng là vị giáo sư nổi tiếng tốt nhất trong trường đại học, thế nhưng quý vị tuyệt đối không thể vui vẻ được như tôi, quý vị vẫn là sống trong thế gian phiền não và đau khổ, không thể giải quyết vấn đề thực tế. Cái quý vị đang làm là Hán học, cũng tức là Nho học, Đạo học, Phật học, tôi nói tôi với quý vị đang làm là trái ngược nhau, ngược lại nhau. Họ rất kinh ngạc, vì sao lại ngược nhau? Tôi nói tôi là học Phật, học Nho, học Đạo, còn quý vị là Phật học, Nho học, Đạo học, hai chữ này đảo ngược lại thì không giống nhau. Nếu như là Nho học, Đạo học, Phật học, đây là học thuật, quý vị là làm học thuật. Học thuật là tri thức. Nếu quý vị học Phật, thì phải học cho được giống với Thích-ca Mâu-ni Phật; học Nho phải học được giống với Khổng Mạnh; học Đạo phải học được giống với Lão Trang, cái gọi là pháp hỷ sung mãn trong cửa Phật đó quý vị mới thực sự có được. Cho nên đây là hai việc khác nhau, không thể gộp làm một. Học Nho, học Phật đó là trí tuệ, còn làm Nho học là gì? Đó là tri thức. Tri thức không thể giải quyết vấn đề, trí tuệ mới có thể giải quyết vấn đề. Cho nên, lãnh đạo thế kỷ hai mươi mốt nhất định là văn hóa truyền thống của chúng ta.
Câu nói của Toynbee nói chỉ có học thuyết Khổng Mạnh và Đại thừa Phật pháp mới có thể cứu thế giới, quý vị có tin lời này không? Hiện nay ở trong các trường đại học, chẳng phải đang nghiên cứu ba nhà Nho Thích Đạo hay sao? Có thể cứu được xã hội không? Tuyệt đối không cứu được. Vậy lời của Toynbee nói sai rồi sao? Cho nên chúng ta phải hiểu được làm thế nào đi giải mã lời của Toynbee, ông ấy không nói sai. Cội rễ của Nho Thích Đạo, giống như chúng ta trồng cây vậy, trồng một cây ăn quả, phải có rễ. Ngày nay hễ nói đến Nho, trong đầu bạn nhất định lập tức liền hiện ra Tứ thư Ngũ kinh, Thập tam kinh, nói đến Phật, vậy bạn nhất định là “Kinh Hoa Nghiêm”, “Kinh Pháp Hoa”, “Kinh Bát-nhã”, liền nghĩ đến những thứ này. Những thứ này bạn ngày ngày đi nghiên cứu, ngày ngày giảng, chẳng ích gì cho sự việc. Toynbee không nói sai, Nho Thích Đạo có ba cội rễ, ngày nay cái mà quý vị nhìn thấy là cành lá hoa quả, cành lá hoa quả từ đâu mà có? Do rễ sinh ra, cho nên tìm ra ba cội rễ của Nho Thích Đạo là đúng rồi. Rễ của Nho là “Đệ Tử Quy”, rễ của Đạo là “Cảm Ứng Thiên”, rễ của Phật là “Thập Thiện Nghiệp”. Đều là những thứ rất nhỏ, quý vị đều không coi trọng nó, ở trường học có ai dùng thứ này đi làm luận văn tiến sĩ chứ? Thế nhưng thứ này nó là có sinh mệnh, là vật sống; những thứ như Tứ thư Ngũ kinh, Thập tam kinh mà quý vị đang làm, giống như hoa cắm trong bình vậy, rất đẹp mắt, nhưng là vật chết, không có sinh mệnh, qua vài ngày liền héo rồi, không có rễ.
Cho nên tôi nói nếu như có thể phổ cập ba cội rễ Nho Thích Đạo này đến toàn thế giới, thiên hạ liền thái bình rồi. Còn như nâng cao lên trên nữa, đâm hoa kết trái, đó là số ít người, đó chính là cấp đại sư hạng nhất, là việc của họ. Tứ thư Ngũ kinh là những người cấp đại sư đó đi học. Là việc của bậc đại thánh đại hiền họ. Nhưng thứ nhận được sự thọ dụng nhất, đó chính là rễ, rễ là bá tánh bình dân phổ thông nhận được sự thọ dụng. Ba cội rễ văn hóa Trung Quốc: “Đệ Tử Quy”, “Thập Thiện Nghiệp Đạo”, “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên”, chỉ cần có ba thứ này, thiên hạ thái bình, vấn đề liền được giải quyết rồi. Đây là phương pháp duy nhất để cứu vãn tai nạn thế giới.
Nếu như đều hiểu được phải hiếu thuận cha mẹ, tôn sư trọng đạo. Vậy kết quả liền chắc chắn là thế giới hài hòa. Vũ trụ là hài hòa, tâm tánh là hài hòa. Thân thể là hài hòa, quốc gia là hài hòa, xã hội là hài hòa. Cho nên nếu như người dân chúng ta có lòng tin đối với sự dạy bảo về luân lý đạo đức truyền thống năm ngàn năm của chính mình, đất nước ta nhất định là lãnh đạo thế giới, nếu như không có lòng tin, vậy vẫn phải chịu một trận tội tình, vẫn còn một giai đoạn khổ nạn, hai loại kết quả này hoàn toàn do tự mình quyết định.
Cung kính trích lục từ bài giảng của Lão pháp sư Tịnh Không
Giáo Dục Thánh Hiền Truyền Thống
“Lễ Ký Học Ký” nói: “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên” [Dựng nước quản dân, dạy học là đầu]. Kiến lập một chính quyền, một quốc gia, cái gì quan trọng nhất? Giáo dục quan trọng nhất. Cổ thư chúng ta có ghi chép, thời vua Nghiêu, vua Thuấn, chính phủ liền chính thức thiết lập Tư đồ để chủ quản giáo dục, thúc đẩy giáo dục. Dạy cái gì? Dạy luân lý, đạo đức, nhân quả. Người xưa chúng ta dạy trẻ nhỏ là bắt đầu từ lúc mang thai, trẻ nhỏ ra đời đến ba tuổi một ngàn ngày này, là thời khắc then chốt nhất, vì sao vậy? Vào trước làm chủ, lúc này dạy tốt rồi, cả đời đều sẽ không biến thành xấu. Người xưa chúng ta coi trọng giáo dục cắm rễ.
Trong lịch sử chúng ta, không ai là không tán thán mẹ của Chu Văn Vương, bà hiểu được thai giáo. Lúc bà mang thai, “mắt không nhìn sắc ác”, những thứ khó coi, không dễ coi, trái nghịch với luân lý đạo đức, thì không nhìn, không nghe; “tai không nghe âm thanh dâm đãng”, phàm là âm thanh (âm nhạc) bất thiện thì không nghe; “miệng không nói lời ngạo mạn”, nói chuyện với bất kỳ người nào, đều hòa nhã vui vẻ, nhu hòa ngay thẳng, không có mảy may tập khí ngạo mạn, tâm địa đoan chánh, thuần tịnh thuần thiện, để trẻ nhỏ bẩm thụ chánh khí.
Người mẹ là vị thầy giáo nhậm chức đầu tiên của đứa trẻ, giáo dục cắm rễ hoàn toàn dựa vào người mẹ. Đứa trẻ vừa ra đời liền đang học tập, học tập cái gì? Khởi tâm động niệm, lời nói việc làm của người mẹ, nó liền đang bắt chước, học tập, nó sẽ nghe, sẽ nhìn. Từ lúc ra đời đến ba tuổi một ngàn ngày này, phải đem nó dạy cho tốt rồi, cả đời đều sẽ không thay đổi. Mẹ của Văn Vương hiểu thai giáo, sinh ra Văn Vương; phu nhân của Văn Vương hiểu được thai giáo, sinh ra Võ Vương, Chu Công đều là bậc thánh nhân. Những nhà giàu sang ở Trung Quốc nói đến thế gia, thế gia trong thời đại đế vương được phong tước vị, “Công, Hầu, Bá, Tử” đều xưng là thế gia (gia đình có quyền thế), thế gia đều chú trọng thai giáo, đời đời kiếp kiếp có thánh hiền xuất hiện.
Cho nên, bậc thánh hiền là do dạy dỗ mà ra, ai dạy? Người mẹ dạy. Mà lý niệm quan trọng nhất của việc dạy học, chính là phải thừa nhận, phải khẳng định người người bổn tánh bổn thiện. “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, mỗi người vốn dĩ đều là bậc thánh hiền, chỉ là không dạy dỗ cho tốt, thì sẽ học xấu thôi. Mà điều quan trọng nhất của việc học tập là cắm rễ, rễ là “thai giáo”, lúc mang thai, khởi tâm động niệm, lời nói việc làm của người mẹ ảnh hưởng thai nhi. Cho nên tư tưởng của người mẹ thuần chánh, tuyệt đối không có tà niệm, tuyệt đối không có ý niệm bất thiện, lời nói bất thiện, động tác bất thiện. Đứa trẻ ra đời, những gì nhìn thấy được, những gì nghe thấy được, những gì tiếp xúc được, đều là hành vi thuần chánh. Người mẹ biết được đạo lý này, ba năm mười tháng, đem đứa trẻ này chăm sóc cho tốt, cái rễ của thánh nhân liền được cắm xuống rồi.
Thuật thôi miên của phương Tây hiện nay phát hiện, thai nhi ở trong tử cung của người mẹ, đầu óc rất tỉnh táo, chứng minh thai giáo mà người xưa ở nước ta nói là rất có đạo lý. Cho nên người mẹ mang thai mười tháng, ý niệm không thể không chánh, hành vi không thể không đoan, khởi tâm động niệm đều là hiếu đễ trung tín, nhân nghĩa lễ trí, người mẹ thời thời khắc khắc phải quan tâm nó, tất cả những gì tiêu cực đều không thể nhìn, không thể nghe, không thể tiếp xúc. Để những gì nó nhìn thấy, nghe thấy, tiếp xúc được toàn bộ là chính diện, toàn bộ là hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ, nhân ái hòa bình. Cha mẹ ở trước mặt nó đều không thể tùy tiện nói chuyện, phải biết rằng nó đang học tập, nó đang bắt chước.
Thế là, chúng ta liền hiểu rõ rồi, trẻ nhỏ ra đời đến ba tuổi, một ngàn ngày này là giáo dục cắm rễ. Dạy cái gì? Dạy “Đệ Tử Quy”. “Đệ Tử Quy” không phải là dạy trẻ nhỏ đọc, nó vẫn chưa biết nói, “Đệ Tử Quy” là cha mẹ làm ra cho nó xem. Người mẹ trẻ tuổi, cha mẹ đều vẫn còn đó, bạn hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự bậc tôn trưởng như thế nào, nó đều nhìn thấy, nó đều học được rồi, nó cái gì cũng hiểu, không có tà niệm, không có tâm tư lợi, là được bồi dưỡng thành như vậy. Lúc này là thân giáo không phải ngôn giáo, bạn không làm ra tấm gương tốt, nó đi đâu để học tập? Trẻ sơ sinh hiện nay ai dạy? Ti vi đang dạy. Lớn lên một chút, lên tiểu học rồi, mạng internet máy tính đang dạy, đem con người dạy cho hư hỏng toàn bộ rồi. Ngày nay nói con cái bất hiếu, học sinh không dễ dạy, ai nên chịu trách nhiệm? Chúng ta phải hảo hảo suy nghĩ!
Người xưa ở nước ta đối với con cái là quản giáo nghiêm ngặt. Bắt đầu quản giáo từ lúc nào? Bắt đầu từ lúc mang thai. Thai giáo, đặc biệt là đức hạnh, căn bản của đức hạnh chính là hiếu và kính. Bất luận là thế pháp hay xuất thế pháp, thành tựu đều nằm ở hai chữ “hiếu, kính”, hai chữ này đứng vững rồi, người này chắc chắn thành tựu. Lòng thành kính của người xưa là học từ nhỏ, cho nên dễ dạy. Người hiện nay từ nhỏ không học, ba tuổi bắt đầu dạy, đã quá muộn rồi! Vì sao vậy? Nó đã bị ô nhiễm rồi. Từ nhỏ đem cái rễ cắm cho vững rồi, gốc rễ sâu chặt, tám mươi tuổi đều sẽ không thay đổi. Nó bất luận là học Nho, học Đạo, học Phật đều có thành tựu. Học Nho là bậc thánh nhân, học Đạo là tiên nhân, học Phật thành Phật Bồ-tát. Mỗi người đều có cơ hội, mấu chốt nằm ở việc người làm cha mẹ có biết dạy hay không. Về sau sáu, bảy tuổi đi học rồi, phải sắm sửa mời vị thầy giáo tốt nhất cho nó. Đi học, thì là thầy giáo dạy nó, thầy giáo cũng là tấm gương của học sinh, nhất cử nhất động đều phải hợp với lễ pháp. Vì sao vậy? Để trẻ nhỏ tiếp tục trưởng thành, sẽ không biến thành xấu. Thầy giáo dạy học không dễ dàng, phải làm tấm gương cho học sinh xem, hiếu thuận cha mẹ như thế nào, tôn trọng sư trưởng như thế nào. Tôn trọng sư trưởng là cha mẹ dạy trẻ nhỏ, hiếu thuận cha mẹ là thầy giáo chỉ dạy học sinh. Thầy giáo phải có đức hạnh, tuyệt đối là người con có hiếu. Vì sao vậy? Cái rễ của tất cả mọi thiện pháp thế xuất thế gian đều là sinh ra từ “hiếu thân tôn sư”. “Hiếu dưỡng cha mẹ”, “phụng sự sư trưởng”, đây là cái gốc lớn cái rễ lớn của thế xuất thế pháp. Con người bất hiếu với cha mẹ, không kính sư trưởng, có thể học một chút khoa học kỹ thuật, thế nhưng, đức hạnh làm người không còn nữa. Thứ mà người xưa chúng ta chú trọng nhất, hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ, nhân ái hòa bình cũng không còn nữa, thiên hạ sao có thể không loạn chứ?
Phật giáo là sư đạo, sư đạo được kiến lập trên nền tảng của hiếu đạo, cho nên, tịnh nghiệp tam phước, câu đầu tiên chính là “hiếu dưỡng cha mẹ”. Người bất hiếu cha mẹ không thể học Phật, đây là đạo lý nhất định, cho nên hiếu quan trọng biết bao! Chữ “孝hiếu”, bên trên là chữ 老 lão (già), bên dưới là chữ 子 tử (con), nói rõ thế hệ trước và thế hệ sau là một thể. Thế hệ trước vẫn còn có thế hệ trước, quá khứ vô thủy, vị lai vô chung, vô thủy vô chung là một tổng thể, cùng với đạo lý một thể mà Phật pháp nói là giống nhau. Chữ này, không phải bậc đại thánh nhân thì không thể tạo ra được!
Tư tưởng trung tâm của giáo dục Nho, Phật là hiếu đạo, người người có thể tận hiếu đạo, một nhà hòa thuận, gia hòa vạn sự hưng; nhà nhà hòa thuận, xã hội an định, quốc thái dân an, giáo dục là cái gốc lớn cái rễ lớn. Tôi thường giảng bốn loại giáo dục, thứ nhất là giáo dục gia đình, thứ hai là giáo dục trường học, thứ ba là giáo dục xã hội, thứ tư là giáo dục tôn giáo (người nước ngoài gọi giáo dục tôn giáo là giáo dục xã hội của văn hóa đa nguyên). Bốn loại giáo dục này mà làm tốt rồi, xã hội an định, thiên hạ thái bình, nhân dân hạnh phúc.
Ngày nay xã hội động loạn, nhân tâm toàn thế giới bất an, đây không phải là vấn đề chính trị, chính trị không thể giải quyết; cũng không phải là vấn đề quân sự, quân sự không thể giải quyết; khoa học kỹ thuật, kinh tế đều không thể giải quyết, vấn đề rốt cuộc xuất phát từ đâu? Xuất phát từ giáo dục. Ngày nay giáo dục gia đình không còn nữa, giáo dục trường học cũng không còn nữa, hiện nay trường học dạy là khoa học kỹ thuật, là sự huấn luyện kỹ thuật, không phải là giáo dục. Giáo dục là dạy bạn làm người như thế nào, dạy mối quan hệ giữa người với người, mối quan hệ cha con, mối quan hệ vợ chồng, mối quan hệ anh em, mối quan hệ vua tôi, mối quan hệ bạn bè, đem những điều này giảng rõ ràng giảng minh bạch, bạn liền biết làm người rồi.
Cho nên, thánh nhân dạy người cái gì? Trước tiên dạy bạn đoạn ác tu thiện. Cái gì là thiện? Cái thiện căn bản, ngũ luân. Để bạn thấu hiểu mối quan hệ giữa người với người, làm thế nào để đối xử tốt các mối quan hệ, làm người là trên hết! Mối quan hệ không ngoài năm đại loại:
Thứ nhất là mối quan hệ cha con, “cha con có tình thân”, tình thân là thân ái, thân ái chính là cốt lõi của bản thể, lời dạy bảo của cổ thánh tiên hiền xưa, hoàn toàn từ cốt lõi này mà phát huy rực rỡ. Cho nên truyền thống của chúng ta là truyền thống của tình yêu thương, giáo dục là nền giáo dục của tình yêu thương, xã hội là xã hội của tình yêu thương. Sự trị vì yên bình lâu dài mấy ngàn năm, đều là tuân theo tánh đức, không có làm trái tánh đức. Làm trái tánh đức, tai nạn liền ập đến rồi, tùy thuận là hạnh phúc, làm trái chính là tai nạn.
Thứ hai là mối quan hệ vợ chồng, “vợ chồng có sự khác biệt”. Vợ chồng tổ chức thành một gia đình, gia đình có hai sự việc, một là việc ăn mặc ở đi lại trong nhà, đời sống vật chất, đi ra ngoài mưu sinh đây là nhiệm vụ của người chồng; thứ hai, nối dõi tông đường, đây là nhiệm vụ của phụ nữ. Nối dõi tông đường không phải là sinh con đẻ cái là được rồi, mà là làm thế nào đem con cái của bạn dạy cho tốt, người mẹ là vị thầy giáo đầu tiên của con cái. Nhà bạn có thể sinh ra hiền nhân hay không, có thể sinh ra bậc thánh nhân hay không, mấu chốt chính là ở người mẹ, sứ mệnh của người mẹ so với sứ mệnh của người cha lớn hơn quá nhiều rồi. Quốc gia có bậc thánh hiền là từ đâu mà ra? Người mẹ dạy dỗ mà ra. Giáo dục cắm rễ là do người mẹ phụ trách, cái rễ này cắm tốt rồi nó liền thành thánh thành hiền, cắm không tốt nó chính là phàm phu. Cho nên người mẹ có trách nhiệm lớn như vậy, đem con cái của bạn đều bồi dưỡng thành bậc thánh nhân hiền nhân. Rễ cắm tốt rồi, lúc này mới ủy thác cho thầy giáo đi dạy.
Phật pháp vô cùng coi trọng người mẹ, người xuất gia tiếp nhận sự cúng dường của mười phương, sự cúng dường này có thể nuôi dưỡng mẹ, nhưng không thể nuôi dưỡng cha, ân đức của người mẹ lớn hơn người cha. Giáo dục từ thuở sơ khai là trách nhiệm của người mẹ, cho nên người mẹ là vĩ đại nhất. Rất nhiều người không hiểu, cho rằng phụ nữ trong xã hội cổ đại nước ta không có địa vị, đây là nhận thức sai lầm. Bậc thánh hiền từ đâu mà ra? Người mẹ dạy; không có người mẹ của bậc thánh hiền, thì không có người con của bậc thánh hiền. Do đó, thái thái là mẹ của bậc thánh nhân, giáo dục của chúng ta là giáo dục của bậc thánh hiền.
Cổ thánh tiên hiền chúng ta, không những coi trọng thai giáo, còn coi trọng nhân quả báo ứng. Ông ngoại của Khổng tử, muốn đem con gái của mình gả cho cha của Khổng tử, vì sao vậy? Ông nhìn thấy nhà họ Khổng năm đời tu thiện tích đức. Năm đời tu thiện tích đức, trong nhà này nhất định xuất hiện nhân tài. Đem con gái của mình gả qua đó, sinh ra Khổng tử, Khổng tử là bậc đại thánh nhân. Đây chính là nhân quả. Ông ngoại của Khổng tử có trí tuệ, biết lựa chọn!
Thứ ba là mối quan hệ vua tôi, “vua tôi có nghĩa”, ngày nay nói là mối quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo, người lãnh đạo phải nhân nghĩa, người bị lãnh đạo phải trung nghĩa.
Thứ tư là lớn nhỏ có thứ tự, kính lão tôn hiền, tuổi tác lớn hơn tôi, tôi nhất định tôn kính họ, anh nhường em kính, một bầu không khí hòa thuận.
Thứ năm là bạn bè có chữ tín.
Mối quan hệ giữa người với người không ngoài năm đại loại này, năm đại loại này gọi là “đạo”! Làm thế nào để đối xử tốt các mối quan hệ này, đó gọi là “đức”. Trong đức thì điều đầu tiên chính là ngũ thường, đây là cái đức căn bản. Thường, vĩnh hằng bất biến, vượt qua thời gian, vượt qua không gian.
Ngũ thường là: “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. “Tả Truyện” nói: “Người vứt bỏ luân thường thì yêu ma hưng khởi”. Nếu như con người đem năm chữ này vứt bỏ đi rồi, đó chính là bất nhân, bất nghĩa, vô lễ, vô trí, vô tín, thế giới này chính là thế giới của yêu ma quỷ quái, không phải thế giới của con người. Ngũ thường là quan niệm đạo đức cơ bản, không có một ai không trọn đời tuân thủ phụng hành. Từ đó mở rộng ra tứ duy, bát đức. Tứ duy là do Quản Trọng nêu ra, “Lễ nghĩa liêm sỉ, là bốn giềng mối của quốc gia, bốn giềng mối không giương lên, quốc gia ắt diệt vong”.
Tứ duy lại mở rộng ra chính là bát đức: “Hiếu, đễ, trung, tín, nhân, ái, hòa, bình”, tổng hợp lại mà nói chính là “hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ, nhân ái hòa bình”, đây là quốc bảo mà nước ta ngàn vạn năm đời đời kiếp kiếp lưu truyền. Chúng ta đem mười hai chữ này ghi nhớ trong tâm, khởi tâm động niệm, lời nói việc làm đều có thể tuân thủ không làm trái, người này chính là bậc thánh nhân, hiền nhân. Văn nghệ, tiểu thuyết, ca múa thời cổ đại đều chú trọng tư vô tà, bạn thưởng thức sẽ không khởi lên sự tà ác, sẽ không khởi lên tham sân si mạn. Nó đều là hợp với đạo, hợp với đức, đây là tiêu chuẩn của văn học nghệ thuật, là hòn đá tảng để quốc gia lập túc trên thế giới, mãi mãi không bại suy!
Thời cổ đại, tiểu học ở nước ta là lấy luân lý đạo đức làm chủ, là dùng bốn khoa này để dạy người, đem con người dạy cho tốt toàn bộ rồi. Phương pháp giáo dục tốt như vậy, không có ai biết nữa rồi. Thời cổ đại đều viết trên gia phả, cho nên đại gia đình, nó có gia đạo, có gia học, có gia quy, có gia nghiệp, có gia phong. Có thể trị gia thì có năng lực trị quốc, cho nên tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, cội rễ của nó đều nằm ở giáo dục gia đình, không thể không coi trọng!
Trước chiến tranh thế giới thứ hai, Châu Âu có không ít các chuyên gia học giả, họ nghiên cứu, bốn nền văn minh cổ đại lớn trên thế giới, ba nền văn minh đều diệt vong rồi, vì sao chúng ta vẫn còn tồn tại? Tổng hợp lại có được một kết luận, đại khái là do nguyên nhân người xưa chúng ta chú trọng giáo dục gia đình.
Giáo dục truyền thống của chúng ta, sau khi nhà Mãn Thanh vong quốc, xã hội động loạn, quân phiệt cát cứ, chiến tranh Trung Nhật, đã đem truyền thống của chúng ta phá hoại đi rồi. Trước kháng chiến ở nông thôn vẫn còn đại gia đình, năm thế hệ cùng chung sống, sáu thế hệ cùng chung sống. Nhân khẩu không hưng vượng cũng có hai, ba trăm người, những nhà bậc trung bình thường khoảng chừng ba trăm người, nhân đinh hưng vượng thì sáu, bảy trăm người, đây là nhà lớn, nếu nó không có sự dạy học, thì nhà đó liền loạn rồi, cho nên người xưa chúng ta nói nhà tề sau đó nước mới trị, nó là có đạo lý.
Mỗi một nhà đều đem người của nhà đó dạy cho tốt rồi, đều có thể hiểu lý, biết cách làm người, đều có thể tuân thủ nhân nghĩa đạo đức, đây là gia tề. Sau kháng chiến đại gia đình chúng ta không còn nữa, đều biến thành tiểu gia đình, cho nên hiện nay giảng về GIA ĐÌNH, người bình thường không hiểu GIA này có ý nghĩa gì, chưa từng nghe nói qua, cũng chưa từng nhìn thấy qua, cho nên gia giáo không còn nữa. Ở thuở xưa gia giáo của ĐẠI GIA ĐÌNH quan trọng hơn bất cứ thứ gì, có thể nói điều quan trọng nhất của gia đình chính là làm thế nào dạy tốt thế hệ sau. Gia học chính là trường tư thục, là trường học con em của gia tộc. Thời cổ đại nói sư đạo, mời thầy giáo đến dạy học, cha mẹ phải bái lạy thầy giáo, cảm niệm đại ân đại đức của thầy giáo, thầy giáo chịu trách nhiệm, đem con nhỏ của họ bồi dưỡng thành bậc thánh hiền.
Xã hội ngày nay vì sao lại biến thành bộ dạng như thế này? Hai trăm năm gần đây đã lơ là văn hóa truyền thống rồi. Văn hóa phương Tây du nhập vào, người dân đối với văn hóa truyền thống bắt đầu hoài nghi. Những năm cuối nhà Mãn Thanh, một trăm năm nay vẫn còn người giảng, nhưng không có ai làm; đến thời Dân Quốc người giảng đều không còn nữa, mới biến thành bộ dạng như ngày nay. Tốc độ biến đổi nhanh nhất là ba mươi năm gần đây, sự sụp đổ được gia tốc. Hiện nay muốn cứu vãn, vấn đề lớn nhất chính là khủng hoảng lòng tin, đây mới thực sự là cốt lõi của sự khủng hoảng, họ không tin thì tiêu tùng rồi. Chúng ta phải cùng nhau nỗ lực để kiến lập lòng tin cho mọi người, nhất định phải tìm lại được nền giáo dục văn hoá truyền thống.
Giáo dục truyền thống không phải là mê tín, “có người cho rằng dạy trẻ nhỏ đọc sách cổ, kiểu nhồi nhét đó, là sai lầm”, điều này thực sự gọi là vô tri. Bộ phương pháp dạy học này của người xưa cao minh đến chỗ tột cùng, mục đích của việc đọc sách nằm ở đâu? Mục đích là bảo vệ tâm thanh tịnh của chúng. Trẻ nhỏ cũng sẽ suy nghĩ miên man, dạy chúng học thuộc lòng sách, chúng sẽ không suy nghĩ miên man. Sách đọc quen rồi thì sẽ biết đọc thuộc lòng, do đó, đọc sách không phải là vì để biết đọc thuộc lòng. Sự ra đời của văn hóa truyền thống, tôi cho rằng chính là cha con có tình thân, đó là cội rễ của văn hóa truyền thống, việc dạy học là bắt nguồn từ đây. Tình thân ái này là thiên tính, là đạo, nó không phải do người dạy, không phải từ đâu học được. Đặc biệt là từ trẻ sơ sinh ba, bốn tháng, bạn tinh tế quan sát, có thể nhìn thấy cha con có tình thân.
Có một năm, tôi ở Nhật Bản tham gia hội nghị quốc tế, đi theo bên cạnh tôi có mười mấy đồng tu, có một người mẹ trẻ tuổi đẩy đứa con trai bốn tháng tuổi của cô ấy, đi trên đường, tôi đột nhiên bảo mọi người dừng lại, mọi người đến xem, xem cái gì? Xem cha con có tình thân. Bạn tỉ mỉ quan sát tình yêu thương của người mẹ đối với nó, xem tình yêu thương của đứa trẻ đối với người mẹ. Đứa trẻ tuy không biết nói, ánh mắt, biểu cảm của nó, bạn thực sự có thể nhìn ra được, thực sự có thể cảm nhận được, đây là thiên tính. Lão tổ tông rõ ràng đạo lý này, làm thế nào đem tình yêu thương này duy trì cả một đời sẽ không thay đổi, đây chính là mục đích chủ yếu của giáo dục truyền thống chúng ta, giáo dục của tình thân ái. Mục đích thứ hai là đem tâm yêu thương này phát huy rực rỡ, có thể yêu ông nội của nó, yêu anh em chị em của nó, yêu gia tộc của nó, lại mở rộng ra yêu làng xóm láng giềng của nó, yêu xã hội, yêu quốc gia, phàm là người đều phải yêu thương. Cho nên giáo dục truyền thống là khởi phát từ chỗ này, khởi điểm là tại nơi đây.
Cho nên văn hóa truyền thống của chúng ta, bạn không đi học thì không biết, càng học càng hoan hỷ, càng học tâm cung kính càng sinh khởi lên, tâm hiếu thuận sinh khởi lên rồi thì bạn mới biết được làm người nên làm như thế nào. Độ tuổi này của tôi đều chưa được tiếp nhận giáo dục cắm rễ, lúc đó cũng là nhà tan cửa nát, vốn dĩ đều là đại gia đình, nhà suy bại rồi. Nhà của tôi tuy không còn nữa, ở tại nhà cô ruột, người một nhà của gia tộc này vẫn sống cùng nhau, mười anh em không phân chia nhà, lúc nhỏ tôi vẫn còn được nhìn thấy đại gia đình. Trong nhà vẫn còn trường tư thục, tôi lên trường tư thục chính là trường học con em gia đình của họ, ở bên trong từ đường. Nhìn thấy việc dưỡng lão thời cổ đại, đại điện từ đường chính là câu lạc bộ của người già, người già đến bên trong trò chuyện, đến đó uống trà. Trường tư thục tan học, các bạn nhỏ liền đi tìm người già, thực sự là con cháu quây quần bên gối, niềm vui thiên luân!
Nghĩ lại niềm vui đó của người già lúc tuổi xế chiều, nhìn thấy người già hiện nay không có người thân chăm sóc, thực sự đáng thương! Cho nên đại gia đình điểm tốt thì nhiều, khuyết điểm chính là không có sự tự do của cá nhân, nhà có quy củ rất nghiêm. Số tiền mà mỗi một người kiếm được đều phải nộp cho gia đình, tự mình không thể cất giấu riêng, nhà là tài sản chung. Nhà là sự bảo đảm thực sự của mỗi một người, bất luận bạn làm sự nghiệp gì, có khó khăn, nhà chính là sự hỗ trợ của bạn, nhân lực, tài lực nó chi viện cho bạn, điều này là đáng tin cậy nhất. Sau khi nghỉ hưu không thể làm việc, lá rụng về cội, về cội chính là quay về quê nhà để dưỡng lão, đó là giai đoạn vui vẻ nhất của nhân sinh. Cho nên xã hội trong quá khứ của chúng ta, trẻ nhỏ từ lúc sơ sinh đã quản giáo nghiêm ngặt, lúc còn trẻ, phải cống hiến cho gia đình, làm rạng rỡ gia môn, vẻ vang tổ tông; lúc tuổi già nhà phụng dưỡng, đại gia đình quả thực có cái điểm tốt này. Giáo dục là gia đình phụ trách, dưỡng lão là gia đình phụ trách.
Phải đem cái nhà thuở trước khôi phục lại, thế nhưng cái nhà của mối quan hệ huyết thống là không thể nào nữa rồi, những năm nay tôi nghĩ đến các vị doanh nhân, doanh nghiệp là đoàn thể, nếu như doanh nghiệp có thể đem tinh thần gia đạo của người xưa khôi phục lại, nước ta sẽ lại là ngàn năm trị vì yên bình lâu dài. Nước ta mạnh lên rồi, sẽ mang đến sự an định hòa bình cho toàn thế giới, đây là thật. Người dân chúng ta thực sự là có đạo, cái đạo này chính là họ có phương pháp, có lý luận. Ông chủ phải xem nhân viên như anh em ruột, chị em ruột, người già của nhân viên đều là bá bá, thúc thúc của chính mình, công ty phụ trách phụng dưỡng người già; con cái của nhân viên chính là con em của chính mình.
Bản thân công ty mở trường học con em, viện dưỡng lão, phụ trách dưỡng lão, nuôi dạy trẻ nhỏ, y tế, trách nhiệm của xã hội, doanh nghiệp gánh vác lên. Có tấm gương tốt này, các doanh nghiệp khác đều sẽ làm theo, nhân viên của họ mãi mãi trung thành với doanh nghiệp, vì sao vậy? Đối xử với họ quá tốt rồi, trong nhà bạn có chuyện gì nó đều gánh vác. Đây là một tổ chức đạo nghĩa, trước đây là mối quan hệ huyết thống, hiện nay là mối quan hệ đạo nghĩa. Điều này nếu như được lưu truyền tiếp, nước ta thực sự là ngàn năm muôn đời trị vì yên bình lâu dài!
Giáo dục nhất định phải lấy đạo đức làm căn bản, con người tuyệt đối không thể rời xa đạo đức. Việc dạy học của Phật pháp cũng vô cùng đơn giản, ngàn kinh vạn luận không rời khỏi “năm giới mười thiện, lục hòa lục độ, mười nguyện Phổ Hiền”, nguyên tắc này.
Tám câu nói đầu của “Tam Tự Kinh”, chính là nguyên tắc chỉ đạo cao nhất trong việc mở ra giáo dục đời đời kiếp kiếp mấy ngàn năm nay của lão tổ tông chúng ta. “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, đây là mục đích của việc dạy học. Bản tính vốn thiện, thế nhưng tập tính bất thiện. Giáo dục dạy cái gì? Giáo dục chính là giúp đỡ tập tính tương ứng với bổn tánh, đừng có khoảng cách quá xa. Con người đều có thể dùng bản tính để sống, đây là đại đạo! Tam Hoàng Ngũ Đế dùng đạo đức trị thiên hạ, khởi tâm động niệm, lời nói việc làm đều tương ứng với đạo. Đạo đánh mất rồi về sau mới nói đức, đức đánh mất rồi mới nói nhân, đến thời Tam Vương (Hạ Vũ, Thành Thang, Chu) nói nhân, lấy nhân trị thiên hạ.
Nhà Chu đến những năm cuối chính là Xuân Thu Chiến Quốc, đây là loạn thế, Khổng tử sinh vào thời Xuân Thu, Mạnh tử sinh vào thời Chiến Quốc. Xuân Thu Chiến Quốc trước sau đại khái xấp xỉ năm trăm năm, loạn thành một đống, thế nhưng vẫn còn nói Nghĩa. Sau thời nhà Hán, quốc gia chế định lễ nhạc, dùng Nho để tề gia trị quốc; dùng Phật để dạy nhân dân, có đạo lý; dùng Đạo để tế tổ tiên. Nho Thích Đạo đều được bậc đế vương áp dụng, dùng vô cùng tốt! Cho nên quốc thái dân an, thời đại thái bình thịnh trị chính là xuất hiện như thế. Rời xa giáo dục, mọi vấn đề đều lộ ra.
Do đó, mở ra giáo dục chính là phải để họ từ tập tính quay về với bản tính, bạn biến người ác thành người thiện, biến người xấu thành người tốt, giáo dục thành công rồi. “Tánh tương cận, tập tương viễn”, bản tính vốn dĩ là Phật, hiện nay biến thành bộ dạng như thế này, đây là do tập tính biến thành. Tập tính phải đem nó đoạn trừ đi, quay về với bản tính thì thành Phật rồi, đây là mục tiêu dạy học – “đọc sách lập chí làm thánh hiền”, không phải vì thăng quan phát tài, không phải vì trải qua đời sống phú hào.
Mục tiêu của giáo dục là đem con người dạy thành bậc thánh nhân, dạy thành bậc hiền nhân, dạy thành bậc quân tử, đây là giáo dục phương Đông. Giáo dục của Phật là phải đem phàm phu biến thành Phật, biến thành Bồ-tát, biến thành La-hán, giáo dục thành công rồi. Giáo dục hưng khởi như thế nào? “Cẩu bất giáo, tánh nãi thiên”, không làm tốt giáo dục, dần dần liền biến thành tập tính, tập tính thay thế cho bản tính, con người liền đọa lạc rồi, bạn nói xem giáo dục quan trọng biết bao!
Dạy bằng cách nào? “Đạo dạy học, quý ở chuyên”. Vì sao phải quý ở chuyên? Giống như trường học hiện nay, rất nhiều môn học xếp lịch đan xen nhau, từ tiểu học đến viện nghiên cứu không có ngoại lệ. Cho nên học sinh lúc đang học tập, đầu óc giống như hồ nhão vậy, mơ mơ hồ hồ, cái gì cũng đều học không tinh, không thông, điều này đem con người chà đạp hỏng hết rồi. Phương pháp dạy học này là sai lầm, Trung Quốc chúng ta từ xưa đến nay không có cách dạy này, lúc học sinh học tập chính là một môn học. Ví như năm thứ nhất dạy ngữ văn, cả năm dạy ngữ văn, đem ngữ văn của sáu năm tiểu học dạy cho xong trong một năm.
Trong đầu học sinh chỉ có một thứ, chúng chuyên tâm, học tập sẽ rất có tiến bộ. Đến năm thứ hai dạy toán học, toán học của sáu năm hoàn thành trong một năm. Lúc học tập chỉ có thể học một thứ, không thể học hai thứ. Đất nước chúng ta từ xưa đến nay là dùng phương pháp này, học sinh học tập rất nhẹ nhàng, tâm của học sinh là định, học rất vui vẻ, rất hoan hỷ, thực sự có thể xuất hiện nhân tài. Học quá nhiều, quá tạp, không có một thứ nào học tốt. Nếu như chương trình học được biên soạn sắp xếp lại, vẫn là bấy nhiêu chương trình học đó, môn nào cũng đều có thành tựu. Phương pháp dạy học cổ xưa của chúng ta thật tốt!
Phương pháp dạy học của Lý lão sư chính là như vậy, không thể đồng thời học hai bộ kinh. Tiến độ học tập của chúng tôi, một tháng học được một bộ kinh. Tiêu chuẩn học được của lão sư là bạn có thể lên đài giảng, ngài ở bên dưới nghe, chỉ cần không giảng sai, không có lỗi lầm liền đạt tiêu chuẩn, liền thông qua rồi, bạn có thể học bộ kinh thứ hai. Lúc đó tôi chưa xuất gia, tôi ở tại Đài Trung một năm ba tháng, tôi đã học mười ba bộ kinh, mười ba bộ kinh tôi đều có thể giảng, lại còn giảng rất tốt. Vừa xuất gia liền dạy Phật học viện, Phật học viện một học kỳ dạy một bộ kinh, Phật học viện ba năm tốt nghiệp, tôi chỉ dùng sáu bộ kinh.
Thế giới ngày nay nhân tâm bại hoại, xã hội động loạn, đạo đức suy đồi, dẫn đến thiên tai nhân họa càng diễn biến càng khốc liệt. Nguyên nhân căn bản của nó, chính là giáo dục xảy ra vấn đề. Sự thành bại của cá nhân, sự hưng suy của gia đình, sự hưng vong của quốc gia, hoàn toàn trông cậy vào người kế thừa của nó. Thanh thiếu niên là người chủ tương lai của thế giới, thế nhưng hiện nay toàn thế giới đều có vấn đề thanh thiếu niên nghiêm trọng. Không chỉ thanh thiếu niên, ngay cả người lớn cũng có rất nhiều sự bất nhân, bất nghĩa, vô lễ, vô trí, vô tín, ngay cả trẻ nhỏ đều có hít ma túy, ngỗ nghịch, xung đột bạo lực, chìm đắm trong trò chơi tiệm net, sắc tình, phạm tội, tự sát càng ngày càng nhiều, độ tuổi càng ngày càng giảm thấp, đây là vấn đề xã hội nghiêm trọng. Sri Lanka không có những vấn đề thanh thiếu niên này, vô cùng hiếm có. Vì sao vậy? Giáo dục của họ thành công.
Nhân sĩ từ lãnh đạo đến dân thường Sri Lanka chú trọng giáo dục, từ nhỏ liền đem các bạn nhỏ dạy cho tốt rồi. Bắt tay làm từ đâu? Bắt tay làm từ giáo dục gia đình. Lúc người mẹ mang thai đã tăng cường học tập giáo dục Phật-đà, tham gia khóa trình và hoạt động tu học Phật giáo, tụng kinh, tĩnh tọa, trai giới; các vị pháp sư thường xuyên giảng kinh, tụng kinh, chúc phúc mẹ con bình an. Đây là thuộc về thai giáo, đây là bồi dưỡng nó thuần tịnh thuần thiện, đây chính là cội rễ của giáo dục thánh hiền. Tương lai nó trưởng thành, học thánh hiền nó liền thành thánh hiền, học Phật liền thành Phật, thành Bồ-tát. Giáo dục gia đình kiểu này, ở nước ta hai trăm năm trước từng có, hiện nay hoàn toàn không còn nữa. Chúng ta nhìn thấy tại Sri Lanka rồi, cảm thấy vô hạn vui mừng an ủi!
Giáo dục của người mẹ ở Sri Lanka ưu lương, người lớn lấy thân làm chuẩn mực. Sau khi trẻ sơ sinh ra đời, người mẹ hát ca khúc Phật giáo, ca khúc ái quốc cho trẻ sơ sinh nghe. Từ nhỏ đã chỉ dạy có thiện tâm, thiện hành, không thể làm chuyện xấu, dạy trẻ nhỏ cần phải tôn kính bậc trưởng bối, yêu thương bảo vệ động vật nhỏ, yêu thương bảo vệ đại tự nhiên; coi trọng luân thường đạo đức, đặc biệt là giáo dục nhân quả, làm thiện được quả thiện, làm ác có báo ác, khiến người ta từ nhỏ liền không dám có ác niệm, có ác hành. Cha mẹ, người lớn đều làm tấm gương cho trẻ nhỏ, đây là bí quyết thành công của giáo dục. Các bạn nhỏ ở Sri Lanka hành tiếp túc lễ (lễ chạm chân) đối với cha mẹ, thầy giáo, giống y như chúng ta lạy Phật vậy, tay chạm đến chân của cha mẹ, thầy giáo.
Điều này khiến tôi nhớ lại lúc tôi sáu, bảy tuổi, vừa lên trường tư thục, cha tôi đưa tôi đến trường gặp thầy giáo, lễ đường bày bài vị của “Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư Khổng tử”. Bước vào trường học, trước tiên hướng về bài vị Khổng tử hành lễ ba quỳ chín lạy, cha ở phía trước, tôi ở phía sau. Hành lễ xong, thỉnh thầy giáo lên ghế trên, đối với thầy giáo cũng hành lễ ba quỳ chín lạy, đây là giáo dục thời cổ đại. Hiếu thân tôn sư là cái gốc lớn cái rễ lớn của giáo dục. Con người hiểu được hiếu thân tôn sư, hiểu được luân lý, sẽ ngại ngùng làm chuyện xấu, có thể ước thúc chính mình; hiểu được giáo dục nhân quả, không dám làm chuyện xấu. Xã hội thời cổ đại vì sao tốt như vậy? Chính là giáo dục đạo đức và giáo dục nhân quả.
Thứ đến, thành tựu của giáo dục trường học, toàn dân giáo dục miễn phí. Quốc gia này không có hiện tượng vì gia cảnh thanh bần, bần cùng mà thất học, học sinh có cơ hội giáo dục bình đẳng. Lần trước khi tôi đến viếng thăm, có thỉnh giáo với tổng thống, tôi nói khoản chi tiêu lớn nhất của quốc gia các ngài có phải là giáo dục hay không? Ông ấy nói đúng vậy. Trang phục, đãi ngộ đời sống vật chất của học sinh nhất loạt bình đẳng, không có hiện tượng so đo đua đòi lẫn nhau. Lần trước lúc đến, tôi nghe nói tổng thống cùng mọi người mở cuộc họp, nghiên cứu vấn đề mang giày của các bạn nhỏ. Nhà lãnh đạo quốc gia quan tâm như vậy, vô cùng hiếm có. Hiệu trưởng, thầy giáo phẩm hạnh ưu lương, ôn hòa, kiền thành, lấy thân làm chuẩn mực, làm ra tấm gương cho học sinh, đây chính là thân giáo mà chúng ta nói đến.
Đặc biệt là giáo dục đạo đức, giáo dục Phật-đà, mỗi một phòng học đều thờ phụng tượng Phật, trước khi vào học, dẫn dắt học sinh trước tiên lễ bái trước tượng Phật, đều biết tôn kính Phật-đà, đều biết học tập theo Phật-đà. Trường học truyền thụ khóa trình Phật pháp, để học sinh thực sự thấu hiểu luân lý đạo đức, hiếu kính khiêm hòa, lý luận và sự thật về thiện ác nhân quả báo ứng mà Phật-đà giảng. Hơn nữa thực sự đem tinh thần của Phật pháp dung nhập vào mỗi một khóa trình của học sinh, cũng dung nhập vào sinh hoạt thường ngày của quần chúng xã hội, những điều này đều là chúng ta cần phải học tập theo Sri Lanka.
Thầy giáo của trường học đều biết lấy đức dục nhân, dùng tâm yêu thương, tâm kiên nhẫn chỉ dạy học sinh, phương pháp ôn hòa, thiện xảo, chú trọng tìm hiểu suy nghĩ, cái nhìn của học sinh. Lúc gặp phải học sinh phạm lỗi lầm, họ không dùng đánh mắng, mà là dẫn học sinh đi xem nội quy trường, để học sinh tự mình biết sai ở chỗ nào. Nếu gặp phải học sinh không nghe lời, tính tình kỳ quái, thầy giáo sẽ an bài khóa trình đặc biệt, do thầy giáo, phụ huynh, còn mời nhân sĩ liên quan của xã hội cùng nhau tham gia. Dùng tâm kiên nhẫn, tâm yêu thương, thiện xảo phương tiện chuyển hóa họ, Phật pháp giảng chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ. Bộ giáo dục sẽ ban hành quy phạm đạo đức, chuẩn mực hành vi, thầy giáo trường học đi đến học tập, quay về làm thuyết minh cho toàn trường, yêu cầu các bạn đồng học đều có thể làm được. Cha mẹ, thầy giáo phối hợp rất tốt, tùy thời phản ánh tình huống học tập của học sinh, sự vận hành phối hợp giữa phụ huynh và thầy giáo rất lý tưởng, điều này cũng đáng để chúng ta học tập.
Một đặc sắc khác, chính là Sri Lanka phổ biến đang thúc đẩy trường học Phật-đà ngày nghỉ, điều này làm rất thành công. Mỗi dịp chủ nhật, mỗi một học sinh đang học, cần phải đến tự viện lân cận tiếp nhận giáo dục Phật-đà, nội dung bao gồm luân lý, đạo đức, nhân quả, nền giáo dục giữ tâm tốt, nói lời tốt, làm việc tốt, làm người tốt của Phật-đà. Đồng thời lấy tôn chỉ của giáo dục Phật-đà, “lìa khổ được vui, phá mê khai ngộ” làm mục đích của việc dạy học. Trường học Phật giáo ngày nghỉ vô cùng đáng để quảng bá, sự an định, hài hòa của xã hội, không có mọi xung đột, tranh chấp, điều này đã khởi được tác dụng rất lớn.
Giáo Dục Thánh Hiền Cứu Vãn Nguy Cơ – Phục Hưng Văn Hóa Truyền Thống Cứu Thế Giới
Nhân duyên của “Quốc Học Trị Yếu”
Giai đoạn này, tôi thường xuyên nghĩ đến một bộ sách – “Quốc Học Trị Yếu”, đây là sách do Trung Hoa Thư Cục xuất bản vào năm Dân Quốc thứ 19, đến năm nay đã 80 năm. Tôi biết có bộ sách này, nhưng chưa từng nhìn thấy qua.
Bộ sách này là gì? Vì sao lại nghĩ đến? Hơn mười năm trước tôi ở Đài Loan mua được bộ “Tứ Khố Toàn Thư Hội Yếu” đầu tiên, khối lượng của nó quá lớn, không phải người bình thường có thể đọc nổi, tôi cũng không có cách nào, làm gì có thời gian để xem? Tôi liền nghĩ đến việc đem những nội dung quan trọng trong sách trích lục ra, biên soạn thành một quyển sách, không ngờ người xưa đã làm thay tôi rồi, hoàn toàn giống y như suy nghĩ của tôi, họ không dùng “Hội Yếu”, mà là dùng “Tứ Khố Toàn Thư”, chiểu theo kinh sử tử tập đem những phần quan trọng bên trong trích lục ra, đặt tên là “Quốc Học Trị Yếu”.
“Trị” là trị học, phương pháp làm học vấn, đây là dạy chúng ta cái gì? Có chí hướng kế thừa tuyệt học cho bậc thánh thuở trước, mở ra nền thái bình cho muôn đời. “Tứ Khố Toàn Thư” bản bìa cứng có một ngàn năm trăm tập, khối lượng quá lớn, cho nên bộ sách “Quốc Học Trị Yếu” này có thể dẫn dắt chúng ta đi vào “Tứ Khố Toàn Thư”, nội dung của nó đều là những từ ngữ câu cú tinh tế sâu sắc, đọc xong chúng ta liền hiểu rõ đối với “Tứ Khố Toàn Thư”, sẽ vô cùng yêu thích nó. Nội dung bên trong này quá phong phú, một người cả đời học không hết, bạn học lấy một môn, hai môn ở trong đó, liền hiểu được bắt tay làm từ đâu, điều này là có tất yếu.
Gần đây có một vị đồng tu mang tặng một bộ, bản bìa cứng tổng cộng tám tập, rất hoàn chỉnh không thiếu trang nào, chữ rất rõ ràng, quả thực là tâm tưởng sự thành! Đây là “Tứ Khố Toàn Thư” thu nhỏ, là tinh hoa của “Tứ Khố Toàn Thư”. Tôi muốn mang bộ sách này đến Đài Loan in một vạn bộ, chụp ảnh in lại, phóng to nó thành khổ mười sáu, xem ra liền rất thoải mái. Hy vọng mau chóng in ra, lưu thông số lượng lớn, cúng dường mọi người.
Nhân duyên của “Quần Thư Trị Yếu”
Bộ sách “Quần Thư Trị Yếu” này là do Đường Thái Tông hạ lệnh, do đại thần Ngụy Trưng và những người khác thu thập hai ngàn năm từ Tam Hoàng Ngũ Đế đến nhà Tùy, lấy tư liệu từ sáu mươi lăm loại sách kinh sử tử, những nội dung liên quan đến tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, đại khái hơn năm mươi vạn chữ. Chữ “trị” của “Quần Thư Trị Yếu” là chính trị, đây là sự chỉ đạo về lý luận và phương pháp trị quốc quan trọng nhất, tập hợp trí tuệ, phương pháp, hiệu quả và kinh nghiệm trị quốc của cổ thánh tiên hiền ngàn trăm năm qua. Bộ sách này không những có thể cứu Trung Quốc, còn có thể cứu toàn thế giới!
Quyển sách này sau khi triều đại nhà Đường diệt vong, ở Trung Quốc đã bị thất truyền, trong “Đường Thư”, “Tống Sử”, “Nghệ Văn Chí” thời Nguyên Minh Thanh, ngay cả thư mục cũng đều không có, “Tứ Khố Toàn Thư” cũng không thu nạp quyển sách này. Mãi cho đến những năm Gia Khánh người Nhật Bản tặng quà cho hoàng đế Trung Quốc, bên trong có bộ này thì mới biết. Bởi vì thời nhà Đường những quốc gia láng giềng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam này, du học sinh ở Trung Quốc vô cùng nhiều, họ đã đem sách mang về Nhật Bản bảo tồn lại. Những năm đầu Dân Quốc, Thương Vụ Ấn Thư Quán in lại từ bản gốc của Nhật Bản, ngoài ra cũng dàn trang in ấn lại, cho nên có hai loại phiên bản không giống nhau, đây là chuyện của tám mươi năm trước.
Tôi thường xuyên mong mỏi, nghĩ ngợi, không ngờ có đồng tu giúp đỡ tìm được rồi, tôi đã nhận được hai bộ. Tôi đã đem nó giao cho Thế Giới Thư Cục ở Đài Loan, in một vạn bộ, tôi muốn đem tặng cho Quốc dân đảng, Dân tiến đảng, Cộng sản đảng, hy vọng hòa bình thống nhất, mọi người đều là người một nhà, tôi cũng sẽ tặng cho nhà lãnh đạo của mỗi một quốc gia trên toàn thế giới. Làm quan cứ chiểu theo thế này mà làm, Trung Quốc thời đại này liền lại khôi phục được Trinh Quán chi trị rồi. Người nước ngoài mạnh hơn chúng ta chỉ có hai sự việc, một là máy móc, hai là khoa học kỹ thuật, ngoài điều này ra, đều không bằng chúng ta, đặc biệt là triết học chính trị, họ cần phải học tập theo chúng ta.
Tầm quan trọng của việc học tập “Quần Thư Trị Yếu”
Ngày nay xã hội toàn thế giới động loạn, mọi người sống rất gian khổ, người nhà phú quý thì nhọc tâm, người nhà bần cùng thì nhọc thân, thân tâm đều khổ. Nguyên nhân gì vậy? Lơ là giáo dục. Vì sao thời cổ đại ở nước ta có thể làm mẫu mực? Không có gì khác, hoàn toàn dựa vào giáo dục. Tất cả mọi hành chính của quốc gia phục vụ vì ai? Giáo dục. Cho nên người người biết lễ, người người hiểu được yêu thương, giáo dục chủ yếu dạy luân lý, dạy đạo đức, dạy nhân quả. Người người đều biết làm người tốt, người người hiểu được mối quan hệ giữa người với người, không những yêu chính mình, còn yêu quốc gia khác, yêu người trong thiên hạ.
Tôi giới thiệu “Quần Thư Trị Yếu” cho quý vị, là nhắm vào xã hội hiện tiền của chúng ta, không những nước ta cần, mỗi một quốc gia trên toàn thế giới đều cần. Lần này tôi ở Malaysia đến thăm Thủ tướng Najib và cựu Thủ tướng Mahathir, giới thiệu sơ lược “Quần Thư Trị Yếu” cho họ, họ liền gấp gáp muốn xem, hỏi có bản dịch tiếng Anh hay không. Cho nên tôi thỉnh các vị thầy giáo của Trung tâm giáo dục văn hóa Trung Hoa ở Kuala Lumpur, trước tiên làm chú giải cho bộ sách này, dịch thành văn bạch thoại, sau đó lại dịch thành ngôn ngữ nước ngoài, để giúp đỡ toàn thế giới. Đây chính là những gì Tiến sĩ Toynbee đã nói, “thế kỷ hai mươi mốt là thế kỷ của người Trung Quốc”, là thế kỷ của văn hóa truyền thống chúng ta.
Hy vọng các bạn đồng học Tịnh tông biết giảng “Kinh Vô Lượng Thọ”, biết giảng “Đại Kinh Giải”, cũng phải biết giảng “Quần Thư Trị Yếu”, có thể giúp đỡ các nhà lãnh đạo ở các tầng lớp xã hội, giúp họ tề gia trị quốc bình thiên hạ. Chúng ta giữ vững bổn phận của người xuất gia, chánh nghiệp của chúng ta là “Đại Kinh Giải”, “Quần Thư Trị Yếu” là một nghề phụ bất đắc dĩ trong thời đại này, khách chủ, chánh trợ nhất định phải phân biệt rõ ràng. “Kinh Vô Lượng Thọ” là chánh đạo, “Quần Thư Trị Yếu” là trợ đạo, chánh trợ song tu. Chúng ta sinh trưởng trong thời đại này, gặp phải hoàn cảnh như thế này, không thể không màng đến; không màng đến, liền không có tâm từ bi rồi.
Trong quá khứ, các bậc đế vương qua các triều đại Trung Quốc, đã gánh vác trách nhiệm giáo hóa nhân dân. Đây là sự nghiệp Bồ-tát. Dạy hiếu, dạy kính, dạy luân thường, dạy tứ duy bát đức, dạy người làm người tốt, làm việc tốt. Hiện nay toàn thế giới đều không dạy nữa, thực sự là thiên hạ đại loạn. Tôi thường khuyên các bạn đồng học trong cửa Phật, phải kiêm hành Bồ-tát đạo, đó chính là phải chú ý giáo dục cắm rễ phổ thế: “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp”. Đây là giáo dục phổ thế, có thể giúp thế giới này hóa giải xung đột, khôi phục an định hòa bình. Chúng ta hy vọng mỗi người trên thế giới, không phân chia quốc gia, không phân chia chủng tộc, không phân chia tín ngưỡng, đều có thể chung sống hòa thuận, quan tâm lẫn nhau, chăm sóc lẫn nhau, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, để xã hội trị vì yên bình lâu dài, để nhân dân có đời sống hạnh phúc mỹ mãn. Đồng học Tịnh tông, chúng ta phải gánh vác sứ mệnh này, đây là Bồ-tát Quán Thế Âm từ bi cứu đời. Vậy thì phải đọc sách, không đọc sách bạn làm không được.
Đọc sách gì? Đọc “Quần Thư Trị Yếu”, có bộ sách này, bạn liền có thể giúp đỡ thế gian pháp rồi; một bộ “Đại Kinh Giải” giúp đỡ chúng ta xuất thế gian pháp. “Quần Thư Trị Yếu” là Bồ-tát Quán Thế Âm, “Đại Kinh Giải” là A Di Đà Phật. Chúng ta niệm niệm không buông bỏ hai loại này, thế xuất thế pháp đều kiêm cố đến được rồi. Huống hồ “Quần Thư Trị Yếu”, về phương diện tu thân tề gia giảng vô cùng nhiều, có lý luận, có phương pháp, có hiệu quả, có kinh nghiệm, cũng là pháp căn bản của việc học Phật cầu sanh Tịnh độ. Căn bản là gì? Làm người tốt. Người tốt đều không biết làm, bạn còn có thể làm Phật, làm Bồ-tát sao? Cho nên chúng ta cả đời học hai bộ sách này là đủ rồi, đem nó xem như thời khóa của Tịnh tông.
Văn hóa truyền thống là tinh tủy trí tuệ do tổ tông lưu lại, có thể cứu thế giới
Tôi tin tưởng văn hóa Truyền thống, tuyệt đối không chỉ năm ngàn năm, năm ngàn năm là chỉ có ghi chép bằng văn tự. Bốn ngàn năm trăm năm trước Hoàng Đế phát minh ra văn tự, trước thời Hoàng Đế, từ lúc Phục Hy vẽ bát quái đến thời Hoàng Đế, xấp xỉ là một ngàn năm. Một ngàn năm này không có văn tự, thế nhưng những thứ vẽ trên mai rùa xương thú đó, chúng ta gọi là giáp cốt văn, cho nên nhìn từ phương diện khảo cổ mà nói có thể khảo chứng nước ta có năm ngàn năm. Khổng tử cả đời “thuật lại mà không tự sáng tác, tin và yêu chuộng cổ nhân”, hai câu nói này đáng để người đời sau chúng ta làm một tấm gương. Thái độ học tập của Khổng tử là “thuật lại mà không tự sáng tác”, không có sáng tạo, không có phát minh. Nói cách khác, những gì ngài học, ngài tu, ngài dạy, ngài truyền cho thế hệ sau, đều là do tiền nhân, thánh hiền, lão tổ tông trong quá khứ đời đời kiếp kiếp tương truyền để lại, cho nên ngài là người tập đại thành. Văn hóa truyền thống nước ta sẽ không thua kém Ấn Độ, Ấn Độ có hơn một vạn năm, tôi tin tưởng nước ta cũng có hơn một vạn năm. Ngũ luân, ngũ thường, tứ duy, bát đức, chắc chắn là do lão tổ tông truyền lại, không phải là phát minh của thời đại Khổng tử, bởi vì Khổng tử cách chúng ta chỉ có hai ngàn năm trăm năm, cho nên chắc chắn ở trước một vạn năm.
“Ngũ luân” là cha con có tình thân, vua tôi có nghĩa, vợ chồng có sự khác biệt, lớn nhỏ có thứ tự, bạn bè có chữ tín, hai mươi chữ này là giảng mối quan hệ giữa người với người. “Ngũ thường” là nhân nghĩa lễ trí tín, đây là đạo lý cơ bản làm người; thường là mãi mãi không thể đánh mất. “Tứ duy” là lễ nghĩa liêm sỉ. “Bát đức” là hiếu đễ trung tín nhân ái hòa bình.
Học thuật mấy ngàn năm của chúng ta, Tứ thư, Ngũ kinh, Thập tam kinh không ngoài phạm vi này, đây là tổng cương lĩnh. “Tứ Khố Toàn Thư” khối lượng lớn như vậy, cũng không ngoài phạm vi này. Tinh tủy do tổ tông lưu lại, bạn chỉ cần thực sự có thể chiếu theo mà làm, thiên hạ liền thái bình, cá nhân liền hạnh phúc, bạn làm trái nghịch, tai nạn liền ập đến rồi.
Khó khăn lớn nhất của chúng ta ngày nay, là lơ là văn hóa truyền thống xấp xỉ một trăm năm, đã đứt đoạn mấy thế hệ rồi, người mình không biết dân tộc mình, tội lỗi này rất nặng. Người xưa nói đại bất hiếu, con người nếu như bất hiếu cha mẹ, không kính sư trưởng, thì có tai nạn. Bởi vì hiếu thân tôn sư là cái gốc lớn cái rễ lớn của thế xuất thế pháp, là cội nguồn của tất cả sự hạnh phúc viên mãn, cội rễ bị hủy diệt rồi chính là diệt vong.
Những gì Tiên sinh Toynbee đã nói, giải quyết vấn đề xã hội của toàn thế giới thế kỷ hai mươi mốt, phải dựa vào học thuyết Khổng Mạnh. Bộ sách do Đường Thái Tông biên soạn này, nên đem tặng cho mỗi một quốc gia trên toàn thế giới đi học tập. Cho nên có người nói thế kỷ hai mươi mốt là thế kỷ của chúng ta, chính là thế kỷ văn hóa của dân tộc chúng ta. Chúng ta cứu vãn toàn thế giới, không phải là chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, kinh tế thương mại, mà là văn hóa truyền thống. Cho nên Hán học phải được hưng khởi trên toàn thế giới, nếu như văn hóa bị tiêu diệt đi, dân tộc này mãi mãi sẽ không phục hưng. Văn hóa không còn nữa, dân tộc này sẽ bị tiêu diệt. Bốn nền văn minh cổ đại lớn nói trong lịch sử, chỉ còn lại chúng ta. Nếu như chúng ta trong đời này không thể đem văn hóa truyền thống phục hưng lại, thì cũng giống như họ vậy, bốn nền văn minh cổ đại lớn đều không còn nữa. Chúng ta làm sao xứng đáng với tổ tiên? Làm sao xứng đáng với quốc gia dân tộc? Cho nên, ngày nay phục hưng văn hóa truyền thống là trách nhiệm rất lớn của chúng ta, mỗi người đều phải tận tâm tận lực để làm. Do đó, hiện nay bày ra trước mặt chúng ta, có hai sự việc lớn, một cái là làm thế nào cứu vãn truyền thống của quốc gia dân tộc chúng ta, một sự việc lớn khác là làm thế nào giúp đỡ thế giới hóa giải tai nạn của trái đất.
Chìa khóa vàng mở ra kho báu trí tuệ của tổ tông – Văn ngôn văn
Văn ngôn văn là phát minh cừ khôi nhất của lão tổ tông chúng ta, mấy ngàn năm trước lão tổ tông liền đem ngôn ngữ và văn ngôn tách biệt ra, ngôn ngữ sẽ thay đổi theo thời gian, khu vực, văn ngôn tuyệt đối không thay đổi. Bạn hiểu văn ngôn văn, bạn xem những thứ lão tổ tông lưu lại mấy ngàn năm trước, liền giống như nói chuyện đối mặt vậy, không có bất kỳ chướng ngại gì, phát minh này tuyệt vời biết bao! Lão tổ tông đối với con cháu đời sau yêu thương bảo vệ nhường nào, đem trí tuệ, kinh nghiệm, phương pháp, hiệu quả của các ngài, dùng phương pháp này truyền lại cho đời sau. Chúng ta ngày nay không học là đại bất hiếu, đại bất hiếu là cội rễ của tất cả mọi tai nạn, là ngọn nguồn của tất cả mọi tội ác.
Thầy giáo truyền cho tôi một phương pháp, bốn chữ “chí thành cảm thông“. Đầu tiên phải có đủ tâm thái như thế này, chân thành đến chỗ tột cùng. Phương pháp, chính là “đạo dạy học, quý ở chuyên” mà lão tổ tông nói, cũng là “thâm nhập một môn, huân tu thời gian dài” mà Tổ sư đại đức trong cửa Phật đã nói.
Tôi cũng nghĩ ra một bộ biện pháp, trước tiên phải cắm ba cội rễ Nho Thích Đạo, đức hạnh là căn bản, không có đức hạnh, những quyển sách này liền không tiếp thu vào được. Ba cội rễ là “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh”. Thứ hai là học văn ngôn văn, phải học tập văn ngôn văn như thế nào? Lý lão sư truyền dạy cho chúng tôi “đọc thuộc kỹ 50 bài cổ văn“, tiêu chuẩn là phải có thể học thuộc lòng, liền có năng lực đọc hiểu; nếu có thể học thuộc lòng một trăm bài, liền có năng lực viết lách. Chúng ta một tuần học một bài, hai năm liền hoàn thành rồi, hai năm liền có thể viết ra văn ngôn văn rất hay, cho nên văn ngôn văn không khó học. Công cụ này là chiếc chìa khóa vàng, lấy được vào tay rồi, “Tứ Khố Toàn Thư”, “Đại Tạng Kinh” toàn bộ đều là của chính bạn rồi; không có chiếc chìa khóa này, “Tứ Khố Toàn Thư”, “Đại Tạng Kinh” liền không có cửa để đi vào.
Chúng ta thực sự học tập, tốn công sức hai năm, buông xuống tất cả, chuyên tu cổ văn, chìa khóa liền lấy được rồi. Lấy được rồi, bạn mới có thể cảm kích trí tuệ của lão tổ tông, đây là số một thế giới, phát minh này cừ khôi biết bao! Có thể đem trí tuệ của người trước từ mấy ngàn năm, mấy vạn năm, truyền lại hoàn hoàn chỉnh chỉnh không có sai sót. Cho nên kinh điển là học vấn, lịch sử là kinh nghiệm. Nhị Thập Ngũ Sử của Trung Quốc, ghi chép qua các thời đại đều vô cùng phong phú, đây là kinh nghiệm của lịch sử, có học vấn, có kinh nghiệm mới có thể giải quyết vấn đề.
Khối lượng kinh sử quá lớn, không có cách nào đọc, có thể đọc “Quốc Học Trị Yếu”, bộ sách này lựa chọn rất tốt, nội dung vô cùng phong phú. Chúng ta từ trong “Cổ Kim Văn Tuyển” của “Quốc Ngữ Nhật Báo” Đài Loan đi tra cứu, nhất định có nội dung mà họ chọn ra ở trong đó, nếu như có thể chọn được một trăm bài, vậy thì rất đỡ tốn công sức, chỉ cần học thuộc lòng, đọc một trăm bài này, từ chỗ này mà cắm rễ, dùng thời gian mười năm, hai mươi năm, văn hóa truyền thống của chúng ta liền được phục hưng lại rồi. Không từ chỗ này hạ công phu chuyên cần là không được, nhất định phải dựa vào phương pháp cũ của truyền thống, không thể bày ra trò mới lạ, trò mới lạ là không thể thành tựu. Một trăm bài văn chương này nhất định phải học thuộc thật kỹ, bạn đối với chướng ngại của văn ngôn văn liền không còn nữa, cái gọi là “mười năm gian khổ đèn sách, một lần cử tử thành danh”.
Từ bi khuyên răn
Đất nước chúng ta từ xưa đến nay, coi trọng con người, không coi trọng pháp. Pháp tuy là khởi đầu của việc trị quốc, hiến pháp của quốc gia là đại pháp; con người là nguồn cội của pháp, pháp có thể khởi được tác dụng hay không cội nguồn nằm ở con người. Cho nên nước ta từ xưa đến nay đặt giáo dục lên hàng đầu, đây là vào hơn bốn ngàn năm trăm năm trước, thời đại Nghiêu Thuấn đó, quốc gia chính thức thiết lập quan viên gọi là Tư đồ, quản lý giáo dục. Dạy cái gì? Dạy luân lý, đạo đức, nhân quả, chính là phải dạy bạn làm người tốt. Nước ta từ xưa đến nay là lấy con người làm gốc, con người này là thánh hiền quân tử, lấy đây làm tiêu chuẩn. Cho nên chính trị của chúng ta là chính trị thánh hiền, lãnh đạo của đất nước là lãnh đạo thánh hiền, xã hội của chúng ta là xã hội thánh hiền.
Văn hóa truyền thống được cứu, toàn thế giới liền được cứu. Chúng ta phải toàn tâm toàn lực đem nó phát huy rực rỡ. Chúng ta còn phải nghĩ cách giảng giải, tìm một nhóm thầy giáo, nhóm thầy giáo này đều là Bồ-tát, để họ đến học tập giảng giải. Sau khi giảng giải xong, chúng ta truyền bá cho toàn thế giới trên mạng internet, ti vi, để người trên toàn thế giới đều có thể đọc được những quyển sách này, để người trên toàn thế giới đều nghiêm túc đến học chữ Hán.
Tôi đem “Quốc Học Trị Yếu”, “Quần Thư Trị Yếu” mỗi loại in một vạn bộ, có bản bìa mềm, có bản bìa cứng, bản bìa cứng làm quà để trao tặng. Tôi muốn tặng cho các chí sĩ nhân nhân làm chính trị, đây là đạo lý trị quốc bình thiên hạ, hy vọng họ đều học theo lão tổ tông, làm chính trị ngày càng tốt hơn, nhân dân liền có phúc. Hy vọng văn hóa của quốc gia chúng ta, có thể mang đến sự an định hòa bình cho toàn thế giới, điều quan trọng nhất là chúng ta thực sự nhận thức văn hóa truyền thống, phải hiếu thuận cha mẹ, tôn sư trọng đạo, cần phải tuân thủ luân thường đạo đức.
Tôi đã tám mươi bốn tuổi rồi, tôi giữ vững bổn phận của chính mình, cái nghề này chính là giảng kinh dạy học, những thứ khác tôi không màng đến. Tôi đem tất cả hy vọng đều gửi gắm lên người những người trẻ tuổi các bạn, muốn làm thánh nhân, hiền nhân, muốn cứu vãn dân tộc, quốc gia, văn hóa truyền thống, thì phải mất hai năm để cắm rễ, thực sự học, thực sự làm! Hai năm làm cho bằng được “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh”, “Sa-di Luật Nghi”, học một trăm bài cổ văn, chìa khóa lấy được rồi, cái rễ của đức hạnh cắm cho vững vàng, bạn có nền tảng của bậc thánh hiền, bạn đi vào trong kinh sử mà học tập thật tốt, thì không khó để thành tựu!
Thực sự phát tâm đem văn hóa truyền thống một vai gánh vác, kế thừa lại phát huy rực rỡ, cứu quốc gia, cứu dân tộc, cứu tất cả chúng sanh trên trái đất này, những gì tôi có thể làm, những gì tôi nên làm, tôi đều đã làm rồi. Hy vọng chúng ta cùng nhau nỗ lực!
Ngũ Luân
Căn bản của văn hóa truyền thống là luân thường, dân tộc chúng ta là dân tộc của ngũ luân.
Ngũ luân là gì? Ngũ luân chính là toàn bộ dân tộc là người một nhà. Luân lý là mối quan hệ giữa người với người, là “cha con có tình thân, vua tôi có nghĩa, vợ chồng có sự khác biệt, lớn nhỏ có thứ tự, bạn bè có chữ tín”, năm cương lĩnh này chính là ngũ luân mà chúng ta thường nói.
Ngũ luân tồn tại trong tâm chính là đạo, là tánh đức, là thiên tính; ngũ luân là sự đoàn kết cơ bản nhất, kiên cố nhất. Trong bốn quốc gia cổ đại có nền văn minh lớn trên thế giới, Trung Quốc sở dĩ không bị diệt vong, chính là nhờ vào sự thực tiễn giáo dục truyền thống Nho gia. Từ người nhà, bạn bè, hàng xóm vừa mở rộng ra chính là quốc gia, quốc gia dân tộc là một tổng thể xã hội ngũ luân. “Bốn bể đều là anh em”, toàn bộ quốc gia dân tộc phải đoàn kết giống như một người, đây là nền giáo dục gần hai ngàn năm nay của Nho gia.
Ngũ luân là bắt đầu từ vợ chồng, “đại đạo bắt đầu từ vợ chồng”. Vợ chồng trong cõi người có, súc sanh đạo cũng có, ngạ quỷ đạo cũng có, cõi trời Dục giới cũng có. Vợ chồng cùng sống chung một phòng, bên ngoài phòng chính là gia đình. Trong gia đình có cha con, anh em. Bên ngoài gia đình chính là xã hội, quốc gia, có vua tôi, có bạn bè. Người có thân phận không giống nhau, phải làm trọn nghĩa vụ không giống nhau, cha hiền con hiếu, anh nhường em kính, vua nhân tôi trung, mọi người kiến lập được nhận thức chung như vậy, xã hội mới tường hòa, thiên hạ mới thái bình.
Thời cổ đại nam nữ kết hôn hôn lễ vô cùng long trọng, cũng vô cùng rườm rà. Vì sao vậy? Bởi vì sự kết hợp của hai người, đối với toàn bộ xã hội quốc gia đều có mối quan hệ mật thiết, không thể qua loa được. Kết hôn không phải là chuyện của hai người, phải thận trọng với sự việc này. Kết hôn, ở gia đình thì phải chịu trách nhiệm với tổ tông, với con cháu đời sau; ở bên ngoài thì phải chịu trách nhiệm với xã hội, với quốc gia. Sự an định của xã hội, sự hưng suy của quốc gia, có mối quan hệ với việc kết hôn. Một cặp vợ chồng giống như một chiếc lá trên cây lớn, chiếc lá phát triển tốt, cái cây này mới có thể lớn mạnh; chiếc lá hỏng mất rồi, đối với sự sinh tồn của toàn bộ cái cây chính là một phần tổn hại. Cho nên hôn nhân là đạo nghĩa, phải hiểu được đại đạo, hiểu được nghĩa vụ.
Hôn nhân hiện nay là yêu đương bừa bãi, đem luân lý đạo đức phá hoại toàn bộ rồi. Nền tảng bị lay động, xã hội làm gì có đạo lý không động loạn chứ? Nhất là hiện nay, quan niệm hôn nhân của nam nữ vô cùng nhạt nhẽo, tỷ lệ ly hôn cao. Sau khi ly hôn, tổn thương mà con cái phải chịu đựng là rất lớn, sự phát triển thể chất và tinh thần không bình thường, tương lai gây hại cho xã hội, gây hại cho quốc gia. Nói cách khác, ly hôn liền làm hại quốc gia, làm hại xã hội. Ly hôn đem luân thường đạo đức phá hoại rồi, đem cội rễ của tánh đức phá hoại rồi, trách nhiệm nhân quả này nặng hơn bất cứ thứ gì! Sự an định của xã hội, sự hòa bình của thế giới, cội rễ nằm ở vợ chồng, cho nên nói người hiện nay không hiểu được tự ái, bản thân yêu thương chính mình đều không hiểu, làm sao có thể yêu thương người khác?
Xã hội ngày nay, sự qua lại giữa người với người là lợi hại, lợi hại duy trì không được dài lâu, chuyên môn nhìn vào lỗi lầm khuyết điểm của người khác, thiên hạ liền không có một người tốt nào. Người thiện là chuyên nhìn vào điểm tốt của người khác, không nhìn vào khuyết điểm của người khác, người trong thiên hạ đều là người tốt. Vợ chồng phải hiểu được đạo lý này, đôi bên nhìn nhiều vào điểm thiện điểm tốt của đối phương, hôn nhân liền sẽ không tan vỡ.
Đại sư Ấn Quang đối với sự việc này đã giảng rất nhiều, khiển trách cũng rất nặng. Phụ nữ hiện đại rời khỏi gia đình, muốn làm “phụ nữ nghề nghiệp”, trên xã hội tranh giành với đàn ông, muốn làm nữ cường nhân. Trên xã hội đi tranh quyền, tranh địa vị, liền giống y như “lửa hơ mẫu đơn” vậy, tuy hoa nở rất to, rất đẹp, chỉ có thể vinh quang nhất thời, nhưng không có thời gian đi dạy dỗ con cái, thế hệ sau của bạn liền tiêu tùng rồi. Cho nên, sự an nguy của xã hội, Đại sư Ấn Quang nói, phụ nữ gánh vác hơn một nửa trách nhiệm.
Chức trách của người phụ nữ, chỉ cần đem người chồng, trẻ nhỏ quản lý cho tốt, bồi dưỡng nhân tài này cho quốc gia xã hội, tổng thống để chồng, con trai đi làm, đây liền là đại công đại đức. Nếu như đem bổn phận chức trách của chính mình vứt bỏ đi, đi làm một số sự việc ngoài bổn phận, xã hội làm sao có thể không loạn? Những đạo lý lớn này, người thuở trước đều có thể nghe, có thể tiếp nhận, người hiện đại lại nói đầu óc chúng ta quá cổ hủ, không thích hợp với thế kỷ hai mươi mốt. Thế nhưng chúng ta bình tĩnh tư duy, cảm thấy vẫn là đại đạo lý của người xưa chính xác, có thể mang đến sự trị vì yên bình lâu dài cho xã hội.
Nam nữ kết thành vợ chồng, tổ chức thành một gia đình, đây là tế bào nền tảng của xã hội, hai người ai nấy có nhiệm vụ của người nấy. Gia đình có hai sự việc lớn, thứ nhất, đời sống kinh tế, kiếm tiền nuôi gia đình, đây là bổn phận của nam giới. Thứ hai, “bất hiếu có ba, không có người nối dõi là lớn nhất”, giúp chồng dạy con, giáo dục thế hệ sau, đây là công việc bổn phận của phụ nữ, điều này so với công việc của đàn ông thì nặng nề hơn, vĩ đại hơn. Vì sao vậy? Nối dõi tông đường phải dựa vào phụ nữ. Không có phụ nữ, lão tổ tông ngàn vạn năm trước hết đời này sang đời khác tương truyền đến đời này liền tiêu tùng rồi, bạn có thể xứng đáng với tổ tông sao? Do đó, phụ nữ trong tâm trí của người xưa có địa vị vô cùng sùng cao, bà phải sinh đẻ, nuôi dưỡng thế hệ sau, là người chủ trì huyết mạch của gia đình.
Bậc thánh hiền từ đâu mà ra? Người mẹ dạy. Cho nên giáo dục thời cổ đại ở nước ta, dạy con gái đặc biệt nghiêm ngặt, so với dạy con trai thì nghiêm ngặt hơn gấp nhiều lần. Bé gái dạy tốt rồi, có hiền nữ ắt có hiền mẫu, có hiền mẫu thì nhà liền tốt, gia tộc liền tốt, quốc gia liền tốt. Quá khứ có rất nhiều người mẹ không biết chữ, lại rất biết dạy con cái làm người, dạy hiếu thân tôn sư, anh em yêu thương nhau. Con người từ nhỏ đã dạy tốt rồi, cả một đời đều sẽ không làm chuyện xấu, đều sẽ không có ác niệm đối với người, xã hội này tường hòa biết bao!
Người mẹ là vị thầy giáo nhậm chức đầu tiên của đứa trẻ, giáo dục cắm rễ hoàn toàn dựa vào người mẹ. Người xưa coi trọng thai giáo, lúc mang thai, khởi tâm động niệm, lời nói việc làm của người mẹ đều sẽ ảnh hưởng thai nhi. Cho nên mang thai mười tháng, tâm bình khí hòa, cử chỉ an tường, hy vọng trẻ nhỏ có thể nhận được sự ảnh hưởng tốt, sinh ra sẽ dễ dạy, nghe lời. Thuật thôi miên của phương Tây hiện nay phát hiện, thai nhi ở trong tử cung của người mẹ, đầu óc rất tỉnh táo, chứng minh thai giáo mà người xưa chúng ta giảng là rất có đạo lý.
Trẻ nhỏ vừa ra đời, mở mắt ra, vểnh tai lên, nó liền sẽ nhìn, sẽ nghe, lời nói cử chỉ của cha mẹ và người lớn đều phải giữ lễ, đoan trang, để những gì nó nhìn thấy, nghe thấy, tiếp xúc được, toàn bộ là chính diện. Trẻ nhỏ từ lúc ra đời liền bắt đầu dạy, ai dạy? Cha mẹ. Nó tuy rất nhỏ, ra đời mới hai, ba ngày, mắt nó sẽ nhìn, tai nó sẽ nghe, lời nói hành vi cử chỉ của người lớn ở trước mặt nó, nó đã in sâu ấn tượng rồi, “hình thành từ nhỏ thì giống như thiên tính, thói quen thành tự nhiên”, đây chính là cội rễ của nó, cội rễ này sẽ khởi được tác dụng rất lớn. Cội rễ này phải cắm cho sâu, phải cắm cho chắc, đây là trách nhiệm của người mẹ.
Ngạn ngữ xưa chúng ta nói “ba tuổi thấy tám mươi”, nền tảng ba tuổi này đánh xuống rồi, tám mươi tuổi sẽ không thay đổi. Thế nhưng nền giáo dục này hiện nay hoàn toàn không còn nữa, không những nhìn không thấy, người giảng đều không còn nữa. Trên thực tế giáo dục trẻ nhỏ bắt đầu từ ba, bốn tuổi thì đã muộn rồi. Tôi gặp được rất nhiều đồng tu nói đến gia đình, đều nói trẻ nhỏ không dễ dạy, rất nhiều thầy giáo cũng nói học sinh không dễ dạy. Đương nhiên không dễ dạy, rễ không còn nữa làm sao dạy? Giáo dục cắm rễ quan trọng hơn bất cứ thứ gì, đây là chuyện của người mẹ, cho nên người mẹ vĩ đại! Bậc thánh hiền là do dạy dỗ mà ra, Phật Bồ-tát cũng là do dạy dỗ mà ra, mấu chốt đều nằm ở người mẹ.
Điều thứ nhất của ngũ luân “cha con có tình thân”, tình thân ái của cha con không phải từ đâu học được, mà là tự tánh vốn có. Nhìn từ chỗ nào? Rõ ràng nhất là trẻ sơ sinh ba, bốn tháng, nó biết cười rồi, bạn tỉ mỉ quan sát, tình yêu thương của cha mẹ đối với nó không có bất kỳ điều kiện nào, toàn tâm toàn ý thực sự yêu thương nó. Đứa trẻ tuy không biết nói, bạn nhìn ánh mắt, biểu cảm của nó, tình yêu thương đó hiển lộ ra rồi, đây là thiên tính! Cho nên “nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, bổn thiện hiển lộ ra. Đây là cái đức thứ nhất ở trong tánh đức, từ cái đức thứ nhất này dẫn xuất ra, “vợ chồng có sự khác biệt, vua tôi có nghĩa, lớn nhỏ có thứ tự, bạn bè có chữ tín”, đây là từ điểm này diễn biến ra, toàn bộ đều là tình yêu thương, tầng mức không giống nhau thì cấp bậc của tình yêu thương đó liền không giống nhau.
“Bổn tánh sinh ra ngũ luân, ngũ thường là ngọn nguồn văn minh nhân loại”, tất cả mọi tộc quần, tôn giáo đều là từ một điểm nguyên thủy bùng phát ra. Điểm xuất phát này chính là tâm yêu thương ở trong tự tánh, đó gọi là tình yêu của Thần, chính là chân tâm của chúng ta. Cho nên ở trong thế giới của Phật, toàn bộ thế giới Cực Lạc là một đoàn thể thân ái, là một thế giới thân ái, bạn nói xem tốt đẹp biết bao, mười phương thế giới đều tìm không thấy! Điều này hoàn toàn đắc lực nhờ vào việc dạy học.
Cha con có tình thân ngay cả súc sanh đều có đủ. Tỉ mỉ quan sát chú chó con sinh ra, mẹ của nó yêu thương nó biết bao. Chú chim non ở trong tổ chim, chim mẹ chăm sóc vô cùng chu đáo, sợ con cái của mình chịu tổn hại, ngay cả hy sinh sinh mạng cũng không tiếc, không có ai dạy nó, điều này gọi là tánh đức. Điều này không phải học mà có được, là thuộc về tự nhiên.
Lão tổ tông của chúng ta có thể nhìn ra được cha con có tình thân, thực sự có trí tuệ! Cho nên Tiến sĩ Toynbee tán thán nói: Người Trung Quốc thời cổ đại hiểu giáo dục nhất, có trí tuệ của giáo dục, có phương pháp của giáo dục, có kinh nghiệm của giáo dục, các quốc gia tộc quần khác trên toàn thế giới đều không sánh bằng.
Giáo dục truyền thống bắt đầu từ cha con có tình thân, là giáo dục của tình thân ái. Mục đích thứ nhất của giáo dục là làm thế nào duy trì tình thân ái này cả một đời không thay đổi. Mục đích thứ hai là đem tình yêu thương này phát huy rực rỡ. Từ tình yêu thương của cha mẹ đẩy mạnh đến yêu thương anh em, yêu thương gia tộc, yêu thương hàng xóm, yêu thương xóm làng, yêu thương xã hội, yêu thương quốc gia, đến cuối cùng “phàm là người, đều phải yêu thương”. Cho nên, giáo dục truyền thống chúng ta là giáo dục của tình yêu thương, khởi điểm của tình yêu thương chính là cha con có tình thân. Có được nền giáo dục như vậy, xã hội có thể không tốt sao? Nhân sinh có thể không hạnh phúc mỹ mãn sao? Đương nhiên, tình yêu thương của Phật pháp càng lớn hơn càng rộng hơn, mở rộng đến khắp pháp giới hư không giới, đối với tất cả chúng sanh không có ai là không yêu thương, cho nên tình yêu thương của Phật pháp là rốt ráo viên mãn nhất. Tâm yêu thương biến khắp pháp giới, thiện ý biến khắp pháp giới, chỉ có Đại thừa Phật pháp khẳng định được khắp pháp giới hư không giới và chính mình là một thể, yêu thương tất cả chúng sanh hóa ra là yêu thương chính mình, làm hại tất cả chúng sanh hóa ra là làm hại chính mình, mình và người là một không phải hai.
“Lớn nhỏ có thứ tự”, thứ tự là đức, là trật tự, là tình yêu thương. Dạy người cái gì? Là dạy đại chúng ở cùng nhau tương kính tương ái, kính lão tôn hiền. Hiểu được tuổi tác lớn hơn tôi, nhất định phải tôn kính, anh nhường em kính, một bầu không khí hòa thuận. Một nửa người nhà, một nửa người ngoài, người nhà là anh em chị em, căn cứ theo sự sắp xếp con cả, con thứ, có thứ tự, không thể loạn. Đối với người bên ngoài có người lớn tuổi, chúng ta xem họ như anh trưởng mà đối đãi; người nhỏ tuổi, xem họ như em trai mà đối đãi; người già cả, xem họ như cha mẹ mà đối đãi; người trẻ tuổi, xem họ như con cái mà đối đãi, đây chính là lớn nhỏ có thứ tự.
Ở trong nhà thứ tự của anh em chị em cũng là thiên nhiên, không thể thay đổi, không thể cạnh tranh, con cả chính là con cả, con thứ chính là con thứ. Giữa anh em với nhau, tuổi tác lớn nhỏ không đồng, em trai phải tôn kính anh trai, anh trai phải yêu thương em trai; anh trai phải làm tấm gương tốt cho các em, các em phải tôn kính anh trưởng. Cha mẹ không còn nữa, anh trưởng như cha, chị dâu trưởng như mẹ, trật tự trong nhà tươm tất không loạn, một bầu không khí hòa thuận. Trật tự giữa bậc trưởng bối và vãn bối, vãn bối đối với trưởng bối nhất định phải tôn kính, người trẻ tuổi phải hành lễ với người lớn tuổi, người lớn tuổi đối với người trẻ tuổi nhất định có sự từ ái. Hơn nữa, ân của thầy giáo và cha mẹ là bình đẳng như nhau, đối với con cái của thầy giáo và anh em ruột của chính mình không có gì khác biệt, cả một đời đều phải chăm sóc. Người người hiểu được khiêm nhường, tôn trọng người khác, biết được lễ tiết cơ bản kính già yêu trẻ.
Thời cổ đại ở nước ta, nữ tử mười sáu tuổi làm lễ cài trâm, nam tử hai mươi tuổi làm lễ đội mũ, biểu thị đã trưởng thành. Vào ngày này, trưởng bối, người cùng vai vế, anh em chị em của người đó phải tặng cho người đó một cái “tự”, từ ngày này trở đi mọi người đều gọi “tự” không gọi “danh”. Ai có thể gọi “danh”? Chỉ có cha mẹ và thầy giáo, cho dù là ông bà, bá bá, thúc thúc đều chỉ có thể gọi “tự” không gọi danh. Ông bà bởi vì cách tôn tử một thế hệ, cho nên cũng gọi “tự”, để thể hiện sự tôn trọng, đây chính là lớn nhỏ có thứ tự.
Quá khứ, con cái không thể gọi danh húy của cha mẹ. Người hiện nay, con cái trực tiếp gọi tên của cha mẹ, không những gọi tên, ngay cả họ cũng gọi ra, chúng ta nghe thấy rất bi ai. Thế nhưng bạn còn không thể nói nó, “người nước ngoài không phải đều gọi như vậy sao!” Điều này ở người xưa chúng ta nói là không biết lớn nhỏ, trật tự của lớn nhỏ có thứ tự không còn nữa, nhà loạn rồi xã hội sao có thể không loạn?
Thích-ca Mâu-ni Phật năm xưa khi tại thế, học sinh trong tăng đoàn của Ngài rất nhiều, giữa sư huynh sư đệ cũng có trật tự, không cần người chỉ huy sắp xếp, không cần chia lớp lớn lớp nhỏ, không có cái gì là đại đội trưởng tiểu đội trưởng, toàn bộ đều là tự tự nhiên nhiên bình đẳng tuân thủ trật tự, không mảy may rối loạn. Từ chỗ này chúng ta ít nhiều đều có thể thể hội được lớn nhỏ có thứ tự là đạo, tuân thủ luân lý này, xã hội mới có thể an định, nếu như mọi người chúng ta đem trật tự vứt bỏ đi, nhà liền không giống nhà, xã hội liền không giống xã hội.
“Vua tôi có nghĩa”, vua là người lãnh đạo, tôi là người bị lãnh đạo, ngày nay giảng là mối quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo, người lãnh đạo phải nhân, người bị lãnh đạo phải trung nghĩa. Đạo vua tôi cũng là tự nhiên, vua nhân tôi trung cũng là đức. Xã hội hiện nay, “vua” chưa chắc là chỉ bậc đế vương, mà là chỉ mối quan hệ giữa ông chủ và nhân viên, trưởng quan và cấp dưới, ông chủ, trưởng quan là vua, nhân viên, cấp dưới là tôi. Vua nhân, chính là người lãnh đạo đối với người bị lãnh đạo phải từ ái; tôi trung, chính là người bị lãnh đạo đối với người lãnh đạo phải trung thành. Xã hội hiện đại tuy có mối quan hệ vua tôi, nhưng tinh thần đã đánh mất rồi.
Xã hội ngày nay chỉ nói pháp luật, không có tình, lý, người tự cho mình là thông minh thì luồn lách kẽ hở pháp luật, đây chính là không có nghĩa; làm bao nhiêu công việc đều phải tính toán thù lao, là hành vi thương mại, điều này cũng không có nghĩa. Người xưa chúng ta nói nghĩa khí, “chịu ơn người như giọt nước, thường nghĩ báo đáp cả suối nguồn”, hiện nay xã hội này người có quan niệm như vậy rất khó tìm thấy rồi, đều giảng chữ lợi, nhân tình sao có thể không lạnh nhạt chứ? Thế giới sao có thể không loạn chứ? Hiện nay rất nhiều công ty đều là sự tập hợp của lợi hại, trên có ông chủ, dưới có nhân viên, không phải là đoàn thể tổ chức của tình thân, lợi hại ở giữa nếu như xảy ra vấn đề, kinh tế của ông chủ gặp khó khăn, xoay vòng vốn không thông, một tháng, hai tháng chưa phát tiền lương, nhân viên lập tức bao vây nhà máy, công ty liền sụp đổ rồi. Đây là đạo nghĩa không còn nữa, không có sự thương xót lẫn nhau, đều là đối lập lẫn nhau, đều là mối quan hệ lợi hại.
Nếu như tất cả mọi người trong công ty đều có thể thấu hiểu nghĩa lý, có thể giữ vững nguyên lý nguyên tắc trọng nghĩa khinh lợi, có thể đem tình yêu thương của cha con có tình thân này thể hiện vào trong mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, đôi bên tương thân tương ái, bao dung, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, cùng tồn tại cùng phồn vinh. Mỗi một người trong đoàn thể, tôn trọng đoàn thể, yêu thương đoàn thể, không hủy báng, không làm hại đoàn thể, đây chính là đoàn thể có đạo nghĩa! Công ty như vậy liền có thể có nghĩa vả lại có lợi, liền có thể làm một tấm gương tốt về giảng nghĩa, hành nghĩa cho người đời. Trong tâm gìn giữ chữ nghĩa, làm ra hình tượng đạo nghĩa, nhân nghĩa, tình nghĩa, ân nghĩa để ảnh hưởng xã hội, quảng độ chúng sanh, để chúng sanh quay về với đạo nghĩa. Đều có thể làm được điều này, chính là thánh hiền quân tử có thể làm trọn nghĩa vụ thời hiện đại.
“Bạn bè có chữ tín”, chính là đối với bạn bè phải giữ chữ tín, nói phải giữ lời, bạn bè chăm sóc lẫn nhau, quan tâm lẫn nhau, yêu thương bảo vệ lẫn nhau, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, tuyệt đối không có ý niệm lừa gạt. Thế nhưng xã hội ngày nay “chữ tín” rất nhạt nhẽo rồi, luân này duy trì cũng rất gượng ép, hiện nay chỉ có đem thái độ đối với con cái, học sinh cho đến đối với tất cả mọi người đều chuyển biến thành thái độ đối với bạn bè, lấy thân phận bạn bè đôi bên có qua có lại mới toại lòng nhau, mới có thể miễn cưỡng chung sống. Cho nên hiện nay tất cả mọi mối quan hệ của ngũ luân đều không còn nữa, ngay cả mối quan hệ vợ chồng cũng không còn nữa, người chồng xem người vợ như bạn bè, người vợ xem người chồng như bạn bè, có thể duy trì mối quan hệ bạn bè tốt, thì đã xem là rất không tệ rồi. Nếu như ngay cả luân bạn bè này cũng không còn nữa, vậy về sau đơn thuần là mối quan hệ lợi hại. Có lợi thì chung sống, không lợi liền tách ra, liền trở thành oan gia đối đầu, thế giới này liền đại loạn rồi.
Phải tập hợp ngũ luân thập nghĩa vào chung một thân của chính mình! Đồng học tại gia, nói đối với vợ bạn là thân phận người chồng; đối với con cái là thân phận người cha; đối đối với cha mẹ của chính mình là thân phận người con; đối với anh em chị em là thân phận anh trưởng; đối đãi với làng xóm láng giềng là thân phận bạn bè; trong công việc, bạn đối với cấp trên là thân phận người bị lãnh đạo, đối với cấp dưới lại là thân phận người lãnh đạo. Làm trọn nghĩa vụ, trách nhiệm mà chính mình nên làm.
Con người, từ sáng đến tối mười loại thân phận đều có đủ, người chồng làm trọn trách nhiệm của người chồng, người vợ làm trọn trách nhiệm làm vợ, làm cha thì phải giống người cha, làm con thì giống người con. Anh nhường em kính, bạn bè có chữ tín, vua nhân tôi trung, anh em, vua tôi, bạn bè, mỗi người đều giữ vững bổn phận của mỗi người, làm trọn nghĩa vụ của cá nhân, gia đình sẽ mỹ mãn, xã hội sẽ hài hòa, quốc gia sẽ cường thịnh, thế giới ắt đại đồng.
Hiện nay mối quan hệ ngũ luân loạn rồi, nhà không ra nhà, nước không ra nước, xã hội liền loạn rồi. Xét trên mối quan hệ cha con mà nói, cha tôn con ti, tôn ti có thứ tự; con cái và cha phải bình đẳng, không có trên không có dưới, cái nhà này liền xảy ra vấn đề. Trật tự của ngũ luân là đạo, liền giống y như xuân hạ thu đông của đại tự nhiên vậy, không thể loạn, một khi loạn khí hậu liền bất thường rồi, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng tự nhiên của tất cả mọi sinh vật. Cho nên loạn luân là một sự việc rất đáng sợ, căn bản loạn rồi, vậy thì tất cả đều tiêu tùng rồi. Xã hội động loạn, tai nạn trái đất nhiều như vậy, từ đâu mà có? Căn bản không còn nữa. Cho nên người xưa chúng ta vô cùng coi trọng căn bản, sự vun bồi đối với căn bản là sự việc lớn hàng đầu trong một đời, trước tiên phải trị lý gia đình cho tốt.
Nếu như đem cha con có tình thân, vợ chồng có sự khác biệt, vua tôi có nghĩa, lớn nhỏ có thứ tự, bạn bè có chữ tín, năm câu này làm được rồi, thế giới này liền đại đồng. Dùng phương pháp gì có thể đạt được sự trị vì đại đồng? Thế giới hài hòa? Nhất định bắt tay làm từ gia đình hài hòa, nhà mà không hòa thuận, xã hội, thế giới hòa thuận không được, gia hòa vạn sự hưng.
Ngũ luân là đạo, là đại đạo truyền thống của chúng ta, người người đều có thể tuân thủ, người người thân tâm khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc mỹ mãn, xã hội an định hài hòa, quốc gia phú cường, thiên hạ thái bình, hiệu quả này liền hiển lộ ra rồi.
Mối quan hệ ngũ luân bình thường, xã hội an định, hài hòa, viên mãn. Xã hội chúng ta ngàn vạn năm nay, là xã hội của ngũ luân, ngũ luân là nhân đạo viên mãn! Văn hóa truyền thống nếu như đứt đoạn rồi, nhân loại sống trên trái đất này hoàn toàn không có ý nghĩa. Nhân đạo là nền tảng của thiên đạo, là nền tảng của thánh đạo, là nền tảng của Phật đạo, không có nền tảng này, tất cả đều không thể nào kiến lập. Ngũ luân quả thực là viên minh cụ đức, có thể giúp người thành thánh thành hiền, có thể giúp người làm Phật làm thánh.
Đạo lý ở tầng thứ hai của luân lý, là dạy chúng ta nhận thức mối quan hệ giữa người và vạn vật tự nhiên, mối quan hệ này làm cho rõ ràng, liền có thể duy trì sự cân bằng của sinh thái tự nhiên trên toàn bộ trái đất. Ngày nay sinh thái trái đất mất đi sự cân bằng, đây là chúng ta không thấu hiểu mối quan hệ giữa người và môi trường sống, không biết phải yêu quý môi trường, bảo vệ môi trường, bồi dưỡng môi trường như thế nào. Ngũ luân duy trì trật tự của hư không pháp giới, so với phạm vi của quốc gia xã hội thì lớn hơn rất nhiều. Ai hiểu được đạo lý này? Phật Bồ-tát hiểu, Khổng phu tử hiểu.
Cổ thánh tiên hiền ở nước ta, hơn bốn ngàn năm nay dạy cái gì? Chính là dạy luân lý. Chúng ta chỉ cần chiếu theo những đức mục này để học tập, thực sự có thể hóa giải xung đột, tiêu trừ tai nạn, sự hòa bình của thế giới, sự an định của xã hội thực sự có thể thực tiễn. Hy vọng chúng ta cùng phát tâm đại từ bi, ngày ngày học tập, ngày ngày huân tập, mỗi ngày sửa lỗi đổi mới, đoạn ác tu thiện, đây mới là học sinh tốt của Thích-ca Mâu-ni Phật.
Cung kính trích lục từ bài giảng của Lão pháp sư Tịnh Không.
Ngũ Thường
“Ngũ luân tồn tại ở trong tâm gọi là Đạo, ngũ thường hành động ở sự việc gọi là Đức”. Ngũ luân nói hết các mối quan hệ giữa người với người, đây là đạo, là tánh đức. Làm việc tuân thủ tánh đức, thì gọi là đức. Các hạng mục của đức được liệt kê ra năm điều: gọi là ngũ thường. “Thường” là vĩnh hằng bất biến, vượt không gian, vượt thời gian, không thể làm trái, hễ làm trái thì sẽ rối loạn, người hiện nay gọi đó là chân lý.
Ngũ thường chính là tiêu chuẩn đạo đức làm người của người xưa: “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Nói trong Phật pháp thì chính là năm giới, không sát sanh là nhân, không trộm cắp là nghĩa, không tà hạnh (không tà dâm) là lễ, không uống rượu là trí tuệ, không nói dối là tín. Năm giới, ngũ thường, đây là đức hạnh cơ bản của việc làm người.
“Nhân”, là chữ hội ý, người nhân thì yêu thương người, suy từ ta ra người, điều mình không muốn thì đừng làm cho người. Khổng Tử cả đời dạy học là dạy cái gì? Chính là dạy điều này. Nếu nói dùng một chữ để đại diện, thì chính là chữ “Nhân”. Nhân, chính là suy từ ta ra người, nghĩ đến mình thì phải nghĩ đến người khác, điều mình không muốn làm thì không được bảo người khác làm, yêu người như yêu mình, nhân từ bác ái, đây gọi là nhân.
Nhân, không thể không yêu thương người, yêu thương người thì sẽ không oán hận người, yêu thương người thì có thể thông cảm cho người, yêu thương người thì có thể tha thứ cho người. Giống như A Di Đà Phật vậy, những người tạo ngũ nghịch thập ác, hủy báng Đại thừa, Ngài đều không vứt bỏ, vẫn yêu thương họ như vậy. Vì sao họ lại tạo tội nghiệp nặng nề đến thế? Do vô tri mê hoặc, cái gọi là nhất thời hồ đồ, làm sai sự việc, chỉ cần họ quay đầu sửa lỗi, dạy dỗ cho đàng hoàng, họ vẫn là người thiện.
Người hiện nay thật đáng thương, không biết yêu thương bản thân mình, lại càng không biết yêu thương người! Không biết giữ gìn cái bổn thiện của chính mình, đây là không tự yêu bản thân. Người không tự yêu bản thân, thì sẽ không yêu thương người, tự yêu bản thân thì mới yêu thương người, người hiểu được việc yêu thương người thì sẽ không hại người. Yêu thương người bắt đầu từ việc yêu thương cha mẹ, vợ con, con cái, gia thân quyến thuộc, rồi từ từ mở rộng ra, mở rộng đến cuối cùng là “phàm là người, đều yêu thương”.
Nói trong Phật pháp, không chỉ yêu thương người, mà còn phải yêu thương cây cối hoa cỏ, yêu thương núi sông đại địa, đối đãi với vạn vật, dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi. Giống như trời, đất vậy, không có một mảy may tâm tư vị, không có một mảy may phân biệt, chấp trước, bình đẳng chăm sóc hết thảy chúng sanh. Trong Phật pháp gọi đây là từ bi, dùng đại từ đại bi đối đãi với hết thảy chúng sanh. Xã hội mới có thể an hòa ổn định, các vấn đề, xung đột mới có thể hóa giải.
Thế nào là nghĩa? Nghĩa là thuận theo lý, tuân theo đạo lý, ngày nay gọi là khởi tâm động niệm, nói năng hành động hợp tình, hợp lý, hợp pháp. Đối nhân xử thế, sinh hoạt, công việc, đối người tiếp vật, ngoài “nhân” ra, còn phải dùng “nghĩa” để phụ trợ, thì mới có thể làm được viên mãn. Chúng ta từ xưa đến nay, pháp luật định ra rất nghiêm, vì sao vậy? Là hy vọng bạn đừng phạm pháp, mục đích là ở chỗ này. Khi chấp pháp thì phải khoan dung. Ở đây chính là có tình, có nghĩa. Pháp không thể không nghiêm, không nghiêm thì người ta không sợ; khi chấp pháp, không thể dùng tâm tàn nhẫn, không thể dùng thủ đoạn tàn khốc, mà vẫn phải dùng tâm yêu thương để xử lý. Cho nên, cố gắng hết sức xử lý khoan hồng, để họ sanh khởi tâm biết ơn, tâm tàm quý, để họ quay đầu. Đây là nghĩa.
“Nghĩa” là làm hết nghĩa vụ, phục vụ cho hết thảy chúng sanh, không cầu quả báo, không cầu đền đáp, không bàn đến quyền lợi. Bất luận ở địa vị nào, thân phận nào, việc gì đáng phải làm, đều phải tận tâm tận lực làm cho thật tốt sự việc đó; đối người tiếp vật xử sự tuân thủ khuôn phép, làm lợi ích chúng sanh, không tổn hại chúng sanh, đây gọi là nghĩa. Có nghĩa thì đi khắp toàn thế giới, không có nghĩa thì đi không thông.
Chúng ta từ xưa đến nay việc dạy học là nghĩa vụ, lễ nem xôi là sự cúng dường của học trò đối với thầy giáo, thầy giáo tuyệt đối sẽ không định ra tiêu chuẩn, nếu có định giá thì đó là buôn bán làm ăn. Dạy học là nghĩa vụ, đây là sư đạo. Nếu định ra giá cả, thì người nghèo sẽ không còn cơ hội nhận sự giáo dục nữa. Cho nên sư đạo của truyền thống chúng ta thật đáng tôn kính biết bao.
Khổng Tử dạy học, dạy dỗ không phân biệt hạng người, đối với học trò tuyệt đối không có phân biệt, sự cúng dường của học trò đối với thầy giáo là tùy ý, người giàu có thì cúng dường nhiều một chút, người nghèo khó thì cúng dường ít một chút, không có cũng được. Cho nên thầy giáo đều rất thanh bần, thế nhưng ở trong xã hội thầy lại có địa vị sùng cao, nhận được sự tôn kính rộng rãi của đại chúng.
Cho nên phải chú trọng nghĩa vụ, ai ai cũng đều có thể đối với xã hội, đối với đại chúng tình nguyện làm hết nghĩa vụ, không chú trọng thù lao, thì xã hội này mới thực sự có tiến bộ. Trong thù lao thì có chuyện rút ruột công trình, có lười biếng, lừa gạt, còn trong nghĩa vụ thì không có.
Chúng ta phải làm một tấm gương tốt về việc nói nghĩa, hành nghĩa cho chúng sanh. Các hạng mục giúp đỡ chúng sanh có rất nhiều, điều đó phải xem chúng ta đang ở địa vị như thế nào, thân phận như thế nào. Hoặc là dùng tài lực, hoặc là dùng sức lao động, hoặc là dùng trí tuệ, hoặc dùng cả ba, tận tâm tận lực, toàn tâm toàn lực, làm việc vì hết thảy chúng sanh khổ nạn; giúp họ giải trừ khổ nạn, lìa khổ được vui. Đừng so đo thù lao, cũng đừng tính toán môi trường làm việc. Trong tâm tồn giữ chữ nghĩa, làm ra hình ảnh đạo nghĩa, nhân nghĩa, tình nghĩa, ân nghĩa để giúp đỡ xã hội, quảng độ chúng sanh, khiến chúng sanh dẫn về đạo nghĩa.
Lễ là quy phạm sinh hoạt, là trật tự xã hội, lễ là có chừng mực, không thể vượt quá cũng không thể không bằng, cũng không thể chưa đạt đến. Lễ mà nhà Nho nói, là lời giáo hối do bậc cổ Thánh tiên Hiền, tổ tông truyền lại. Bản chất của lễ (tinh thần bên trong) chính là cung kính, khiêm ti, biểu hiện ra ngoài ở thân khẩu ý (ba nghiệp), tự nhiên liền hiển hiện ra cái tướng tôn trọng cung kính người khác, đây chính là lễ. Cho nên lễ lấy tâm làm căn bản. Cổ nhân nói “thành ở bên trong mà hiện ra bên ngoài”, nội tâm có thành kính, ngoại tại thân thể tự nhiên biểu hiện ra lễ. Cái gốc của lễ là tâm cung kính, tâm cung kính là bổn tánh của chúng ta, là tánh đức trong tự tánh, là cái vốn có. Mục đích của việc học lễ chính là khôi phục tâm cung kính, “lễ đó, là kính mà thôi”.
Trước khi Phật giáo truyền đến nước ta, các bậc cổ Thánh tiên Hiền chung ta đã đặt lễ kính ở điều thứ nhất, khiêm ti là nền tảng, không có khiêm ti thì không thể kiến lập được điều gì. Cho nên bắt đầu từ khiêm ti để tạo dựng nền tảng, sau đó học kính yêu người khác, từ nội tâm chân thật kính yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ chúng sanh.
Câu đầu tiên trong sách Khúc Lễ liền nói “vô bất kính” (không gì không kính); trong Phật pháp nói toàn bộ vũ trụ và chính mình là một thể, cho nên lễ kính phải trọn khắp pháp giới hư không giới, cũng khiêm ti cung kính giống như “lễ kính chư Phật” của Bồ-tát Phổ Hiền vậy. Đối với hết thảy người, sự, vật đều không thể thất lễ, thất kính, đây là cái cội gốc lớn lao của việc thành Phật thành bậc Thánh nhân. Quan điểm của Thánh nhân Trung Quốc và Phật, Bồ-tát giống nhau, người thực sự có học vấn, có đức hạnh sẽ không kiêu ngạo, không có cái suy nghĩ rằng người khác không bằng mình, chỉ cần có người thỉnh giáo, bất luận là người có thân phận gì, trên từ quốc vương đại thần, dưới đến kẻ bán buôn sai vặt, họ đều thân thiết chỉ dạy. Có thể thấy tâm cung kính bình đẳng của các bậc Thánh nhân.
“Lễ”, là có chừng mực, không thái quá cũng không thể bất cập; tiêu chuẩn mà nó đưa ra là vừa vặn nhất, có thể thưởng thức, có thể thọ dụng, không đến mức tràn lan. Phật pháp nói “Thập thiện nghiệp đạo, tam quy ngũ giới”, trong đó có cạn có sâu, pháp nhân thiên cạn nhất chính là tiết chế, không đến mức tạo thành tai nạn! Trung phẩm thập thiện thì giữ được thân người, thượng phẩm thập thiện sanh lên trời Dục giới.
Nói về chỗ lớn lao, chỗ sâu xa, nó là nền tảng của Vô thượng Bồ-đề, cho nên có những nền tảng này, có thể hiểu sâu nhân quả, tuy có tập khí, phiền não chưa đoạn, nhưng có thể khống chế, có thể dừng lại được, sẽ không quá đáng, đây chính là hợp với lễ, là bậc hiền nhân quân tử danh phó kỳ thực. Không có chừng mực, nền tảng không thể nâng lên cao, người còn làm chưa xong, thì làm sao có thể làm Phật, làm Bồ-tát?
Làm người đệ tử, muốn thành tựu học vấn, bất luận là thế gian pháp hay xuất thế gian pháp, thì trước tiên phải học quy củ. Cái gọi là “không dựa vào quy củ, không thành được vuông tròn”! Quy củ ở nhà Phật chính là giới luật, ở nhà Nho chính là lễ; lễ là quy phạm sinh hoạt của đại chúng trong xã hội, ai ai cũng đều phải tuân thủ. Các điều văn của lễ được tu đính thuận theo thời đại, phù hợp với thời đại.
Cổ lễ, mỗi một triều đại, lễ tiết trong sinh hoạt thường ngày, lễ tiết tế tự tổ tiên, lễ tiết chủ khách gặp nhau, lễ tiết hiếu hỷ cưới hỏi, đều quy định rất rõ ràng, nhất định phải làm theo thì mới không thất lễ, không làm theo thì là không hiểu lễ. Ví dụ như người với người gặp mặt, theo cổ lễ hành lễ kính trọng nhất, chính là ba lần quỳ chín lần dập đầu, đây là lễ tiết cung kính nhất; hiện nay lễ tiết cung kính nhất là ba lần cúi chào, không giống nhau nữa rồi.
Từ sau khi nhà Mãn Thanh chịu cảnh vong quốc, kéo dài cho đến nay, gần một trăm năm không có lễ nhạc. Ví dụ như cha mẹ qua đời rồi, tang lễ phải làm sao? Mặc áo gai đội mũ tang, đó là lễ của nhà Mãn Thanh. Quốc gia không chế lễ tác nhạc, thì làm thế nào cũng đúng. Điều này trong sử học tương lai sẽ gọi đây là loạn thế, không có quy củ. Triều đại ngày trước, trên lịch sử có bộ sử của họ, nguyên nhân là vì sao? Họ chế lễ tác nhạc, nghĩa là nền chính trị của họ đi vào quỹ đạo. Không có lễ nhạc, chính là từ đầu đến cuối vẫn chưa đi vào quỹ đạo, vẫn còn đang mò mẫm.
Sự đại loạn lần này của Trung Quốc, xét trên lịch sử mà nói thì thời gian là dài nhất. Chúng ta đọc lịch sử Trung Quốc, biết được trong hơn hai ngàn năm nay của Trung Quốc, bất kỳ một triều đại nào được thành lập, đế vương đều phải chế lễ tác nhạc lại từ đầu để giáo hóa nhân dân, thông thường nhiều nhất là năm năm, quốc gia nhất định liền công bố lễ nhạc, toàn quốc cần phải đẩy mạnh thực hành, ai ai cũng biết giữ quy củ, cho nên Trung Quốc thời xưa là lễ trị, không phải pháp trị; pháp trị mang tính ép buộc, lễ trị là sự tâm phục khẩu phục từ trong nội tâm.
Tiêu chuẩn của chúng ta từ xưa đến nay: Đạo, Đức, Nhân, Nghĩa, Lễ, lễ là giới hạn cuối cùng. Có lễ thì xã hội liền có trật tự, tâm lý mọi người đều an, đều có thể ủy khúc cầu toàn. “Toàn” là viên mãn, là xã hội an định, thế giới hòa bình, nhân dân hạnh phúc. Bản thân chịu một chút ấm ức, mà đạt được sự viên mãn, thì rất đáng giá! Không chịu ấm ức, thì sự viên mãn sẽ không đạt được. Cho nên nhất định phải có lễ, lễ có thể làm an tâm. Nếu như không có lễ, thì không có quy củ, xã hội sẽ không an định, nhân dân không biết làm thế nào là đúng, làm thế nào là không đúng. Giống như xe chạy có quỹ đạo, có quỹ đạo thì rất thông suốt. Quỹ đạo không còn nữa, xe cộ đâm sầm vào nhau, cục diện sẽ rối loạn.
Lễ là cột mốc để nhân loại phân biệt với cầm thú, lễ là tượng trưng của văn minh. Cổ nhân nói: “Phàm dĩ sở dĩ nhân vi nhân giả, lễ nghĩa dã” (Phàm lý do con người làm người, là ở lễ nghĩa vậy). Ngày nay, sự khác biệt giữa con người và động vật, chính là ở chỗ con người có lễ, lễ là tiêu chuẩn thấp nhất để chúng ta làm người. Lễ có tác dụng dự phòng, phòng ngự, là trị bệnh khi chưa phát, pháp luật là phẫu thuật mổ xẻ, là trị bệnh đã phát; lễ là khiến chúng ta tự giác duy trì đạo đức, hễ đến mức dùng pháp luật, là đã hoàn toàn làm trái đạo đức, đạo nghĩa, là sự trừng phạt phải nhận lấy.
Cho nên học lễ, không phải là gò bó, yêu cầu chúng ta, mà là đang thành tựu mỹ đức làm người của chúng ta, thành tựu đức hạnh và học vấn của chúng ta. Lễ không còn nữa, thì hoàn toàn là tranh giành danh lợi. Xã hội hiện nay không có lễ, đều đang tranh giành danh lợi, thiên hạ đại loạn rồi, phòng tuyến cũng không còn. Bên trong là ba độc, bên ngoài là cám dỗ, con người đánh mất đi quỹ đạo của con người, vậy thì chẳng khác gì so với ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh.
Không có lễ, thì Nho liền không còn, học Nho liền biến thành Nho học. Trật tự không còn, quy phạm không còn, cho nên hiện nay học lễ rất khó, chỉ đành tìm cổ lễ, “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”, “Thập thiện nghiệp” là những lễ tiết nông cạn dễ hiểu nhất, là nền tảng. Nền tảng của lễ trị là dạy học, ai ai cũng có thể hiểu được trung hiếu tiết nghĩa, bắt tay vào từ chỗ này, có thể tự độ độ tha, lễ trị liền có thể thực tiễn, như vậy, mới có thể giúp đỡ xã hội an định, giúp thế giới đi về hướng hòa bình.
“Trí” là lý trí, xử sự đối người tiếp vật phải lý trí, không thể làm việc theo cảm tính, thì sẽ không phạm lỗi lầm. “Trí” hoàn toàn tương đồng với những gì Phật pháp chủ trương, đây là thuộc về tánh đức. Người hiện nay đa phần tình cảm bốc đồng, đầu óc không đủ bình tĩnh. Đầu óc bình tĩnh thì mới có lý trí, mới có thể phán đoán chân chính chánh tà, thị phi, chân vọng. Người tình cảm bốc đồng thì không phân biệt thị phi, không biết tốt xấu, thảy đều thuận theo tình dục. Phật là thuận theo lý trí, lý trí là giác, tình cảm là mê.
“Tín” là nói lời phải giữ lấy lời, giữ chữ tín. Người xưa chúng ta nói tin tưởng bản thân, tin tưởng bản thân vốn dĩ là bậc Thánh nhân, tin tưởng bản tánh của mình vốn thiện, tin tưởng bản thân vốn dĩ là Phật, tin tưởng bản thân chỉ cần nỗ lực, là có thể khôi phục lại bổn vị của chính mình. Học Phật phải tin tưởng bản thân mình vốn dĩ là Phật, Bồ-tát, có thể thành Phật, Bồ-tát, không tin tưởng mình là Phật, Bồ-tát, thì vĩnh viễn sẽ không thể thành Phật, Bồ-tát. Không tin tưởng tâm mình là bổn thiện, thì vĩnh viễn không làm được người thiện. Chúng ta chính là vì từ vô thủy kiếp đến nay không tin tưởng bản thân vốn có tánh giác viên thường, cho nên vẫn luôn chìm trong mê.
“Tín” là đạo đức cơ bản, gọi là tín đức. Đây là đạo lý cơ bản nhất của việc làm người; là làm việc có trách nhiệm, nói được làm được, tuyệt đối không lừa gạt người khác. Khổng Tử nói “người không có chữ tín thì không thể đứng vững”, lão tổ tông đặt chữ tín ở giới hạn thấp nhất của đạo đức, ngũ thường: Nhân nghĩa lễ trí tín, tín là đức hạnh cuối cùng, nếu như không có chữ tín, thì bốn cái phía trước toàn bộ đều là giả.
Tín giống như là tầng lầu thứ nhất, lý trí là tầng thứ hai, lễ là tầng thứ ba, nghĩa là tầng thứ tư, nhân là tầng thứ năm, tầng thứ nhất không có, thì bốn tầng phía trước thảy đều không có, tín là căn cơ của đạo đức, người nếu không giữ chữ tín, thì mọi đạo đức đều bị hủy hoại. Chúng ta từ xưa đến nay đem chữ tín đặt ở điều kiện đầu tiên của việc làm người, người không có chữ tín thì không thể đứng vững trong xã hội. Tín là giới hạn cuối cùng của văn hóa truyền thống, nếu như lòng tin bị đánh mất, thì văn hóa truyền thống Trung Quốc cũng liền tiêu diệt.
Tiên sinh Phương Đông Mỹ từng nói với tôi, người Trung Quốc thời xưa có lòng tin, hiện nay không còn nữa. Bạn đi điều tra thử xem, bạn có thể tin tưởng chính mình không? Bạn có thể tin tưởng cha mẹ không? Bạn có thể tin tưởng thầy giáo không? Bạn có thể tin tưởng gia thân quyến thuộc không? Có thể tin tưởng bạn bè của bạn không? Đáp án đều là phủ định, những chuỗi ngày này sống thế nào đây! Đây thực sự gọi là khủng hoảng lòng tin.
Vì sao xã hội ngày nay lại loạn đến thế? Vì sao tai nạn trên trái đất lại nhiều đến thế? Nhân tố thứ nhất chính là chúng ta đã đánh mất đi lòng tin, tạo thành xã hội động loạn, tai nạn thường xuyên. Làm thế nào để cứu vãn xã hội? Làm thế nào để hóa giải tai nạn trên trái đất? Đó chính là kiến lập lòng tin. Lòng tin kiến lập như thế nào? Đọc sách Thánh hiền. Nhà triết học lịch sử người Anh là Tiến sĩ Toynbee dạy người, “Để giải quyết vấn đề xã hội của thế giới trong thế kỷ hai mươi mốt, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh của Trung Quốc và Phật pháp Đại thừa”. Từ trong học thuyết Khổng Mạnh, Phật pháp Đại thừa mà kiến lập lòng tin.
Nhân nghĩa lễ trí tín, năm loại đạo đức cơ bản, đây là nền tảng làm người, khởi tâm động niệm, nói năng hành động đều không thể làm trái. Trong “Tả Truyện” có câu nói rằng, “con người bỏ đạo thường thì yêu quái nổi lên”, ý muốn nói con người nếu vứt bỏ ngũ thường nhân nghĩa lễ trí tín, thì không còn là người nữa, mà là yêu ma quỷ quái, bởi vì yêu ma quỷ quái không màng đến nhân nghĩa lễ trí tín.
Hiện nay chúng ta nói nhân cách, nhân cách chính là tư cách làm người, chính là năm điều này. Nếu muốn đời sau vẫn được thân người, thì phải cố gắng giữ gìn nhân cách này, trong suốt một đời khởi tâm động niệm, nói năng hành động đều có thể giữ được năm đức này, thì lai sanh mới có thể được thân người. Muốn sanh lên trời, thì năm điều kiện này phải được tăng cường, phải tu Thập thiện nghiệp đạo thì mới có thể sanh lên trời, tư cách của cõi trời cao hơn cõi người. Có thể thấy ngũ thường quá đỗi quan trọng. Từ xưa đến nay trong và ngoài nước vĩnh viễn không thể thay đổi, ai ai cũng cần phải tuân thủ, tuyệt đối không thể đánh mất.
Muốn cứu vãn tai nạn, muốn đoan chánh phong khí xã hội, luân lý đạo đức truyền thống cần phải được đề xướng, năm chữ nhân nghĩa lễ trí tín này là tổng cương lĩnh.
Cung kính trích lục từ bài giảng của Lão pháp sư Tịnh Không
Tứ Duy
Tổng thuật
Trong văn hóa truyền thống, ngũ luân ngũ thường là cội gốc, tứ duy bát đức là từ ngũ luân ngũ thường nảy sanh ra. Ngũ luân là đạo, ngũ thường là đức. Tứ duy là lễ, nghĩa, liêm, sỉ, là các hạng mục của tánh đức, Quản Trọng nói bốn chữ này là “tứ duy của quốc gia” (quốc chi tứ duy), là bốn cây cột trụ của quốc gia. “Tứ duy không giương, nước liền diệt vong”, ngôi nhà không có bốn cây cột trụ chống đỡ thì nhất định sẽ sụp đổ, nếu quốc dân của một quốc gia không biết lễ, không biết nghĩa, không biết liêm, không biết sỉ, thì quốc gia này sẽ rất nguy hiểm, cách sự diệt vong cũng không còn xa nữa.
Thế giới hiện nay là thời loạn thế, tai biến trên trái đất rất nhiều, điều này không ngoài sự cảm ứng của nhân tâm, nếu như chúng ta có thể biết hổ thẹn biết lỗi, đem lễ, nghĩa, liêm, sỉ, hiếu, đễ, trung, tín, nhân ái, hòa bình, những hạng mục đạo đức này thảy đều tìm trở lại, phát phẫn dũng mãnh tinh tấn sửa lỗi, thì xã hội liền có thể an định, tai nạn trên trái đất liền có thể hóa giải, cho nên luân lý đạo đức đối với đại chúng hiện nay quá đỗi quan trọng!
Lễ
Lễ là gì? “Lễ” là tiêu chuẩn ràng buộc hành vi của thân thể. Một cử chỉ một hành động, một lời nói một nụ cười đều phải hợp lễ. Cửa Phật nói “không phạm oai nghi”, oai nghi chính là lễ phép, lễ tiết, đối nhân xử thế đối người tiếp vật có chừng mực chính là hiểu lễ. Khổng Tử nói: “Không biết lễ thì không thể đứng vững.” Ở xã hội quá khứ, nếu như không hiểu lễ thì không có cách nào đứng vững, nước ta từ xưa đến nay được xưng là đất nước của lễ nghĩa, chính là bởi vì ai ai cũng biết lễ giữ lễ.
Chúng ta qua lại với người, bất kể là lần đầu tiên gặp mặt, hoặc là bạn bè cũ, đều phải chuẩn bị một chút quà tặng. Nhất định phải hiểu người qua lại với mình, họ có thân phận, địa vị như thế nào, có mối quan hệ như thế nào với mình, mình nên tặng món quà như thế nào, đều có sự chú trọng. Người hiểu lễ, giữ lễ, trì giới, có ai mà không hoan hỉ? Cho nên phải có trí tuệ để xét soi thời tiết nhân duyên, nên hành lễ tiết như thế nào. Đây đều là những điều chúng ta phải học tập.
Những năm đầu tôi ở Đài Trung theo học với thầy Lý, thỉnh thầy Lý giảng “Lễ Ký” cho chúng tôi. Nhà Nho có “Chu Lễ”, “Nghi Lễ”, “Chu Lễ” là điển chương chế độ của quốc gia, giống như hiến pháp hiện nay, quy chương pháp luật của quốc gia; “Nghi Lễ” là nghi quy trong sinh hoạt, là lễ tiết đối nhân xử thế đối người tiếp vật cần phải tuân thủ. Còn “Lễ Ký” là ghi chép tạp lục, giống như tạp chí thời hiện đại, có rất nhiều bài viết là giải thích cho “Chu Lễ” và “Nghi Lễ”, thuyết minh căn cứ lý luận của những lễ tiết này, vì sao phải chế định, trong sinh hoạt nên học tập như thế nào. Thời xưa gọi đó là tam lễ.
“Lễ Ký” là một bộ điển tịch rất dài, thầy Lý chọn giảng là “Khúc Lễ”, “Khúc Lễ” là giáo dục sinh hoạt. Ngày đầu tiên khai giảng, thầy liền nói: “Lễ của nhà Nho, giới của nhà Phật, hiện nay là không được người ta hoan nghênh nhất.” Thầy nói: “Chúng ta giảng cái này để làm gì? Hy vọng mọi người tương lai qua lại với hết thảy mọi người, đừng để người ta ghét bỏ, thì mục đích môn học này của chúng ta liền đạt được rồi.” Lời này nói rất có đạo lý, một người phải làm được khi tiếp xúc với hết thảy mọi người, người khác không ghét bỏ bạn, hoan hỉ bạn, thì bạn làm người liền thành công rồi.
Nếu như bạn làm người ở khắp mọi nơi đều khiến người khác ghét bỏ, bản thân bạn nhất định phải kiểm điểm, phải phản tỉnh, phải tìm cho ra nhân tố này, tiêu trừ nhân tố này, rồi sau đó liền có thể nhận được sự hoan nghênh của đại chúng, điều này ở nhà Phật gọi là “sám hối”, nhà Nho gọi là “sửa lỗi”, sửa lỗi và sám hối ở Nho, Phật là thủ đoạn tu hành quan trọng để quay về tự tánh.
Thầy Lý có biên soạn cuốn “Thường Lễ Cử Yếu”, đó là mức độ thấp nhất của lễ. Mỗi đồng tu chúng ta đều nên phát một cuốn, hãy học tập. Hiểu lễ, thì ở trong xã hội, bất luận là ở Trung Quốc hay nước ngoài, sẽ không bị người ta ghét bỏ. Chúng ta không có cái ý niệm mong cầu người khác hoan hỉ, tán thán chúng ta, chỉ cầu chung sống với đại chúng, người khác không ghét bỏ ruồng rẫy mình.
Thầy Lý mở đầu chỉ rõ ý nghĩa, tiết học đầu tiên liền nói ra mục đích này. Có lễ thì mới có qua lại, lễ là có chừng mực, nói cách khác, lễ là trật tự, quy củ của xã hội, pháp luật ngày nay cũng bao gồm ở trong đây, phạm vi của nó vô cùng rộng lớn, ai ai cũng có thể giữ quy củ, giữ lễ, tuân thủ pháp luật, thì mọi người liền có thể chung sống hòa thuận. Ví như người với người gặp nhau, gặp nhau có lễ, cái lễ cung kính nhất là ba lần cúi chào.
Chúng ta là người hiện đại, phải học cái lễ của hiện đại. Người học Phật, chúng ta chỉ đối với tượng Phật mới hành lễ quỳ lạy; đối với người, chúng ta không đề xướng hành lễ quỳ lạy, chắp tay ba lần xá chào là cái lễ kính trọng nhất. Phật pháp phải hiện đại hóa, bản thổ hóa, mọi người phải làm thật. Đi theo hướng hiện đại hóa, bản thổ hóa, thì Phật pháp mới dễ dàng mở rộng, mọi người đều tình nguyện bước vào cửa Phật để học Phật pháp. Có rất nhiều người nhìn thấy người học Phật nhìn thấy pháp sư đều phải quỳ lạy, họ liền không học nữa. Bạn xem, đây chính là chúng ta đối với việc nắm bắt lễ không thể vừa đúng lúc vừa vặn, đem vô số người cản ở bên ngoài cửa Phật! Nếu như là chắp tay ba lần xá chào, họ nói “cái này tôi cũng có thể làm được”, vậy là bạn liền đưa được rất nhiều người bước vào cửa Phật rồi.
Cho nên lễ không thể chưa đạt đến, cũng không thể quá đáng, phải vừa vặn nhất. Nếu như vượt quá chừng mực, thì chính là siểm nịnh nịnh bợ, cũng không hợp lễ; nếu như không bằng, thì tỏ ra bản thân ngạo mạn, cho nên nhất định phải phù hợp chừng mực. Chúng ta hiện nay qua lại với hết thảy thiện hữu, chúng ta phải hành lễ gì? Nếu như là đại đức xuất gia, dùng “đảnh lễ song túc” là có thể được. Nhưng lão hòa thượng nhất định sẽ nói với bạn “một lạy”, lão hòa thượng bảo bạn lạy một lạy thì bạn liền lạy một lạy, nếu bạn lạy hai lạy thì tỏ ra nịnh bợ rồi, liền không hợp lễ. Lão hòa thượng không nói “một lạy”, bạn cũng lạy một lạy, đây là hợp lễ, vì sao vậy? Chúng ta chỉ có lạy tượng Phật mới lạy ba lạy, lạy người chỉ lạy một lạy.
Hành lễ tiếp túc cũng phải xem ở nơi chốn nào, ở thời gian nào, nhất định phải quan sát cho rõ ràng. Ví như lão hòa thượng đang ăn cơm, lúc này tuyệt đối không lạy; ngài đang nghỉ ngơi, ngủ nghỉ cũng không lạy; khi ngài đang bận rộn công việc, không lạy. Có thời tiết nhân duyên cả, sai rồi thì đều là thất lễ. Ở những trường hợp khác không phải trong cửa Phật, nhìn thấy lão hòa thượng, chỉ xá chào, không lạy. Tuyệt đối đừng cho rằng đây là không tôn trọng đối với lão hòa thượng, nếu không thì bạn đã sai rồi. Có thể thấy hai chữ “hiểu lễ” này tương đối không dễ dàng!
Xã hội hiện đại, bao gồm bản thân chúng ta, khi qua lại với hết thảy đại chúng, thường thường hay lơ là lễ tiết, nào ngờ lễ tiết là sự lưu lộ tự nhiên của tánh đức. Những năm đầu Dân Quốc, có không ít người viết bài phê bình lễ đối với sự ràng buộc của con người quá nhiều rồi, không sánh bằng sự tự do cởi mở của người phương Tây, đối với văn hóa phương Tây vô cùng ngưỡng mộ, cho rằng lễ giáo là ăn thịt người, cho nên ra sức phế trừ lễ giáo, đánh đổ lễ giáo, vứt bỏ lễ giáo, quả nhiên lễ giáo đã bị đại chúng xã hội vứt bỏ rồi. Kết quả của việc vứt bỏ là thế nào? Tình trạng xã hội hiện nay chúng ta nhìn thấy rồi, thời thế đại loạn, người không có lễ. Chúng ta đọc được những lễ tiết này trên kinh điển, vô cùng cảm khái. Tuy thế gian này không nói đến lễ nữa, thế nhưng chúng ta lấy lễ đối đãi người, người ta đều hoan hỉ. Từ đây có thể biết, thích lễ là thiên tánh, tuyệt đối không phải là một bộ biện pháp do Khổng Tử, Mạnh Tử nghĩ ra, nó là từ trong tự tánh lưu lộ ra, là đức hạnh vốn có của tự tánh.
“Tánh đức” rốt cuộc là ở đâu? Từ trên lễ mà hiển thị ra. Ở nhà Phật, từ trên giới mà hiển thị ra. Lễ và giới đều không phải do các bậc Thánh hiền chế định ra, mà là sự lưu lộ tự nhiên từ tâm hạnh của các bậc cổ Thánh tiên Hiền. Cho nên người minh tâm kiến tánh, đối với người, đối với sự, đối với vật, tự nhiên đầy đủ lễ phép. Nếu như đối với người, đối với sự không có lễ phép, người này là phàm phu, không có kiến tánh, Thánh nhân làm gì có đạo lý vô lễ đối với người! Đây là điều chúng ta phải thấu rõ, phải học tập. Phàm phu chúng ta, niệm niệm hy vọng siêu phàm nhập Thánh, vô lễ chính là đem bổn tánh của chính mình mê mất rồi, cho nên biểu hiện ra bên ngoài liền trái ngược với lễ pháp.
Người với người qua lại với nhau điều thứ nhất là phải hiểu được lễ, người với người mới có thể chung sống hòa thuận, mới có thể hóa giải xung đột, mới có thể đạt đến xã hội an định, thế giới hòa bình. Bạn muốn hỏi bắt đầu làm từ đâu? Bắt đầu làm từ việc biết lễ, giữ lễ, hành lễ. Lễ tiết cơ bản nhất là “Đệ Tử Quy”. “Đệ Tử Quy” là lễ giáo cơ bản nhất, “Cảm Ứng Thiên” là giáo dục nhân quả cơ bản nhất, ở Phật pháp là “Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh”. “Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh” xét về mặt hành trì thì gần giống như “Đệ Tử Quy”, “Cảm Ứng Thiên”. Tinh thần của lễ là cung kính, tâm cung kính bình đẳng đối với người sự vật, dùng tâm cung kính thực tiễn vào trong cuộc sống thường ngày như mặc áo ăn cơm, đối người tiếp vật, đây là học vấn thực sự có ích, là điều mà mỗi người cần phải học tập.
Nghĩa
Nhân nghĩa là cốt lõi của nhà Nho, Khổng Tử đại biểu cho nhân, Mạnh Tử đại biểu cho nghĩa. Nghĩa là gì? Bất luận là vì chính mình, hoặc giả là vì người khác, tư tưởng lời nói hành động hợp tình hợp lý hợp pháp, không trái với đạo lý đây gọi là nghĩa. Nghĩa là thuận theo lý, tuân thủ chánh lý, tuân thủ quy tắc của đại tự nhiên. “Nghĩa” là nghĩa vụ, là phải làm hết nghĩa vụ, tuyệt đối không nói đến thù lao, cũng không tiếp nhận quyền lực. Giúp đỡ người khác, phục vụ cho đại chúng xã hội, không cầu báo đáp, đây gọi là nghĩa vụ. Nếu như làm bao nhiêu việc, đòi hỏi bấy nhiêu thù lao, đây liền không phải là nghĩa mà là lễ, có qua có lại, tặng quà là phải báo đáp, đáp lễ, nghĩa vụ là không cần người ta báo đáp.
Hiện nay nói làm nghĩa công, nghĩa công chính là không cần thù lao, tình nguyện phục vụ cho xã hội, cho quốc gia, cho hết thảy chúng sanh, đây chính là đạo nghĩa mà chúng ta nói. Ở trong xã hội lấy thân phận gì, địa vị gì qua lại với hết thảy mọi người, chúng ta liền có nghĩa vụ như thế đó. Những việc nào là nên làm? Việc giúp đỡ chúng sanh là việc nên làm. Hiện nay việc giúp đỡ chúng sanh rất nhiều, trong đông đảo các hạng mục, phải xem chúng ta đang ở địa vị như thế nào, thân phận như thế nào. Hoặc là dùng tài lực, hoặc là dùng sức lao động, hoặc là dùng trí tuệ, hoặc dùng cả ba, tận tâm tận lực, toàn tâm toàn ý làm việc vì hết thảy chúng sanh khổ nạn, giúp họ giải trừ khổ nạn, giúp họ lìa khổ được vui. Đừng đi so đo thù lao, cũng đừng đi tính toán môi trường làm việc, đây chính là nghĩa. Tình lý pháp mọi mặt đều chiếu cố đến, như vậy mới viên mãn.
Các công ty cửa hiệu hiện nay, trên có ông chủ, dưới có nhân viên. Ông chủ là người lãnh đạo, nhân viên là người bị lãnh đạo, công ty không phải là tổ chức đoàn thể theo tình thân, do đó cần phải dựa vào đạo nghĩa để tập hợp lại mới được. Đem cái tình yêu thương cha con có tình thân này biểu hiện vào trong mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, đây là nghĩa. Đôi bên tương thân tương ái, lẫn nhau bao dung, lẫn nhau quan tâm, lẫn nhau chăm sóc, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, cùng tồn tại cùng phồn vinh.
Người trong đoàn thể nhất định phải tôn trọng đoàn thể, yêu đoàn thể, tuyệt đối không thể hủy báng đoàn thể, tổn hại đoàn thể, đây chính là có đạo nghĩa. Hiện nay có một số công ty không hiểu được đạo lý này, sự tập hợp của công ty dựa vào lợi hại. Sự tập hợp vì lợi hại thì không dễ duy trì, một khi lợi hại xảy ra vấn đề, công ty lập tức liền phá sản. Nhân viên hiện nay, nếu như gặp lúc ông chủ có khó khăn về kinh tế, xoay vòng vốn không kịp, một tháng, hai tháng không phát tiền lương, nhân viên lập tức liền bao vây nhà máy, bao vây ông chủ, công ty lập tức liền sụp đổ.
Công thương nghiệp của người Nhật Bản nhận được sự tôn trọng của người phương Tây, công ty của họ trên dưới đoàn kết, họ có kháng nghị nhưng không bãi công. Nếu như nhân viên không mãn nguyện với ông chủ, liền buộc một dải băng trắng trên đầu, làm việc như bình thường, ông chủ vừa nhìn thấy có rất nhiều nhân viên buộc dải vải trên đầu, lập tức họp bàn giải quyết, đôi bên vô cùng tôn trọng nhau, đây chính là có nghĩa. Bãi công, thì đạo nghĩa liền không còn nữa, không có sự thương xót nhau, thảy đều là đối lập lẫn nhau, xung đột lợi hại. Chúng ta phải hiểu rõ đạo lý này, chúng ta khởi tâm động niệm, nói năng hành động, đều có thể giữ được nguyên tắc trọng nghĩa khinh lợi, chính là bậc Thánh hiền quân tử hiện đại có thể làm hết nghĩa vụ, như vậy liền có thể có nghĩa lại có lợi, nếu không thì có lợi chưa chắc đã có nghĩa.
Trong kinh điển gọi chư Phật Bồ-tát là bậc đại đức, các ngài biết làm hết nghĩa vụ, làm ra tấm gương tốt nhất cho chúng ta xem. Nhu cầu sinh hoạt của bản thân vô cùng đơn giản, ba y một bát, trải qua cuộc sống đơn giản nhất, nhưng đối với xã hội lại có sự cống hiến viên mãn nhất, các ngài là những người làm công tác giáo dục nghĩa vụ. Không cầu thù lao, không cầu quả báo, như vậy mới đáng để đại chúng xã hội tôn kính, mới trở thành tấm gương tốt cho đại chúng xã hội. Bất luận là Thích-ca Mâu-ni Phật, hay là Khổng Tử, các ngài đối với xã hội, đối với chúng sanh, đối với hiện tại, đối với hậu thế đều đã làm hết nghĩa vụ.
Thích-ca Mâu-ni Phật là người làm công tác nghĩa vụ giáo dục xã hội văn hóa đa nguyên. Khổng Tử cũng là sự thị hiện như vậy. Ngày nay chúng ta phát nguyện học Thích-ca Mâu-ni Phật, học Khổng Tử, thì phải giống như Phật, giống như Khổng Tử vậy, trong một đời này, trên vũ đài lớn của xã hội, biểu diễn cho thật tốt, đem tam phước lục hòa, tứ nhiếp lục độ, thập đại nguyện vương của Phật pháp biểu diễn ra, đem luân lý đạo đức của nhà Nho biểu diễn ra. Có thể diễn tốt màn kịch này, chúng ta chính là đệ tử Nho, Phật chân chính, là truyền nhân Nho, Phật chân chính.
Kinh không phải dùng để tụng, không phải dùng để giảng, mà là phải đi làm. Lúc làm mà không nghiêm túc nỗ lực, thì đương nhiên liền nảy sanh xung đột với tập khí phiền não của chính mình. Cho nên, hóa giải xung đột, bắt đầu làm từ đâu? Bắt đầu làm từ việc hóa giải xung đột nội tâm của chúng ta. Tập khí phiền não của chúng ta khẳng định nảy sanh xung đột với lời giáo huấn của Nho Phật, làm thế nào để hóa giải sự xung đột của chính mình, đây liền gọi là công phu.
Công phu tu hành, nhất định phải làm cho triệt để, chân chính xả bỏ tập khí phiền não của chính mình, hoàn toàn tùy thuận theo lời giáo huấn của Khổng Mạnh. Sách giáo huấn của Khổng Mạnh chính là kịch bản, chúng ta lên đài biểu diễn, phải dựa vào kịch bản, không thể thích biểu diễn thế nào liền biểu diễn thế đó, như vậy thì chẳng ra thể thống gì nữa. Dựa theo kinh Phật để biểu diễn, vậy bạn chính là Phật, Bồ-tát; dựa theo sách Nho để biểu diễn, vậy bạn chính là Khổng Mạnh; đây chính là đạo nghĩa chân chính!
Liêm
Liêm là gì? Liêm là liêm khiết. Không lấy tài vật ngoài phận, không chiếm một chút tiện nghi của người khác, liêm khiết chính là không tham ô. Trung Quốc từ thời nhà Hán đến nay, hơn hai ngàn năm nay đế vương Trung Quốc tuyển bạt quan chức chính là dùng hai điều kiện này: hiếu, liêm, gọi là “đề cử hiếu liêm”. Nếu như đảng phái chính trị kết nạp đảng viên dùng hai điều kiện này làm tiêu chuẩn hàng đầu, người không hiếu thuận cha mẹ, không liêm khiết thì không cho họ gia nhập đảng, đảng phái chính trị này chính là ưu tú nhất.
Liêm khiết biểu hiện từ đâu? Biết tiết kiệm chính là sự thực tiễn của mỹ đức liêm khiết trong sinh hoạt. Trong sinh hoạt thường ngày, chúng ta phải giữ đúng bổn phận, một miếng ăn một ngụm nước, tuyệt đối không lãng phí. Chúng ta sống với mức sống thấp nhất của xã hội thông thường, rời xa sự xa hoa; phải thường thường nghĩ đến trên thế giới, vẫn còn có vô số người đang ở bên bờ vực đói khát, họ không có thức ăn để ăn, không có quần áo để mặc, không có nhà để ở. Chúng ta uống một ly nước, ăn một bát cơm, có nghĩ đến họ hay không? Trên thế giới mỗi năm vẫn còn có rất nhiều người chết đói, cho nên phải trân quý cái duyên phận này, mở rộng tâm lượng, thường thường nghĩ đến những chúng sanh khổ nạn này, phải tận tâm tận lực đi giúp đỡ họ. Người xuất gia có sự cúng dường dư dả, đáng lẽ phải dùng để chăm sóc chúng sanh khổ nạn trong xã hội, không thể chỉ lo cho bản thân hưởng thụ! Trà thô cơm nhạt đủ để duy trì thân thể này, chỉ cần chúng ta thân tâm thanh tịnh, thể lực tự nhiên dồi dào.
Nếu như tu đức của chúng ta không thể ngày ngày tăng trưởng, e rằng sự hưởng thụ vật chất cúng dường tiêu hóa không nổi, tiêu hóa không nổi thì sẽ mắc bệnh. Bạn ăn đồ ăn không tiêu hóa, làm sao có thể không mắc bệnh? Đằng sau của bệnh chính là tử vong, đằng sau tử vong là tam đồ lục đạo, vô cùng đáng sợ! Huống hồ người xuất gia, “một hạt gạo thí chủ, nặng như núi Tu Di, đời này không liễu đạo, mang lông đội sừng trả”, vãng sanh Thế giới Tây phương Cực Lạc, mới gọi là liễu đạo, nếu như trong một đời này không thể vãng sanh, món nợ chúng ta nợ thí chủ, đến đời nào kiếp nào mới có thể trả cho sạch?
Cho nên, đồ vật của Thường trụ phải biết tiết kiệm. Một tờ giấy lau cũng không thể tùy ý vứt bỏ, dùng rồi vẫn có thể dùng lại, dùng đến lúc không thể dùng được nữa, mới vứt đi. Vật lực gian nan, có được chẳng dễ. Tôi dùng một tờ giấy vệ sinh, tuyệt đối không phải là dùng một lần liền vứt đi, một lần dùng một nửa, đem nó gấp lại để vào trong túi, một nửa kia vẫn có thể dùng, tôi dùng đến lúc không thể dùng được nữa mới vứt đi. Tuyệt đối không phải nói, tờ giấy vệ sinh này lấy lau mặt một cái liền vứt đi, lãng phí! Quá đáng! Đây là đưa ra một ví dụ nhỏ nhoi, chúng ta tuyệt đối không thể tham đồ hưởng thụ.
Thích-ca Mâu-ni Phật cả đời chưa từng hóa duyên, chưa từng quyên góp. Tiền xây dựng đạo tràng từ đâu mà có? Tự nhiên mà có. Nếu hóa duyên quyên góp, là sai rồi. Có một số hộ pháp đàn việt chủ động yêu cầu: “Thưa pháp sư, chúng con xây dựng cho ngài một tiểu đạo tràng.” Vậy chúng ta cũng là lượng sức mà làm, nhìn thấy họ có cái năng lực này, không gia tăng gánh nặng cho họ, chúng ta có thể gật đầu. Nếu như năng lực của họ không đủ, bố thí cúng dường làm tăng thêm khó khăn cho họ, thì không thể tiếp nhận!
Tôi ở Đài Trung cầu học mười năm, không để cho người Đài Trung đối với tôi có một đồng cúng dường, điều tôi phụng hành là “không tranh với người, không cầu với đời”. Nguồn sinh hoạt của tôi từ đâu mà có? Mười lăm người bạn đồng tham đạo hữu của lão phu nhân họ Cam ở Đài Bắc, mỗi một người một tháng cúng dường mười đồng, mỗi tháng bà ấy gửi cho tôi một trăm năm mươi đồng, cuộc sống của tôi đủ dùng rồi. Tôi ở chỗ này không cần mọi người cúng dường, mọi người đối với tôi có lòng tin. Những nguyên tắc làm người làm việc, hoằng pháp lợi sanh này, nhất định phải hiểu. Sự cúng dường của người địa phương, nhất định phải trả lại cho địa phương.
Tôi ở Đài Trung, cũng có đồng tu cúng dường, tôi đều cúng dường thư viện Từ Quang, cúng dường Liên Xã Đài Trung, tôi một đồng cũng không lấy. Chỉ có quần áo mua cho tôi, thì cái này có thể tiếp nhận. Đến một nơi, nếu như lôi kéo tín đồ, tiếp nhận quy y, nhận bao lì xì, đây là để lại cho người ta ấn tượng rất không tốt, bản thân chúng ta cảm thấy ngượng ngùng, làm sao có thể làm loại chuyện này?
Cuộc sống thanh khổ một chút thì tốt, trong tâm không có tham sân si mạn, trong tâm không có virus, thì đối với sự lây nhiễm bên ngoài chúng ta có sức đề kháng. Hiện nay bác sĩ nói khả năng miễn dịch, khả năng miễn dịch là gì? Không có tham sân si mạn, không có tự tư tự lợi, thân tâm khỏe mạnh! Tuổi tác tuy lớn rồi, nhưng vẫn giống vậy có thể lực, có tinh thần để làm việc.
Phật pháp ở hành không ở nói, thực sự làm được rồi, đó mới là chân chính đang giáo hóa chúng sanh, chân chính đang hoằng dương Phật pháp. Hết thảy đều phải làm ra, phải biểu diễn cho mọi người xem, liêm khiết! Đối với danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần không nhiễm trước, âm thầm mà làm, cổ nhân nói “chỉ màng cày cấy, chẳng màng thu hoạch“, tự tự nhiên nhiên sẽ có thu hoạch. Người ta nhìn thấy bạn liêm khiết, họ cảm động sâu sắc, quay đầu học tập theo bạn, thì hiệu quả này liền hiện tiền. Đương nhiên, sự ảnh hưởng này không phải ai ai cũng có thể tiếp nhận, Phật độ người có duyên. Chỉ cần bản thân âm thầm đi làm, tự tự nhiên nhiên liền sẽ nảy sanh hiệu ứng này.
Sỉ
“Sỉ”, chính là biết sỉ, có tâm xấu hổ, tâm tàm quý. Chính là khởi tâm động niệm, nói năng hành động không thẹn với lòng. Tàm chính là lương tâm, là đối với chính mình; khởi tâm động niệm, nói năng hành động hãy tự hỏi bản thân, liệu có xứng đáng với lương tâm của chính mình hay không? Quý là sự phê bình của dư luận bên ngoài. Bên trong không trái với lương tâm, bên ngoài tự nhiên sẽ không có sự phê bình chỉ trích của dư luận, đây chính là biết sỉ. Từ đây có thể biết, biết sỉ là quy phạm hành vi của chính mình. Cho nên bản thân khởi tâm động niệm, nói năng hành động nhất định phải nghĩ xem có như pháp hay không như pháp, phản tỉnh làm như vậy có xứng đáng với cha mẹ, xứng đáng với tổ tông, xứng đáng với thiên lương của chính mình hay không? Liệu có thể không để người khác phê bình mình, chỉ trích mình hay không? Dùng sức mạnh bên trong và bên ngoài để tự ràng buộc chính mình.
Khổng Tử làm sách “Xuân Thu”, “Xuân Thu” có tán thán, có phê bình. Điều thiện thì viết ra để tán thán, điều ác cũng viết ra để phê bình. Để cho người hiện tại và hậu thế nhìn thấy, người có đầy đủ sự hổ thẹn thì sẽ không dám làm xằng làm bậy, đây là tác dụng mà “Xuân Thu” phát huy. “Xuân Thu” là sự khởi đầu của lịch sử Trung Quốc, ý nghĩa lập ra là ở chỗ này. Nếu như là người vô tàm vô quý, thì sách “Xuân Thu” của Khổng Tử đối với họ cũng chẳng có tác dụng gì, họ làm việc ác chẳng bận tâm người khác phê bình, chỉ cố đoạt dục vọng tham lam của chính mình, họ căn bản chẳng màng đến luân lý, đạo đức gì cả, đó chính là vô tàm vô quý. Cho nên chúng ta nếu muốn khéo giữ gìn các căn, phải dựa vào sự tàm quý, phải dựa vào tâm biết sỉ.
Nói trong Phật pháp, bổn tánh vốn đầy đủ vô lượng trí tuệ, vô lượng đức năng, thuần tịnh thuần thiện, tất cả mọi điều bất thiện, bổn tánh đều không có. Bất thiện từ đâu mà có? Bất thiện là từ mê thất bổn tánh mà ra. Mê thất bổn tánh, có phải là không biết sỉ hay không? Đúng vậy. Người nào là biết sỉ, người nào có đầy đủ tàm quý? Chúng ta đọa lạc trong lục đạo, làm sao xứng đáng với lương tâm của chính mình? Làm sao xứng đáng với cái bổn thiện của chính mình? Bổn tánh là bổn thiện, làm sao lại chạy vào trong lục đạo để lăn lộn luân hồi? Làm sao lại biến thành bộ dạng như thế này? Cho nên nghiêm khắc mà nói, A-la-hán trở lên mới được xem là đầy đủ tàm quý, chân chính biết sỉ. Người đọa lạc trong lục đạo chính là sỉ nhục, vì sao vậy? Bởi vì bổn tánh vốn đầy đủ tàm quý, tàm quý là tánh đức, biết sỉ là tánh đức.
Cổ nhân Trung Quốc nói rất hay: “Biết sỉ là gần với dũng”. Con người, vì sao có thể dũng mãnh tinh tấn, phát phẫn vươn lên? Sức mạnh này không ngoài sự biết sỉ, đây là động lực của sự tinh tấn. Thiện căn của Bồ-tát chỉ có “tinh tấn”. Thiện căn thế gian có ba cái, “vô tham, vô sân, vô si” gọi là ba thiện căn, cội gốc của hết thảy thiện pháp thế gian chính là “không tham, không sân, không si”. Phật pháp tu hành đương nhiên phải đầy đủ ba thiện căn thế gian, không có ba thiện căn thế gian thì không thể tu hành.
Trong ba thiện căn vẫn phải có một thiện căn đặc thù: “tinh tấn không lười mỏi”. Tinh tấn khiến cho một người từ lúc sơ phát tâm đến địa vị Như Lai, sau khi thành Phật không nghỉ ngơi, vẫn dũng mãnh tinh tấn ứng hóa trong mười pháp giới phổ độ chúng sanh. Đến lúc đó nhìn thấy vẫn còn một chúng sanh chưa giác ngộ, chưa thành Phật, cảm thấy đó là nỗi sỉ nhục của mình. Đây chính là chỗ không giống nhau giữa người kiến tánh và người không kiến tánh. Người không kiến tánh thì ở trong mê, không biết chân tướng của vạn sự vạn vật trong vũ trụ, cho nên tư duy của họ là hạn hẹp, không phải viên mãn; sau khi kiến tánh, mới biết chân tướng của vạn sự vạn vật trong vũ trụ. Chân tướng là gì? Là một thể.
“Kinh Hoa Nghiêm” nói “tình và vô tình, đồng viên chủng trí”, “mười phương ba đời Phật, chung cùng một pháp thân”. Tôi thường đưa ra ví dụ, đem tổng thể vũ trụ ví như thân thể của một con người, mười pháp giới cũng giống như các khí quan khác nhau của cơ thể, hết thảy chúng sanh giống như các tế bào cấu thành nên khí quan trên cơ thể. Bất kỳ một tế bào nào trên cơ thể xảy ra vấn đề, chúng ta đều hy vọng chữa cho nó khỏi bệnh, nếu chữa không khỏi, làm sao xứng đáng với nó? Từ ví dụ này tinh tế thể hội, liền biết được sự quan sát của Phật Bồ-tát không giống với chúng ta.
Một chúng sanh chưa thành Phật, thì tánh đức liền không viên mãn, tánh đức không viên mãn đây chính là sỉ, sau đó bạn mới biết những chư Phật và Pháp thân Bồ-tát này vì sao lại cảm ứng đạo giao với chúng sanh trong mười pháp giới. Chúng sanh có cảm, các ngài liền có ứng, không ngại gian lao, không sợ vất vả, nơi nào có cầu, nơi đó liền có ứng. Không chỉ là trái đất này của chúng ta, mà vô lượng vô biên thế giới trong không gian vũ trụ, vô lượng vô biên chúng sanh, chỉ cần chúng sanh có cảm, Phật Bồ-tát liền có ứng.
Sự việc cảm ứng không khó thể hội, ở trong kinh giáo Đại thừa có thể khế nhập được đôi chút, liền có thể nhìn ra chư Phật Bồ-tát ứng hóa ở thế gian, chính là tại lúc này ở chỗ này, thật sự là không lúc nào không nơi nào chẳng hiện hữu. Như vậy mới thực sự hiểu được chúng ta nên như giáo tu hành, cảm kích ân đức của Phật Bồ-tát, cảm kích ân đức của thầy giáo, cảm kích ân đức của hết thảy thiện hữu, cái gọi là “trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ ba đường”. Ai bảo bạn làm? Không cần người ta bảo; ai đốc thúc bạn? Không cần người đốc thúc, tự động tự phát, ở trong đây đạt được pháp hỷ sung mãn. Hiện nay có người nói, ở chỗ này nhận được thông điệp của không gian duy thứ khác nhau, nhận được vô số năng lượng; nói trong Phật pháp, là nhận được sự gia trì của chư Phật Bồ-tát.
Bổn tánh của chính chúng ta vốn thiện, nay lại chịu sự ô nhiễm nghiêm trọng, người khác đều thành Phật cả rồi, mình vẫn đang làm phàm phu, nỗi sỉ nhục lớn lao! Cho nên chúng ta nên biết sỉ, thật tốt mà sám hối sửa lỗi, nếu không làm sao có thể xứng đáng với cái bổn thiện của chính mình? Làm sao có thể xứng đáng với việc bản thân vốn dĩ là Phật? Làm sao có thể xứng đáng với cha mẹ thầy giáo, làm sao có thể xứng đáng với Phật Bồ-tát, làm sao có thể xứng đáng với hết thảy chúng sanh khổ nạn? Tôi tu thành rồi mới có thể giúp đỡ họ, tôi tu không tốt, tu không thành, họ ngày ngày đang trông ngóng tôi, làm sao tôi có thể an tâm? Cho nên con người phải biết được sự sỉ nhục, thì liền có thể cứu vãn. Nhà Phật nói “dũng mãnh tinh tấn”, nhà Nho nói “ngày càng đổi mới”, ai có thể làm được? Người biết sỉ có thể làm được. Có thể biết sỉ, đương nhiên liền có thể phát phẫn, dũng mãnh tinh tấn. Cho nên biết sỉ là một điều vô cùng quan trọng trong các hạng mục đạo đức tu hành, có thể thành tựu đạo đức nhân nghĩa của chính mình.
Đối với người không biết sỉ, không như pháp, không có tâm tàm quý, làm sao giúp họ sửa lại tập khí phiền não? Làm thế nào để giúp họ khôi phục tánh đức? Điều này phải có lòng tin, vì sao vậy? Tàm quý biết sỉ là tánh đức, là tự tánh vốn dĩ ai ai cũng có, Bồ-tát Mã Minh nói: “Bổn giác vốn có, bất giác vốn không.” Cũng chính là sự vô tàm vô quý không biết sỉ là vốn dĩ không có, tự tư tự lợi là vốn dĩ không có, tham sân si mạn là vốn dĩ không có, cái vốn dĩ không có thì có thể đoạn, cái vốn dĩ có thì có thể khôi phục. Người hộ pháp, người tu hành, đối với điểm này phải có sự nhận thức kiên định, giúp đỡ chính mình, giúp đỡ người khác khôi phục tánh đức.
Xã hội hiện nay, chữ “sỉ” không còn nữa, làm càn làm bậy. Muốn cứu vãn xã hội hiện nay, quan trọng nhất là phải đề xướng sự biết sỉ. Người chỉ cần có tâm tàm quý xấu hổ, tự nhiên sẽ giữ lễ, tự nhiên có thể làm hết nghĩa vụ, tự nhiên có thể liêm khiết, tự nhiên sẽ từ chỗ mê quay đầu quy y chỗ giác. “Sỉ” đích thực là một vấn đề trung tâm, nếu như hy vọng xã hội hòa bình, hóa giải tai nạn, thì tìm lại được tâm biết sỉ mới là có hiệu quả thực sự.
Giáo Dục Tôn Giáo, Cứu Vãn Trái Đất
Diễn đàn Hòa bình Thế giới lần thứ ba
Ngày 30 tháng 6 năm 2010 tại Yogyakarta, Indonesia
Kính thưa các vị nhân giả của Đơn vị tổ chức, kính thưa quý vị khách quý:
Tịnh Không rất vinh hạnh, được Đơn vị tổ chức mời đến tham dự “Diễn đàn Hòa bình Thế giới lần thứ ba” tổ chức tại Indonesia lần này. Chủ đề của diễn đàn này là “Đề xướng giáo dục hòa bình”, vô cùng có ý nghĩa, bởi vì toàn nhân loại đều hy vọng hóa giải tai nạn, thực hiện an định hòa bình, mà hòa bình lâu dài chỉ có thể dựa vào giáo dục mới có thể thực hiện được.
Tịnh Không tài hèn đức mọn, ngưỡng mộ văn hóa truyền thống Nho Thích Đạo của phương Đông và nền giáo dục thần thánh của các tôn giáo lớn trên thế giới, học tập 59 năm mà thường cảm thấy không đủ, cho nên cả đời học không mệt mỏi, chia sẻ với mọi người cũng không mệt mỏi, nay đã ở tuổi 84 mà vẫn vui vẻ quên đi âu lo, không biết tuổi già đã đến. Nguyện mượn thắng duyên của diễn đàn này, đem những gì bình sanh đã học đã ngộ báo cáo với các bậc đại đức tham gia hội nghị: Cội nguồn của sự hài hòa an lạc trong xã hội từ xưa đến nay trong và ngoài nước, chính là “việc dạy học thần thánh của tôn giáo”.
- Khủng hoảng trái đất, cội nguồn ở tâm
Từ khi nhân loại bước vào thế kỷ 21 đến nay, thiên tai nhân họa trên trái đất chưa từng gián đoạn: Khí hậu dị thường, toàn cầu nóng lên, núi băng ở Nam Bắc cực tan chảy, mực nước biển dâng cao, hoạt động khủng bố tràn lan, chiến tranh Mỹ-Iraq, sóng thần Indonesia, động đất ở Vấn Xuyên Trung Quốc, khủng hoảng tài chính toàn cầu, khủng hoảng lương thực… đặc biệt là từ đầu năm đến nay, đại địa chấn ở Haiti, núi lửa ở Iceland phun trào dữ dội, động đất ở Ngọc Thụ Thanh Hải, bệnh dịch cúm A, tràn dầu ở vịnh Mexico vân vân, những tai biến ngày càng thường xuyên này chính là điều mà cổ nhân gọi là “ông trời rủ tướng”, dường như đang gióng lên hồi chuông cảnh báo về đại tai nạn đối với nhân loại.
Tai nạn trên trái đất có thể cứu vãn được hay không? Nhất định có thể! Trước tiên, chúng ta cần phải hiểu rõ: Cội nguồn của tai nạn ở đâu? Trong kinh điển Đại thừa của nhà Phật nói: “Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh”, “tướng do tâm sanh”, “cảnh tùy tâm chuyển”, cảnh là hoàn cảnh sinh sống của chúng ta, nhân sự cùng với núi sông đại địa, cây cối hoa cỏ, không gì không chuyển biến theo tâm. Tâm của ai? Tâm của ta! Phật giảng trong kinh Lăng Nghiêm rất rõ ràng, tâm tham hừng hực, cảm ứng thủy tai. Sân khuể cảm ứng hỏa tai, như núi lửa phun trào, toàn cầu nóng lên. Ngu si cảm lấy là phong tai. Ngạo mạn bất bình cảm lấy là động đất. Tham sân si mạn là cội nguồn của bốn loại “thiên tai”. Vậy thì, “nhân họa” như chiến tranh xung đột từ đâu mà ra? Vẫn là do trong ý niệm của tôi có đối lập xung đột mâu thuẫn mà cảm triệu đến. Ví như khi lợi ích hiện tiền, tôi nghĩ tự lợi trước hay là nghĩ lợi người trước? Nếu như nghĩ tự lợi trước, thì sẽ nảy sanh xung đột lợi ích với người. Nếu như ai ai cũng tự lợi, thiên hạ làm sao có thể không loạn? Nếu như ai ai cũng nghĩ đến lợi tha, thiên hạ làm sao có thể không thái bình? Các nền văn hóa thời cổ đại đều tin rằng, sự vận hành của thế giới mỗi ngày, có mối quan hệ thực sự rất sâu sắc với vũ trụ bên trong của ý thức chúng ta, xuất hiện các hình thái khí hậu mang tính tàn phá và mưa bão, thực chất là có liên quan đến ý thức hỗn loạn bất an của nhân dân khu vực đó. Thông qua sự chuyển biến niềm tin của nhân loại, có thể làm dịu đi hoặc cho đến dẹp yên những trận đại địa chấn dữ dội, những cơn mưa bão và bệnh tật đe dọa sinh mạng.
Sinh mạng của chính mình vốn dĩ là cùng tồn tại một thể với trái đất, chứ không phải tách biệt. Các loại hiện tượng mất cân bằng mà trái đất phơi bày, là bức tranh miêu tả chân thực trạng thái mất cân bằng bên trong cơ thể nhân loại. Ý thức của nhân loại nảy sanh sự chuyển biến đi ngược lại tự nhiên, hậu quả do quan niệm giá trị niềm tin này hình thành nên, chính là những tai nạn như núi lửa phun trào, động đất và khí hậu dị thường. Nhân loại nếu có thể mãi ôm ấp sự khoan dung từ bi hòa bình, thì hoàn cảnh bên ngoài sẽ biến thành thế giới tươi đẹp với thời tiết ôn hòa, mưa thuận gió hòa, tai tiêu phước đến, các nước hòa bình, nhân dân hạnh phúc.
Cho nên, cội nguồn khủng hoảng trái đất nằm ở ý niệm. Nếu tâm tôi thanh tịnh, thiện lương, chân thành, từ bi, thì thế giới an hòa, núi sông đại địa, cây cối hoa cỏ đều biến thành kiên cố và tốt đẹp. Nếu ý niệm của tôi không thanh tịnh, khởi tâm động niệm tổn người lợi mình, ác niệm tham sân si mạn quá nhiều, thì ắt cảm triệu nhiều tai nạn trên trái đất đến như vậy. Đây thảy đều là tự làm tự chịu, mảy may chẳng sai. Trong sách “Thượng Thư. Y Huấn” của nhà Nho nói: “Làm thiện, giáng cho trăm điều lành; làm bất thiện, giáng cho trăm tai ương”. “Kinh Koran” cũng có đề cập đến: “Phàm những tai nạn mà các người gặp phải, đều là do tội ác các người gây ra” (Chương 42 đoạn 30). Trong “Kinh Thánh” của Cơ Đốc giáo cũng nói: “Há chẳng phải họa hoạn giáng xuống kẻ bất nghĩa, tai hại giáng xuống kẻ làm ác hay sao?” (Sách Gióp chương 31, tiết 3).
II, Tâm vật nhất nguyên, vạn pháp duy thức
Ngày nay có rất nhiều nhà khoa học đã tin rằng, tất cả những gì chúng ta biết có liên quan đến thế giới này, cuối cùng đều do những hạt cơ bản như quark, electron tổ hợp mà thành, mà những hạt cơ bản này thực chất đều do cùng một thứ – nhóm lượng tử nhỏ bé (photon nhỏ), dao động với tốc độ khác nhau hình thành nên. Có một số lượng tử có tần số dao động rất chậm, thì hình thành nên nham thạch và khoáng chất; lượng tử có tần số dao động tương đối nhanh, thì trở thành các sinh vật thể như động thực vật và con người; tần số dao động nhanh hơn nữa liền trở thành tín hiệu của tivi hoặc radio. Bất kỳ sự vật nào trong vũ trụ, đều được hình thành bởi những lượng tử sinh ra dày đặc và liên tục, mà tốc độ sanh diệt của những lượng tử này cực kỳ nhanh, vượt quá sự tưởng tượng của chúng ta.
Nhà vật lý lượng tử nổi tiếng người Đức là Planck nói: “Kết luận cuối cùng của tôi đối với việc nghiên cứu nguyên tử là: trên đời không có cái thứ gọi là vật chất! Tâm trí là nền tảng của mọi vật chất.” Do đó, vật chất là do “đơn vị ý thức” (“tâm trí” hoặc ý niệm sanh diệt nhanh chóng) tích lũy mà cấu thành. Không có bất kỳ vật chất nào là không có ý thức, cũng chính là “tâm vật nhất nguyên”, “vạn pháp duy thức”. Đích thực giống như trong kinh Bồ-tát Xứ Thai của nhà Phật, Bồ-tát Di Lặc nói: “Trong khoảng giơ tay gảy móng, ba trăm hai mươi ngàn tỷ ý niệm, niệm niệm thành hình, hình hình đều có thức”. Hình là hiện tượng vật chất, thức là hiện tượng tinh thần. Hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần đều do ý niệm biến hiện ra. Ý niệm vừa sanh, vạn tượng trong vũ trụ liền xuất hiện; ý niệm diệt rồi, vạn tượng trong vũ trụ liền bỗng nhiên biến mất. Mà đồng thời cái thể của chân tâm tự tánh liền lập tức hiện tiền. Chân tâm không phải vật chất không phải tinh thần. Chân tâm tự tánh thuần tịnh thuần thiện, thanh tịnh từ bi, tình thương lớn bình đẳng, không có sanh diệt mà giác tri trọn khắp, không có đối lập mà có thể sanh vạn pháp, cho nên vạn pháp trong vũ trụ và ta là một thể (một khối sinh mệnh cùng tồn tại). Đây chính là đấng Tạo hóa chân chính (chân thần) của vũ trụ mà trong tôn giáo nói đến.
Trong cuốn sách bán chạy nổi tiếng “Giải mã lời tiên tri mạt thế” có đề cập đến một án lệ chân thực: Ba vị bác sĩ tạo ý niệm “khối u biến mất” đối với một người phụ nữ mắc bệnh khối u, điều nằm ngoài dự liệu là, khối u có đường kính ba inch trong cơ thể người bệnh, vậy mà trong khoảng thời gian hai phút bốn mươi giây, đã hoàn toàn biến mất không thấy tăm hơi, không lưu lại bất kỳ vết sẹo nào. Chứng minh năng lượng của ý niệm là không thể nghĩ bàn.
Nhà khoa học Nhật Bản là Tiến sĩ Masaru Emoto từng tổ chức hơn một trăm người, ở bên bờ hồ Biwa hướng về một vịnh nước đọng bị ô nhiễm cầu nguyện một tiếng đồng hồ, mọi người buông xuống tạp niệm, cùng nhau chân thành nghĩ một ý niệm: “Nước hồ, sạch rồi, tôi yêu bạn”. Kết quả, vịnh nước hồ vốn dĩ bị ô nhiễm trong thời gian dài vậy mà đã sạch sẽ suốt nửa năm. Ông lấy nước ở đây để làm thí nghiệm, tinh thể nước trước khi cầu nguyện trông rất khó coi, nhưng tinh thể nước sau khi cầu nguyện lại vô cùng đẹp. Sự thực này đã được phương tiện truyền thông tin tức của Nhật Bản đưa tin, công chúng cảm thấy vô cùng kinh ngạc, chứng tỏ sức mạnh của việc cầu nguyện quả thực có thể thay đổi môi trường.
Cho nên, chúng tôi kêu gọi lãnh tụ của mỗi tôn giáo đều có thể ngày ngày lãnh đạo tín đồ của mình thật tâm cầu nguyện thế giới an hòa, mưa thuận gió hòa, tai ương không dấy lên, ắt có thể có được thần công hóa giải tai nạn.
III, Tôn giáo một nhà, tạp hoa trang nghiêm
Năm 2005, Tịnh Không ở Malaysia có duyên quen biết Trưởng lão cựu Thủ tướng Mahathir. Ngài hỏi tôi: “Thế giới này liệu sẽ còn có hòa bình hay không?”. Tôi đáp rằng: “Nếu có thể xử lý tốt bốn loại quan hệ, thứ nhất, giữa các quốc gia (nước lớn và nước nhỏ, nước giàu và nước nghèo); thứ hai là giữa các đảng phái chính trị; thứ ba, giữa các tộc quần; thứ tư, giữa các tôn giáo, đều có thể làm được đối xử bình đẳng, chung sống hòa thuận, thì thế giới sẽ hòa bình thôi. Tuy bốn việc này đều vô cùng hóc búa, nhưng bắt tay từ sự hài hòa tôn giáo sẽ dễ thực tiễn hơn”. Trưởng lão Mahathir nghe xong rất hoan hỉ, ngày hôm sau ngài liền gửi thư mời tôi tham dự Diễn đàn Hòa bình Thế giới Perdana do ngài tổ chức tại Kuala Lumpur vào cuối năm 2005, và dành cho tôi lễ ngộ rất cao. Trên thực tế, các tôn giáo trên thế giới, vừa là đa nguyên, lại vừa là một nhà, vốn dĩ hài hòa. Giống như tựa đề kinh Hoa Nghiêm của nhà Phật ví von, trong vườn trăm hoa, tạp hoa trang nghiêm, mỗi loài hoa tự tỏa hương khoe sắc, cùng tạo nên cảnh đẹp, nếu giới hạn một giống hoa, không cho phép các giống khác cùng tồn tại, thì há chẳng phải khô khan tẻ nhạt sao? Ở thời cổ đại, do giao thông bất tiện, sự qua lại giữa các tộc quần rất ít, do đó chân thần ở các khu vực khác nhau mượn hình tượng mà các chủng tộc khác nhau quen thuộc và công nhận (như Moses, Jesus, Mohammed, Thích-ca Mâu-ni Phật, Khổng Tử, Lão Tử vân vân), hóa hiện thân tướng đồng loại, mà truyền đạt lời dạy thần thánh cho người đời. Từ đây có thể biết, mọi tôn giáo đều là lời dạy của cùng một chân thần, cốt lõi của nó chính là “giáo dục tình yêu thương”. “Tân Cựu Ước” nói “Thần yêu thế nhân”; trong các chương tiết quan trọng của “Kinh Koran” đều có “Chân chủ Allah là nhân từ”; Phật-đà dạy người “Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa”, Khổng Tử nói “Người nhân, yêu thương người”; Lão Tử giảng “Ta có ba báu, giữ mà bảo toàn”, điều thứ nhất chính là “từ”. Hiện nay giao thông thuận tiện, thông tin phát triển, giữa các tôn giáo không thể không qua lại, hơn nữa cần phải đoàn kết, học hỏi lẫn nhau, tìm hiểu chân thần đối với con người ở các tộc quần khác nhau là dạy dỗ như thế nào, qua đó làm sâu sắc thêm sự hiểu biết đối với kinh điển tôn giáo của chính mình, kéo gần khoảng cách giữa bản thân và chân thần, mà quan trọng hơn cả là tín đồ tôn giáo phải đem tình yêu thương của chân thần biểu hiện ra từ trên thân mình, lan truyền cho thế nhân, cứu vãn trái đất. Thế giới ngày nay nói văn hóa đa nguyên, các tôn giáo khác nhau, tộc quần khác nhau, quốc gia khác nhau, đều là một thể, phải tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, quan tâm lẫn nhau, chăm sóc lẫn nhau, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau. Hài hòa cần phải bắt đầu làm từ tôi, tôi không thể yêu cầu người khác hòa với tôi, tôn trọng tôi. Họ không tôn trọng tôi, không hòa với tôi cũng không sao, tôi phải tôn trọng họ, hòa với họ, dần dần liền có thể cảm hóa họ. Nếu như tôi có một ý niệm yêu cầu người khác hòa với tôi, vậy thì vĩnh viễn cũng không có cách nào thực sự đạt đến hài hòa, bởi vì cái ý niệm yêu cầu người khác này của tôi, là ý niệm khống chế chiếm hữu, đã đem người khác và tôi đối lập nhau rồi. Cho nên, chỉ cầu tôi kính yêu họ, tôi quan tâm họ, chăm sóc họ, toàn tâm toàn lực giúp đỡ họ, tuyệt đối không cầu hồi báo, bởi vì tôi biết người và tôi vốn dĩ là một thể, vũ trụ vốn dĩ cũng là một thể.
IV, Giáo dục thần thánh, phương pháp trị bổn
Việc cầu nguyện tôn giáo được đề cập ở phía trước, là phương pháp rất tốt để cứu vãn cấp nạn, thế nhưng chỉ có thể trị ngọn, không thể trị gốc. Trị gốc cần phải khiến nhân tâm chuyển thiện. Nếu hy vọng hài hòa mãi tiếp nối, cần phải trị cả gốc lẫn ngọn. Nhìn bao quát lịch sử năm ngàn năm của Trung Quốc, người Trung Quốc dựa vào điều gì để duy trì sự thống nhất của đại địa Hoa Hạ và sự trường trị cửu an của xã hội? Không phải dựa vào vũ lực, cũng không phải dựa vào kinh tế hay khoa học kỹ thuật, mà là dựa vào giáo dục! Sách “Lễ Ký. Học Ký” nói: “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”.
Các tôn giáo trên toàn thế giới đều là giáo dục thần thánh nhân từ bác ái. Từ “tôn giáo” đặc biệt có tính gợi mở: “Tôn” có nghĩa là “chủ yếu”, “quan trọng”, “tôn sùng”; “giáo” có nghĩa là “giáo dục”, hợp lại là “sự giáo dục chủ yếu, việc dạy học quan trọng, sự giáo hóa được tôn sùng”. Nội dung của giáo dục tôn giáo bao gồm năm loại lớn: Luân lý, đạo đức, nhân quả, triết học, khoa học. Nếu có thể đoàn kết các tôn giáo, mọi người cùng nhau chung tay đẩy mạnh giáo dục thần thánh đến toàn dân trên thế giới, ắt khiến thiên hạ thái bình, đây là đại pháp căn bản để xã hội từ xưa đến nay trong và ngoài nước trường trị cửu an. Do đó, các bậc đại Thánh đại Hiền của mọi tôn giáo, cũng chỉ thị hiện một phương pháp “dạy học” này, những cách khác đều là ngã rẽ vậy. Jesus dạy học 3 năm, Khổng Tử dạy học 5 năm, Mohammed dạy học 27 năm, Thích-ca dạy học 49 năm, thực sự là mẫu mực.
Bắt đầu từ cuối năm 2005, chúng tôi đã làm thực nghiệm ba năm tại thị trấn nhỏ Thang Trì, Lư Giang, tỉnh An Huy, Trung Quốc, xây dựng trung tâm giáo dục văn hóa, triển khai việc dạy học luân lý đạo đức cho toàn dân, khiến cho diện mạo của thị trấn nhỏ với bốn mươi tám ngàn dân số đổi mới hoàn toàn, dân phong cải thiện rõ rệt, chứng minh thành công “nhân tánh bổn thiện, nhân dân là có thể dạy dỗ cho tốt được”, cho thấy giáo dục luân lý đạo đức của các bậc cổ Thánh tiên Hiền trong việc xây dựng xã hội hài hòa ngày nay vẫn còn thích dụng! Tháng 10 năm 2006, trung tâm đã thực hiện triển lãm báo cáo trong ba ngày tại trụ sở Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc ở Paris, khiến cho những người làm công tác hòa bình thế giới tăng thêm niềm tin gấp bội!
Tại trụ sở tổ chức UNESCO, Học viện Tịnh Tông còn trân trọng kính mời mười nhà lãnh tụ tôn giáo lớn của Singapore và Úc đến cầu nguyện cho hòa bình thế giới, cho thấy “tôn giáo là có thể đoàn kết được”. Tịnh Không đã từng nhiều lần kiến ngôn tại hội nghị UNESCO: Trên nền tảng đoàn kết tôn giáo ở các nước như Singapore, Malaysia, Indonesia, Úc, hy vọng có thể tiến lên một bậc, mở một trường đại học tôn giáo. Có thể mở “viện nghiên cứu tôn giáo” trước, đào tạo giáo viên tốt. Sau đó mở “đại học tôn giáo đa nguyên”, mở các khóa học như luân lý, đạo đức, nhân quả, triết học, khoa học, bồi dưỡng giáo viên tốt hoằng hộ cấp cao của các tôn giáo. Các tôn giáo mở học viện độc lập. Các học viện có khóa học chung và khóa học chuyên ngành. Học sinh cần phải bén rễ trên các khóa học chung về luân lý, đạo đức, nhân quả trước, sau đó chuyên tinh đi sâu vào kinh điển của tôn giáo mình, đồng thời cũng khiêm tốn học hỏi giáo nghĩa của các tôn giáo khác, vừa học vừa dạy, có thể thông qua vệ tinh mạng Internet để dạy học truyền giảng cho tín đồ tôn giáo trên toàn cầu. Những sinh viên tốt nghiệp này sau khi ra trường, truyền giáo trong mỗi tôn giáo, tự nhiên sẽ dạy dỗ tín đồ chung sống hòa thuận, đối xử bình đẳng với các tôn giáo khác.
Tịnh Không tại buổi lễ tiếp nhận học vị tiến sĩ danh dự của trường Đại học Hồi giáo Quốc gia Syarif Hidayatullah Jakarta Indonesia, gặp được một sinh viên đặt câu hỏi: “Các tôn giáo khác nhau làm thế nào có thể đoàn kết?”. Tôi giơ bàn tay lên làm ví dụ: Năm ngón tay đại diện cho năm tôn giáo lớn của Indonesia, khi chúng ta nhìn các ngón tay, năm tôn giáo lớn mỗi tôn giáo đều có đặc sắc riêng, khi chúng ta xuôi theo ngón tay đi thẳng xuống đến lòng bàn tay, liền có thể ngộ được tôn giáo cùng chung cội nguồn. Người tu học không cần phải thay đổi tôn giáo của chính mình, chỉ cần thực sự đi sâu vào tôn giáo của mình, một môn thâm nhập, trường thời huân tu, cuối cùng ắt có thể hoát nhiên quán thông tất cả mọi tôn giáo. Thế nhưng Thánh hiền dạy dỗ chúng ta: Hết thảy đều bắt đầu làm từ chính mình. Do đó, Học viện Tịnh Tông nhỏ bé của chúng tôi đang bắt tay trù bị “Trung tâm hài hòa”, cung thỉnh Trưởng lão Hồi giáo Singapore là tiên sinh Haniff vì chúng tôi giảng giải “Kinh Koran” và “Thánh Huấn”, Trưởng lão Cơ Đốc giáo Úc là tiên sinh Peter vì chúng tôi giảng giải “Kinh Thánh”. Năm sau dự định mời thêm trưởng lão của nhiều tôn giáo lần lượt mở lớp cho chúng tôi, như Do Thái giáo, Ấn Độ giáo vân vân.
Giống như Tiến sĩ Toynbee – nhà triết học lịch sử người Anh vào thập niên 70 từng nói, tâm lượng của người Trung Quốc thời cổ đại rất rộng lớn, có thể tiếp nhận văn hóa Phật giáo của dị tộc Ấn Độ, bao dung thu nạp. Phật pháp truyền đến Trung Quốc, người Trung Quốc có thể hấp thu tinh hoa trong đó, làm phong phú thêm nội hàm của văn hóa truyền thống Trung Quốc một cách mạnh mẽ, nâng cao đẳng cấp của văn hóa Trung Quốc. Ngày nay chúng tôi cũng hy vọng đối với kinh điển thánh huấn của các tôn giáo khác nhau tiến hành học tập chuyên sâu, hấp thu tinh hoa trong đó, để làm phong phú thêm học vấn và tố chất của chính mình. Giống như trong “Đệ Tử Quy” nói: “Yêu bình đẳng, gần người nhân”, chân thành khiêm ti hướng đến thánh thần tiên tri, trưởng lão đại đức của các tôn giáo học tập thỉnh giáo, chính là sự thể hiện của “gần người nhân”. Chúng tôi hy vọng lấy Học viện Tịnh Tông làm điểm thực nghiệm, các bạn đồng học cùng nhau học tập giáo nghĩa tôn giáo đa nguyên, chân thành thanh tịnh bình đẳng kính yêu nhân sĩ các tôn giáo, chung sống hòa thuận, hy vọng lấy đây để ném gạch nhử ngọc, làm tấm gương tham khảo cho việc dạy học của các tôn giáo khác. Giống như Trung tâm giáo dục văn hóa Lư Giang ở quá khứ, các giáo viên lấy mình làm gương, mô hình thu được hiệu quả dạy học tốt đẹp trong thời gian ngắn, hiện nay đã được các bậc nhân sĩ có chí hướng trên khắp thế giới mô phỏng nhân rộng. Thực nghiệm học tập tôn giáo đa nguyên của đại chúng thầy trò Học viện Tịnh Tông nếu có thể thành công, hoan nghênh chư vị đại đức nhân giả quang lâm tham quan chỉ giáo.
Tịnh Không tin tưởng sâu sắc rằng, giáo dục phổ thế về nhân quả, luân lý, đạo đức trong kinh điển tôn giáo, ắt có thể khiến nhân tâm chuyển ác thành thiện, chuyển nhiễm thành tịnh, chuyển mê thành ngộ; hóa giải đủ loại mâu thuẫn xung đột cùng với thiên tai nhân họa của thế kỷ hai mươi mốt, cũng chỉ có đạo lý chánh tông này. Tôn giáo đa nguyên nếu thực sự có thể chân thành đoàn kết, trì giới, tu hành, tự độ độ tha, học hỏi lẫn nhau, tôn trọng, quan tâm, kính yêu lẫn nhau, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, thì xã hội hài hòa, thế giới hài hòa cũng có thể thực hiện một cách viên mãn.
Tha thiết hy vọng giáo dục của Thánh hiền tôn giáo, đơm hoa khắp nơi trên toàn cầu, khiến chánh pháp hiển lộ cao minh, các điều tà vạy tự tiêu tan, xã hội an định, thế giới hài hòa! Xin cẩn trọng lấy chút thiển ý này, cống hiến cho chư vị đại đức nhân giả tham dự hội nghị, kính mong chỉ giáo.
Cầu chúc
Chư vị nhân giả cát tường như ý! Hòa bình luôn sát cánh cùng chúng ta!
Hoạt động của Đại hội thành công viên mãn!
Thích Tịnh Không kính lễ
Tiến sĩ danh dự Đại học Hồi giáo Quốc gia Syarif Hidayatullah Indonesia
Viện trưởng Học viện Tịnh Tông Úc, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Hiệp hội Giáo dục Phật-đà Hồng Kông
Giáo sư danh dự Đại học Queensland, Đại học Griffith Úc.










